Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm 30th, 2009

CHUYỆN DÀI BẢO TÀNG MỸ THUẬT Ở VIỆT NAM, CÒN DÀI…(*)

Nguyên Hưng


Bảo tàng mỹ thuật, ở đâu, cũng được hiểu là không gian lưu trữ những giá trị tiêu biểu và mang tính điển phạm (canon) của một nền nghệ thuật, một giai đoạn nghệ thuật, một vùng đất nghệ thuật, một trào lưu nghệ thuật, hay, của một nghệ sĩ v.v…


Trong ý nghĩa đó, bảo tàng mỹ thuật-cho dù là bảo tàng tư nhân, bảo tàng chỉ về một nghệ sĩ…-bao giờ cũng được hiểu thêm, là không gian lưu trữ những mối đồng cảm chung, những niềm tự hào chung, những bài học chung, và, những niềm khích lệ chung v.v… của, không chỉ một nền nghệ thuật, một đất nước, mà rộng hơn, thậm chí của con người nói chung, xuyên qua mọi thời đại…


Trong cách hiểu như vậy, việc xây dựng và mở cửa các bảo tàng mỹ thuật, không phải chỉ là để lôi kéo du khách, phục vụ giới nghiên cứu…, mà còn là một trong những hoạt động không thể thiếu của một thể chế văn hóa-giáo dục. Người ta đến bảo tàng mỹ thuật, là lặn sâu vào thế giới tâm hồn của của một cộng đồng, một con người, là bước vào thế giới sinh động của những khám phá, những trãi nghiệm và đối thoại… Bảo tàng mỹ thuật trở thành một không gian chiêm nghiệm, nơi người ta có thể nhận thấy cuộc sống con người thực ra phong phú hơn, quí giá hơn…, và, lớn lên…


Những người quản lý bảo tàng mỹ thuật, do đó, luôn luôn, phải là những chuyên gia. Đặc biệt là những người làm nên “phần hồn”-những người làm công việc sưu tầm, chọn lọc tác phẩm, những người làm công việc hệ thống hóa và trưng bày tác phẩm, những người làm công việc truyền thông và tổ chức sự kiện nhằm sinh động hóa hay nhằm gia tăng giá trị hoạt động bảo tàng v.v…


Các bảo tàng mỹ thuật ở Việt Nam, cho đến nay, có rất ít dấu hiệu về sự có mặt của các loại chuyên gia như thế. Tại ngân sách dành cho các bảo tàng quá eo hẹp chăng? Tại cơ chế còn có quá nhiều trói buộc chăng? Hay tại sự yếu kém của các thành phần “chuyên gia” đang làm việc? Hay tại sự bất cập của các nhà quản lý ở ngay các bảo tàng, thậm chí là ở ngay cấp chính phủ?… Hình như tất cả các câu hỏi nêu ra ở đây đều không thừa. Hình như tất cả đang là một mớ bòng bong cứ chèo kéo kìm hãm lẫn nhau…


Cho đến nay, đã có nhiều ý kiến phê bình thực trạng nghèo nàn, ít giá trị thực chất, đìu hiu và èo uột… của các bảo tàng mỹ thuật ở Việt Nam. Hầu hết, đều với mong muốn mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Nhưng xem ra, để hóa giải thực trạng này, có lẽ, không phải là chuyện dễ dàng. Đào tạo được chuyên gia là chuyện đã khó. Để thấy được chuyên gia giỏi là chuyện khó hơn. Và, từ thấy cho đến dùng được là cả một khoảng cách diệu vợi…


Vấn đề cốt lõi chi phối cả thảy, theo tôi, thực ra vẫn là cách nhìn, cách nghĩ về nghệ thuật. Ở Việt Nam, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình lý luận hay phê bình lý thuyết nào đụng chạm đến vấn đề này. Do đó, mọi chiến lược diễn giải nghệ thuật ở Việt Nam, vẫn cứ theo quán tính của các kiểu tư duy thời bao cấp, thậm chí là tư duy thời chiến… Không chỉ vẫn bất cập với đặc trưng riêng của từng loại hình nghệ thuật, mà còn quá duy ý chí trong các quan điểm về chức năng của nghệ thuật, bất cập thực tế. Khi các chiến lược diễn dịch nghệ thuật mang tính định chế chưa được thay đổi thì các tiêu chí thế nào là những giá trị tiêu biểu và mang tính điển phạm (canon) của một nền nghệ thuật cũng sẽ không thể thay đổi; thì các cơ chế nâng đỡ và thúc đẩy cho hoạt động bảo tàng cũng sẽ không thể thay đổi thực sự về chất… Và, khi những thứ này không thay đổi-tức diện mạo, tức “phần hồn” của bảo tàng chưa thay đổi-thì tất cả những hoạt động khác, từ truyền thông đến tổ chức sự kiện này nọ v.v… cũng sẽ… bằng thừa!


Lâu nay, ở Việt Nam, chổ này chổ kia, đã đề cập đến sự có mặt cần thiết của “nhân vật” curator trong việc chuyên nghiệp hóa hoạt động bảo tàng mỹ thuật. Nhưng, cơ chế nào sẽ dung dưỡng “nhân vật” này? Và, ngay cả khi được dung dưỡng, liệu họ có làm được gì hay không khi mà các tiêu chí phát hiện và tiến cử nghệ thuật của họ và của các nhà quản lý vẫn cứ luôn sai nhịp…!


Ngay cả việc tưởng như đơn giản nhất, nên làm nhất là việc tổ chức đưa các em học sinh phổ thông đến tham quan bảo tàng, tập cho các em tiếp xúc dần với nghệ thuật thôi, cũng đã là việc không tưởng. Bảo tàng nào cũng có thể đặt cách được một nhân viên phụ trách phần việc đó, cũng có thể trích ra một khoảng ngân sách để làm. Nhưng vấn đề không nằm ở đó. Vấn đề nằm ở phía giáo dục… Chịu!

(*) Bài đã đăng trên Doanh nhân Sài Gòn cuối tháng-số tháng 10/2007

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Bảo tàng Mỹ Thuật và tranh chép

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ảnh: Marcus Wilson-Smith / Alamy đăng trên Time

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ảnh: Marcus Wilson-Smith / Alamy đăng trên Time

Theo một bài báo mới đây của tác giả Martha Ann Overland đăng trên tạp chí Time với tựa đề “Nạn chép tranh của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam” (04/05/09), thì câu hỏi được đặt ra là bao nhiêu tranh và tượng trưng bày tại Bảo tàng Mỹ Thuật Quốc gia Việt Nam là bản chính?

Đã có bàn tán từ nhiều năm nay là nhiều tác phẩm có giá trị của các nghệ sĩ Việt nam hoặc là đã bị thất lạc hoặc đã được bán đi và bản sao chép được đặt tại Bảo tàng.

Một điều hầu hết giới họa sĩ Việt Nam đều biết là trong thời gian chiến tranh, bộ phận Phục chế của Bảo tàng Mỹ thuật chính là nơi sao chép tranh, một thực tế các viên chức bảo tàng cũ và đương thời đều công khai nói tới.

Nora Taylor, một sử gia về nghệ thuật và chuyên gia về các họa sĩ Việt Nam, người hiện đang dạy tại Viện Nghệ thuật Chicago, nói trên báo Time rằng những “bản chính” của bức Chơi ô ăn quan, mà một thời đã được treo tại Bảo tàng Mỹ Thuật, nay đang được treo tại cả Singapore và Nhật Bản.

Ông Trần Khánh Chương, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam cho BBC Tiếng Việt biết hôm 05/04 rằng một số tranh, tượng sưu tập được trưng bày tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật là bản sao chép và Hội Mỹ thuật Việt Nam đã chính thức đề nghị Bảo tàng Mỹ thuật chỉ trưng bày các bản chính.

Hai ví dụ tranh sao chép từng được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật nhưng không ghi rõ là tranh chép mà ông Trần Khánh Chương nhắc tới là bức ‘”Chơi ô ăn quan” của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh và bức “Thiếu nữ bên hoa huệ” của họa sĩ Tô Ngọc Vân.

Tuy nhiên theo ông Chương, đề nghị này của Hội Mỹ thuật Việt Nam đã được Bảo tàng Mỹ thuật thực hiện, do vậy phần lớn các tác phẩm trưng bày hiện nay tại Bảo tàng Mỹ thuật là bản chính.

Ông Chương giải thích thêm, việc trưng bày bản sao các tác phẩm nghệ thuật là do trước đây Bảo tảng không có nhiều các bản chính và một số tượng là bản sao vì bản chính là ở các chùa chiền, không thể lấy đi để đưa vào Bảo tàng được, tuy nhiên theo ông các trường hợp đó đều phải ghi rõ là bản sao.

Tổn hại

Việc trưng bày bản sao/chép các tác phẩm lẫn với các bản chính đã làm ảnh hưởng tới giá trị toàn bộ bộ sưu tập của Bảo tàng.

“Tổn hại lớn nhất là nay Việt Nam bị mang tiếng xấu.” Theo Nora Taylor, Viện Nghệ thuật Chicago

Vẫn theo bài báo trên tờ Time, thì điều trớ trêu là việc Việt Nam sao chép các tác phẩm có giá trị lại bắt nguồn từ mục đích nhằm cứu di sản nghệ thuật của nước này trong thời gian chiến tranh.

Bài báo trích dẫn lời ông Nguyễn Đỗ Bảo, thuộc Hội Mỹ thuật Hà Nội, từng là nhân viên Bảo tàng Mỹ thuật hồi năm 1966, nói: “Mỹ nói họ sẽ ném bom Việt Nam và đưa đất nước này trở lại thời kỳ đồ đá.” Để bảo tàng được mở cửa kể cả trong thời kỳ chiến tranh, thì các bản sao chép được trưng bày và bản chính được mang đi sơ tán.

Không phải tất cả các tác phẩm đều được trả về lại Bảo tàng sau chiến tranh. Hồ sơ, nếu có, thì đã bị mất. Trong trường hợp chính các nghệ sĩ vẽ lại tranh của mình thì cũng không còn biết đâu là bức chính và đâu là bức vẽ lại. Và tình hình còn tồi tệ hơn vào thời kỳ sau chiến tranh, văn hóa sao chép tranh tiếp tục.

Theo tác giả bài báo, bà Martha Ann Overland, việc Bảo tàng Mỹ thuật cho các nghệ sĩ đang bị túng thiếu mượn các tác phẩm của mình để vẽ lại và bán kiếm tiền đã làm cho vấn đề thật giả tồi tệ hơn. Liệu các họa sĩ trả lại bản chính hay bản sao chép? Và bà cũng đặt ra câu hỏi: Liệu nghệ sĩ vẽ lại chính tranh của mình thì đây có thể bị coi là tranh giả hay không?

Vào những năm 80, chính Bảo tàng Mỹ thuật còn lập ra một bộ phận chuyên sản xuất các bản sao chép có chất lượng cao để bán, tuy nhiên hoạt động này đã kết thúc vào những năm 90.

Họa sĩ Bùi Thanh Phương, con trai họa sĩ Bùi Xuân Phái, viết trong cuốn Con đường hội họa, có nhắc tới việc Bảo tàng Mỹ thuật – BTMT- có cả một dịch vụ sao chép tất cả những bức tranh nào ở trong bảo tàng nếu khách yêu thích và đặt vẽ giống y như vậy.

“Tôi đã được nghe chính nhà sưu tập Hà Thúc Cần khoe kể với tôi rằng ông ta đã đặt BTMT làm phiên bản tất cả những bức tranh quan trọng có trong BTMT (từ năm 1987) hệ quả đã xảy ra tiêu biểu nhất của vấn đề này chính là bức “Bến Phà ở Sông Đà ” của Bùi Xuân Phái mà ông Hà Thúc Cần đã dùng phiên bản này để tham gia bán đấu giá tại nhà bán đấu giá danh tiếng hàng đầu thế giới Christie’s vào tháng 10/1997 tại Singapore với giá bán là 47.000 USD,” họa sĩ Bùi Thanh Phương viết.


Hiện có bao nhiêu bức 'Chơi ô ăn quan' của Nguyễn Phan Chánh?

Hiện có bao nhiêu bức 'Chơi ô ăn quan' của Nguyễn Phan Chánh?


Tình trạng sao chép các tác phẩm nghệ thuật này đang làm hại tới chính thị trường mỹ thuật từng một thời kỳ khá “nóng” của Việt Nam.

Vẫn theo bà Nora Taylor, thuộc Viện Nghệ thuật Chicago, thì các nghệ sĩ trẻ sống bằng nghề sao chép tranh đang lo ngại rằng việc làm một thời đem lại lợi nhuận cho họ nay đang làm hại cho chính họ.

Thậm chí dù việc làm bản sao chép không phải với mục đích đánh lừa người xem, người mua, thì tình hình này cũng đã tồi tệ tới mức không bảo tàng danh giá nào muốn mượn các tác phẩm từ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nữa.

Vẫn theo bà Nora Taylor, “Tổn hại lớn nhất là nay Việt Nam bị mang tiếng xấu.”

Giải pháp

Hồi tháng Ba năm nay, Hội Mỹ thuật Việt Nam với sự hỗ trợ của Hiệp hội Phát triển bản quyền Na Uy đã tiến hành hội thảo “Bản quyền tác giả trong lĩnh vực mỹ thuật VN – thực trạng và giải pháp” diễn ra tại thành phố Đà Nẵng.

Hội thảo đã thu hút sự quan tâm của đông đảo giới họa sĩ và các nhà phê bình mỹ thuật trong nước và cũng phản ánh một thực trạng khá bi đát trong việc bảo vệ tác quyền của các tác phẩm nghệ thuật.

Sau khi đã sống gần như trọn đời dưới chế độ do đảng Cộng sản chỉ đạo họ có thể vẽ gì và trưng bày ở đâu, thế hệ các nghệ sĩ cao tuổi giữ im lặng.

Nhưng các nghệ sĩ trẻ không còn nằm trong sự quản lý của nhà nước thì lên tiếng thúc giục Bảo tàng Mỹ thuật cần mời chuyên gia tới giúp phân loại bản chính và bản sao chép trong bộ sưu tập của mình.

Họ muốn Bảo tàng lên danh mục hồ sơ tranh và bỏ không trưng bày các bức sao chép hay nếu có thì cần ghi rõ như vậy.


Theo BBC.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

CỔ VẬT TRONG CÁC DI TÍCH TRIỀU NGUYỄN Ở HUẾ

Sưu tập cổ vật gốm sứ

Sưu tập cổ vật gốm sứ

Trong 16 địa điểm di tích triều Nguyễn do Trung tâm Bảo tồn Di Tích Cố đô Huế(TTBTDTCĐ Huế) quản lý có 12 di tích đang bảo quản và trưng bày khoảng 2400 cổ vật. Ngoài ra, Huế còn có Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (BTMTCĐ Huế), được coi là nơi cất giữ phần hồn của cổ tích, tập trung hơn 8300 cổ vật, phần lớn được sưu tập từ các cung điện, lăng tẩm của triều Nguyễn. Đó là những vật dụng từng gắn bó mật thiết với cuộc sống của các bậc đế hậu; những đồ dùng cho các nhu cầu sinh hoạt, lễ nghi, tín ngưỡng và quốc phòng của hoàng gia và triều đình nhà Nguyễn; những tặng phẩm, thương phẩm phản ánh các quan hệ ngoại giao, thương mại giữa Việt nam với các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp, Hà Lan, Anh, Thái lan…trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XX.

Ngoài BTMTCĐ, Huế là nơi tập trung nhiều nhất những cổ vật của triều Nguyễn, các di tích như: lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức, lăng Đồng Khánh, lăng Khải Định, Thế Tổ Miếu, điện Thái Hòa, điện Huệ Nam, khu lưu niệm Đức Từ Cung… là những nơi đang thờ tự và trưng bày những cổ vật quý giá nhất của triều đại này.

Điện Biểu Đức ở lăng Thiệu Trị hiện đang trưng bày những bức tranh gương có kích thước lớn nhất Việt Nam ghi lại những bài ngự chế thi và hai bức trướng bằng gỗ khắc cẩn hai bài ngự chế văn Cơ Hạ viên và Điện khai văn án của vua Thiệu Trị bằng xà cừ rất tinh xảo.

Kim chi ngọc diệp

Kim chi ngọc diệp

Điện Hòa Khiêm trong lăng Tự Đức có nhiều cổ vật quý bằng ngà như bộ xăm hường hay bộ ấn triện của vua Tự Đức; những chiếc chóe bằng pháp lam ngũ xắc xứng đáng được mệnh danh là những lưu vật thiên sót của nghệ thuật pháp lam thời Nguyễn. Đặc biệt, nơi đây còn lưu giữ sưu tập tranh gương gần 20 bức, vẽ cảnh minh họa những bài thơ ngự chế của vua Thiệu Trị. Đó là những bài thơ trong Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập, được nhà vua tuyển chọn, giao cho chánh sứ Trương Hảo Hợp, khi đi sứ sang thanh vào năm 1845, thuê thợ Trung Hoa đề thơ lên kính và vẽ tranh minh họa. Điện Lương Khiêm, nơi thờ Đức Từ Dũ, bà Thái hậu sống thọ nhất trong số các phi tần thời Nguyễn, cũng là nơi trình bày nhiều tự khí và cổ khí gắn bó với thân thế của 3 nhân vật: vua Tự Đức, Đức Từ Dũ và vua Kiến Phúc.

Điện Ngưng Hy ở lăng Đồng Khánh là một trong những nơi trưng bày nhiều cổ vật nhất. Phần lớn những cổ vật này có niên đại từ triều Tự Đức đến triều Khải Định. Trong đó, đáng chú ý là sưu tập những vật dụng từng gắn bó thiết thân với vua Đồng Khánh như chiếc nón găng có chóp bịt đồi mồi, bộ cung tên vua dùng khi đi săn; cả những hiện vật có nguồn gốc ngoại lai nhưng phản ánh một cách trung thực sở thích, thói quen của vị vua thân Pháp này như: lọ nước hoa eaux de Cologne, chiếc ba-tông, bức tranh in cảnh chinh chiến của Napoléon Đệ nhất…

Khay đựng mứt bằng pháp lam

Khay đựng mứt bằng pháp lam

Tuy nhiên, nơi trưng bày và thờ nhiều cổ vật nhất ở Huế chính là điện Huệ Nam, ngôi điện thờ Thiên Y ANa Thánh Mẫu lớn nhất miền Trung Việt Nam. Những cổ vật nơi đây chủ yếu là tặng vật của các triều vua, từ Đồng Khánh đến Khải Định, dâng tặng Thánh Mẫu, ngoài ra là những tự khí do các con tôi, đệ tử của Mẫu dâng cúng. Cổ vật ở đây phong phú về loại hình, đa dạng về chất liệu và có kỹ thuật tạo tác tinh tế, ghi dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo của vua quan và binh dân xứ Huế một thời. Đến thăm nơi này, du khách có thể chiêm ngưỡng những đồ sức do vua quan triều Nguyễn ký kiểu từ Trung Hoa đưa về dùng làm đồ tự khí như những chiếc bát nhang, độc bình, những bộ trà, đồ dâng rượu cúng, hay chiếc võng dùng để cung nghinh Thánh Mẫu từ đình làng Hải Cát về điện Huệ Nam trong những dịp lễ hội vía Mẫu hàng năm.

Một nơi thờ cúng khác có số lượng cổ vật nhiều không kém điện Huệ Nam là Thế Tổ Miếu. Ngôi miếu này tọa lạc bên trong Đại Nội, được xây dựng từ đầu niên hiệu Minh Mạng. Đây là nơi thờ tự chính thức 10 vị vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định, Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân. Mỗi gian thờ bài trí một bộ gồm: án thờ. kỷ thờ, sập thờ, khám thờ…Tất cả đều được làm bằng gỗ, bạc, tơ lụa, đồ sứ…rất có giá trị. Bên trong các khám thờ là thần vị các bậc đế hậu của vương triều Nguyễn. Đó là những cổ vật vô giá được lưu giữ muôn đời.

Lư đồng

Lư đồng

Điện Thái Hòa, ngôi điện quan trọng bậc nhất trong các cung điện ở Huế, là nơi chứng kiến sự đăng quang và trị vì của tất cả các vị vua nhà Nguyễn, là nơi đình thần diện kiến thiên tử trong các ngày sóc, vọng. Nơi đây, hiện đang trưng bày chiếc ngai vàng, là biểu tượng quyền uy của vương triều Nguyễn cùng các án thờ, các tác phẩm nghệ thuật bằng gỗ, bằng đồng, bằng gốm sứ hơn hai trăm năm tuổi. Khu lưu niệm Đức Từ Cung, một di tích chỉ có gần 50 năm tuổi, nhưng lại là nơi ghi dấu nhiều nhất về cuộc sống, sinh hoạt của các bậc vương hầu, phi tần trong cung Nguyễn.

Nhiều di tích kiến trúc khác, sau khi được trùng tu, tôn tạo, cũng được TTBTDTCĐ Huế chú ý đầu tư nghiên cứu, sử dụng nguồn hiện vật đang lưu giữ ở BTMTCĐ Huế để tái trưng bày nội thất như đã từng được bài trí trong quá khứ. Đó là các công trình như Hưng Tổ Miếu, Cung Diên Thọ, Khương Ninh Các(Đại Nội), Điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng), Điện Chấp Khiêm (lăng Tự Đức)…

Có thể nói, nguồn cổ vật đang hiện diện trong các di tích thời Nguyễn ở Huế là những sử liệu vô giá ghi lại những dấu tích sống động của triều đại này, giúp cho việc nghiên cứu một giai đoạn nghiên cứu một giai đoạn lịch sử đầy biến động và vô cùng quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc. Đó là những vật chứng để người đời sau hiểu thêm về đời sống trong cung đình Huế; về thân thế và sự nghiệp của các bậc đế vương triều Nguyễn; về các quan hệ ngoại giao, thương mại giữa Việt Nam với các nước khác thời phong kiến; về lễ nghi và đời sống tôn giáo, tin ngưỡng thời Nguyễn.

Trên phương diện kỹ thuật- nghệ thuật, thông qua các hoa văn, họa tiết, kỹ thuật chế tác, các cổ vật này đã giúp cho các nhà nghiên cứu và du khách hiểu thêm về trình độ kỹ thuật, sự tồn tại và hoạt động của các nghề thủ công truyền thống trong dân gian và các quan xưởng nhà Nguyễn.

Một gian trưng bày cổ vật ở nội thất điện Long An

Một gian trưng bày cổ vật ở nội thất điện Long An

Về mặt kinh tế, chúng là những cổ vật có giá trị kinh tế cao, là nguồn tài sản vô giá của di sản văn hóa Việt.

Đối với hoạt động du lịch, sự hiện diện của các cổ vật trong các di tích đã tạo ra cho những không gian lịch sử, không gian văn hóa, không gian tri thức vốn là những cái đích cần hướng đến của một tour du lịch văn hóa loại hình du lịch được coi là thế mạnh của cố đô Huế nói riêng và Việt Nam nói chung. Không thể hình dung được cảnh tượng một khu di tích, dù được trùng tu hoàn mỹ, đúng nguyên trạng nhưng lại thiếu vắng những cổ vật, những tự khí bài trí ở nội và ngoại thất. Khi ấy, đó sẽ là những di tích chết vì chúng đã thiếu mất những dấu ấn xưa cũ của quá khứ mà cổ vật chính là thứ chứa đựng cái cũ quý giá đó.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác trưng bày cổ vật trong các di tích triều Nguyễn, trong nhiều năm qua, TTBTDTCĐ Huế, cơ quan quản lý các di tích này đã có nhiều nỗ lực trong việc tu bổ, phục hồi di tích kiến trúc kết hợp với việc tái hiện các không gian lịch sử trong các di tích thông qua việc trưng bày cổ vật. Triển khai thực hiện Dự án Bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, trong giai đoạn I(1996-2000), đã có 16 địa điểm di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được tổ chức trưng bày mới (hay chỉnh lý trưng bày từng phần) theo xu hướng ” tái hiện không gian lịch sử để nâng cao giá trị văn hóa Việt Nam cho khu di tích”. Đó là các di tích: điện Long An, điện Thái Hòa, Thế Tổ Miếu, cung Diên Thọ, Tả Vu(Đại Nội); điện Huệ Nam; điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng); điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị); điện Lương Khiêm, điện Hòa Khiêm, điện Chấp Khiêm (lăng Tự Đức); điện Ngưng Hy ( lăng Đồng Khánh); cung Thiên Định (lăng Khải Định) và khu lưu niệm Đức Từ Cung.

Ngai Thái Tử

Ngai Thái Tử

Trong giai đoạn hai (2001-2006), TTBTDTCĐ Huế đang xúc tiến các dự án chỉnh lý trưng bày tại các di tích: Thế Miếu(giai đoạn 2), Khương Ninh Các, Duyệt Thị Đường, Thái Bình Lâu, Tịnh Minh Lâu, cung Trường Sanh (Đại Nội); điện Long An (giai đoạn 2), Cơ Mật Viện (Kinh Thành); điện Minh Thành (lăng Gia Long); điện Lương Khiêm, nhà Ôn Khiêm, nhà Chí Khiêm (lăng Dục Đức); điện Long Ân (lăng Dục Đức); Trai Cung (đàn Nam Giao)…

Nhìn chung, việc trưng bày cổ vật trong thời gian qua đã thể hiện những nổ lực đáng khích lệ của các nhà nghiên cứu và các nhà bảo tàng học đang làm việc trong TTBTDTCĐ Huế. Từ những nguồn hiện vật đang được lưu giữ tại các điểm di tích và tại BTMTCĐ Huế, dựa trên những hình ảnh tư liệu, các nguồn tư liệu hồi cố của các nhân chứng từng sống, làm việc và từng viếng thăm các di tích Nguyễn trong thời hoàng kim, những người làm công tác trưng bày ở TTBTDTCĐ Huế đã cố gắng tái tạo cho các khu di tích những cảnh trí như đã từng hiện hữu. Ở những di tích này, việc trưng bày chủ yếu sử dụng nguồn hiện vật phong phú, với các thủ pháp trưng bày truyền thống, tự nhiên, nhằm mang đến cho du khách cảm giác đang được hiện hữu trong những không gian cổ xưa. Họ tận mắt chiêm ngưỡng những cổ vật một thời gắn bó với các bậc vua chúa chính trong môi trường và không gian mà chúng đã tồn tại gần 200 năm qua. Đây là những lợi thế của việc bài trí cổ vật trực tiếp ở các di tích lịch sử – văn hóa, là điều mà các bảo tàng hiện đại không thể có được.

TĐAS

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

 

Read Full Post »

Tranh làng Sình xưa và nay

Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà – một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh – một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng.

Vị trí: Làng Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Đặc điểm: Tranh Làng Sình chủ yếu phục vụ cho việc thờ cúng của người dân trong vùng.

Thời Trịnh – Nguyễn, cùng đoàn người vào đất Thuật Hoá định cư, ông Kỳ Hữu Hoà mang theo nghề làm tranh giấy mộc bản, tranh làng Sình ra đời từ đó. Ông Hoà được coi là ông tổ nghề tranh ở làng sình.

Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà – một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh – một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với những bản mộc 150 năm tuổi

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với những bản mộc 150 năm tuổi

Hồn của bức tranh nằm ở cái vuốt tay này!

Hồn của bức tranh nằm ở cái vuốt tay này!

Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng. Có thể phân làm ba loại:

1-  Tranh nhân vật chủ yếu là tranh tượng bà, vẽ một người phụ nữ xiêm y rực rỡ với hai nữ tì nhỏ hơn đứng hầu hai bên. Tượng bà còn chia thành ba loại: tượng đế, tượng chùa, và tượng ngang. Loại tranh này dán trên bàn thờ riêng thờ quanh năm.

2- Lại còn các loại tranh khác gọi là con ảnh, gồm hai loại: ảnh xiêm vẽ hình đàn ông đàn bà, và ảnh phền vẽ bé trai bé gái (phải chăng phền do chữ phồn thực của Ðông Hồ). Các loại nhân vật còn lại là tranh ông Ðiệu, ông Ðốc và Tờ bếp (có lẽ tranh vẽ Táo quân). Các loại tranh này sẽ đốt sau khi cúng xong.

3-  Tranh đồ vật vẽ các thứ áo, tiền và dụng cụ để đốt cho người cõi âm: áo ông, áo bà, áo binh, tiền, cung tên, dụng cụ gia đình… thường là tranh cỡ nhỏ. Tranh súc vật (gia súc, ngoài ra còn có voi, cọp và tranh 12 con giáp) để đốt cho người chết.

Tranh làng Sình có thể sánh với các dòng tranh miền Bắc (như Ðông Hồ, Kim Hoàng, Hàng Trống), một thời đã lưu hành khắp vùng Thuận Quảng. Sình là tên nôm của làng Lại Ân, cách Huế chừng 7km về phía đông bắc. Sách Ô Châu cận lục ra đời hồi thế kỷ 16 đã nói đến Lại Ân như một địa danh trù phú.

Xóm Lại Ân canh gà xào xạc

Giục khách thương mua một bán mười…

Vào khoảng tháng năm, tháng sáu, khi trời nắng to nước cạn, từng nhóm 57 chàng trai dong thuyền dọc theo đầm phá Tam Giang, đến Cầu Hai, Hà Trung, Lăng Cô để cào điệp, một loại trai sò có vỏ mỏng và phẳng. Có loại điệp chết đã lâu ngày vỏ lắng dưới bùn gọi là “điệp bùn”, khi nhặt chỉ còn là những mảnh màu trắng, mỏng, mềm dễ sử dụng hơn. Loại điệp mới chết gọi là “điệp bầy” nổi trên bùn, có vỏ cứng lẫn nhiều màu đen. Ðiệp đem về loại hết tạp chất, chỉ còn lại lớp vỏ trắng bên trong, được đem giã nhỏ. Mỗi cối giã có từ 26 người thay nhau giã, gần như suốt đêm tới sáng. Những câu hò giã điệp cũng vang lên như lúc giã gạo. Bột điệp lấp lánh trộn với bột nếp khuấy thành hồ, phết lên giấy sẽ cho ra một thứ giấy trắng lấp lánh ánh bạc. Bàn chải quét điệp làm bằng lá thông khô bó lại, gọi là cái “thét”. Khi chiếc thét quét qua mặt giấy sẽ để lại những vệt trắng song song lấp lánh.

Ðể kiếm các loại cây cỏ pha chế màu có khi họ phải lên tận rừng già phía tây Thừa Thiên – Huế. Hai thứ cây chỉ có ở đây là cây trâm, phải chặt từng đoạn mang về, sau đó mới chẻ nhỏ để nấu màu; còn cây đung thì hái lá và bẻ cành. Lá đung giã với búp hòe non sẽ cho màu vàng nhẹ. Các màu khác cũng được làm từ cây cỏ trong vườn như hạt mồng tơi cho màu xanh dương, hạt hòe cho màu vàng đỏ, muốn có màu đỏ sẫm thì lấy nước lá bàng. Ngoài ra người làng Sình còn dùng đá son để lấy màu đỏ, bột gạch để có màu đơn. Màu đen được dùng nhiều nhất, lại là màu dễ làm nhất. Người ta lấy rơm gạo nếp đốt cháy thành tro, sau đó hòa tan trong nước rồi lọc sạch để lấy một thứ nước đen, đem cô lại thành một thứ mực đen bóng. Những màu chủ yếu trên tranh làng Sình là các màu xanh dương, vàng, đơn, đỏ, đen, lục. Mỗi màu này có thể trộn với hồ điệp hoặc tô riêng, khi tô riêng phải trộn thêm keo nấu bằng da trâu tươi.

Tranh Sình có kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó thông dụng. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25×35), pha ba (25×23) hay pha tư (25×17). In tranh khổ lớn thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra. Với tranh nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên.

Bản in đen chờ cho khô thì đem tô màu. Tuy màu tô không tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng tranh. Công việc “điểm nhãn” ở một số tranh cũng do thợ chính làm nhằm tăng thêm vẻ sinh động của tranh.

Những mảng màu lớn thì dùng một thứ bút riêng làm bằng tre gọi là thanh kẻ để tô màu. Những chi tiết nhỏ thì dùng bút lông đầu nhọn. Việc tô màu được làm theo dây chuyền, mỗi người phụ trách một hai màu, tô xong lại chuyển cho người khác. Những bàn tay tô màu như múa thoăn thoắt trên tờ tranh, có người kẹp hai, ba cây bút ở đầu ngón tay để tô cùng một lúc hai, ba mảng màu. Ðiểm nỗi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo của nó là ở chỗ tô màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên. Cố họa sĩ Phạm Ðăng Trí, người họa sĩ tài hoa của đất thần kinh xưa, đã tìm thấy trong tranh Sình bảng màu “ngũ sắc Huế”, hơi khác với bảng “ngũ sắc phương Đông”. Và nếu ta so sánh những gam màu sử dụng trên tranh thờ sẽ thấy nó gần gũi với tranh pháp lam trang trí trên các kiến trúc của kinh thành xưa. Ðó là sự hòa sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hỏa hoàng, phí thủy với hổ phách…

Cái khác biệt của tranh làng Sình với các dòng tranh dân gian khác chính ở nét vẽ và bố cục còn rất thô sơ, hồn nhiên đậm chất mộc mạc làng quê. Khi sáng tác một bức tranh, bản mộc chỉ giữ vai trò làm khuôn và in màu chính ( thường là màu tím chàm). Những màu sắc còn lại được người nghệ nhân vẽ bằng tay. Chính vì thế không có bức nào giống bức nào. Mỗi bức đều mang trong mình tâm trạng của nghệ nhân lúc đó.

Khi nghiên cứu về tranh làng Sình, nhiều nhà nghiêu cứu cho rằng gam màu sử dụng trên tranh làng Sình gần giống với gam màu được sử dụng trên tranh pháp lam tại các kiến trúc kinh thành Huế: hoà sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hoả hoàng, phí thuỷ với hổ phách.

Bức tranh khi hoàn thành sẽ lấp lánh bởi vỏ điệp, nền nã bởi chất màu thô mộc, quyến rũ và quan trọng hơn cả là khi bức tranh đến tay người sử dụng đã ẩn chứa một cái gì đo thiêng liêng của cõi tâm linh.

Chấn hưng bằng phương pháp công nghiệp!

Nghề làm tranh giấy truyền thống làng Sình mai một dần từ sau 1945. Chiến tranh loạn lạc chẳng mấy ai để ý đến chuyệ thờ cúng cho đúng với truyền thống, lễ nghi.

Tranh giấy làng Sình làm ra bán không ai mua, người dân bỏ giấy, bỏ mực chuyển chuyển sang làm những nghề khác để mưu sinh. Sau năm 1975, cả làng chỉ còn vỏn ven 3 hộ dân bám đuổi với nghề làm tranh truyền thống.

Những khuôn bản mộc để in tranh lưu truyền hơn mấy năm cũng bị thất lạc dần theo sự mai một của làng nghề này. Thật hiếm để tìm lại những bản mộc xưa.

Ông Kỳ Hữu Phước kể rằng: Để giữ được những bản mộc của ông cha để lại, ông đã phải bọc nilon, chôn thật sâu dưới đất hàng chục năm. Bây giừo ông Kỳ Hữu Phước còn giữ lại vỏn vẹn có hai bộ mộc bản có tuổi trên 150 năm.

Năm 1999, trước nhu cầu của thị trường, nghề làm tranh giấy truyền thống Làng Sình đứng trước cơ hội được phục hưng. Những khuôn mộc thất truyền, người làm tranh bỏ công đi tìm lại nhưng số lượng không nhiều. Để có khuôn mộc in tranh truyền thống người làm tranh chỉ còn cách tìm lại những bức tranh được cất giữ rồi tự làm lấy bản mộc. Hiện tại, người làm tranh làng Sình phục hồi 25 bản mộc để in tranh truyền thống.

Giấy dó để làm tranh truyền thống được thay bằng loại giấy công nghiệp, màu cũng được thay bằng màu công nghiệp bán trên thị trường. Chính vì thế mà giá thành cho mỗi bức tranh cũng giảm đi đáng kể.

Từ việc đứng trước nguy cơ biến mất, đến vài ba hộ dân, tăng lên chục hộ rồi dần tăng lên con số vài chục hộ trở lại với nghề. Đến thời điểm này, làng Sình có 32 hộ làm nghề tranh truyền thống.

Tranh dân gian làng Sình thời hiện đại không còn giữ nguyên được bản chất truyền thống, bởi lẽ từ nguyên vật liệu đã được thay bằng những nguyên vật liệu công nghiệp, tiện lợi hơn gấp nhiều lần.

Có giấy, có màu công nghiệp, giờ đây người làm tranh truyền thống làng Sình mỗi ngày có thể in trên bản mộc 1.000 bức mỗi ngày. Các công đoạn in ấn, phối màu cũng được giảm thiểu, số lượng tranh cung cấp cho thị trường mỗi năm xấp xỉ 200 ngàn tờ.

Làm nhanh, số lượng nhiều, nhưng cái thần sắc của bức tranh làng Sình nổi tiếng một thời cứ mất dần đi.

Để bắt kịp với cơ chế thị trường, tăng số lượng tranh cung cấp cho thị trường những nghệ nhân chân đất gắn bó cả cuộc với nghiệp làm tranh truyền thống lại có ý tưởng công ngiệp hoá tranh truyền thống làng Sình!

Một dự án khuyến công của xã Phú Mậu, h.Phú Vang, TT-Huế đang được triển khai, theo dự án này, người dân làm tranh truyền thống sẽ được đầu tư mua máy xén, mua Rulô quay. Giấy sẽ không còn xén thủ công nữa, bản mộc được khắc hẳn lên bề mặt rulô, cách làm này không mục đích nào hơn là tăng năng suất làm tranh.

Lý giải cho cách làm này, nghệ nhân dân gian Kỳ Hữu Phước cho rằng: “ Với 30 triệu đồng đầu tư mua sắm máy xén, ru lô quay, rồi đây chúng tôi sẽ một mặt tăng năng suất, thu hút lao động để giữ vững làng nghề truyền thống cha ông”(?)

In bằng rulô thì nhanh thật, năng suất thật! Nhưng theo một nhà nghiên cứu nghệ thuật dân gian thì cái hồn của tranh làng Sình chính nằm ở cái vuốt tay trên mặt giấy khi in bảm mộc! Vậy thì làm kiểu “ công nghiệp” chắc rằng tranh làng Sinh sẽ mất cái hồn ấy!

Cách làm công nghiệp hoá tranh dân gian ở làng Sình, liệu rồi đây những bức tranh giấy được sản xuất tại đây có còn nguyên bản chất truyền thống dân gian?

Bảm mộc già tuổi nhất làng - 200 năm.

Bảm mộc già tuổi nhất làng - 200 năm.

tls

Trẻ con bây giờ là nhân lực chính trong công đoạn tô màu!

Theo Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam và Việt Báo

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »