Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm 8th, 2009

“ngôi nhà gốm” của ông Hồ Tấn Phan

Ngôi nhà ở số 28/5 phố Cao Bá Quát – TP Huế nằm khiêm nhường trong mảnh vườn khoảng 3.000 m2. Ngay từ cổng vào, chúng tôi đã thực sự choáng ngợp trước vô vàn gốm sứ, cổ vật…

Ông Hồ Tấn Phan có cơ duyên với cổ vật. Bắt đầu từ năm 1975, khi vợ ông, một nữ hộ sinh chuyên đỡ đẻ cho dân vạn chài ở Huế tình cờ nhặt ít hũ, lọ gốm do dân vạn chài vớt được dưới đáy sông, đưa về cho chồng xem…

…Cho đến nay, sau 33 năm say mê, miệt mài, lặng lẽ cóp nhặt, sưu tầm, tốn kém không ít công sức, mồ hôi và cả tiền của, ông đã là chủ nhân của gần chục ngàn cổ vật từ gốm sứ có niên đại xa xưa nhất thuộc thời kỳ tiền văn hóa Sa Huỳnh (cách nay khoảng 3.000 năm) đến những đồ gốm sứ, đồ đồng triều Nguyễn…

Ở tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn lặng lẽ với công việc sưu tầm cổ vật của mình. Chưa hề bán đi một cổ vật, cũng như chưa từng nhận sự trợ giúp của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào, ông chỉ mong ước trời cho mình sức khỏe để tiếp tục công việc để một ngày nào đó những cổ vật ấy được ra mắt công chúng.

 

Bài viết trước có liên quan:

Hồ Tấn Phan và cổ vật dưới các dòng sông Huế

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Cảm nhận khi đi xem triển lãm gốm nghệ thuật Việt Nam

Tác giả bài viết Đông Ngàn

 

Gnt VN-2

Triển lãm gốm Việt toàn quốc lần thứ nhất được bày liên hai tầng tại Bảo tàng mĩ thuật Việt Nam, khai mạc ngày 23/12/2008 và sẽ kéo dài trong nửa tháng. Đây là triển lãm toàn quốc thứ tư, sau các chất liệu sơn mài 2006,lụa 2007, sơn dầu 2008 và cuối cùng, gút lại công việc năm nay là triển lãm gốm của Cục Mĩ thuật nhiếp ảnh Bộ Văn hóa thông tin và du lịch. Triển lãm trưng bày 216 tác phẩm của 136 tác giả trong cả nước.

Với tôi, đây là triển lãm khá thú vị, rất đáng xem và nghĩ về nó..

Phát hiện thứ nhất ở triển lãm này sự đóng góp khá nhiều những gương mặt quen thuộc là các nhà điêu khắc và các họa sĩ hội họa, đồ họa, chứ không chỉ bó khuôn trong những tác giả gốm chuyên nghiệp. Trong đó có những họa sĩ rất ít mó máy vào đất, chỉ chơi chơi tham gia thôi nhưng lại có tác phẩm để lại ấn tượng khá mạnh mẽ .

Chính vì là các họa sĩ sáng tác, nên tác phẩm gốm của họ không đơn thuần còn là gốm trang trí mà đã đưa vào gốm ý tưởng xây dựng tác phẩm gốm có nội dung xã hội, những triết lí nhân sinh có cấu trúc điêu khắc rõ rệt. Và họ muốn coi gốm như một chất liệu cho tạo hình, muốn đẩy gốm lên một vị thế mới. Giống như sơn mài cổ điển chủ yếu để trang trí, thì các họa sĩ dần dần đã thành công trong việc làm tăng bảng màu cho tạo hình bằng những tranh sơn mài, vinh danh nó trên một tầm cao mới.

Có lẽ đây là một phát hiện hay cho gốm, lần đầu ra quân trên bình diện toàn quốc đã thấy hứa hẹn những khả năng gốm sẽ trở thành một chất liệu trong tương lai làm phong phú cho nghệ thuật tạo hình Việt nam.

Khoan hãy nói đến việc thành công, vì lần đầu tiên chất liệu này vào cuộc có tính thể nghiệm tạo hình. Để có sự thành công chắc con đường còn dài. Chất liệu sơn mài từ vai trò trang trí sang vị trí tạo hình trở nên hoàn thiện như bây giờ cũng tiêu mất thời gian trên nửa thế kỉ với mấy thế hệ họa sĩ. Vậy gốm có thể cũng phải trải nghiệm với thời gian không thể ít hơn thế, vì gốm nghệ thuật có nội dung xã hội cũng phải đi lên từ con số không. Vì trước nó chỉ có một số ít của gốm trang trí của các nghệ nhân

Trong triển lãm có một số tranh tạo hình thể hiện bằng gốm men làm giống như hội họa hoặc đồ họa, nhưng xem ra không thành công, vì khi làm như đồ họa nó lại ra chất lượng hàng lưu niệm hơn là một tác phẩm nghệ thuật. Còn khi định diễn tả như bức tranh tạo hình thì cũng không hơn vì nghèo nàn về màu, khô khan về đường nét và vì thế mà thiếu đi sự truyền cảm vì lửa và men không chiều theo ngay được sự rung cảm nghệ sĩ, còn khi ghép nối trên một mặt phẳng dù rất công phu và tâm huyết nhưng nó lại gợi cho ta cảm giác đồ hình hơn là một bức tranh.

Có lẽ hi vọng hơn ở hướng tạo hình theo lối nhìn điêu khắc tượng trang trí hoặc tượng tròn. Trong hướng này đã có những tác phẩm đẹp. Nhưng cũng phải tỉnh táo nhìn nhận là phần lớn tượng tạo hình theo lối điêu khắc chưa “ gốm” lắm vì hình như nó chưa nắm bắt được ngôn ngữ gốm. Những uốn éo vặn vẹo quá khích làm cho khối nát vụn, hoặc có những sắp đặt ghép nối giống những cục gạch thô xếp chồng lên nhau, đánh mất đi cái mượt mà đặc trưng của gốm. Điều này đã từng bộc lộ trong lụa, khi họa sĩ dùng màu bột hoặc tempera trát lên làm mất đi chất óng chuốt của lụa, làm sai lệch cách nhìn nhận về lụa một thời gian dài. Lụa mất dần thị trường, chất liệu đó buộc phải lùi vào sân sau. Còn sơn mài đã có một số biến sơn mài thành sơn đắp, hỏng đi đặc trưng của chất liệu này. Đành rằng tìm tòi đẩy sâu thêm chất liệu là cần thiết, nhưng cũng có cái tìm sẽ tạo cái mới, có cái lại là phá hỏng. Mọi tìm tòi chỉ thành công khi không làm hỏng hoặc suy giảm đi đặc trưng của chất liệu. Nếu không sẽ đi vào ngõ cụt.

Phát hiện thứ hai là khả năng nhìn gốm, nắm bắt kĩ thuật gốm của các họa sĩ khá nhậy bén. Khi quan sát các họa sĩ ra lò từ Yết Kiêu thì nhận định chung của giới là các họa sĩ phần nhiều có bảng mầu bầm lặng, tối rầm rầm từ sơn mài sang sơn dầu, đều gần thế cả. Có lẽ cả nghìn năm cha ông ta vầy bùn cho gốm đã ăn vào gen các thế hệ chăng. Những tranh trên giá với không gian hai chiều lại được bó chặt trong khung trông nặng nề thì nay đem cái nhìn đó sang gốm nó lại cho vẻ đẹp chắc bền và lung linh, vì nó được nuông ở không gian ba chiều đầy ánh sáng tôn vinh nó.

Phát hiện thứ ba là những tạo hình gốm theo lối truyền thống như lọ, thạp, bình là thành công hơn cả. Những gốm ấy đã phát huy được rất cao tính trang trí một cách khá chủ động. Họa tiết hoa văn kết hợp với màu men quện chặt lấy nhau níu mắt người xem. Có lẽ chưa bao giờ thấy được sự phong phú màu men gốm như trong triển lãm này. Nó cho ta thấy sức mạnh nội lực của mầu men là vô cùng đa dạng và phong phú. Nhất là bảng màu trầm tối, ấm hoặc lạnh của gốm có sức biểu hiện vô biên đến từng chi tiết nhỏ. Nếu khai thác thành công thì đó là hướng đi của gốm có thương hiệu Việt khá vững chắc ra với thế giới, sẽ có vị thế vững chắc như một thời cha ông ta đã thành công ở gốm Chu Đậu. Gốm sành trong triển lãm này cũng cho những hứa hẹn tương tự.

Phát hiện thứ tư là triển lãm này là gợi ý rất rõ cho việc cần bàn ngay đến sự kết hợp chặt chẽ giữa gốm và kiến trúc. Gốm vốn là chất liệu dân dụng và cũng là vật liệu chịu được rãi dầu với thiên nhiên trong mọi thời tiết và khí hậu. Sự kết hợp này sẽ tạo cho gốm phát huy ưu thế trang trí của nó, cũng như để những người yêu gốm có một vị thế vững chắc có thể sống chết với gốm, và khi gốm trang trí đã đi với kiến trúc sẽ thì cơ hội phát huy sức mạnh đặc trưng của nó mới bộc lộ nhiều hơn những gì ta tưởng…

 

Phát hiện thứ năm của tôi lại là một nhược điểm của các nghệ sĩ khi đặt tên cho các tác phẩm gốm. Vẫn biết cái tên là ý đồ là định hướng cho tác phẩm của mình, nhưng tôi thấy giống như các triển lãm hội họa trước đây, nhiều cái tên làm cho tác phẩm bị tù mù đi lại xuất hiện trong triển lãm gốm, làm cho khó hiểu thêm. Các cụ ta xưa chẳng đã từng dạy rằng khôn ngoan chẳng lọ thật thà, nếu chưa định vị được mạch lạc ý tưởng của mình thì hãy để gốm tự nói lên điều đó. Cái tên có thể bộc bạch nỗi niềm, nhưng cái tên cũng có thể giết tác phẩm.

.

Tôi cho rằng đây là một triển lãm thành công trong năm, là một sự kiện nổi bật của tạo hình trong chất liệu gốm, đánh dấu một bước khởi đầu tốt đẹp, hứa hẹn khá nhiều triển vọng.

Hy vọng rằng sau triển lãm này, công việc tiếp theo là làm cho gốm sống dậy trong đời sống xã hội.

Điều cuối cùng muốn nói là khâu tuyên truyền cho một triển lãm công phu và chất lượng này là quá yếu kém. Việc khó nhất là tổ chức hội mặt các tác giả trên bình diện toàn quốc đã làm được suôn sẻ thì khâu tuyên truyền quảng bá lại kém đến bất ngờ đã làm tuột đi mất bao công sức của nhà tổ chức, bởi rất ít người biết đến triển lãm thú vị này. 26/12/2008


MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ


Read Full Post »

Một số nhận định về tính ứng dụng của gốm nghệ thuật Việt Nam

Ngày 22/12, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm giới thiệu triển lãm Gốm nghệ thuật Việt Nam diễn ra từ ngày 23/12/2008 đến 5/1/2009 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

BTC đã nhận được 459 ảnh chụp tác phẩm gốm của 158 tác giả để từ đó chọn ra 216 tác phẩm của 134 tác giả thuộc 16 tỉnh thành trưng bày triển lãm. Trong đó, tác giả cao tuổi nhất có tác phẩm tham dự là Lê Ngọc Hân (75 tuổi), tác giả trẻ tuổi nhất là Phạm Vũ Việt Hà (21 tuổi).

Gnt VN-1

Sản phẩm gốm vẫn mang tính nghệ thuật trưng bày là chính

Đánh giá về các tác phẩm trưng bày trong triển lãm lần này, ông Hoàng Đức Toàn, Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, Trưởng BTC cho biết: “Các tác giả đã thể hiện được sự tìm tòi sáng tạo, tuy nhiên, việc tiếp cận thực tiễn và tính ứng dụng của các tác phẩm vẫn còn nhiều hạn chế”.

Đồng quan điểm với ông Hoàng Đức Toàn, ông Trần Khánh Chương, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam nhận xét: Đa phần các tác phẩm chỉ dừng ở nghệ thuật trưng bày là chính. Triển lãm có quy mô toàn quốc nhưng chưa phát huy được vùng miền. Nhiều địa phương có nghệ thuật gốm phát triển không tham gia như gốm Biên Hòa, gốm sông Bé, gốm Bình Dương… Vì thế, sản phẩm gốm tham gia triển lãm này không phong phú về chủng loại, chất liệu. Phần lớn là sản phẩm gốm sành nâu, chỉ có một phần là gốm sành trắng có tô màu. Đây chính là điểu đáng tiếc cho triển lãm Gốm lần này.

Gnt VN-3

Tuy nhiên, một điều đáng nói trong triển lãm lần này là ghi nhận sự tham gia nhiệt tình của các nhà điêu khắc, với các sản phẩm thể hiện sự kỳ công, sáng tạo, đặc biệt là về kiểu dáng. BTC sẽ chọn ra 10 sản phẩm để trao giải, mỗi giải trị giá 1,5 triệu đồng.

Theo nhận định chung của BTC, đây là triển lãm lớn của riêng lĩnh vực nghệ thuật Gốm Việt Nam. Triển lãm nhằm đánh giá sự phát triển của nghệ thuật Gốm hiện đại Việt Nam trong những năm gần đây đồng thời giới thiệu những tìm tòi sáng tạo mới của nghệ thuật này đến công chúng

“Gốm nghệ thuật hiện đại đứng ở đâu?”

Đó là câu hỏi trước đây 7 năm,do nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Đỗ Bảo nêu lên trong cuộc tọa đàm nhân Triển lãm gốm nghệ thuật Hà Nội tổ chức ngày 6/3/2001. Đó cũng là sự khái quát những ưu tư của anh em họa sĩ gốm Việt Nam.

Theo ông Bảo: “Sự nhầm lẫn giữa gốm và điêu khắc sử dụng chất liệu gốm, tình trạng chạy theo thị trường… khiến gốm chưa phải là gốm. Ngành gốm chưa có nhiều tác phẩm nghệ thuật mà phần lớn vẫn nhằm mục đích trang trí. Nhiệm vụ của các họa sĩ là sáng tạo những tác phẩm độc bản chứ không phải sản xuất hàng loạt để phổ cập”.

Ngược lại, nhiều ý kiến nêu ra trong hội thảo lại khẳng định phải nhanh chóng đưa gốm vào đời sống sinh hoạt. Các họa sĩ sáng tác cần quan tâm đến mục đích sử dụng trong tác phẩm của mình. Họa sĩ Nguyễn Quốc Bảo phát biểu: “Thậm chí một bộ đồ ăn hoàn chỉnh bằng gốm để đãi tiệc trong gia đình cũng chưa”. Một số nghệ sĩ ủng hộ quan điểm này cho rằng cần quan tâm để sáng tạo ra những tác phẩm có tính chất tiêu dùng, phục vụ sinh hoạt hơn nữa.

Thế nhưng, dù theo hướng nghệ thuật cao cấp hay dân dụng phổ thông, gốm Việt Nam vẫn đang ở trong thực trạng khó khăn mà các đại biểu phát biểu tại hội thảo này đều nói đến. “Triển lãm rồi lại đem về, không bán được, khách du lịch không mua mà họ thích mua tranh hơn”, họa sĩ Ngô Doãn Kinh nhận xét. Còn theo ông Trần Khánh Chương, Tổng Thư ký Hội nghệ sĩ tạo hình: “Họa sĩ gốm làm việc nhiều, tiền ít và hiếm khi nổi tiếng được”. Thầy Phạm Đắc Bảo phát biểu: “Bộ môn gốm xuống hạng rất nhiều trong trường Mỹ thuật Công nghiệp bên cạnh sự đi lên của đồ họa và thời trang”.

Cuộc tọa đàm kết thúc mà không đề ra được giải pháp nào giúp ngành đi lên, ngoài ý kiến đề nghị “Hai năm triển lãm một lần”. Vừa qua, Triển lãm gốm được tổ chức với 24 tác giả chuyên nghiệp, 151 tác phẩm và được coi là cuộc triển lãm có quy mô lớn lần đầu tiên của thể loại này.

Theo Hà Nội Mới & Lao Động

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ


Read Full Post »

Gốm cổ Việt Nam và những giá trị nghệ thuật

Gốm ra đời trước khi xã hội có giai cấp; gốm bắt nguồn từ nghệ thuật dân gian: tình cảm con người, tình cảm nghệ sĩ trực tiếp chuyển vào bản thân của gốm trước tiên qua lao động “nhào nặn”, làm cho bản thân của gốm rung cảm, nói lên tiếng nói của nghệ sĩ, của cuộc sống xã hội. Điều đơn giản này không phải dễ phát hiện ngay. Châu Âu vốn tự hào với nền công nghiệp gốm phát triển, khi đồ sứ Trung Quốc và Nhật Bản tràn sang, mới thấy “cần phải học tập không chỉ về kỹ thuật, mà cả về khái niệm đúng đối với hình dáng và lối trang trí tùy thuộc chất liệu này”.

Ở Nhật Bản, K. Phu-ki-ni, nhà nghiên cứu gốm lâu năm có một nhận xét đáng lưu ý: “Từ buổi bình minh của muôn vật, đời sống con người không bao giờ tồn tại mà không tự biểu hiện trong một loạt nào đó của tác phẩm đồ gốm”.

Gốm Việt Nam nổi bật những đặc tính truyền thống đó. Gốm Việt Nam không phân biệt giữa gốm “lò quan” và gốm “lò dân” như ở một số nước thời phong kiến, mặc dù có một số gốm làm ra phần nào phục vụ cho vua chúa.

Cho nên, muốn đánh giá nghệ thuật gốm Việt Nam, điều quan trọng là cần đứng chỗ đứng của nghệ thuật dân gian, cần nhìn rõ mối quan hệ giữa gốm và cuộc sống của đông đảo quần chúng đương thời. Không vì thấy thiếu hào nhoáng, thiếu lộng lẫy mà không thấy cái cốt lõi rất quý của gốm Việt Nam, thường mang tính trong sáng, nhuần nhuyễn, bình dị, có khi còn thô sơ như tiếng nói giọng hò quen thuộc trong nhân dân.

Dưới đây, xin lược qua đặc điểm của một số loại gốm chính Việt Nam bao gồm:

I. Buổi sơ khai của nghệ thuật gốm đất nung

Nhiều cuộc khai quật trong vòng hai mươi năm trở lại đây cho thấy bộ mặt gốm đất nung cách đây 5.000 năm đến đầu công nguyên thật là phong phú. Có thể nêu lên một số điển hình:

Gốm Phùng Nguyên (và gốm nhiều di chỉ cùng loại), cách đây 5.000 đến 4.000 năm, tổ tiên ta đã biết sử dụng bàn xoay thành thục, đã biết trang trí lên gốm bằng những nét khắc tinh xảo, chủ yếu là hoa văn răng lược, khắc vạch, làn sóng, một số thiên về lối hình học (như gốm Gò Bông). Đã biết dùng màu đất trắng và màu đá son tô thắm lên bề mặt hình khắc của gốm trước khi nung; đã biết nung độ lửa già nhất của đất nung (như gốm Việt Tiến).

Gốm Đồng Đậu (và gốm nhiều di chỉ cùng loại), cách đây khoảng 3.500 năm, hoa văn càng đa dạng: xoắn ốc, răng cưa, đường chấm song song, hình trám in, v.v… Đặc biệt, còn tìm thấy tượng bò tót, tượng chim, đầu gà…

Gốm Gò Mun (và gốm nhiều di chỉ cùng loại), cách đây trên 3.000 năm, hoa văn hình học chiếm ưu thế. Nhiều hoa văn rõ ràng bắt chước hoa văn trên đồ đồng (kể cả một số hoa văn thuộc gốm Đồng Đậu).

Gốm Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun không chỉ sớm phong phú về hoa văn, mà cũng phong phú về hình dáng. Nhiều hình dáng cho đến sau này vẫn còn được bảo tồn trong các lò gốm dân gian, như loại vò có miệng loe đứng, cổ cao, bụng nở (Đồng Đậu); loại vò cũng như nồi cỏ miệng loe rộng, cổ ngắn, bụng nở (Đồng Đậu); loại vò, nồi, có miệng loe xiên, cổ thắt (Đồng Xấu); bát, bình, cốc, ống nhổ chân thấp, chân cao (Phùng Nguyên), v.v… Ơở miền Nam, gốm vùng châu thổ sông Cửu Long, quãng những thế kỷ đầu công nguyên, gốm Sa Huỳnh quãng thế kỷ thứ 5, cũng có nhiều hoa văn làn sóng, hình học, nhiều hình dáng rất gần gũi với gốm cổ vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Có hình dáng điển hình của gốm miền Nam như cái lu, cái chĩnh vẫn bảo tồn cho đến nay ở nhiều cơ sở sản xuất gốm trong Nam. Riêng hình cái chĩnh khá giống hình một số gốm Đông Sơn được phát hiện khá nhiều.

Người ta từng đặt câu hỏi: trong thời đại đồng thau phát triển rực rỡ, gốm đất nung sao vẫn còn trang trí ngày một công phu và có xu hướng bắt chước đồ uống, nhất là về mặt hoa văn?

Điều có thể khẳng định được là:

Nghệ thuật dân gian tồn tại và phát triển từ trong cuộc sống của quần chúng, thường được thể hiện rộng rãi nhất từ những chất liệu thông thường nhất, từ những đồ dùng thông thường nhất (như đồ mây tre tiếp đến là đồ đất nung).

Nghệ thuật đất nung bắt chước nghệ thuật đồ đồng, không hề giảm mà còn làm sáng tỏ thêm phong cách nghệ thuật đồ đồng cùng thời. Gốm bắt chước đồng càng làm càng sáng tỏ thêm quá trình phân hóa giai cấp của xã hội đương thời.

Mối tương quan khá rõ nét giữa các nền nghệ thuật cổ xưa trên cùng một dải đất Việt Nam nói riêng, trên khu vực Đông Nam Aá nói chung được phản ánh qua phong cách nghệ thuật đồ đồng cũng như phong cách nghệ thuật đồ đất nung cùng thời.

2. Gốm hoa nâu và tiền thân của nó

Từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ 10, các nhà nghiên cứu trước đây mới chỉ nhắc đến gốm “Hán bản địa”, tức là những loại gốm đất nung hoặc sành xốp có men hoặc không men, tìm thấy trong các ngôi mộ người Hán chôn cất trên đất Việt Nam, phần lớn làm theo dạng gốm minh khí của Trung Quốc đương thời. Nhưng bên cạnh loại gốm này, còn vô số loại đất nung, sành nâu, sành trắng vẫn được tự sản tự tiêu trong các cộng đồng làng xã. Những loại gốm này vẫn tiếp tục những truyền thống của gốm cổ xưa, nhất là về mặt hình dáng. Di chỉ Cụ Trì (Thanh Miện – Hải Hưng) là một khu vừa mộ táng, vừa cư dân thuộc thời kỳ đó, đã tìm thấy chiếc vò, hũ men da lươn mỏng dính, dáng giống dáng gốm Đồng Đậu, và cũng còn rất quen thuộc cho đến ngày nay. Men da lươn căn bản làm bằng chất tro pha với đá son, đá thối và một số ít đất, vôi khác mà cha ông ta đã biết tận dụng nguyên liệu địa phương hầu như có sẵn khắp nơi.

Gốm hoa nâu, thường thuộc loại sành xốp, men ngà bóng, hoa văn màu nâu. Hoa được khắc vạch trên xương đất ướt trước khi tô màu. Cũng có loại nền nâu, hoa văn trắng. Dần về sau, gốm hoa nâu được thể hiện theo nhiều kỹ thuật khác nhau, nhưng căn bản vẫn bấy nhiêu chất liệu: men tro, đá son, đá thối hoặc rỉ sắt, hoàn toàn giống nguyên liệu của gốm men da lươn.

Đặc điểm phong cách của gốm hoa nâu là hình dáng đầy đặn, chắc khỏe, phù hợp với lối khắc, lối tô mảng to mảng nhỏ sâu nông tùy tiện, và trên nền rất thoáng. Đề tài trang trí rất gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống của Việt Nam: tôm, cá, voi, hổ, chim khách, hoa sen, hoa súng, lá khoai nước, lá râm bụt, võ sĩ đấu giáo, cưỡi voi, v.v… Một số gốm hoa nâu về sau bắt chước phong cách thể hiện của gốm hoa lam. Từ đó, mất dần vẻ đẹp độc đáo của gốm hoa nâu.

Nghiên cứu quá trình phát triển gốm hoa nâu, có thể cho ta một số khẳng định:

Gốm hoa nâu vốn có từ trước thế kỷ 11, ra đời cùng với gốm men da lươn. Việc sử dụng đá son tô lên gốm vốn có từ thời nguyên thủy (gốm Phùng Nguyên). Cho đến ngày nay, ở nhiều lò dân gian vẫn có những nghệ nhân dùng chất liệu và kỹ thuật này để làm những tác phẩm riêng biệt.

Giai đoạn tiêu biểu nhất của gốm hoa nâu, về mặt nghệ thuật cũng như kỹ thuật, là từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13. Nó mang rõ nét của loại gốm hoa nâu rất Việt Nam, không một loại gốm nước ngoài nào lẫn lộn được. Chỉ một màu nâu mà tạo ra nhiều sắc thái, không đơn điệu.

Ơở đây, cần nhắc đến luận điểm của một số nhà nghiên cứu Pháp trước đây, cố tình cho rằng gốm hoa nâu Việt Nam bắt chước gốm Từ Châu của Trung Quốc.

Thật ra, lò hình dân gian Từ Châu của Trung Quốc mà tiêu biểu là gốm hoa đen, xét về kỹ thuật, phong cách thể hiện, hoàn toàn không giống gốm hoa nâu Việt Nam: màu đen lấy từ chất gỉ sắt có hàm lượng măng gan nhiều; cách vẽ lưu loát của bút nho không liên quan gì đến lối khắc và tô son của gốm hoa nâu Việt Nam. Hơn nữa, đồ án trang trí, lối cách điệu hoàn toàn khác. Cũng như ở Thái Lan, vẫn có gốm hoa nâu với nền màu men da lươn cổ xưa gọi là gốm Su-cô-tai. Nó vẫn có màu sắc sáng tạo riêng của nó.

3. Gốm men ngọc

Gốm men ngọc cũng đã phát triển từ trước thế kỷ 11. Một số lọ men ngọc tảo kỳ, có thể vào thế kỷ thứ 8, thứ 9, dáng rất chắc khỏe, men phủ khá dầy. Khá nhiều hiện vật cùng kiểu men còn sống, chứng tỏ kỹ thuật men ngọc ban đầu chưa thành thục. Xương đất và men chứa nhiều hàm lượng sắt, không những tạo điều kiện làm ra men da lươn, mà còn tạo điều kiện làm ra men ngọc. Trong nghề gốm, từ những kết quả ngẫu nhiên dẫn đến những kết quả dụng ý là sự việc thường làm. Quy luật tìm ra men ngọc ở Trung Quốc, ở Việt Nam, ở Triều Tiên,… từ thời xưa chắc cũng như vậy với điều kiện nguyên liệu và phương pháp nung tạo kiểu châu Á gần như nhau.

Gốm men ngọc Việt Nam, với hoa văn khắc chìm hoặc in nổi chủ yếu trong lòng bát, lòng đĩa dưới mầu men ngọc trong suốt, cho ta một vẻ đẹp dịu dàng sâu đậm. Cũng có cái do việc nung lửa không đều, mà từ mầu ngọc xanh ngả sang mầu vàng úa, vàng nâu. Đề tài trang trí thường là hoa lá, chim phượng, một số ít có hình người lẫn trong hoa lá. Hoa văn men ngọc có ảnh hưởng nhiều của hoa văn chạm khắc lên đá đương thời.

Một số học giả phương tây trước đây cho rằng gốm men ngọc Việt Nam mà họ mệnh danh là đồ Tống Thanh Hóa (vì tìm thấy nhiều tại Thanh Hóa), do các “di thần” nhà Tống biết nghề gốm làm ra. Họ là những người chạy loạn sang Việt Nam dưới thời Trung Quốc bị quân Nguyên xâm chiếm (1279 – 1368). Một số học giả Việt Nam trước đây cũng vội vã trích dẫn theo. Đó là điều lầm lẫn đáng tiếc và hoàn toàn thiếu khoa học.

Thật ra, gốm men ngọc Trung Quốc thời Bắc Tống hay Nam Tống, xương đất rất đanh và nặng, hầu như đã thành sứ. Chất liệu men cũng nặng về thành phần đá hơn là gio, nên xương đất và men quyện vào nhau. Mầu men ngọc được chủ động do điều khiển lửa hoàn nguyên khá cao và chính xác. Nhưng một số ít men ngọc thuộc các lò dâu vùng Hoa Nam, đặc biệt là vùng Quảng Đông, thì xương rất nhẹ, phủ men gio, nên bộ mặt có những nét dễ giống với gốm men ngọc Việt Nam. Trường hợp này, vẫn có thêm nhiều yếu tố đối chứng khác để phân biệt.

Gốm men ngọc cũng rất thịnh hành ở những thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, nửa đầu thế kỷ 14. Khi có gốm hoa lam và gốm nhiều mầu, thì gốm men ngọc, cũng như gốm hoa nâu, phải nhường bước cho loại gốm mới. Đó là điều tất yếu. Mấy học giả phương Tây cho rằng khi quân Minh chiếm lại đất Trung Quốc, các di thần nhà Tống trở về nước, đem theo cả bí quyết làm gốm men ngọc, nên “đồ Tống Thanh Hóa” bị mai một. Đó là lối suy diễn nếu không có dụng ý, thì cũng không dựa trên một cứ liệu khoa học nào cả.

4. Gốm hoa lam

Gốm hoa lam có từ cuối thế kỷ 14. Hình dáng và bút pháp ban đầu rất đơn giản. Mầu lam dưới men lộ rõ sắc, men bám chặt vào xương đất có độ rắn cao. Đó là loại “sành sứ” được phát triển cho đến ngày nay, tuy phong cách mỗi thời đều có thay đổi. Gốm hoa lam thường trang trí dưới men, nhưng không khắc vạch, và chỉ vẽ lối nhẹ nhàng như thủy mạc. Vẽ đẹp tiêu biểu của gốm hoa lam Việt Nam là lối vẽ phóng bút trên các lọ hoa, chân đèn, bát đĩa to hoặc nhỏ nhất là từ cuối thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 17. Đề tài trang trí thường là rồng, phượng, mây, hoa sen, hoa cúc dây, v.v… Với mầu lam ngả về xám trên nền trắng hơi ngà. Hình dáng của loại này cũng có nhiều cái đẹp độc đáo: bát, chén, đĩa chân rất to và rất cao; chân đèn, lọ hoa dáng khỏe mà thanh nhã. Đặc biệt từ giữa thế kỷ 15, một số chân đèn, lư hương, lọ hoa, con giống không những khắc niên đại mà có khi còn khắc cả tên người làm. Đó là điều rất hiếm trong nghệ thuật cổ đại Việt Nam. Cũng cần nói thêm: bát men ngọc thời Lý thì chân nhỏ xíu và bát hoa lam thời này chân rất to và cao, trước tiên là do yêu cầu kỹ thuật thay đổi có lợi về mặt kinh tế (từ việc sử dụng con kể chuyển sang cạo men ở lòng bát để chồng lên nhau khi vào lò, thì với một loại xương đất nào đó, buộc phải chuyển việc làm bát từ chân nhỏ thành chân to và cao để khỏi dính nhau). Có nhiều học giả nước ngoài và trong nước trước đây nhân cái bát chân to nhỏ khác nhau mà đoán định nguyên nhân chính thuộc về mặt tư duy, hoặc thuộc về mặt tôn giáo là không đúng. Điều đáng nêu là sự phối hợp giữa kỹ thuật và nghệ thuật ở đây khá tài tình; làm cho gốm chân nhỏ hay chân to đều tạo nên được vẻ đẹp đáng giá.

Gốm hoa lam từ thế kỷ 19 trở về sau kém đẹp có lẽ do thị trường xuất khẩu hạn chế. Nước men kém trong, do chất liệu về đất pha vào men có thay đổi. Như nhiều loại bình, chóe có niên hiệu Gia Long không những men kém chảy, kém trong mà hình dáng nặng nề, trang trí mảnh dẻ không ăn với nhau, báo hiệu giai đoạn đi xuống của gốm hoa lam. Về sau, kỹ thuật gốm hoa lam có tiến bộ hơn; nhưng lối vẽ tay thành thục của những thế kỷ xưa nhường bước cho lối in hoa, không cho phép trở lại cái đẹp như trước được nữa.

Gốm hoa lam Việt Nam đối chiếu với gốm hoa lam dân gian Trung Quốc xuất hiện từ đời Minh trở về sau có mối ảnh hưởng qua lại. Nhưng bút pháp mỗi bên đều vẫn nhận ra sự khác biệt căn bản.

5. Gốm vẽ mầu trên men và gốm nhiều men mầu.

Gốm vẽ mầu trên men dường như chỉ để xuất khẩu. Hiện nay, mới phát triển các loại bát đĩa với hình dáng và xương đất giống các loại gốm hoa lam ở những thế kỷ 15, 16. Mầu trên men chủ yếu là mầu đỏ đậm, mầu xanh đồng, mầu lam nhạt. Theo tư liệu trong nước và nước ngoài, đối chiếu với một số gốm cổ Việt Nam phát hiện tại Nhật Bản, Nam Dương, Phi Luật Tân, càng xác minh loại gốm này xuất bán tại các nước vùng Đông Nam Aá khá nhiều ở thời điểm trên. Hiện vật gốm mầu trên men còn sót lại ở Việt Nam rất hiếm. Viện bảo tàng lịch sử còn giữ được một bát miệng loe, mầu trên men đã bị bong nhiều. Sở Văn hóa Hà Nội còn giữ được một đĩa to vẽ kỳ lân, mầu cũng đã bị bong ít nhiều.

Gốm nhiều men mầu, thịnh nhất và đẹp nhất là ở thế kỷ 10, 17. Giai đoạn này, nghệ thuật điêu khắc gỗ ở các đình chùa đạt đến đỉnh cao. Gốm dùng vào việc thờ cúng cũng bắt chước điêu khắc gỗ; rất nhiều lư hương, chân đèn, gốm chạm trổ công phu theo kiểu nghi môn, cửa võng, với đề tài rồng, phượng, hạc, tôm, cá, người v.v… y hệt kiểu chạm gỗ đương thời. Hiện vật được phủ các mầu men vàng đậm, xanh đồng, lam, trắng ngà chảy bóng và trong suốt quyện vào nhau; lại có mảng để mộc không men. Tất cả tạo nên một hòa sắc quý và đẹp đặc biệt Việt Nam.

Sau này, gốm nhiều men mầu khôg được đẹp như trước, như gốm trang trí chùa Hưng Ký (Hà Nội) hay gốm men mầu ở Biên Hòa, Lái Thiêu (Thành phố Hồ Chí Minh). Loại men này đã chuyển sang một công thức khác, tuy dễ làm, nhưng nước men bị đục như nước sơn tây, hạn chế diễn tả được chiều sâu của gốm.

6. Gốm trong kiến trúc

Đẹp của gốm Việt Nam không chỉ trong đồ dùng, mà cả trong kiến trúc. Năm 1937, trong cuộc khai quật di chỉ chùa Vạn Phúc (Phật Tích), tìm thấy các loại gạch và đá chạm trổ hình rồng, phượng, hoa văn của thế kỷ 11. Có viên gạch còn ghi rõ niên hiệu dựng tháp “Năm Long Thụy Thái Bình thứ 4, triều vua thứ 3 nhà Lý” (1057). Văn bia của ngôi chùa cũng ghi rõ “Vị hoàng đế thứ 3 của nhà Lý (Lý Thánh Tôn) năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 cho dựng ở đây một ngọn bảo tháp cao 10 trượng (42m) và một pho tượng thếp vàng cao 6 xích (2,4 mét). Tháng chạp 1940, cuộc khai quật thứ hai tìm thấy chân tháp nằm sát mặt đất, mỗi chiều dài 8,5 mét còn nguyên vẹn các lớp tường và chân tháp dày 2,75 mét, xây bằng nhiều loại gạch kích thước khác nhau…

Tại Vĩnh Phú, tháp gạch Bình Sơn xây vào thế kỷ 14, với công trình chạm trổ cũng rất công phu; gồm 14 tầng, cao và to bằng nửa tháp Vạn Phúc. Trong những năm giặc Mỹ bắn phá ác liệt; Chính phủ ta vẫn cho tu sửa lớn vì tháp sắp đổ. Qua tu sửa, phát hiện tháp này đã có một lần bị xáo trộn để xây lại vào thời Lê (do có một số gạch chạm thay thế có họa tiết muôn hoa, và do gạch một số tầng thấy được xếp lại lẫn lộn). Qua nghiên cứu tháp Bình Sơn và những mẫu gạch ở tháp chùa Vạn Phúc; cũng như ở một số nơi khác, có thể hình dung lối làm tháp cổ của Việt Nam như sau:

Tháp gạch chạm nổi của Việt Nam là một loại kiến trúc khá quen thuộc thời xưa. Có những phường thơ chuyên xây tháp khá đồng bộ.

Do quá quen thuộc, nên kiểu cách và mẫu trang trí trên tháp chỉ cần được phác thảo sơ qua trên các viên gạch ướt tại công trường làm tháp. Qua đó, các nghệ nhân đã lĩnh hội kiểu cách, kích thước để tiến hành mọi công việc xây tháp. Đây là lối sáng tạo dân gian, dùng trí tưởng tượng là chính, dùng đồ án là phụ.

Việc xây lớp gạch trang trí bên ngoài của tháp là làm thành từng lớp đắp nổi dính liền 4 mặt với nhau. Sau đó, tùy tình hình mà cắt ra từng mảnh không đều để đem nung. Nhờ thế mà nhìn chung toàn bộ tháp, các ô gạch không đều đã tạo thành một phong cách khá thoải mái, tùy tiện trong cái thế cân đối chung.

Lối xây tháp Bình Sơn khác xa lối xây tháp Chàm xưa kia. Tháp Chàm thường xây độ dày ít nhất là 3m. Người ta xây gạch lớp ngoài rất đều nhau với một chất vữa hết sức mỏng và rất kết dính, hiện chưa tìm ra công thức. Chỉ khi nào xây gạch xong, người ta mới đục chạm lên tháp đã tạo nên những hình nổi trang trí rất tinh xảo. Hiện có một số tháp còn để lại dấu vết đục chạm chưa xong ở một hai mặt, chứng tỏ nhận định này là đúng. Có giả thuyết trước đây cho rằng tháp được chạm trổ khi còn ướt, rồi phủ chất đốt để nung. Giả thiết này, chỉ riêng xét về mặt phản ứng lý hóa, cũng đã thấy hoàn toàn không đứng vững.

Ngoài những tháp gạch lớn, còn có khá nhiều tháp nhỏ có phủ men xanh đồng rất đẹp: “Tháp xanh” cạnh tháp Bình Sơn, hiện còn để lại một mẫu gạch đất trắng men xanh hình cánh sen đắp nổi, cùng kiểu cách với tháp Bình Sơn; Tháp gạch men xanh phía sau chùa Phổ Minh (Hà Nam Ninh) còn khá nguyên vẹn nhưng men đã tróc gần hết. Một số tháp men xanh nhỏ bị đổ nát trên núi Yên Tử hiện còn dấu vết… Bệ thờ đất nung chạm nổi chùa Mui (Hà Sơn Bình), thành miệng giếng nước đất nung hình cánh sen Hải Hưng) cũng đều là những công trình kiến trúc đẹp và hiếm có, còn giữ lại được đôi phần.

Nhìn chung về gốm kiến trúc, thì những công trình cổ đại khá công phu, nhiều kỹ thuật phức tạp, nhiều phong cách nghệ thuật vừa đồ sộ, vừa tinh tế; chỉ một loại gạch nung mà không đơn điệu. Trong thời đại ngày nay, nếu biết phát huy truyền thống gốm kiến trúc xưa để áp dụng vào những đài kỷ niệm lớn thì chắc chắn sẽ đem lại kết quả lớn.

Tìm hiểu nghệ thuật gốm Việt Nam đòi hỏi nhiều công phu, nhiều thời gian. Trong hàng chục năm qua, những công việc sưu tầm, đối chiếu, hệ thống hóa tư liệu và hiện vật gốm; những công việc nghiên cứu, thể nghiệm các loại gốm cổ truyền, những kết quả của nhiều cuộc khai quật di chỉ, đã thực sự giúp ta khẳng định quá trình phát triển nghệ thuật gốm Việt Nam thêm rõ ràng và chính xác, có cơ sở để loại bỏ những đoán định sai lầm về gốm Việt Nam do vô tình hay dụng ý xấu của một số học giả nước ngoài trước đây. Trong tương lai, việc khai quật được tiến hành đồng đều khắp cả nước, việc phát hiện nhiều lò gốm xưa điển hình; sẽ bổ sung dần lịch sử nghệ thuật gốm Việt Nam phong phú và giàu tính khoa học hơn.

Phát huy truyền thống xưa, đưa nghệ thuật gốm hiện đại đến một mức cao hơn trong việc phục vụ nhiều mặt của cuộc sống xã hội ngày nay. Đó là xu hướng chung mà nhiều nước trên thế giới hiện đang đề cập tới. Đó cũng là yêu cầu, mục đích của nghệ thuật gốm Việt Nam hiện còn nhiều khả năng tiềm tàng, đang chờ đón những ngày nở rộ.

nguồn:cinet.gov.vn

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Nghệ thuật gốm Việt Nam : quá khứ và hiện tại

small

Hàng ngàn năm nghề: Không phải vô cớ mà tên làng gốm nổi danh đã đi vào ca dao và gắn bó với mỗi người Việt Nam.  Là  quốc gia được ghi tên vào danh sách những cái nôi của nghề gốm thế giới, Việt Nam tự hào khi làm chủ nghề gốm gần một vạn năm qua. Trải qua bao dâu bể của thời gian, gốm Việt Nam vẫn luôn mang trong mình vẻ duyên dáng riêng biệt, không thể lẫn khi đặt cạnh những tác phẩm gốm sứ của Trung Hoa, Nhật Bản hay Châu Âu. Cũng vẫn là những nguyên liệu thô sơ truyền thống là đất, nước và lửa nhưng nhờ tài hoa của người thợ và tâm hồn dân tộc thấm đẫm trong từng sản phẩm nên những nguyên liệu tưởng chừng câm lặng ấy luôn có tiếng nói riêng, dù chúng được làm ở dạng đất nung, sành nâu, sành xốp, sành trắng hay đồ sứ.

Từ cuối văn hoá Hoà Bình đến đầu văn hoá Bắc Sơn (cách ngày nay gần một vạn năm), tổ tiên người Việt đã biết lấy thứ đất dày, thô, có pha cát hoặc bã động vật… để tự  tay mình nặn những đồ đựng, đồ đun nấu và sau khi nung qua lửa chúng trở thành những vật dụng thiết thân nhất cho cuộc sống. Rồi làm nhiều thành quen, từ những vật dụng đơn giản ấy, người Việt đã ngày càng trở nên thuần thục trong việc tạo nên các sản phẩm gốm có độ tinh xảo hơn, mang cả bản sắc của từng nền văn hoá riêng biệt  như văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun thuộc Bắc Bộ; Đông Sơn, Sa Huỳnh ở Trung Bộ hay Cầu Sắt, Óc Eo ở Nam Bộ.  Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ IX, Việt Nam rơi vào thời kỳ thống trị của phong kiến phư¬ơng Bắc, nghề gốm của người Việt vừa tiếp tục phát triển trên vốn kinh nghiệm cổ truyền vừa tiếp thu những tinh hoa của nghề gốm Trung Hoa. Những trung tâm gốm được hình thành và phát triển ở Thanh Hóa với gốm đất trắng, ở Bắc Ninh với gốm nâu và ở cả vùng vương quốc Chăm-pa với đồ đất nung đã tạo nên sự đa dạng, phong phú đặc biệt. Người Việt thời kỳ này cũng đã sáng tạo  thêm chất liệu mới là sành xốp sử dụng đất sét trắng không men hoặc được phủ men, đồ sành nâu và chủng loại gốm kiến trúc.

Gốm sứ Việt và tâm hồn Việt: Từ  thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV là kỷ nguyên của độc lập dân tộc, nghề gốm Việt Nam càng có điều kiện tiến những bước dài về kỹ thuật và nghệ thuật. Để phục vụ đời sống của triều đình và nhân dân, các loại đồ sành xốp tráng men đ¬ược sản xuất đa dạng, tinh xảo với các sản phẩm nổi tiếng như¬ thạp, liễn, bát đĩa, ấm chén bằng gốm hoa nâu, gốm hoa trắng, gốm men ngọc, gốm men nâu, gốm men trắng ngà… đã được ra đời. Họa tiết chủ yếu của gốm thời kỳ này là hoa, lá và các loại động vật như¬ chim, cá… Ngư¬ời ta đã biết sử dụng các loại lò cóc, lò nằm khoét vào đồi núi, lò rồng để nâng nhiệt độ nung cho sản phẩm lên tới 1200oC. Giai đoạn này cũng đã hình thành các vùng gốm có tính tập trung và chuyên nghiệp hóa ở Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Dư-ơng, Ninh Bình. Các sản phẩm gốm Việt Nam đã đư¬ợc xuất khẩu sang Trung Quốc, Indonesia… qua cửa khẩu Vân Đồn (Quảng Ninh).

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, các trung tâm sản xuất gốm “nở rộ” và mang tính chuyên nghiệp cao hơn hẳn với những phong cách vô cùng đa dạng về nguyên liệu, kiểu dáng, họa tiết cũng như men phủ. Nổi tiếng nhất phải kể đến Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (Hải D¬ương) chuyên sản xuất các sản phẩm sành xốp và sành trắng hoa lam, gốm men màu, gốm tam sắc và gốm men rạn; Thổ Hà (Bắc Ninh), Hư¬ơng Canh (Vĩnh Phúc) làm sành nâu sắc đỏ không men; Phù Lãng (Bắc Ninh) làm sành nâu có phủ men da l¬ươn đ¬ược làm từ tro và bùn hoặc đá; Đình Trung, Hiển Lễ (Vĩnh Phúc), Vân Đình (Hà Tây) làm đồ đất nung… Về mặt kỹ thuật, các loại lò cóc, lò rồng, lò đàn đã được sử dụng khá rộng rãi, nhiệt độ và chế độ nung, điều khiển lửa tiến bộ và chủ động. Loại men tro trấu, tro cây và cả men đá đ¬ược sử dụng phổ biến. Kỹ thuật vẽ hoa d¬ưới men và trên men đã đạt độ thành thục.

Đến thế kỷ XX, bên cạnh các cơ sở gốm truyền thống, một số cơ sở gốm mới hình thành và trở nên nổi tiếng  như¬ gốm Móng Cái (Quảng Ninh), gốm Cây Mai (Sài Gòn), gốm Lái Thiêu (Bình Dư¬ơng), gốm Biên Hoà (Đồng Nai)… Thế kỷ XX cũng đánh dấu sự ra đời của các sản phẩm sứ đầu tiên tại Hải D¬ương từ nguồn nguyên liệu đất sét trắng, cao lanh… đã làm cho kho tàng nghệ thuật gốm Việt Nam ngày một phong phú hơn.

Có thể nói, cùng với thời gian, các sản phẩm gốm Việt Nam ngày càng  mang đậm tâm hồn Việt bởi sự sáng tạo vô cùng phong phú khi tạo nên sự đa dạng của gốm men màu trên men, gốm hoa lam kết hợp với gốm men da ¬lươn, gốm men màu vẽ nét chìm hoa văn ở Bình Dương; gốm men lửa trung ở Đồng Nai với hoa văn khá chi tiết và màu sắc tư¬ơi tắn, rực rỡ. Sản phẩm của mỗi vùng đều có những nét đẹp rất riêng biệt, không có sự dập khuôn, sao mẫu. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều n¬ước Châu Âu, Châu Á đặc biệt là Nhật Bản và Đông Nam Á, Tây Á đã nhập khẩu gốm Việt Nam với số l¬ượng lớn ngay từ thế kỷ XIV- XVI.  Người chiêm ngưỡng có thể dễ dàng nhận biết vẻ đẹp nhuần nhị, tinh tế của một sản phẩm gốm Bát Tràng, vẻ khoẻ khoắn, phá cách của gốm Phù Lãng hay cái hồn mộc mạc trong đồ gốm của người Chăm. Chính sự hoà quyện tuyệt vời giữa đất, nước, lửa với tâm hồn người Việt đã tạo nên một nghề mang đầy tính nghệ thuật, được mọi người dân Việt Nam và bạn bè thế giới trân trọng.

Kỹ thuật sản xuất – tìm phong cách riêng từ  “công thức” chung: Một sản phẩm gốm đẹp làm rung động lòng người luôn là sự kết hợp tinh túy giữa tính sáng tạo nghệ thuật và sự tuân thủ các nguyên tắc kỹ thuật. Khác với các quá trình sản xuất cơ giới hoá, sản xuất gốm yêu cầu tính sáng tạo nghệ thuật rất cao và chính với sự sáng tạo đó những người thợ gốm đã thổi hồn mình vào đất để tạo ra các sản phẩm gốm độc đáo, luôn luôn có sức cuốn hút mãnh liệt và mang nặng yếu tố con người.

Để làm ra đồ gốm, người thợ luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men và cuối cùng là nung sản phẩm. Tuy thế ở mỗi trung tâm gốm sứ, những kinh nghiệm phong phú của quy trình lao động kỹ thuật lại sớm được đúc kết, để rồi trở thành những phong cách truyền thống riêng, tạo nên dáng vẻ không thể trộn lẫn trong tác phẩm của mỗi làng nghề.

Chọn và xử lý đất : Đất sét dùng để làm gốm phải có độ dẻo cao, hạt mịn, độ co ngót khi khô bé và có khả năng chịu lửa theo yêu cầu của mỗi loại sản phẩm gốm. Đất sét phải được xử lý để loại bỏ các tạp chất chứa trong nó. Trong quá trình xử lý, tùy theo từng loại gốm mà người ta có thể pha thêm cao lanh ở mức độ nhiều ít khác nhau. Có loại đất sét mỡ ít cát, hút nước nhiều, quá dính thì phải pha thêm cát và một số chất không dẻo để chống rạn nứt trong khi phơi hay nung gốm.

Tạo dáng : Là khâu đặc biệt quan trọng trong quy trình sản xuất. Từ những mảng đất đã được xử lý, người thợ bắt đầu truyền cho mỗi sản phẩm một hình dáng riêng biệt. Người thợ gốm có thể sử dụng phương pháp vuốt tay, be chạch trên bàn xoay hoặc tạo hình theo khuôn in. Sản phẩm sau khi tạo dáng còn ướt và rất dễ biến dạng do đó phải tiến hành phơi sản phẩm sao cho khô đều, không bị nứt nẻ, không làm thay đổi hình dáng của sản phẩm.

Trang trí hoa văn : Để nâng cao tính nghệ thuật cho tác phẩm gốm, người thợ gốm dùng bút lông vẽ màu lên sản phẩm với đủ loại hoa văn. Đôi khi họ cũng dùng các hình thức trang trí khác như đánh chỉ (định vòng tròn quanh miệng, thân hoặc chân sản phẩm bằng màu hoặc men màu) hay bôi men chảy (một loại men trang trí) lên miệng sản phẩm để khi nung men chảy tỏa xuống tạo nên những đường nét màu sắc tự nhiên hài hòa. Nhiều gia đình lại sử dụng kỹ thuật hấp hoa lên bề mặt gốm tráng men đã nung chín.

Tráng men :  Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ không cao rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên rồi mới nung. Đối với các sản phẩm lớn người ta hay dùng phương pháp dội men hay phun men, còn các sản phẩm bé thì dùng phương pháp nhúng men.

Quá trình nung : Các sản phẩm mộc thường được nung trong các loại lò ếch, lò đàn, lò bầu và gần đây là lò hộp. Nhiên liệu đun là củi, than cám hoặc ga. Tuỳ theo mỗi loại lò và mỗi dạng gốm cụ thể mà thời gian nung và nhiệt độ nung cũng khác nhau. Gốm đất nung ở nhiệt độ từ 600 – 900oC, gốm sành nâu từ 1100 – 1200oC, gốm sành xốp từ 1200 – 1250oC, gốm sành trắng từ 1250-1280oC và đồ sứ từ  1280 – 1350oC.

Nghề gốm đang khởi sắc: Trong những năm gần đây, gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Các trung tâm sản xuất chủ yếu của cả nước như Bình Dương, Biên Hoà (Đồng Nai), Vĩnh Long… ở phía nam; Bát Tràng (Hà Nội ), Phũ Lãng (Bắc Ninh), Đông Triều (Quảng Ninh)… ở phía Bắc đều hoạt động khởi sắc. Các sản phẩm gốm sứ ngày càng phong phú về phong cách, chủng loại, mẫu mã với các hình thức trang trí đa dạng như các loại chậu hoa, lọ hoa, bát, đĩa, ấm trà, tượng…, đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng trong cũng như ngoài nước.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1.000 nhà sản xuất khắp ở Bắc, Trung, Nam, trong đó chủ yếu là do tư nhân tự quản lý. Khoảng 50 công ty trong số các công ty lớn đáp ứng được tiêu chuẩn của Châu Âu. Mỗi năm Việt Nam sản xuất được khoảng 250 triệu sản phẩm, riêng các tỉnh phía Nam sản xuất khoảng 175 triệu sản phẩm. Với đội ngũ hùng hậu và sự năng động trong nắm bắt nhu cầu của thị trường, các nhà sản xuất đã góp phần quan trọng trong việc gốm mỹ nghệ Việt Nam vượt qua biên giới về không gian để chiếm lĩnh hàng loạt các thị trường khó tính. Sản xuất và xuất khẩu gốm đạt những tăng trưởng đáng kể với kim ngạch xuất khẩu  liên tục tăng  và được người tiêu dùng ở Hồng Kông, Nhật Bản, Singapore, các nước cộng đồng Châu Âu, Mỹ và Australia đánh giá rất cao về chất lượng, mẫu mã cũng như giá thành của sản phẩm.

Theo Vietcraft


MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ


Read Full Post »

Những bức họa cổ (bích họa) thời Tam Quốc,Tấn, Nam – Bắc Triều (220 – 600)

Paintings of Wei, Jin, Northern and Southern dynasties (220 – 600)

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Đèn gốm làng nghề Thanh Hà – Hội An

den gom


Tạo tác đèn lồng tại làng nghề Thanh Hà.
(LĐĐT) – Đến đô thị cổ Hội An (Quảng Nam), du khách sẽ được gặp thứ ánh sáng huyền ảo lung linh hắt bóng từ những chiếc lồng đèn gốm đặc biệt được trang trí ở hầu khắp các nơi. Đấy chính là thứ ánh sáng hình thành từ đất – nước – lửa – gió.

Gốm cũng có thể làm lồng đèn – một sáng tạo độc đáo của những nghệ nhân làng gốm có lịch sử 500 năm Thanh Hà. Từ đô thị cổ Hội An, đi thuyền ngược sông Thu Bồn khoảng hơn 1km, bạn sẽ đến một bến thuyền với cây đa cổ thụ và mái nhà tranh làm điểm dừng chân, nơi từ đó bạn bước vào tham quan làng gốm Thanh Hà.

Sản phẩm lồng đèn gốm Thanh Hà.

Điều thú vị là du khách có thể tận mắt chứng kiến quy trình sản xuất gốm từ nhiều thế kỷ trước. Nghệ nhân Lê Trọng – 70 tuổi, người làm lồng đèn bằng đất nung đầu tiên tại đây – cho biết: “Ban đầu, chúng tôi thuê hoạ sĩ thiết kế mẫu lồng đèn. Sau đó cứ thế mày mò làm thêm các kiểu dáng… theo phương thức hoàn toàn thủ công”.

Thanh Hà vốn nổi tiếng là nơi sản xuất và cung cấp gạch, ngói lợp cho các ngôi nhà cổ ở Hội An – Di sản Văn hoá thế giới. Theo những người già, làng nghề hình thành từ những năm đầu thế kỷ 16. Sang thế kỷ 17, gốm Thanh Hà được biến đến qua các sản phẩm nổi tiếng vào thời đó với tên gọi chung là gốm “Cauchi”.

Dưới thời nhà Nguyễn (thế kỷ 19), nhiều nghệ nhân ở đây được gọi ra kinh đô Huế xây dựng cố cung, trong số đó có người được vua phong tước hiệu cao. Tên tuổi làng gốm Thanh Hà xứ Quảng sánh cùng Phù Lãng, Bát Tràng… xứ Kinh Bắc. Thời hưng thịnh, làng có cả ngàn thợ gốm. Tuy vậy, trước sự lấn át của gốm công nghiệp, gốm Thanh Hà một thời chìm vào quên lãng, suốt mấy mươi năm liền, làng nghề phải chuyển sang làm gạch ngói để tồn tại…

Khu du lịch biển Hội An  trong ánh sáng lồng đèn gốm.

Chiếc lồng đèn gốm chính là sản phẩm đánh dấu sự trở lại của gốm Thanh Hà. Đó là một cách tự làm mới để tồn tại. Ban đầu, lồng đèn gốm đỏ được các nghệ nhân làng gốm làm ra cung cấp cho các doanh nghiệp du lịch tại Hội An trang trí nội thất. Kịp đến khi ý tưởng bảo tồn làng nghề truyền thống theo hướng biến làng nghề thành điểm tham quan du lịch, thì lồng đèn gốm nhận được sự chú ý đặc biệt, không chỉ “phủ sóng” các cơ sở du lịch Hội An mà còn theo chân du khách đi khắp nơi, phụng hiến thứ ánh sáng huyền diệu kia.

Lồng đèn gốm rất đa dạng kiểu dáng. Cũng nhờ vào việc quảng bá sản phẩm qua các tour du lịch đến Thanh Hà mà làng nghề nhận những đơn đặt hàng hàng ngàn sản phẩm lồng đèn gốm cho các doanh nghiệp du lịch khắp đất nước, từ TPHCM, Hà Nội, và cả xuất khẩu sang nước ngoài, theo mẫu mã của Cty Okinawa – Nhật Bản…

den gom a

Mọi giá trị của lồng đèn gốm nằm trong sự giản dị và tài hoa, quá khứ và tương lai. Và bây giờ, bạn có thể biết, ánh sáng huyền diệu hắt bóng từ chiếc lồng đèn gốm chính là thứ ánh sáng của “tứ đại”: đất – nước – lửa – gió…


Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »