Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘trang trí’

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 5: HỌA TIẾT HÌNH THÚ – CON RỒNG

Trong số các con vật trang trí của người An Nam, bốn con vật siêu nhiên gọi là tứ linh chiếm vị trí đầu tiên.. Đó là long (rồng), ly (lân), qui (rùa) và phụng (phượng). Chúng là một biểu trưng của tín ngưỡng với những phẩm chất huyền bí. Bên cạnh còn thấy những con vật khác như hạc, sư tử, dơi, cá cũng mang ít nhiều đặc điểm tín ngưỡng. Con hổ cũng có tính chất rất đặc thù, nó đôi khi được thắp hương thờ cúng và dùng làm bùa chú để hóa giải và xua đuổi tà ma. Vã lại, chúng ta đã thấy trái cây cũng có tính chất ít nhiều như vậy, dùng làm lời cầu chúc mang mán tín ngưỡng và siêu nhiên.

Con rồng tiếng Hán Việt là long (龍) rất được ưa dùng trang trí mỹ thuật An Nam. Trong cung đình nó có vị trí riêng vì là biểu tượng của hoàng đế, nhưng cũng thấy rồng ở chùa chiềng và tư gia; đặt trên mái nhà, đầu hồi, đòn tay, trên đồ gỗ và hoa văn vải; có cả ở những cấu kiện tàu thuyền, cho đến những miếng ván trang trí cũng chạm khắc hình rồng.

Nói cho đúng, rồng không được người An Nam cúng bái, nhưng chúng lại được cho có một quyền năng siêu nhiên: vừa là long vương vừa là chúa tể trên đất liền, mang lại hạnh phúc cho người sống và sự an lành cho người chết. Trong vô thức người An Nam hẳn xem con rồng như vị thần bảo trợ nên hình ảnh rồng có mặt khắp nơi.

Theo truyền thuyết Trung Hoa rồng “có sừng hươu, đầu lạc đà, mắt quỷ, cổ rắn, bụng cá sấu, vảy cá, móng vuốt chim ưng, lỗ tai bò, sừng chính là cơ quan để nó nghe”. Hình rồng của nghệ sĩ An Nam có nhiều điểm khác nằm ở: sừng, đôi mắt sáng rực, vảy phủ toàn thân, bờm tua tủa, móng sắc, đuôi soắn ốc (hình CXIX, CXXI, …).

Như tôi đã nói rồng là biểu tượng của hoàng đế, ai cũng rõ trong trường hợp này rồng có năm móng. Di vậy khi thấy trên đồ gỗ, rương hòm , gốm sứ, … có rồng năm móng tức là những món đồ ít nhiều trực tiếp do vua dùng (hình CXXIII, CXXVII, …). Còn dành cho những hạng người khác rồng chỉ có bốn móng.

Rồng còn là biểu tượng cho người chồng, vị hôn phu, và thường hơn dùng để chỉ người đàn ông. Phụ nữ được biểu tượng bằng con phụng. Các bài ca dao hay dùng cáchình tượng này để ám chỉ nam giới và phụ nữ; và khi thấy trên tấm biển, tấm thêu có hình con rồng và con phụng thì đó là hôn nhân mà người ta muốn ám chỉ. Thường nghĩa bóng của thể hiện này là chữ ‘hỉ’dính đôi (song hỉ), có nghĩa là chung vui, hạnh phúc lứa đôi.

Rồng được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau. Khi thì là hình nguyên con rồng nhìn ngang như trên gờ nóc mái nhà, lan can cầu thang, trên vải thêu, trên bức chạm hay bức họa, nói tóm lại trên rất nhiều món (hình CXXIII, CXXV, …) ; khi thì chỉ thấy nguyên mặt nhìn chính diện với đầu và hai chân giạng ra gọi là ‘tàng long’ (rồng trong hang ổ) như ở mặt cổng lớn vườn hoa, đền miếu, dinh thự, …(hình CXXXV). Cũng có khi với đầu rồng và hai cân giạng lại gọi là ‘mặt rồng’ hay ‘mặt nả’ (hình CXXXVI, CXXXVII, …), thường thấy ở đầu hồi tam giác ở chùa chiềng và dinh phủ của người An Nam và để đối với hình con dơi trên trán bia, ở mặt trước khung chân tủ, … Hình đầu rồng chính diện ở trán có chữ vương (vua) như là vết nhăn trên mặt. Cũng có khi đó là chữ ‘thọ’ cách điệu, trường hợp này thường nằm trong nửa hình chữ nhật có góc dưới bẽ quặp xuống, viền vài đường kỷ hà (hình CXXXVIII). Người An Nam gọi hình này là ‘rồng ăn chữ thọ’, một dấu hiệu điềm lành và cũng là sự cầu mong trường thọ.

Trên gờ nóc mái, rồng được thể hiện dạng kỷ hà hai con (song long) ở hai đầu gờ. Ở giữa gờ nóc người ta để hỏa châu đề hi con rồng chầu vào. Toàn bộ hình hai con rồng và hỏa châu gọi là ‘lưỡng long triều nguyệt’ (hình CXXIX, CL). Hình tượng trên gờ nóc này thể hiện một sức mạnh thần bí, sự cầu mong có mưa vì hỏa châu tượng trưng cho sấm sét còn hai con rồng là long vương làm mưa.

Một thể hiện gần gủi với nó là ‘lưỡng long tranh châu’ theo cách gọi của người An Nam. Rất thường hai chủ đề này được trộn lẫn vào nhau, hoặc là theo thiết kế của người nghệ sĩ hoặc là theo lý giải của dân gian. Ở chủ đề sau làm ra vẽ đánh nhau hơn là đánh nhau giành quả châu; và quả châu này không có các ngọn lửa bao quanh (so sánh hai hình CXXI và CXXXIII).

Nếu có điều kiện, dù trong chủ đề nào con rồng cũng có mây bao quanh, mây có dạng trãi ra như dãi lụa hay cuộn lại trang nhã (hình CXXI, CXXV, …) Ẩn trong mây hay kết hợp với mây có những sợi lửa rời rạc (hình CXIX). Cũng thường thấy rồng cỡi trên sóng nước ngoài biển (hình CXLIII). Nhưng sóng, sợi lửa và mây luôn được cách điệu.

Trang trí mây cũng cho ra một thể hiện đặc biệt gọi là ‘long ẩn vân’ (rồng ẩn trong mây); rồng uốn khúc trong các guột mây và lần lượt lộ ra từng phần con rồng. Nhiều chén gốm đời Thiệu Trị có mô-típ này.

Rồng kết hợp với cá cho ra ‘ngư long hí thủy’ nghĩa là rồng và cá đùa nước (hình CXXIX). Con cá ghếch mõm đón luồng nước từ miệng con rồng ẩn trong mây phun ra. Theo dân gian An Nam con cá đó là con cá chép.

Không phải chỉ có một con vật duy nhất gọi là rồng. Ngoài con rồng đúng nghĩa còn thấy có con giao và con cù.

Theo từ điển của P. Couvreur con giao hay giao long là ‘rồng không sừng’ mang dáng dấp con rắn, cái cổ nhỏ nhắn, bốn chân và râu trắng ở dưới cổ. Còn theo Eitel, con giao là ‘rồng uốn gập, có bốn chân’, theo Giles là là ‘rồng có vảy’; cuối cùng theo Génibrel là ‘con cá sấu’.

Con cù hay cù long cũng mơ hồ không kém. Couvreur thì nói đó là ‘con rồng có sừng’, nhiều người lại nói là ‘rồng không sừng’. Với Eitel là ‘rồng non có sừng’, Giles cho dó là ‘rồng vàng’, Génibrel thì là ‘con rồng, con quái vật thần thoại, chẳng ai bảo nó có sừng’. Paulus Của: ‘Loài rồng không có sừng, dân gian cho rằng nó sống dưới đất và khi trồi lên xẻ đất tạo thành sông’.

Các nghệ sĩ An Nam thì xác định một điều: cả giao lẫn cù đều không có sừng. Chúng cũng không có bờm, cũng chẳng có râu như P. Couvreur nói. Tôi cũng cho rằng chúng không có vảy. Vậy có chân không? Điều này còn nghi ngờ vì theo tôi biết giao và cù không bao giờ được thể hiện nguyên hình dạng, lại luôn luôn biến cách; người ta chỉ thấy được đầu và cổ của chúng thôi. Dù thế nào đi nữa giao và cù được xếp vào loại rồng cấp thấp. Một viên quan đại thần nói với tôi về món đồ gỗ lâu đời trong nhà ông ta là nó thể hiện hình con giao chứ không phải con rồng thông thường vì dân gian nhiều lúc không dám thể hiện hình con rồng đích thực.

Tuy nhiên phải thừa nhận người ta hay pha trộn con rồng thông thường với con giao trong họa tiết mỹ thuật. Nhìn vào một bức chạm, người An Nam, thậm chí đó là nhà điêu khắc, có người bảo đó là con rồng và có người bảo đó là con giao. Do vậy tôi chỉ dùng chữ rồng để chỉ một hình ảnh dù đó là rồng hay giao. Tuy nhiên có lúc tôi dịch chữ giao là rồng-rắn (serpent-dragon).

Đối với con cù, nó có nét chuyên biệt, nếu không ở hình dáng hay và thuộc tính thì cũng ở cách dùng và vị trí người ta đặt nó: tay tỳ của ngai đá để ngoài trời dành cho một số nữ thần có trang trí đầu cù long. Chi tiết sườn nhà bên ngoài nối cột và bên trong nối lỗ đòn tay gọi là ‘xà cù’ có thể lấy tên từ con cù, đuôi chi tiết này đôi khi trang trí hình đầu con rồng.

Biến cách của con rồng rất đa dạng.

Rồng nguyên con, hoặc là rồng đích thực hay con giao, thường là hồi văn hóa long (hình XXIII, XXV, ..); lá và dây lá là lá hóa long (hình CXI và các hình kế tiếp); hóa long thấy ở mây và trúc (hình CLII, CLIII) và một số loài cây khác như: tùng, mẫu đơn, cúc, loa kèn[1], … (hình CLV)

Rồng chính diện biến cách gọi là ‘mặt nả’. Người ta hay giải thích mặt nả có nghĩa là mặt rồng., tôi chẳng rõ chữ ‘nả’ nghĩa là gì. Họa tiết tạo mặt rồng nhìn chính diện có nhiều thứ khác nhau tùy theo từng nghệ sĩ. Có khi là lá lật, có khi là hoa mẫu đơn, lại có khi là bông tây, lá hay dây lá (hình CXXXVII). Người ta cũng dung quả phật thủ và hoa sen biến cách thành đầu rồng nhìn chính diện (hình CIX, CIII, CIV). Chùm và tràng hoa biến cách thành họa tiết giao-hoa (hoa hóa giao)

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 6: Họa tiết hình thú – con lân)


[1]Tác giả dùng chữ amaryllis, chữ này có nghĩa là hoa loa kèn đỏ, nhưng phần phụ lục lại chú kế bên chữ Việt là hoa lan. Có lẽ tác giả nhầm lẫn vì hai hoa này khá giống nhau. Trong mỹ thuật Việt không thấy trang trí hoa loa kèn đỏ mà dùng hoa lan rất nhiều. Cây phong lan tiếng Pháp là orchidée. ND

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

Cảm hứng “Thanh Hoa Sứ”

Không chỉ người chơi đồ cổ thấy được cái đẹp của sứ xanh trắng (sắc màu men và họa tiết hoa văn…) và sưu tầm mà cả nhà thiết kế trang phục thời trang cũng lấy cảm hứng từ vẽ đẹp này cho các bộ sưu tập của họ!

Trung Quốc Thanh Hoa Sứ

Sứ xanh trắng Delft Hòa Lan

Ngói gốm xanh trắng Bồ Đào Nha

Thời trang xanh trắng biểu diễn tại Olympic 2008


Bộ sưu tập thời trang xuân hè 2009 của  John Galliano’s Christian Dior lấy cảm hứng từ sứ xanh trắng (John Galliano’s Christian Dior Spring/Summer 2009 Haute Couture collection )


John Galliano không phải là nhà thiết kế duy nhất lấy cảm hứng sáng tạo từ sứ xanh trắng. Roberto Cavalli tại trình diễn thời trang xuân hè 2005 đã giới thiệu “bộ sưu tập sứ” – “porcelain collection” từ rất sớm. Victoria Beckham đã ghi nhận lại như vậy!


Các người mẫu nổi tiếng Chiling Lin, Bing Bing Fan and Fei Fei Dai trong y phục in họa tiết thanh hoa.
The Chinese celebs, Chiling Lin, Bing Bing Fan and Fei Fei Dai dress’d in Qing Hwa prints


Nhà thiết kế thời trang Trung Quốc Gou Pei trong trình diễn thời trang cao cấp Thu Đông 2010 lại tiếp tục với niềm cảm hứng từ đồ sứ Thanh Hoa. Trang trí tóc dáng hình chiếc quạt gợi nhớ các nàng công chúa thời Thanh.


Thời trang Gucci tung ra giỏ xách Rồng Thượng Hải tại hôm lễ khai mạc Shanghai Expo






 


more!

KHTN Sưu Tầm & Dịch

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: ĐỨC CHÍNH

***********

BÀI  I : HỌA TIẾT TRANG TRÍ HÌNH KỶ HÀ

Thực khó phân loại cho rõ ràng văn tự các họa tiết (motifs) trang trí vì chính các nghệ sĩ, thợ nề, nhà điêu khắc và cả những người chuyên nghiệp cũng không thống nhất thuật ngữ dùng cho chúng; lúc thì người ta chi li phân chia chủ đề các họa tiết tưởng chừng như cùng giuộc với nhau, lúc thì một tên dùng chỉ nhiều họa tiết khác hẳn nhau. Phần đông trong số họ có kiến thức nghệ thuật không đều, lại nhiều khi sửa tên họa tiết theo ý riêng; các họa tiết thường trùng lặp, lại lấy cái này tô điểm thêm cho cái kia hay kết hợp các họa tiết với nhau, nhiều lúc chẳng biết gọi là gì nữa. Chúng ta sẽ thấy sự mơ hồ trong thuật ngữ chỉ các họa tiết hình thú, hình cây lá và cả họa tiết Hán tự nữa. Vì thế chúng ta tạm chia ra họa tiết kỷ hà thành ba nhóm: mắc lưới, vòng tròn và hồi văn.

Họa tiết mắc lưới thường hình thoi, dài ngắn khác nhau, cạnh thẳng (hình I, II, II) và thỉnh thoảng hơi cong nhẹ (hình CXXXIX). An Nam gọi lối trang trí này là ‘mắt vọng’ (mắc lưới) vì có dạng giống như thế. Nhưng nếu nó đặt kế bên họa tiết hình thoi uốn cung sẽ thấy có nét tương đồng rõ rệt. Họa tiết này ít khi trang trí đơn độc vì ít mãn nhãn, thường kết hợp với họa tiết hoa. Nó được dùng làm nền các tấm chạm hay bức họa.

Họa tiết mắc lưới lục giác có tên An Nam là ‘kim qui’ (rùa vàng). Thực ra nó giống vảy con rùa thì đúng hơn. Đôi chỗ họa tiết này được dùng đơn độc (hình IV), nhưng thường dùng làm nền hay được điểm xuyết thêm họa tiết hoa (hình VI, VII, VIII). Các tác phẩm cổ có gia công xà cừ thường có họa tiết này (hình VIII). Ở các bình phong xây gạch họa tiết này riềng ngoài bìa và các lục giác kéo ra rất dài, khi thì đứng một mình khi thì hòa trộn với những hàng hình thoi nhỏ khác (hình LXI, LXII). Nếu xếp chồng họa tiết lục giác này lên nhau sẽ có loại họa tiết hình sao, gọi là ‘kim qui gài’ (hình V, xem thêm hình XVI).

Họa tiết mắc lưới không đều có tên là ‘mặt rạn’ hay còn gọi ‘kim qui thất thế’ (rùa vàng mất dáng). Thực ra hình trang trí này hình như sao chép hình các nhánh đào cách điệu.

Họa tiết mắc lưới tam giác gọi là ‘nhân tự’ (chữ nhân) do có dạng hao hao chữ nhân (人). Họa tiết này cũng được dùng làm nền, đứng riêng lẻ hay kết hợp với hoa (hình XI, XII).

Họa tiết vòng tròn có ‘kim tiền’(đồng tiền vàng). Họa tiết này có hai vòng tròn đồng tâm tạo thành gờ mép bên ngoài và trong có các vòng tròn khác chia cắt vòng ngoài làm bốn phần, tạo ra ở tâm một lỗ hình vuông (hình XIII).

Hoa thị là một họa tiết thoát sinh từ họa tiết vòng tròn cắt lẫn nhau và đi qua cùng một chỗ sao cho tạo nên ở chỗ ấy thành tâm một ngôi sao bốn cánh (hình XIV, XV). Hoa thị chỉ là cách gọi chứ hoa thị màu vàng ngoài đời không đáp ứng được yêu cầu trang trí và không mang một ý nghĩa nào cả. Nghĩa là họa tiết hoa thị này không bắt nguồn từ thực vật giới cách điệu ra, chỉ là một cái tên đặt theo lối dân dã. Họa tiết hoa thị được dùng làm nền, có khi chỉ thuần túy hoa thị nhưng cũng có khi kèm theo hoa lá cách điệu hóa.

Họa tiết có hai vòng tròn gọi là ‘song hoàn’, nhiều vòng liên kết với nhau gọi là ‘liên hoàn’. Liên hoàn cũng là loại thoát sinh từ họa tiết vòng tròn và có thể là tiền thân của họa tiết hoa thị, có các vòng tròn nối kết với nhau theo mọi chiều. Ở đây chúng ta có một ý nghĩa tôn giáo: chỉ sự thân ái, tình yêu, sự kết giao chặt chẽ và không thể chia lìa, một sự tương thân tương ái. Nhóm họa tiết này có nhiều dạng: hai vòng tròn gốc gấp khúc lại thành lục giác (hình XVI, số 1) và tương tự như vậy cho ra hình lục giác chồng lợp (hình XVI, số 2) mà chúng ta đã thấy (hình V); hay là gấp khúc lại thành hình thoi (hình XVI, số 3), có một cái nhân đôi lên (hình XVI, số 4). Trang trí ‘dây thắt’ gồm năm hình thoi xếp thành hàng và cắt vào nhau; loại họa tiết một hình thoi ở giữa và bốn hình thoi cắt vào ở bốn góc hình như cũng liên quan đến họa tiết này (hình XVI, số 5&6). Còn nhiều mẫu phức tạp hơn những hình trình bày ở đây.

Loại họa tiết hai vòng tròn bị kéo dài ra thành bầu dục hay bị dồn vào trong một hình chữ nhật thường được đặt vào trang trí dây lá hoặc làm tâm cho một bức chạm. Bên trong có chữ ‘thọ’ được cách điệu, hoặc hồi văn cuộn xoáy, hoặc các hình vẽ khác. Họa tiết ‘song thọ’ (hình XVII) thì bên trong có hai chữ thọ. Họa tiết này có một thể biểu khác gọi là ‘vạn thọ’, với mô thức này bên trong một vòng tròn có hồi văn xoắn ốc chữ vạn và ở một vòng khác có chữ thọ cách điệu. Không nói ra cũng biết đó là biểu tượng của ‘phúc đức’.

Các họa tiết chúng ta vừa kê ra chỉ là thứ yếu, loại họa tiết quan trọng nhất là họa tiết hồi văn (回文). Các chữ Hán-Việt được thể hiện gấp khúc vào nhau, bẻ gập lại, kéo dài ra, hay vuốt thon tuỳ theo ngẫu hứng của người nghệ sĩ.

Họa tiết có tên ‘á tự’ gợi dáng nét chữ á (亞) trong tiếng Hán, là một họa tiết hồi văn (hìnhXVIII và XIX). Họa tiết này dùng trang trí nền. Người ta còn gọi là hồi văn chữ thập. Một loại khác gọi là ‘hồi văn chữ vạn’, trước kia ở giữa họa tiết này có chữ vạn Phật giáo (卐) nay là chữ vạn Hán tự (萬). Tôi đặt tên cho nó là hồi văn xoắn ốc vì từ ở tâm các hàng trang trí cuộn xoắn đi ra. Hồi văn này cũng dùng làm nền và thường có điểm thêm hoa.  Hồi văn chữ công (工) giống với hồi văn ở Phương tây nhất và nó có nhiều kiểu thức (modèles), được dùng trang trí khung, với dạng thuần túy hay kết hợp các loại họa tiết khác (hình C). Loại thuần túy tuy không có tên riêng nhưng được dùng nhiều, nhất là dùng để viền khung, dùng để trang trí góc, đầu hồi, sống mái nhà, quai bình, chân bàn, giữa hoành phi, nói tóm lại ở mọi đồ mỹ thuật (từ hình XXI đến XXIX và ở nhiều hình khác nữa).

Họa tiết ‘hồi văn lá’ thường kết thúc bằng hình nắp đệm hay tua diềm, nó tỏa ra các hình hoa lá cách điệu. Hồi văn lá biến thể thành ‘hồi văn hóa giao’ (hồi văn biến thể thành giao long), có các nếp gấp dồn lại và xoay tròn theo dạng cuộn khói (hình XXVII).

Có lẽ dạng hồi văn kỳ lạ nhất là họa tiết dây xích, dùng trang trí nhẹ ở mép bàn (hình XXX, XXXI, XXXII).

Hồi văn còn biến cách trong các món đồ gỗ hay cái kệ gọi là ‘cao đề kỷ’ (高提几: cái ghế dựa chỗ thấp chỗ cao) hay vắn tắt là ‘cao đề’. Có khi họa tiết này dùng một mình dưới dạng có hay không có chân (hình XXXIII và đế đèn có tên được bài này chọn làm nhan đề Họa tiết trang trí hình kỷ hà) có khi điểm thêm các họa tiết trang trí khác (hình XXXIV). Nó được đưa vào trang trí các tấm biển, hoặc biển dựng đứng (hình XXXV) hoặc biển để nằm (hình LV, LVII). Dù dùng trong trường hợp nào loại họa tiết này cũng có nét duyên dáng và rất mỹ thuật.

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 2: Họa tiết chữ)

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM



Read Full Post »

Hồi sinh pháp lam Huế

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Ngoài trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam còn có giá trị trong nghệ thuật trang trí tranh, phù điêu. Pháp lam cùng với gốm và sơn mài là ba nghề được chọn tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009.

Đây là một nghề độc đáo bởi chỉ có ở Huế. Tuy nhiên do biến động lịch sử, pháp lam đã thất truyền gần 200 năm. Thời gian thất truyền quá lâu, ngay cả người dân Huế cũng cảm thấy xa lạ.

Gần 200 năm thất truyền bí ẩn

Pháp lam là kỹ thuật tráng men nhiều màu lên cốt đồng đỏ và nung chín tạo nên tác phẩm mỹ thuật hay chi tiết trang trí trong kiến trúc với họa tiết rực rỡ màu sắc.

Sản phẩm pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước Công nguyên khi thợ kim hoàn vùng Mycenaean (Hy Lạp) tráng men thủy tinh trên khuyên tai bằng vàng.

Ở Việt Nam, kỹ nghệ này du nhập vào đầu thế kỷ 19 do vua Minh Mạng đưa một số công nhân Việt Nam sang học nghề chế tác pháp lam ở Trung Quốc.

Sau đó, nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục (xưởng sản xuất pháp lam đặt ở khu Canh nông trong Thành nội) gồm 15 người do ông Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Ngoài ra, triều đình còn mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình).

Pháp lam Huế phát triển đến thời vua Tự Đức thì phôi pha dần rồi thất truyền một cách bí ẩn. Trong 60 năm tồn tại, từ năm 1827, pháp lam Huế đã sản xuất rất nhiều vật phẩm có giá trị để trang trí, cúng tế theo yêu cầu của triều đình, trong đó phục vụ cho nhu cầu trang trí nội ngoại thất, tế tự và nhu cầu thường nhật trong cung đình.

Cách đây 10 năm, ba nhà nghiên cứu khoa học ở Huế gồm tiến sĩ dược học Nguyễn Nhân Đức (Đại học Y Dược Huế), kỹ sư chuyên ngành silicat Trần Đình Hiệp (Công ty Xây lắp Thừa Thiên-Huế) và thạc sĩ vật lý Đỗ Hữu Triết (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế) đã cùng nghiên cứu để phục hồi pháp lam Huế.

Tuy ba người với ba trường phái khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở một điểm chung là cùng tạo ra được màu men, phục hồi thành công pháp lam Huế sau gần 200 năm vắng bóng.

Những người hồi sinh pháp lam

Trong hai năm 2003-2004, tiến sĩ Nguyễn Nhân Đức đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất pháp lam phục chế tu bổ di tích Huế” và thu được thành công khi tạo ra được ba mẫu phục chế hoàn hảo theo nguyên mẫu của di tích Huế.

Đóng góp lớn nhất, có giá trị thiết thực của tiến sĩ Đức cùng cộng sự của ông là làm sống lại kỹ nghệ trang trí pháp lam trên các đền vàng điện ngọc, niềm tự hào một thời của mỹ thuật cố đô Huế. Những sản phẩm do ông và cộng sự làm ra đã được ứng dụng vào việc trùng tu các công trình di tích Huế như trang trí chùa Thiên Mụ, điện Thái Hòa, hai nghi môn tại hoàng thành Huế.

Kỹ sư Trần Đình Hiệp thì hoàn thiện được kiểu tráng men trên mặt phẳng với độ bền màu trong nhiều môi trường khác nhau, hồi sinh loại pháp lam mỹ thuật trang trí và ngói âm dương.

Còn với Đỗ Hữu Triết, sau những năm tháng nghiên cứu về phục dựng bảo tồn di tích Huế, anh đã kết duyên với đề tài về phục hồi pháp lam. Niềm đam mê và ước vọng hồi sinh pháp lam Huế đã được anh truyền vào công trình luận án thạc sĩ với đề tài “Men và màu cho đồ gốm sứ ở di tích Huế” năm 2005.

Luận án được đánh giá rất cao khi người thực hiện đã phục hồi thành công men màu trong pháp lam mỹ nghệ, pháp lam trang trí nội thất và được ứng dụng vào sản xuất pháp lam.

Sau thành công đó, Triết thành lập Công ty pháp lam Sao Khuê (nay là Công ty TNHH Thái Hưng) để phục hồi kỹ nghệ sản xuất pháp lam, quy tụ 15 thợ có tay nghề giỏi về làm.

Anh Triết cho biết: “Pháp lam bị thất truyền là một mất mát quá lớn đối với nghệ thuật kiến trúc, nhất là những công trình pháp lam ở các di tích Huế bị xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng cần phải trùng tu. Ngoài giá trị trong việc trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam hồi sinh còn có giá trị to lớn trong nghệ thuật trang trí các sản phẩm như tranh, phù điêu. Đặc biệt, thành công trong việc phục hồi pháp lam đã tạo ra một loại tranh có chất liệu mới trong hội họa và được ứng dụng vào ngành mỹ nghệ, trang trí nội ngoại thất, đồng thời phục hồi và phát triển một nghề truyền thống đặc biệt của Huế đã bị thất truyền từ lâu”.

Tại Festival nghề truyền thống Huế 2009, anh Đỗ Hữu Triết đã cùng Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế trưng bày các sản phẩm pháp lam và mở một quy trình sản xuất pháp lam để du khách có thể tự tay vẽ lên pháp lam làm sản phẩm lưu niệm cho mình.

“Mặc dù đạt được những thành công bước đầu trong việc hồi sinh pháp lam Huế, tuy nhiên Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế mới chỉ làm được có ba loại hình kỹ thuật pháp lam, trong khi đó thế giới có đến 17 loại hình. Mục tiêu mà chúng tôi hướng tới là đạt trình độ của pháp lam thế giới” – anh Triết tâm sự.

Theo http://www.phapluattp.vn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Catalogue ấm trà Nghi Hưng (Yixing) dành cho giới sưu tập (1)

Những mẫu hàng này do nghệ nhân ( sinh ra để làm ấm trà – có thể gọi đùa như thế ) làm với số lượng nhỏ không phải hàng thương phẩm, giá trị nghệ thuật cao và có thể sử dụng như ” an impressive ornament” trong trang trí nội thất.

Click trên hình chọn để xem ảnh lớn

 

 

1877

1878

1886

1892

1894

KhanhHoaThuyNga


*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

Việc sản xuất nhái hàng đồ sứ (của các thời kỳ trước ) dưới triều đại nhà Minh (2)

Các thợ làm gốm Trung Hoa có một truyền thống lâu đời trong việc vay mượn thiết kế cùng với những đặc điểm trang trí các hàng gốm sứ sản xuất trong các thời kỳ trước. Gốm sứ với những đặc điểm vay mượn như vậy có thể đôi khi gây ra vấn đề phải chứng minh, nhưng thông thường chúng không bị coi là hàng nhái hay hàng làm giả. Tuy nhiên , hàng làm giả và hàng nhái gốm sứ đúng với tên gọi cũng vẫn được làm ra trong suốt lịch sử lâu dài của nghề gốm TQ và tiếp tục được sản xuất đến tận ngày nay với số lượng ngày một gia tăng.

Cùng với sự phát triển và mở rộng thị trường gốm sứ vào cuối triều đại nhà Minh, nhiều lò gốm tư nhân đã được thiết lập để cạnh tranh với những lò mà triều đình quản lý. Như vậy, đồng thời với những lò gốm tại Cảnh Đức Trấn nằm dưới sự bảo hộ và giám sát của triều đình , các lò tư nhân này cũng sản xuất nhái hàng đồ sứ thuộc các thời kỳ trước . Gốm sứ được ưa chuộng bởi triều đình đương thời cũng tìm đường lần về với những đồ từng được sản xuất dưới thời các Hoàng đế Minh Yongle, Xuande, và Chenghua, và các bản sao như thế lại được ủy nhiệm để làm. Trong suốt thời kỳ này, không những đã có những đồ gốm sứ bắt chước gốm sứ của các dòng Guan, Ding, Ge, Jun, Longquan của triều đại Tống mà còn có đô sứ nền trắng vẽ men lam, đồ doucai (đấu thái) , đồ sứ vẽ men 2 màu đỏ và xanh lá và đồ sứ nền men trắng vẽ men đỏ sao chép lại đồ được sản xuất đầu thời kỳ nhà Minh.

Dưới đây là rất nhiều hình ảnh tư liệu minh họa cùng chú thích của Viện Bảo Tàng Cung đình Bắc Kinh. Việc giám định niên đại cổ vật là một công tác chuyên môn vô cùng khó khăn của những người có trách nhiệm. Hy vọng qua loạt bài về “hàng mô phỏng” (replicas) này độc giả sẽ có hình dung rỏ nét và trực quan hơn về lĩnh vực cổ vật gốm sứ Trung Hoa.

10.- Blue-and-white cup, reign of Emperor Yongle, Ming dynasty

5.2cm h; diameter: 9.2cm (mouth), 3.9cm (foot)

( Chén nền men trắng vẽ men lam , triều Hoàng đế Yongle nhà Minh)

real 010

real 010a

real 010b

Blue-and-white cup imitating that in the reign of Emperor Yongle in Ming dynasty, reign of Emperor Wanli, Ming dynasty

5.6cm h; diameter: 10cm (mouth), 4.4cm (foot)

( Chén nền men trắng vẽ men lam bắt chước chén triều Hoàng đế Yongle nhà Minh, được sx dưới thời Hoàng đế Wanli (Vạn Lịch) nhà Minh)

immitate 010 Ming

immitate 010a Ming

immitate 010b Ming

Blue-and-white cup imitating that in the reign of Emperor Yongle in Ming dynasty, reign of Emperor Yongzheng, Qing dynasty

5.5cm h; diameter: 9.4cm (mouth), 3.9cm (foot)

( Chén nền men trắng vẽ men lam bắt chước chén triều Hoàng đế Yongle nhà Minh, được sx dưới thời Hoàng đế Yongzheng (Ung Chính) nhà Thanh)

immitate 010 Qing

immitate 010a Qing

immitate 010b Qing

11.- Blue-and-white horizontal bowl with Arabic floral design, reign of Emperor Xuande in Ming dynasty

4.2cm h; diameter: 13.3cm (mouth), 3.9cm (foot)

( tô nông không chân đế trang trí hoa văn Ả Rập men lam, triều Hoàng Đế Xuande nhà Minh)

real 011

real 011a

real 011b

Blue-and-white horizontal bowl with Arabic floral design imitating that in the reign of Emperor Xuande in Ming dynasty, reign of Emperor Wanli, Ming dynasty

4cm h; diameter: 13.1cm (mouth), 3.9cm (foot)

( tô nông không chân đế trang trí hoa văn Ả Rập men lam , bắt chứơc tô triều Hoàng Đế Xuande nhà Minh, được sx dưới thời Vạn Lịch nhà Minh)

immitate 011

immitate 011a

immitate 011b

12.- Blue-and-white mallow-petal bowl with design of flowers, fruits and floral sprays, reign of Emperor Xuande, Ming dynasty

7.8cm h; diameter: 22.5cm (mouth), 7.5cm (foot)

( Tô nặn vành miệng hình lá cây cẩm quỳ, nền men trắng vẽ men lam đồ án hoa, trái và dây hoa; Triều Hoàng đế Xuande nhà Minh)

real 012

real 012a

real 012b

Blue-and-white mallow-petal bowl with design of flowers, fruits and floral sprays imitating that in the reign of Emperor Xuande in Ming dynasty, reign of Emperor Wanli, Ming dynasty

7.3cm h; diameter: 22.5cm (mouth), 7.6cm (foot)

( Tô nặn vành miệng hình lá cây cẩm quỳ, nền men trắng vẽ men lam đồ án hoa, trái và dây hoa; bắt chước tô dưới thời Triều Hoàng đế Xuande nhà Minh, được làm vào thời Vạn Lịch nhà Minh)

immitate 012 Ming

immitate 012a Ming

immitate 012b Ming

Blue-and-white mallow-petal bowl with design of flowers, fruits and floral sprays imitating that in the reign of Emperor Xuande in Ming dynasty, reign of Emperor Kangxi, Qing dynasty

8.2cm h; diameter: 2.4cm (mouth), 7.4cm (foot)

( Tô nặn vành miệng hình lá cây cẩm quỳ, nền men trắng vẽ men lam đồ án hoa, trái và dây hoa; bắt chước tô dưới thời Triều Hoàng đế Xuande nhà Minh, được làm vào thời Khang Hy nhà Thanh)

immitate 012 Qing

immitate 012a Qing

immitate 012b Qing

 13.- Blue-and-white large circular dish with design of lotus scrolls, reign of Emperor Xuande, Ming dynasty

3.5cm h; diameter: 17cm (mouth), 9.5cm (foot)

( Dĩa tròn lớn men nền trắng vẽ men lam thiết kế dây hoa sen. triều Hoàng Đế Xuande nhà Minh)

real 013

real 013a

real 013b

Blue-and-white large circular dish with design of lotus scrolls imitating that in the reign of Emperor Xuande in Ming dynasty, reign of Emperor Zhengde, Ming dynasty

3.7cm h; diameter: 16.4cm (mouth), 9.5cm (foot)

( Dĩa tròn lớn men nền trắng vẽ men lam thiết kế dây hoa sen bắt chước đĩa dưới triều Hoàng Đế Xuande nhà Minh; được sx dưới triều Zhengde nhà Minh )

immitate 013

immitate 013a

immitate 013b

14.-  Blue-and-white four-lobed square bottle with design of floral scrolls and morning glory flower, reign of Emperor Xuande, Ming dynasty

14.2cm h; diameter: 5.5cm (mouth), 7.2cm (foot)

Bình vẽ men lam hoa dây và hoa hướng dương, triều Hoàng Đế Xuande nhà Minh

 real 014

real 014a

Blue-and-white four-lobed square bottle with design of floral scrolls and morning glory flower imitating that in the reign of Emperor Xuande in Ming dynasty, reign of Emperor Wanli, Ming dynasty

14.4cm h; diameter: 5.5cm (mouth), 7.4cm (foot)

Bình vẽ men lam hoa dây và hoa hướng dương bắt chước bình triều Hoàng Đế Xuande nhà Minh nhưng được sản xuất vào thời Vạn Lịch nhà Minh

immitate 014

immitate 014a

bài đang được cập nhật …

Khanh HoaThuyNga sưu tầm và dịch.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Tìm hiểu trang trí biểu tượng trên gốm sứ TQ – 14:

Bầu hồ lô (bầu eo) – hulu (葫芦)

Ý nghĩa biểu tượng trong trang trí nghệ thuật

Người Hoa cho rằng hình dáng của quả hồ lô tượng trưng cho trời và đất thống nhất trong một thể thu nhỏ. Phần trên của chiếc bình hồ lô tượng trưng cho trời, còn phần dưới là đất. Hồ lô theo truyền thuyết cổ TH lien quan đến sự hình thành nhân loại. Theo một phiên bản, nó đại diện cho trạng thái nguyên thủy của vũ trụ. Phục Hi hay Fuxi (伏羲)và Nữ Oa hay nuwa (女媧), tổ tiên của loài người, được hình thành chuyển hóa từ đó. Học giả Wen Yiduo dựa trên thần thoại “49 anh chị em” thu thập từ chuyện kể từ dân tộc Miao, Yao và các dân tộc khác, đã có kết luận Phục Hy và Nữ Oa thực chất là những quả bầu eo (bầu hồ lô).

Bình hồ lô (calabash) tượng trưng cho quyền năng chữa trị và bảo vệ để chống lại bệnh tật /tà ma. Tính biểu tượng này có thể bắt nguồn từ cách phát âm của từ “bầu hồ lô”, hulu (葫芦)mà từ “hồ” đầu tiên phát âm nghe tương tự như từ “hộ” (护), có nghĩa là ngăn cản bảo vệ. Nó cũng phát âm nghe giống như “hỗ” có nghĩa là phò trợ. Nó cũng là một từ đồng âm của từ “phúc” (fu) và từ “lô” (lu) có ý nghĩa hạnh phúc/ sản nghiệp.

Bởi vì quả bầu eo có nhiều hạt và mọc dạng dây leo nên nó cũng có ý nghĩa sinh sôi nảy nở của dòng giống đi kèm . Đôi khi thay vì bầu hồ lô, hình ảnh của trái dưa leo, quả dưa, quả bầu bí cũng được dung vì tất cả chúng đều có đặc tính nhiều hạt mà có thể biểu trưng cho sự phát triển của thế hệ sau.Đôi khi trong đồ án thiết kế trang trí biểu tượng người ta còn vẽ thêm chữ vạn (swastika)để nhấn mạnh thêm ý nghĩa của số nhiều.

Nậm rượu dáng hồ lô đời Càn Long - motif trang trí bầu eo (mang ý nghĩa phúc) đựợc làm mạnh nghĩa hơn với dơi, cũng phát âm là phúc.

Nậm rượu dáng hồ lô đời Càn Long - motif trang trí bầu eo (mang ý nghĩa phúc) đựợc làm mạnh nghĩa hơn với dơi, cũng phát âm là phúc.

Motif trang trí vẽ bầu eo trên lọ men lam cuối đời nhà Thanh.

Motif trang trí vẽ bầu eo trên lọ men lam cuối đời nhà Thanh.

Nậm rượu dáng bầu hồ lô đời Jiaqing nhà Minh

Nậm rượu dáng bầu hồ lô đời Jiaqing nhà Minh

Ý nghĩa trong phong thủy và những niềm tin khác

Hồ lô là một trong bát bửu ( tám món quý báu – eight precious things) của Đạo giáo , mà phong thủy có mối lien quan mật thiết:

Từ ngữ Bát bửu thường dùng để chỉ tám món bửu bối của Bát Tiên thường giữ luôn bên mình.

Mỗi vị Tiên trong Bát Tiên có thể luyện được nhiều bửu bối, nhưng Bát bửu là tám bửu bối thường dùng của Bát Tiên.

1. Lý Thiết Quả có 2 bửu bối: Hồ lô và gậy sắt.

2. Hớn Chung Ly có 2 bửu bối: Quạt Long tu, Phất chủ.

3. Lữ Ðồng Tân có 3 bửu bối: Gươm, Phất chủ, Ống tiêu.

4. Lam Thể Hòa có 1 bửu bối: Ngọc bản.

5. Trương Quả Lão có 2 bửu bối: Gậy và Lừa giấy.

6. Hà Tiên Cô có 1 bửu bối: Hoa sen.

7. Hàn Tương Tử có 2 bửu bối: Gươm và Giỏ Hoa lam.

8. Tào Quốc Cựu có 1 bửu bối: Thủ quyển bằng ngọc.

Quả bầu hồ lô vừa là một công cụ rất mạnh mẽ trong các thuật đạo Lão vừa được dùng để đựng rượu thánh cho các vị bồ tát trong đạo Phật. Tây Vương Mẫu thường xuất hiện trên những tấm bình phong, màn che kèm những câu đối cầu phúc cho mọi nhà. Ba hình tượng tuy khác nhau nhưng đều thể hiện niềm mong muốn trường thọ và hạnh phúc lâu bền.

Hồ lô quả bầu, dạt dào phúc lành

Ta thường thấy ông Thọ luôn mang theo mình cây gậy phép có treo quả bầu ở đầu gậy đựng linh đan trường thọ. Một vị bồ tát cũng quen thuộc với mọi người là Quan Âm Bồ tát cũng mang theo một chiếc bình giống như một chiếc bầu hồ lô nhỏ chứa đầy nước thần để ban phúc lành .

10.	Người Hoa cho rằng hình dáng của quả hồ lô tượng trưng cho trời và đất thống nhất trong một thể thu nhỏ

10. Người Hoa cho rằng hình dáng của quả hồ lô tượng trưng cho trời và đất thống nhất trong một thể thu nhỏ

Bày quả bầu khô trong và xung quanh nhà là để cầu xin điềm lành. Quả hồ lô sẽ giúp chủ nhân nhận được nhiều phúc lành và nhiều vị tiên sẽ viếng thăm. Đó cũng là lý do vì sao các đền thờ thường được trang trí bằng nhiều quả hồ lô.

Bày quả bầu khô trong và xung quanh nhà là để cầu xin điềm lành

Bày quả bầu khô trong và xung quanh nhà là để cầu xin điềm lành

Khi quả hồ lô được trang trí bằng các hình vẽ những đứa trẻ, thì có nghĩa là hàng vạn thế hệ tiếp theo đều có con trai nối dõi. Còn khi quả hồ lô được trang trí bởi những quả đào thì có nghĩa là những người cao tuổi trong gia đình sẽ luôn sống thọ cùng con cháu. Đeo một quả hồ lô thu nhỏ bằng vàng ở cổ sẽ tránh được những ảnh hưởng xấu và tai nạn.

Nơi Tòa Thánh Tây Ninh, ở cấp thứ tám của CTÐ, hai bên có đặt hai Dàn Bát bửu song song và đối xứng nhau để trấn nơi Chánh điện, trên đó có 8 bửu bối của Bát Tiên .

Ý nghĩa liên quan trong cụm từ “Hợp cẩn giao bôi”

Trong phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt nói riêng, người phương Đông nói chung, có tục “hợp cẩn giao bôi” – một trong những nghi thức quan trọng, được gửi gắm nhiều ước vọng hòa hợp, phồn sinh.( theo NGUYỄN NGỌC THƠ (Trường ĐHKHXH&NV))

 Untitled-6

Untitled-7

Có lẽ ai cũng hiểu được ý nghĩa này của phong tục, song dường như ít ai quan tâm và đặt câu hỏi “cẩn” là cái gì, và vì sao là “hợp cẩn”? Trên thực tế, chiếc “cẩn” là một nửa thân vỏ quả hồ lô khô (xẻ đôi) dùng thay thế cho bôi, cốc đựng rượu khi tiến hành nghi lễ. Do vậy, “cẩn” có nguồn gốc từ chiếc hồ lô tự nhiên.

Trong tự nhiên, hồ lô quả có hai loại hình dáng đặc thù: loại có thân phình to, cuống dài và loại có hai phần thân (trên, dưới) phình ra, giữa có eo nhỏ. Cả hai loại hồ lô này được dân gian ví như hình ảnh của người phụ nữ có mang nên từ xa xưa quả hồ lô mang trên mình ý nghĩa biểu trưng của sự sinh sôi. Bổ đôi một quả hồ lô khô và rỗng ruột ra sẽ có hai dụng cụ đặc biệt, mỗi cái là một chiếc “cẩn” (còn gọi là “bao cẩn”). Trong hôn nhân truyền thống, người ta rót rượu vào “cẩn” và tiến hành nghi thức “hợp cẩn giao bôi”. Như vậy, “cẩn” sẽ chỉ trở nên có ý nghĩa khi hai chiếc hợp vào thành một (thành hồ lô = hòa hợp, sinh sôi), cũng như cuộc hôn nhân chỉ có hạnh phúc và phồn sinh thật sự khi cả hai cùng hòa thành một gia đình đầm ấm, trọn vẹn.

KhanhHoaThuyNga soạn dịch

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Older Posts »