Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘bình vôi’

BÌNH VÔI KÝ KIỂU DO COPELAND & GARRETT SẢN XUẤT

PHILIPPE TRUONG

Trong các món đồ sứ do vua Minh Mạng đặt làm tại Anh, ngoài bộ Spode có các dòng lạc khoản “Minh Mạng… niên tăng họa”, còn có những bình vôi mang hiệu đề Copeland & Garrett. Theo lời bà Pam Wooliscroft, quản thủ Bảo tàng Công ty Spode thì xưởng Copeland & Garrett không bao giờ chế tạo bình vôi hoặc một vật gì có hình dáng tương tự như thế. Điều này chứng minh rằng các cổ vật này là những món hàng ký kiểu do một phái đoàn đến từ Đại Nam đặt làm và đã được mang khỏi Copeland & Garrett nên Bảo tàng Công ty Spode không còn lưu giữ bình vôi nào.

Hiện có năm chiếc bình vôi do triều đình Đại Nam ký kiểu từ xưởng Copeland & Garrett đã được các nhà sưu tầm và nghiên cứu cổ vật giới thiệu hay đề cập trong các bài khảo cứu của mình. Song thật không may là hai trong số những chiếc bình vôi ấy hiện không ai còn biết rõ tung tích. Kiểu dáng của các bình vôi này tương tự những bình vôi dùng tại Việt Nam dưới triều Nguyễn: thân hình cầu, trên đỉnh đắp nổi hình tròn dẹp, có núm nhỏ, qua hình cung, ở hai đầu quai có đắp nổi hình ngọn lửa.


Được chế tác bởi một loại sành sứ mới sáng tạo, gọi là New Fayence(1) tại Spode vào năm 1826, các bình vôi ký kiểu này được trang trí theo phương pháp in chuyển họa. Việc phát minh kỹ thuật in chuyển họa đã biến đổi nghề làm gốm thủ công thành một công nghệ. Kỹ thuật chuyển họa xuất hiện vào năm 1756 do John Sadler và Guy Green sáng chế ở Liverpool, sau khi trải qua nhiều công đoạn cải tiến, phát triển.


Trong giai đoạn đầu (1780 – 1800), lò Spode sử dụng những hoa văn sao chép theo các hình mẫu của Trung Quốc nhằm thỏa mãn thị hiếu của khách hàng. Đây cũng là thời kỳ thực nghiệm nên những hoa văn trang trí trên đồ gốm chuyển họa đều khá đơn giản. Bước sang giai đoạn thứ hai (1800 – 1815), nhờ sự phát minh máy in trên giấy Fourdrinier, kỹ năng in khắc được cải tiến. Nhờ đó, những người thợ in khắc có thể hình thành hoa văn bằng các chấm nhỏ và đường vạch, tạo nên những độ sâu với những sắc thái khác nhau, hình dung được những đám mây trên trời. Thời kỳ này, Staffordshire trở thành trung tâm sản xuất đồ gốm in chuyển họa.

Nhiệm vụ của người thợ in khắc là thiết kế một đồ án trang trí thích hợp hoặc sửa đổi một họa tiết có sẵn cho phù hợp với hình dáng của món đồ sứ. Sau đó họ sao chép đồ án này lên một tấm đồng đỏ cán mỏng và dùng acid để khắc lên tấm đồng những đường vạch hoặc chấm tròn nhỏ. Một khi nhiệm vụ vất vả này hoàn thành (một tấm đồng cho mỗi kích thước hoặc hình dáng của món đồ sứ) thì lúc đó tấm đồng mới sẵn sàng để dùng cho việc in chuyển hoa văn giấy. Màu lam cobalt luôn được dùng để in các đồ án bởi vì vào thời kỳ này đây là màu duy nhất có thể chịu được sức nóng của lò nung men mà không bị phai màu. Lúc đầu, cobalt được nhập khẩu từ Đức, nhưng về sau thì được khai thác từ xứ Cornwall. Cobalt được trộn lẫn với bột đá lửa và dầu tạo thành một loại mực sền sệt để in. Trước tiên người ta đặt những tấm đồng ở trên bếp lò để làm cho chúng nóng lên và dùng con dao trộn sơn dầu phết mực lên trên tấm kim loại đó tạo thành các chi tiết của hình khắc. Rồi thì người ta cạo sạch bề mặt tấm đồng bằng một miếng vải nhung kẻ. Giấy dùng để in rập hoa văn được làm ướt bằng xà phòng và nước rồi được đặt lên trên tấm đồng để sao các hoa văn khắc in trên tấm đồng. Sau đó, người ta ép và đặt tấm đồng lên trên bếp lò để làm cho nó nóng trở lại nhằm làm cho tờ giấy vừa được sao chép hoa văn bong ra. Người thợ cắt tỉa các hoa văn sao in trên tờ giấy và đặt nó lên các vị trí thích hợp trên những món đồ sứ sẽ được chuyển họa. Mặt giấy có mực in vừa được sao từ tấm đồng sẽ tiếp xúc với xương đất mộc của món đồ sứ. Sau đó, người ta dùng một cuộn vải flanen để chà nhẹ lên mặt sau tờ giấy để lưu lại các họa tiết trên nền một xương gốm. Đường viền của các họa tiết và hoa văn sẽ được in riêng rẽ, thường thì gồm hai hoặc nhiều mảnh hơn ghép lại, vì thế, người ta có thể thấy rõ các chỗ đấu nối họa tiết. Tiếp theo, bằng cách rửa món đồ trong nước lạnh, lập tức, tờ giấy sẽ nổi lên mặt nước để lại hoa văn được in trên món đồ sứ. Để lưu giữ hoa văn đã in lên món đồ một cách bền chắc, người ta đem món đồ ấy hấp trong một lò kín. Công đoạn cuối cùng là phủ lên trên hoa văn vừa in một lớp men trong để bảo vệ. Người ta cẩn thận nhúng mỗi món đồ vào trong nước men lỏng sao cho lượng nước men dư thừa trên món đồ là không đáng kể, rồi đem nung món đồ lần thứ hai trong một lò nung để làm chảy lớp men phủ.

Dưới chiếc bình vôi(2) nguyên của Bảo tàng Khải Định (Bảo tàng CVCĐ Huế hiện nay) có ghi hiệu đề New Blanche ở giữa, cùng với dòng chữ Copeland & Garrett viết theo hình tròn và hình vương miện ở trên. Hiệu đề này được sử dụng vào khoảng thời gian giữa các năm 1838 và 1847. New Blanche là một loại đồ sành dùng tại xưởng Copeland & Garrett. Theo ghi chép của xưởng này vào năm 1839, thì thành phần cấu tạo của New Blanche gồm 1/3 đất sét, 1/3 đất kaolin và 1/3 đá lửa. Hình trang trí trên chiếc bình vôi này vẽ một con chim phượng đậu trên cái kệ, cạnh một chiếc bình, một chậu hoa và một mâm trái cây. Được đặt tên là kiểu thức Macau, hoa văn này được chép theo kiểu Trung Quốc, xuất hiện trên đồ sứ xuất khẩu châu Âu, và vào năm 1839, lần đầu tiên tên hoa văn này ghi chép trong các tài liệu lưu trữ của xưởng Copeland & Garrett. Vì nét tương đồng giữa kiểu thức trang trí này với các đồ Spode mang hiệu đề “Minh Mạng…niên tăng họa”, nên sứ bộ Đại Nam đã chọn bình vôi ấy. Theo sổ sách lưu trữ của Bảo tàng Khải Định trước đây, bình vôi này được tìm thấy (hoặc mua) tại Huế trước khi đưa vào Bảo tàng Khải Định (số kiểm kê MKD 653).

Môt bình vôi khác(3) nay thuộc sưu tập của Bảo tàng CVCĐ Huế (Ảnh 01) được trang trí bằng men nhiều màu, đề tài hoa điểu. Mặt trước vẽ một con chim trĩ và bông hoa (hoa văn số B.587); mặt kia vẽ một con chim công (hoa văn số B.588). Cách vẽ chim và bông hoa theo kiểu phương Tây. Theo sổ sách của xưởng Copeland & Garrett thì hai hoa văn trang trí số B.587 và B.588 được sáng tạo năm 1839. Chữ B ghi trước số hoa văn chứng minh là hoa văn này được dùng dưới men.

Dưới đáy bình vôi có ghi hiệu đề Copeland & Garrett, bao quanh chữ late Spode và tên chất liệu New Fayence trong một dải ruy băng. Hiệu đề này, in màu xanh lá cây hoặc màu nâu, được sử dụng giữa các năm 1833 và 1847.

Bình vôi(4) của nhà sưu tầm Trần Đình Sơn (Ảnh 02) thì được trang trí kiểu thức hoa văn B.466 một cách tỉ mỉ và tương xứng. Hoa văn này được sáng tạo vào năm 1838. Có hai chiếc lá bao quanh miệng bình vôi và hai vòng hoa trang trí quanh thân bình. Một dãy hồi văn chữ chi viền quanh vai và quai bình. Các hoa văn trên chiếc bình vôi này hẳn nhiên được thực hiện theo kiểu thức châu Âu.

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh hiện đang lưu giữ một bình vôi(5) (Ảnh 03), cũng do xưởng Copeland & Garrett chế tạo. Chiếc bình vôi này cũng được trang trí theo lối in chuyển họa nhiều màu với kiểu hoa văn châu Âu: một bó hoa đặt trên chiếc lưới màu xanh (tượng trưng cho vườn hoa) được vẽ trên phần trên thân bình và hai cánh hoa lá ở phần dưới thân bình. Một dãi hoa văn màu xanh viền quanh quai bình và đế bình. Kiểu hoa văn này được ghi trong sổ sách của xưởng Spode năm 1839 với mã số B 593. Hiệu đề in màu xanh dưới chiếc bình vôi này là New Fayence ở giữa, kèm theo dòng chữ Copeland & Garrett viết theo hình tròn và hình chiếc vương miện. Hiệu đề này là kiểu hiệu đề nối tiếp hiệu đề có trên chiếc bình vôi của Trần Đình Sơn, xuất hiện khoảng giữa các năm 1838 đến 1847.

Dưới đáy của một chiếc bình vôi(6), nguyên của nhà sưu tầm người Bỉ, ông Clément Huet, cũng có in hiệu đề Copeland & Garrett và Saxon Blue trong một dãi ruy-băng. Hiệu đề này rất hiếm gặp và được ghi khi thợ gốm dùng kỹ thuật in chuyển họa dưới lớp men chảy. Hoa văn trang trí trên bình vôi này là một bó hoa.

Căn cứ vào các kiểu thức hoa văn và hiệu đề thì những bình vôi này do xưởng Copeland & Garrett sản xuất vào giữa các năm 1839 và 1847. Trong thời gian ấy chỉ có một sứ bộ duy nhất sang Luân Đôn để ký kiểu đồ sứ. Đó là sứ bộ do Tôn Thất Thuyền và Trần Việt Xương làm chánh sứ và phó sứ.

Cuối năm 1839, sau chiến thắng của quân Anh tại Trung Quốc, vua Minh Mạng đã tìm cách đối phó với các nước phương Tây bằng đàm phán ngoại giao. Vua cử một sứ bộ sang Pháp và Anh để thăm dò tình hình, lấy cớ đi mua hàng hóa. Việc sứ bộ Đại Nam đến Pháp đã làm nhiều người chú ý. Các hội truyền giáo lợi dụng dịp này để tố cáo việc  cấm đạo Thiên Chúa và giết hại giáo sĩ của vua Minh Mạng. Cả tòa thánh Vatican cũng gửi thư phản đối. Vua Louis Philippe của nước Pháp, vì phải đối mặt với những khó khăn trong nước nên không tiếp kiến sứ bộ Đại Nam.

Sau thất bại ở Pháp, sứ bộ lên tàu sang Anh (tháng 02 năm 1840). Họ được Thủ tướng Anh, Tử tước Melbourne, tiếp đãi nhưng họ không thu được nhiều thành công hơn. Trong thời gian lưu tại Luân Đôn, phái đoàn Đại Nam, theo lệnh vua Minh Mạng, đã ký kiểu các bình vôi tại thương quán Luân Đôn. Thời gian lưu lại của họ quá hạn chế nên họ không kịp nhận những chiếc bình vôi đã ký kiểu. Sau đó, những món hàng này được gửi đến Toàn quyền Ấn Độ để chuyển đến Huế. Năm 1845, viên Toàn quyền Ấn Độ cử một sứ bộ đến tạ ơn sự giúp đỡ(7) của vua Thiệu Trị (1841 – 1847). Lần đầu tiên các tài liệu đề cập đến việc triều đình nhận tặng phẩm. Một trong những lý do của việc này là sự có mặt của những bình vôi Copeland & Garrett ở trong số quà tặng. Hai năm sau người Anh lại đến Việt Nam và vua Thiệu Trị từ chối không cho yết kiến.

Vậy thì bình vôi Copeland & Garrett là những đồ sứ ký kiểu đầu tiên mà vua triều Nguyễn ký kiểu tại châu Âu. Sự chọn lựa lò Copeland & Garrett, một xưởng Anh quốc, chứng minh rằng đồ gốm sành sứ Anh được vua Minh Mạng chú trọng hơn đồ Pháp.

P.T.

Chú thích:

(1) Theo sách hướng dẫn làm đồ sành sứ của Spode vào năm 1826, thì thành phần cấu tạo của đồ New Fayence gồm:

– 65,31% đất sét xanh.

– 17,56% kaolin.

– 13,06% đá lửa.

– 04,05% đá Cornwall.

Tỷ lệ này không được xác định một cách cố định. Sau khi nung thì New Fayence trở thành trắng ngà và thường được trang trí bằng cách chuyển họa tô màu.

(2) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-on-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Đường kính: 11cm, cao 18cm. Hiệu đề: NEW BLANCHE (ở giữa) COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn) và một chiếc vương miện. Chiếc bình này nguyên là của Bảo tàng Khải Định, số kiểm kê MKD 653 (Dẫn theo: Jabouille P. & Peysonnaux J.H., “Sélection d’objets d’art et meubles conservés au Musée de Khải Định”, B.A.V.H., 1929, April-June, pl. XXX – 4.

(3) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Đường kính: 11cm, cao 16,5cm. Hiệu đề: LATE SPODE (ở giữa) COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn), NEW FAYENCE (trong một ruybăng), Hiện vật của Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, Số kiểm kê BTH.1679.S-1.GM-4639.

(4) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Hiệu đề: LATE SPODE (ở giữa), COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn) và NEW FAYENCE (ở dưới, trong một ruybăng). Hiện vật của sưu tập Trần Đình SơnThành phố Hồ Chí Minh.

(5) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Stafordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Cao: 18cm, Hiệu đề: Hình một vương miện và NEW FAYENCE (ở giữa), COPELAND AND GARRETT (viết theo hình tròn), Hiện vật của Bảo tàng lịch sử Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Số kiểm kê BTH 15182.

(6) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật men lam chảy chuyển họa. Cao: 18,50cm. Hiệu đề: một vương miện ở giữa; chữ COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn), SAXON BLUE (ở trên, trong một ruybăng), nguyên thủy thuộc sưu tập của Clément Huet (Bruxelles, B) (Dẫn theo: HUET Clément, Les pots à chaux, les pipes à eaux, Bulletin des Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Bruxelles, 1941, Tome 4, p. 80, pl. 11).

(7) Vào năm 1824, một con tàu Anh xuất phát từ Quảng Đông bị đắm, vua Thiệu Trị đã tạo điều kiện giúp đỡ và cho tàu Việt Nam đưa họ trở lại Ấn Độ.

Nguồn từ http://www.covathue.com/cac%20bai%20viet/Binhvoikykieu.html

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Bình vôi và câu truyện tập tục Việt

ĐẦU NĂM MUA MUỐI, CUỐI NĂM MUA VÔI

Câu tục ngữ này gắn với hai tập tục: Phiên chợ đầu năm người ta đi chợ thể nào cũng mua một ít muối về nhà và phiên chợ cuối năm, người ta mua vôi về để cho ông bình vôi ăn no nê, đầy đặn.
Sâu xa hơn ở vế thứ nhất,  tập tục mong muốn vào đầu năm, mua muối là đưa về nhà sự mặn mà quanh năm trong các quan hệ ứng xử, quan hệ làm ăn. Dẫu muối còn nhiều, nhưng vẫn nhắc nhau mua một bát. Điều đặc biệt ở đây là: với những vùng có thói quen đong các thứ bằng bát sát miệng (bằng miệng) như gạo, thóc, đậu, kê, vừng thì muối bao giờ cũng đong có ngọn, chứ không gạt miệng sợ về sẽ mất lộc, mất mặn mà.
Vế thứ hai, tại sao cuối năm lại mua vôi hay tôi vôi?
Xưa các cụ làm nhà vật liệu phải tích cóp hàng năm trời hoặc mấy năm trời trong đó có cả vôi làm vữa xây.Và việc tôi vôi chỉ dám thực hiện vào cuối năm. Đầu năm phải kiêng vì tôi vôi rã ra hết thì không may mắn. Hơn nữa “Bạc như vôi” là câu nói cửa miệng của các cụ ngày xưa .
Ở nông thôn, nhà nào cũng rắc vôi bột ở 4 góc vườn rồi vẽ hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ. Vì thế, dân gian có câu: “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”. Tuy nhiên cũng có ý cho rằng, cuối năm mua vôi để tô điểm thêm cho ngôi nhà thêm mới, thêm đẹp để đón xuân.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Ngày xưa, dân ta thường ăn trầu và có rất nhiều người nghiện trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện, cũng là mở đầu cho những cuộc tình duyên, kết bạn, làm quen, gắn bó… Miếng cau nhai với lá trầu cần phải có một chút vôi trắng muốt quệt vào mới đủ, mới đậm đà, ngon miệng và say. Và cũng phải có chút vôi trắng ấy mới có được cái màu đỏ làm hồng môi nhau. Cái màu đỏ này tượng trưng cho lòng chung thuỷ, lòng tin yêu nhau của đôi trai gái. Vì thế mà vôi cũng là yếu tố vô cùng quan trọng của miếng trầu. Giá trị của “vôi” ngày được khẳng định với những ý nghĩa khác nhau cùng sự trường tồn của thời gian.
Gắn với tục ăn trầu và những kiêng kị quanh vôi và bình vôi của người Việt. Xưa, có tục kiêng: người đàn ông dưới 40 tuổi không tôi vôi vì… sợ sớm bạc đầu.
Ông bình vôi là công cụ để vôi ăn trầu bằng sành sứ, hiện nay chưa thấy hiện vật này ở thời kỳ Đông Sơn. Chiếc bình vôi xưa nhất chưa xác định được, nếu có chỉ ở thời kỳ Bắc thuộc. Ba tiếng “Ông – Bình – Vôi” là từ Hán Việt hóa (có gốc từ tiếng Hán đã được Việt hóa đến mức thuần Việt).
Hiện nay, trong các lò gốm ở những nơi làm sành sứ mới đúc được ông bình vôi, còn những nơi làm nồi không đúc được. Và, không phải ai cũng đúc được. Người ta cũng chỉ đúc ông bình vôi vào những tháng nhuận của năm nhuận, nhưng người thợ cả phải sạch sẽ, không tang chế thì mới nặn thành công ông bình vôi.
Khi mua ông bình vôi, người ta mang theo một vuông vải đỏ hoặc nâu, mua xong gói ghém cẩn thận, bỏ vào thúng mủng đội lên đầu chứ không được cắp nách hoặc bỏ tay nải để xách. Lên xuống đò phải để chỗ cao ráo. Khi đưa về nhà thường đặt chỗ kín đáo, gần đầu giường, gần cửa buồng vì trong dân gian có câu chuyện kể: Kẻ trộm vào nhà thường hay nút miệng ông bình vôi lại hoặc quay miệng vào vách thì cả nhà sẽ ngủ yên, không ai nói mơ, nếu có biết trộm thì cũng ngọng nghịu, khhông la làng được.
Khi cho ông bình vôi ăn phải e dè, thận trọng. Khi dùng dao vôi để lấy vôi, nhất thiết không được ngoáy chìa vôi vào lòng ông vì nếu thế sẽ bị bệnh cồn cào ruột gan mà dùng chìa đưa thẳng rồi rút ra, Nên vì thế, miệng ông cứ mỗi ngày một đầy, thành vành khuyên, hôm trở trời tự lóc ra, người ta dùng dao khứa chân rồi đem xâu vào dây treo trước cửa mạch (cửa phụ nữ và ma quỷ hay ra vào) để trừ tà.
Một khi ông bình vôi đã đặc ruột, người ta rước ông cùng xâu miệng lên chùa để dưới chân cây hương, dưới gốc mít, gốc đa. Lâu ngày lăn lóc, sương đọng vào bụng ông, gặp con sài đẹn, hay bị sơn ăn thì người ta lấy nước đó mà uống, mà bôi. Ai bị sâu răng thì mua ngọc trai tán nhỏ hòa vào nước này uống sẽ khỏi.
Ông bình vôi là một vật thiêng, ông luôn cần no đủ. Nhưng ông lại ăn ít vì ruột càng ngày càng đặc lại. Xưa có những nhà chuyên bán vôi ăn trầu, họ trải lá chuối vào rổ, bỏ vôi vào, hai đầu hai rổ đem bán. Khi bán, dùng chiếc que to hơn cái đũa cả để lấy vôi phết vào lá cho khách hàng mang về. Bán thì ít, cho thì nhiều, nhưng vẫn vui vẻ.
Gọi là cuối năm nhưng không ấn định ngày nào để mua vôi. Tùy thuộc vào phiên chợ nào cho thuận tiện trong khoảng mươi ngày cuối tháng Chạp theo chợ phiên (chợ phiên thường có nhiều loại: tháng 3 phiên, tháng 5 phiên, tháng 6 phiên, tháng 9 phiên hay tháng 12 phiên). Không mua chợ này thì mua chợ khác.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Cuộc Sống Việt _ Theo Vitinfo.com.vn
VÀI BÌNH VÔI GỐM QUẢNG ĐỨC SƯU TẬP

Louise Allison Cort giám định viên của VBT smithsonian, Washington, D.C trong bài viết báo cáo ngày 3 tháng 06 , 2007 ghi chép như sau:

Di chỉ lò gốm vùng Quảng Đức, thuộc huyện lỵ Tuy An cách Tuy Hòa về phía bắc 30 km. Trong cuộc khảo sát khu vực các lò gốm chúng tôi được nghe một người thợ gốm già (83 tuổi) thuật lại rằng thợ gốm Chăm đã làm gốm tại đây từ 500 năm trước; có ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18 và thợ gốm người Việt Nam từ Bình Dịnh đến đây lập nghiệp từ tk 18. Hiện nay vẫn còn hai xưởng gốm hoạt động. Theo nhân viên VBT Phú Yên đi theo đoàn nói, thuyền duyên hải sẽ vận chuyển gốm thành phẩm về phương Nam đến Nha Trang và theo phương Bắc đến Bình Định. Người thợ gốm già cũng nói đến những bình cắm hoa thì theo thuyền đến Huế.

nguyên văn:

The Quang Duc kiln site in Tuy An district, 30 kilometers north of Tuy Hoa. During a visit to the kiln on 3 June, we were told by an elderly potter (age 83), that Cham potters had worked there 500 years ago; Chinese potters from Chaozhou, Guangdong province, were here in the 17th–18th century, for three generations only; ethnic Vietnamese (Kinh) potters came three hundred years ago, in the 18th century, from Binh Dinh. Two workshops still operate. According to museum staff, the products used to be shipped by coastal boat south to Nha Trang and north to Binh Dinh province. The elderly potter also spoke of making flower pots to send by boat to Hue.

Theo tôi, bình vôi Quảng Đức có cái mang nhiều phong cách trang trí Trung Hoa là do ảnh hưởng của ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18…

Tại VBT smithsonian có một số bình vôi gốm Quảng Đức được ghi niên đại thế kỷ 18 – giữa tk 20 là khoảng thời gian thợ gốm VN sản xuất tại Quảng Đức chứ không định rỏ chính xác niên đại.

Read Full Post »

Tản mạn

B Ì N H V Ô I

Trần thị LaiHồng

Bình vôi, vietantique.com

Trong số những vật dụng dân gian, tôi yêu thích nhất cái bình vôi. Không có kỷ niệm đặc biệt liên hệ, nhưng hễ nhìn thấy gốc đa với những bình vôi lăn lóc, là lòng cứ bồi hồi không thôi với những xúc cảm dấy lên từ tận cùng máu xương da thịt.

Tôi cũng chẳng phải là một nhà khảo cổ, nhưng có tính xấu rất tò mò tìm hiểu những gì yêu thích. Thấy tài liệu nào liên hệ là ôm lấy ngấu nghiến nghiền ngẫm, và sau đó không cất giấu riêng, mà muốn chia xẻ với mọi người.

Trong số những sản phẩm đất nung, gọi chung là đồ gốm, phải nói rằng bình vôi có nét riêng rẽ độc lập mang cá tính rất Việt Nam, mặc dầu tục ăn cau trầu vôi lan rộng cả vùng Đông Nam Á, kể từ Quảng Đông Quảng Tây Vân Nam phía Nam Trung Hoa cho đến các nước láng giềng Miên Thái Lào Miến Điện, sang tận Mã Lai Tân Gia Ba Phi Luật Tân Nam Dương và Ấn Độ …

Bình vôi đơn giản chỉ là một bình nhỏ đựng vôi bột trắng nguyên chất có hoà nước sền sệt, có khi được tí phẩm hồng làm đẹp. Vôi phết lên lá trầu bằng cái chìa vôi, têm gọn, nhai chung với một miếng cau, theo tập tục ăn cau trầu tương truyền có từ đời Hùng Vương, tức là cả ngàn năm trước Thiên Chúa.

Jaguar-lime-pot

Bình vôi tìm được ở Nam Mỹ, xứ Ecuador, 1500 năm trước Tây Nguyên

nguồn: home19.inet.tele.dk

Tại Việt Nam, bình vôi được tôn kính là Ông – Ông Vôi hoặc Ông Bình Vôi – được coi như một vị thần, được giữ gìn tôn trọng, để ở khay, ô, tráp, hộp, quả hộp, hay cơi cau trầu trên sập gụ hay trên bàn kê giữa nhà. Chiếc khay cũng được bảo trọng, thường được làm bằng gỗ quý chạm trổ hoặc cẩn xà cừ, cẩn ngà. Đi đôi với bộ khay cau trầu vôi trên sập gụ hay trên bàn, là một ống nhổ bằng đồng thau để dưới chân sập chân bàn, dùng đựng nước trầu và bã trầu.

Tuy được tôn kính bảo trọng, bình vôi không được để trên bàn thờ tổ tiên hoặc trên hương án, không để trên bàn thờ Thành hoàng hay Tổ đình, cũng không được để trên bàn Phật. Bình vôi có vị trí quan trọng nhưng chỉ trong phạm vi gia đình – như Ông Táo, Vua Bếp – liên bệ đến những sinh hoạt trong nhà.

Bình vôi cũ hoặc sứt mẻ không được vứt bỏ rác, mà được đem để dưới gốc đa trong làng hoặc dưới luỹ tre bên đình, là những nơi cũng được tôn kính, dân làng hay qua lại ngồi nghỉ mát hoặc họp chợ.

Về chuyện kể liên hệ đến bình vôi, xưa có một tên trộm chuyên nghiệp tài tình, khi về già ăn năn hối cải, bỏ nghề, xin vào chùa tá túc nghe kinh. Sư cụ trụ trì giao việc giữ lửa, gà gáy sáng có phận sự nấu nước pha trà cúng Phật. Tên trộm chăm lo giữ lửa và làm tất cả mọi việc nặng trong chùa, thành tâm tu tập, được sư cụ tin cậy.

Trong chùa có chú tiểu nhỏ không ưa tên trộm và sinh lòng ghét bỏ, ghen tỵ về lòng tin cậy của sư cụ. Một đêm, chú lén dập tắt lửa. Sáng dậy thấy không còn lửa đã vùi ủ kín đêm qua, tên trộm rầu rĩ chẳng biết cách xoay sở. Chú tiểu bèn bày mưu hại, bảo tên trộm leo lên cây đa thiêng bên chùa cầu Phật gia hộ. Chú bảo :

– Leo lên ! Leo tuốt cao tận ngọn, buông tay buông chân như buông thả bản thân, buông thả ngũ uẩn. Phật sẽ gia hộ đưa đến nơi có lửa.

Tên trộm cả tin theo lời. Khi buông mình, thay vì rơi xuống đất chết, lại được một đám mây vàng nhẹ nhàng cứu độ đưa về cõi Niết bàn không sinh không diệt. Chú tiểu ngỡ ngàng, nhưng lòng tham sân si bùng mạnh, chú đi dập tắt lửa rồi leo lên tận ngọn đa, buông mình. Chú rơi nhanh. Một cành đa nhọn đâm xuyên thủng bụng. Chú chết, không được vãn sinh tịnh độ, mà biến thành một cái bình tròn bụng chứa đầy vôi nồng – tượng trưng lòng đố kỵ – và cành đa nhọn là chiếc dao nhỏ dùng quệt vôi têm trầu.

Truyền thuyết sự tích cau trầu vôi kể từ đời Hùng Vương thứ tư, nhưng các nhà khảo cổ không tìm được vết tích bình vôi thời các Vua Hùng của nền văn minh Đông Sơn. Tuy nhiên, sách An-Nam Chí- lựơc của Cao Hùng Trưng soạn năm 1691, được Trần Kinh Hoà Giáo sư Đại học Huế dịch ra tiếng Việt năm 1962, có trích đoạn Nam-Việt Ngoại -Ký chép : “… Người Giao chỉ (người Việt) bới tóc cao, xâm vẽ mình, miệng đỏ răng đen, tồn ty đều ăn cau trầu … “ Như vậy, tục ăn cau trầu có tự ngàn xưa.

Trong tác phẩm Gốm Việt Nam : Một Truyền thống Riêng – Vietnamese Ceramics : a Separate Tradition – của John Stevenson và John Guy, do Avery Press xuất bản năm 1997, có viết rõ bình vôi đầu tiên tìm được trong một ngôi mộ cổ ở Thanh Hoá, có tuổi khoảng thế kỷ thứ hai đến thứ năm sau Thiên Chúa. Bình dáng tròn có núm dẹp để cầm, lỗ tròn để lấy vôi, đế chân lận ra ngoài. Bình làm bằng đất nung tô điểm mấy đường chạy vòng, tráng men trắng ngà, phía sau còn vết hai giọt men bóng ngời.

Kiểu bình vôi núm này tồn tại ở Việt Nam cho đến thế kỷ 14, sau đó vẫn còn được làm bên Thái lan.

BinhVoi6

Bình vôi tân tạo dập khuôn đời Lý, núm dạng lá Sen,

men trắng đục da rạn ửng xanh và nâu nhạt.

Sưu tập tư nhân, Hoa Kỳ.

BinhVoi7

Bình vôi tân tạo dập khuôn đời Lý, núm búp Sen, men da rạn xanh ngọc,

xanh nâu và nâu nhạt, có quả cau đắp nổi.

Sưu tập tư nhân, Hoa Kỳ.

Đời nhà Lý (1010-1225), bình vôi tròn rất thịnh hành, tuy còn thô sơ nhưng được trang trí thêm : núm cầm có dạng một hoa Sen. Sen tượng trưng sự thanh khiết của triết lý Phật giáo, là tôn giáo cực thịnh đời Lý. Bình vôi đời Lý có đế thấp, tráng men trắng đục thô gọi là gốm đàn.

BinhVoi13

Bình vôi Bát Tràng mới dập khuôn cũ, không quai,

đắp nổi dị dạng cóc nhái, men nâu và xanh.

Sưu tập tư nhân, Hoa Kỳ.

Đời nhà Trần (1225-1400), đồ gốm tinh xảo hơn, dùng toàn đất sét nguyên chất trắng mịn, tráng men dày màu xanh sáng mát gọi là men ngọc. Ngoài ra còn màu men trắng ngà, vàng nhạt hay nâu bóng gọi là men da lươn, và còn làm men rạn. Gốm men ngọc rất đẹp, có thể sánh với gốm Long Tuyền đời Tống bên Tàu.

Bình vôi đời Trần có đế cao, bụng rộng từ 8 đến 35 phân tây. Bình lớn có núm cầm lớn dạng tròn hoặc hơi phồng như quả trứng. Đế bình tráng men nâu. Nghệ nhân cố đưa hình tượng thiên nhiên vào việc sáng tạo : bình có dạng như một cục đá vôi màu trắng ngà, quai cầm có dạng cây cau, có quả cau xanh, giây trầu lá lục vấn vít bao quanh.

Có những bình vôi nhỏ vừa tầm tay, bỏ vào đãy (túi gấm túi vải) đeo vắt vẻo trên vai hoặc lủng lẳng bên thắt lưng. Loại này vẫn được làm tại Bát Tràng cho đến thế kỷ 17, và được tráng men màu bạch kim sáng ngời.

Thời nhà Minh xâm chiếm nước ta (1413-1427), bình vôi không còn làm bằng đất sét trắng mịn nữa mà dùng đất sét nâu thô, nên dáng dấp nặng nề hơn. Thời này dùng nhiều men màu khác như xám, xanh nhạt xanh đậm, xanh dương, vàng, nâu … Dạng bình thô lậu, lớn hơn, chạm trổ hoặc khắc nổi hình tượng cầu kỳ kiểu Tàu, có gió cuốn mây trôi chim bay cá lượn sóng vỗ, và cả … mặt quỷ.

Thế kỷ 17 và 18, các lò gốm Bát Tràng sản xuất bình vôi loại lớn, hình dáng dị dạng với lối trang trí rất rườm rà. Chỗ bụng bình giáp quai cầm biến dạng thành hai cái tai, trông tương tự loại hình lò gốm Hoà Lan Dutch East India. Dạng mới này lại được các vua triều Nguyễn (1802-1945) ưa chuộng đến nỗi đưa mẫu đặt làm bên Tàu và cả bên Anh, do hãng Copeland and Garret (1835-1847) xuất cảng.

Triều Nguyễn cũng đặt Tàu làm đồ sứ men lam bleu de Húe, trong số có bình vôi. Các bình vôi đời Nguyễn bị biến chế trang trí đường nét Tàu : vẽ dơi vạn phúc, người đẹp với liễu rủ ven hồ và sơn thuỷ hữu tình …; quai cầm trước đây có giây trầu vấn vít nay trờ thành giải mây giải lụa. Bình vôi men lam bleu de Hue’ mất hẳn linh hồn Việt.

Về nguồn gốc cau trầu vôi, hẳn nhiều người biết bản nhạc Sự Tích Trầu Cau của Phan Huỳnh Điểu : “ Ngày xưa có hai anh em nhà kia, cùng yêu thương, ở cùng nhau bỗng đâu chia lìa … “ Bộ Lĩnh Nam Trích Quái xuất bản tại Saigon năm 1961 kể đời Hùng Vương thứ tư có hai anh em họ Cao khắng khít thương yêu nhau. Người anh về sau có vợ, lơ là em. Người em buồn rầu tủi thân bỏ nhà ra đi. Vào rừng lạc lối, gặp suối sâu vực thẳm không qua được, chết rũ biến thành cây cau. Người anh thương nhớ đi tìm em, cũng chết bên bờ vực, biến thành tảng đá vôi. Người vợ đi tìm chồng, cuối đường đến vực thẳm, ngồi dựa tảng đá âu sầu thương nhớ chồng mà chết, biến thành giây trầu quấn quít quanh tảng vôi và bò lên thân cau. Cha mẹ cô gái đi tìm con, đến bờ vực hiểu ra sự thể, lập miếu thờ cả ba người.

Vua Hùng một hôm cùng đoàn tuỳ tùng đi thăm dân, nghỉ chân bên suối, ngồi dựa tảng đá trắng đẹp, thấy có cây cao xanh mát trổ trái tròn trịa và giây leo vấn vít, hỏi chuyện miếu thờ. Nhà vua hái một lá nhai với nửa quả xanh thấy ấm cổ họng, nhổ nước cốt lên đá thấy ửng hồng. Vua cho nung đá thành vôi mịn, truyền mọi người nhai cau trầu vôi để vừa có vị thơm ngon ngọt quyện trong miệng, cơ thể bừng sinh lực, mắt sáng, môi đỏ hồng, má tươi nhuận, vừa thấm nhuần ý tình thương yêu thắm thiết của gia đình tộc thuộc.

Từ đó, vua ra lệnh bày tập tục ăn cau trầu, không những dùng như một nghệ thuật làm đẹp, mà còn dùng trong mọi việc, từ giao tế thường ngày đến các nghi lễ trọng đại trong đời, nhất là về hôn nhân. Cây cau cao vút thẳng lòng chính trực, tảng đá vôi trắng tinh thuần nhất và giây trầu vấn vít trung trinh, là những hình ảnh thân thương trong hầu hết ruộng vườn quê hương.

Cho đến giữa thế kỷ 20, chỉ mới hơn năm mươi năm đây thôi, tục ăn cau trầu vẫn thịnh hành từ thành thị đến thôn quê. Ngay tại triều đình Huế, dưới triều Nguyễn, từ vua quan, các ông hoàng bà chúa, vương tôn công tử, đến các mệ đều ăn trầu. Nhà quan quyền có lính đeo bình vôi và đãy trầu, hoặc thị nữ bưng tráp theo hầu. Đãy sang làm bằng gấm hoặc đoạn dệt màu có thêu chỉ ngũ sắc, bình dân dùng vải thô nâu hay đỏ. Ngoài Bắc có bộ xà tích lủng lẳng thắt lưng với ống vôi nhỏ bằng bạc, là món trang sức đặc biệt của các cô các bà. Các cụ răng yếu thì miền nào cũng dùng cối giã trầu bằng đồng hình trụ xinh gọn, vừa đủ xoáy nghiền một miếng cau trầu vừa miệng.

Những hình chụp đăng trong bài này hầu hết là bình vôi cao cấp, có hình thức mô phỏng theo nhau, thêm ít nhiều tinh xảo nhờ tài khéo của nghệ nhân và kỹ thuật tiến bộ, xưa được dùng trong giai cấp quyền qúy, và nay còn được lưu giữ trong những tủ kính các nhà sưu tập cũng như các bảo tàng viện thế giới. Ngoài ra, còn một số bình mới tái tạo dập khuôn theo cổ vật, thêm thắt nhiều chi tiết mới lạ.

Bình vôi dân dã thực sự rất đơn giản, giống một độc bình thấp nhỏ có miệng loe cắm que têm trầu, làm bằng đất sét thô nung không tráng men màu, và không được mấy ai chú ý vẻ đẹp mộc mạc quê mùa đó trừ những bà già trầu và những bô lão hom hem miệt vườn. Bình vôi quyền quý thay đổi theo thời rồi vào ngồi tủ kính thế giới, chỉ để được nhìn ngắm dấu tích di sản một nền văn hoá, trong khi bình vôi dân dã thô sơ vẫn có mặt nơi quê hương, vẫn đầy ắp trong lòng tình nồng dân tộc. Báu vật tiền nhân để lại mang ý nghĩa xa hơn những tấm hình đẹp, nên dẫu qua thời gian và luật đào thải của văn minh tiến bộ, vẫn chưa hề bị quên lãng hoặc chôn vùi.

Trần thị LaiHồng

Hoa Bang, mùa Đông 2004

Tài liệu tham khảo :

– Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hoá Sử cương

– Henry Oger, Technique du Peuple Annamite

– John Stevenson & John Guy, Vietnamese Ceramics : a Separate Tradition

– Lê văn Lan, Thời đại Hùng Vương

– Nhất Thanh, Đất Lề Quê Thói

– Nguyễn Trúc Phương, Việt Nam Văn học Bình dân

– Phan Huỳnh Điểu, Sự Tích Trầu Cau

– Phan Kế Bính, Việt Nam Phong tục

– Tôn Thất Quảng, Đãy Trầu Thuốc Huế Xưa, Những Người Bạn Cố đô Huế, Bulletin des Amis du Vieux Húe

– Trần Kinh Hoà, An Nam Chí lược

– Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam Trích Quái

—————————————————————-

Trước khi cuốn Vietnamese Ceramics của John Stevenson đồ gốm cổ Việt Nam không có tên trên bản đồ cổ vật thế giới. Các hiện vật được tìm thấy tại Việt Nam, nhất là đồ đào ở khu vực Thanh Hoá đều được cho là đồ có nguồn gốc Trung Hoa (đồ vớt mới chỉ được tìm thấy trên các tàu đắm trong chục năm laị đây). Ngoài ra ở khu vực miền Nam thì các cổ vật nói chung đều thuộc dòng Chăm (pa).

John Stevenson đã thực hiện một nghiên cứu tuyệt vời minh chứng cho sự tồn tại của đồ gốm Việt. Hãy xem trích đoạn book review của Roxanna M. Brown.(Asian Art News & Infor):

“Nằm trong số rất ít ỏi các tài liệu về đồ gốm Việt, tài liệu [Vietnamese Ceramics của John Stevenson] này là một nghiên cứu đầu tiên được xuất bản với sự tin tưởng chắc chắn rằng các danh mục gốm Việt được trình bày thật sự hiện hữu. Nếu lập luận khoa học chặt chẽ, sẽ không thể khẳng định sự tồn tại của một dòng sản phẩm gốm sứ khi chưa có những bằng chứng về sản phẩm, đặc biệt là những di chỉ về sự tồn tại của các lò nung. Trong trường hợp Việt Nam, bằng chứng về những sản phẩm gốm có tráng men nặng lửa mới chỉ xuất hiện trong biên niên sử khảo cổ khoảng 1 thập kỷ lại đây. Trước đó, những năm 30s, di chỉ lò nung được tìm thấy ở Tam thọ , Thanh Hoá, nhưng là những lò sản xuất đồ sành không có men hơn là đồ gốm có men vốn được tìm thấy nhiều trong các mộ Hán ở cùng khu vực này”

VietnameseCeramic1

(nguồn: http://www.paragonbook.com/html/newsinfo/bookreviews/fullreview.cfm?ItemID=2316)

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Bình vôi, ống nhổ


hotanphan
(Xuân MTTN 2008) – Theo nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, Việt Nam không phải là nước độc nhất, cũng không phải là nước đầu tiên có tập quán ăn cau trầu. Tuy nhiên có thể khẳng định, tục ăn cau trầu ở nước ta cũng đã có từ rất lâu đời.

Hồ Tấn Phan – Xuân Miền Trung Tây Nguyên 2008

Theo Truyện trầu cau trong  Lĩnh Nam chích quái, tục ăn cau trầu ở nước ta đã có từ thời Hùng Vương. Nhưng phổ biến thì phải đến thời tiền Lê. Tác giả Mã Đoan Lâm viết trong Văn hiến thông khảo: Năm Thuần Hóa thứ nhất (900), vua Tống sai sứ sang truyền phong cho Lê Hoàn chức đặc tiến, khi về sứ thần là Tống Cảo thuật lại rằng: “….Lê Hoàn cầm cương ngựa, cùng sứ giả cùng đi, rồi lấy trầu mời trên lưng ngựa, đấy là phong tục mời khách quý…”.

Người Tây phương vào cuối thế kỷ trước, khi đến nước ta đã rất ngạc nhiên khi thấy tục lệ này. Cristophoro Borri -Giáo sĩ Dòng Tên người Ý đã viết trong cuốn Xứ Đàng Trong năm 1621: “Ở xứ Đàng Trong còn một trái khác đặc biệt của xứ này người Bồ gọi là “areca” (cau). Cây nó mọc thẳng như cây dừa, rỗng ở trong và chỉ đâm lá ở chóp đỉnh, lá tựa lá dừa; ở giữa các tàu lá, nảy các ngành nhỏ có trái. Trái có hình thù và kích thước của trái hồ đào, sắc xanh cũng như vỏ hồ đào, còn ruột thì trắng và cứng như trái dẻ, chẳng có mùi vị gì hết. Trái này không ăn một mình, nhưng ăn với lá trầu không, thứ cây rất thông dụng ở khắp Ấn Độ, lá như lá thường xuân ở châu Âu và thân bám vào cây chống như giống cây thường xuân. Người ta hái lá cắt thành từng miếng nhỏ và trong mỗi miếng để một miếng cau, như vậy mỗi trái có thể làm thành bốn hay năm miếng.

Người ta còn thêm vôi với cau. Vôi ở xứ này không làm bằng đá như vôi châu Âu, nhưng bằng vỏ sò hến. Vì trong nhà có những người chuyên lo việc bếp núc, chợ búa và các việc khác, nên ở Đàng Trong mỗi nhà đều có một người không có việc gì khác hơn là việc têm trầu, những người dùng vào việc này thường là đàn bà, nên gọi là các bà têm trầu. Những miếng trầu đã têm sẵn thì để vào trong hộp và suốt ngày người ta nhai trầu, không những khi ở trong nhà mà cả khi đi lại trong phố chợ, cả lúc nói, ở mọi nơi, mọi lúc. Và sau khi đã nhai trầu lâu và nghiền trong miệng, người ta không nuốt mà nhả ra, chỉ giữ hương vị và phẩm chất tăng thêm sức mạnh cho dạ dày một cách kỳ lạ.

Trái này được têm thành miếng rất thông dụng đến nỗi khi tới thăm ai, người ta đem theo một túi đầy trầu và mời người mình tới thăm, người chủ nhà lấy một miếng cho ngay vào miệng. Trước khi người khách từ biệt ra về, chủ nhà sai người têm trầu của nhà mình đem ra một túi để mời người khách đến thăm mình, như để đáp lại sự lịch thiệp mình đã nhận được. Do đó, vì cần phải có sẵn cơi trầu cau, và có liên tục, nên cau cũng là một nguồn lợi lớn ở xứ này, có vườn cau thì cũng như ở xứ chúng ta có ruộng nho và ruộng ô liu. Họ cũng hút thuốc lá, nhưng thuốc lá không thông dụng bằng trầu cau”.

Cristophoro Borri mô tả tỷ mỷ, nhưng vẫn còn thiếu nhiều, kể cả những cái cơ bản như bình vôi, ống nhổ. Cau, trầu, vôi vẫn còn đó, nhưng là cau, trầu, vôi hậu sinh. Cau, trầu, vôi mà Cristophoro Borri thấy đã đi vào thế giới sắc không.

Theo bước chân công chúa Huyền Trân, 700 năm trước, một đợt lưu dân Việt đi vào hai châu Ô, Lý đổi thành châu Thuận, châu Hóa, rồi phủ Thuận Hóa. Trong hành trang của những người rời quê cũ vào miền đất mới có cả văn hóa cau trầu đã tồn tại hàng ngàn năm rồi, không những nó trở thành một tập quán, mà tinh thần của nó đã ăn sâu vào tâm thức của con người.

Khi vào đây, nền văn hóa cau trầu Việt gặp nền văn hóa cau trầu Chăm. Có nhà nghiên cứu cho rằng, có thể người Chăm đã biết ăn cau trầu trước người Việt. Theo truyền thuyết dân tộc Chăm, có hai bộ tộc: bộ tộc dừa ở phía bắc  (trong đó có TT-Huế ngày nay) và bộ tộc cau ở phía nam. Trong cuốn Lịch sử vương quốc Chăm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2004, tác giả Lương Ninh cho biết: Khi còn vương quốc Chăm, mỗi lần nhà vua xuất hành, theo nghi thức của triều đình, có 50 thị vệ và 10 thị nữ bưng những mâm vàng đựng cau trầu theo hầu.

Tục ăn cau trầu của người Chăm đã còn lưu lại trên nhiều dấu vết, và ngày nay người ta vẫn còn gặp những đồ dùng như hộp đựng trầu và bình vôi bằng đồi mồi khảm vàng bạc, dao bửa cau, buồng cau, lá trầu bằng vàng… Thế nhưng, liên quan đến tục ăn cau trầu được khắc lên bia đá thì chỉ có ở làng Lai Trung (thuộc xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh TT-Huế). Tấm bia này nói đến việc một vị quan “hầu trầu” (danay pinang) xây dựng đền tháp tôn thờ thần Civa.

Cho đến nay, chúng ta khó mà biết được một cách tường tận việc ăn cau trầu của các tiền nhân từ 700 năm trước, lúc họ vừa mới bước chân đến Huế. Nhưng đến thế kỷ 19, chúng ta có thể biết được toàn cảnh của một xã hội cau trầu, từ cung đình cho đến cùng đinh. Vào lúc đó, tục ăn cau trầu ở Huế có những nét đặc biệt mà nơi khác không có. Cau trầu liên quan đến quan hôn tang tế, sinh lão bệnh tử thì ở đâu cũng có, nhưng ở Huế còn có ăn cau trầu trong cung đình.

Về ăn cau trầu trong cung đình, trước hết phải nói việc ăn cau trầu của vua. Hàng năm, bộ Hộ thường tiến vào Đại Cung một số tiền để lo việc mua cau trầu cho vua ngự dụng. Ví dụ như Minh Mạng năm đầu tiên (1820) là 40 quan, đến năm Minh Mạng thứ 5 là 80 quan, và qua các thời có gia, giảm chút ít. Đó là một số tiền rất lớn nếu so với lương lính lúc đó, mỗi tháng mỗi người nhận khoảng 1 quan.

Đồ dùng trong việc ăn cau trầu của vua giao cho phủ Nội vụ chế tạo. Bình vôi, ống nhổ, cơi trầu, hộp trầu được làm bằng vàng, bạc hoặc đồng, chạm trổ công phu. Khay, hộp được chế tạo bằng đồi mồi hay gỗ quý. Đặc biệt có một số đồ dùng như bình vôi, ống nhổ được đặt làm từ bên Tàu, bên Tây.

Việc chầu hầu vua ăn cau trầu cũng là quan, binh, nhưng khác với phong tục của người Chăm. Ở triều nhà Nguyễn, những quan, binh này chẳng qua cũng chỉ là những thị thần, không có vai trò gì quan trọng trong triều đình. Thường chuyên trách công việc này có Viện Thượng trà được tuyển chọn kỹ từ từ 60 -100 người, được xếp vào biền binh chính ngạch. Thời thường các viên chức Viện Thượng trà phải chầu hầu bên vua, kể cả những dịp gặp ngày tự, hưởng, khánh hạ, triều hội, hoặc khi vua ngự trên điện. Khi vua giá hạnh các địa phương xa, các viên chức Viện Thượng trà cũng phải chỉnh tề trang phục xa giá để kịp thời dâng tiến các vật hạng ngự dụng.

Trong cung đình, cau trầu cũng có liên quan đến quan hôn tang tế. Ví như mỗi lần có một công chúa hạ giá, của hồi môn do phủ Nội vụ chu biện có: Bình vôi bằng sứ 1 cái, Hộp trầu thuốc bằng vàng (nặng 20 lạng) 1 bộ, Hộp trầu thuốc bằng bạc (nặng 16 lạng) 1 bộ, Hộp trầu thuốc bằng đồi mồi khảm vàng (vàng 7 tuổi rưỡi, nặng 2 đồng 5 phân) và khay bạc (3 lạng 7 đồng 2 phân), Hộp trầu bằng bạc hạng nhỏ có cơi một cái, Hộp trầu bằng bạc hạng nhỏ (bạng 20 lạng 2 đồng 5 phân, giá 162 quan) 1 cái, Hộp trầu khảm xà cừ 2 cái, Hộp trầu bằng đồi mồi 1 bộ, Hộp trầu bằng thau 2 bộ, Khay trầu bằng ngà bốn góc bịt vàng (vàng 7 tuổi rưởi 1 lạng và các vật liệu giá 100 quan) 1 cái, Ôậng nhổ bạc khảm vàng (vàng 4 lạng, bạc 20 lạng) 1 cái, Ôậng nhổ bạc khảm vàng (vàng 7 tuổi rưởi 6 đồng, bạc 4 lạng 8 đồng 5 phân, giá 92 quan 9 tiền 26 đồng) 1 cái, Ôậng nhổ bằng thau khảm vàng 1 cái, Ôậng nhổ bằng thau 6 cái, Âu đựng trầu bằng vàng (nặng 36 lạng 7 đồng cân) 1 cái, Chậu đựng trầu bằng thau 1 cái.

Trong dân gian thì hầu như mọi người đều ăn cau trầu. Tất cả làm nên một văn hóa cau trầu rất phong phú. Tục ăn cau trầu cũng đã ghi một ấn tượng đến tình yêu trong xã hội: tình yêu giữa ông bà và con cháu, giữa cha mẹ với con cái; tình yêu nam nữ, tình yêu vợ chồng… Những tình yêu đậm đà đó được thể hiện bằng những cái hôn đằm thắm, da diết… Và xin nói rõ, đây là hôn hít bằng mũi. Mùi vị của những người mình yêu thật sâu lắng, không thể nào quên…

Thời gian cứ trôi qua, trôi qua…, cuộc sống rồi cũng thay đổi, tục ăn cau trầu gần như lùi vào dĩ vãng, chỉ còn lại một ít hình ảnh lễ nghi, hoặc hình ảnh của một thế hệ gần đất xa trời, hay một ít vật dụng như những “ông” bình vôi nằm dưới gốc cổ thụ phảng phất chút khói hương…

Thế nhưng, thật ngạc nhiên và xúc động, như một phép lạ, nhiều năm trở lại đây, dưới dòng sông Hương và các dòng sông khác của Huế ồ ạt “xuất hiện” không biết cơ màn nào là bình vôi và ống nhổ, đủ chủng loại, đủ đẳng cấp. Mỗi cái có một “linh hồn”, thực thực, hư hư, và tất cả gần như còn giữ nguyên hơi thở của cuộc sống. Quá khứ xa xăm hàng ngàn năm trước đã thức dậy,  và chúng đã nói với chúng ta không biết bao nhiêu điều tưởng chừng như ảo mộng…

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Ông Bình Vôi

450px-Binhvoi (Small)

Ông Bình Vôi, theo tín ngưỡng dân gian lâu đời của người Việt, là ông thần giữ của trong nhà. Bình vôi thường được làm từ đất nung, sành sứ và được dùng để đựng vôi ăn trầu. Người ta dùng một chiếc que tre, gọi là chìa vôi, để lấy vôi ra. Một đầu của chìa vôi được vót nhọn để têm trầu. Ông Bình Vôi là hiện vật văn hóa lâu đời của người Việt. Theo phong tục xưa, khi đón con dâu vào nhà, mẹ chồng mang Ông Bình Vôi lánh ra ngoài — tỏ ý quyền lực tuyệt đối của mẹ chồng với của cải. Bình vôi dùng lâu ngày sẽ bị vôi bít kín miệng phải thay. Người ta không vứt bỏ những chiếc bình cũ, mà đem treo chúng ở gốc đa hay để chúng ở cạnh các ngôi đền.

Chuyện rằng, ngày xưa có một người ăn trộm nhà nghề tài giỏi, về già, sức yếu, không còn xoay xỏa được các mẻ lớn như hồi còn trẻ, đành đi ăn trộm vặt để sống qua ngày. Lão trộm ở gần một ngôi chùa, thường lui tới chốn này lần lượt vơ vét hết lư hương, chân đèn đến chũm chọe, chuông, tượng đồng. Các sư biết rõ kẻ lấy trộm nhà chùa, song không thể trừng phạt được tên gian, vì luật nhà Phật cấm làm điều hại người, lấy ác báo ác. Do đó mà lão trộm cứ liên tiếp thổi sạch của cải trong chùa, và các sư đành mặc cho lão ta lấy.

Một hôm lão trộm thấy mình đã kiệt sức, sắp chết đến nơi, hối hận tìm đến gặp sư cụ để thú tội:

– Bạch sư cụ, suốt cả đời tôi chỉ có ăn trộm, đốt nhà, giết người, tội lỗi ngập đầu, ngày nay tôi hết sức hối hận, không biết làm thế nào để chuộc lại bao nhiêu tội ác đã gây ra được mong Phật tổ tế độ cho. Mong sư cụ mở lòng từ bi mà khuyên bảo cho, tôi nguyện hết lòng làm theo lời sư cụ dạy, dù có phải hy sinh đến đâu cũng không từ.

Sư cụ vốn oán sẵn tên trộm già, thấy có dịp trừ tiệt mối họa mới vờ khuyên nó muốn chuộc bao nhiêu tội lỗi tày đình, thì sáng sớm tinh sương vào lúc không người, hãy leo lên ngọn cây đa trước cửa chùa chắp tay niệm Phật ba lần rồi lao mình xuống, tức khắc sẽ được Phật tung lưới nhiệm màu hứng độ cho về cõi cực lạc.

Lão trộm tin thật vào lời nhà tu hành, mừng rỡ lạy tạ ra về. Sáng hôm sau, tên trộm già cố sức khó nhọc trèo lên ngọn cây đa cao vòi vọi, làm y như lời sư cụ dặn, lớn tiếng “Mô Phật” ba lần rồi nhảy vào quãng không. Nhà sư đã xúi cho tên trộm già chết, trong lúc đó nấp ở cửa chùa nhìn ra thấy rõ mọi sự, mừng thầm cho mưu kế của mình thực hiện, từ đây dứt tiệt được kẻ láng giềng đạo tặc. Song lão trộm vừa nhảy khỏi ngọn cây đa, sư cụ bỗng kinh ngạc thấy một dải lụa điều từ đâu như do một bàn tay vô hình tung quấn vào giữa người lão rồi từ từ đưa lên trời.

Mấy hôm liền sau đó, nhà sư đâm ra nghĩ ngợi quên ăn, quên ngủ, ước muốn được lên cõi Niết Bàn như lão ăn trộm. Một kẻ trọn đời làm toàn chuyện ác đức như thế đáng lẽ phải sa địa ngục, mà chỉ nhảy từ ngọn cây đa xuống là được Phật độ cho về Niết Bàn, huống hồ một nhà sư bao nhiêu năm khổ hạnh tụng kinh niệm Phật? Nghĩ thế rồi, một sáng sớm kia nhà sư cũng trèo lên ngọn cây đa trước chùa và làm y theo cách mình đã dạy tên trộm.

Trái với mong ước, nhà sư chẳng thấy dải của Phật tung ra độ mà khi thả rơi người xuống liền bị một cành cây xuyên qua thủng bụng. Đến khi người ta hay hạ xác nhà sư xuống thì bụng đã chương phình lên, thủng một lỗ lớn ở chỗ rút cành cây đâm xuyên.

Vì thù oán và ham muốn, nhà sư bị hóa kiếp thành ra cái bình vôi. Miệng bình là chỗ bị cành đa đâm thủng và chìa vôi là cành đa. Thân hình to lớn là bụng nhà sư chương sình. Vôi đựng trong bình cay nồng cũng như lòng oán thù và tham muốn ở kẻ hành. Màu đỏ ở miệng bình vôi là máu loang ra ở vết thương bị cành đa xuyên qua. Nhà sư bị Phật hóa kiếp thành bình vôi ngày ngày phải chịu khổ hình cho người ta ngoáy moi tận ruột lấy vôi ra để ăn trầu.

Những bình vôi vỡ hay cũ không dùng nữa bị người ta đem ra bỏ ở các gốc cây đa.

Truyện dân gian Việt Nam

Theo truyền thuyết thì tục ăn trầu ở Việt Nam có từ thời vua Hùng Vương thứ 4, và theo đó bình vôi có thể đã có mặt từ thời thượng cổ nhưng khảo cổ học chưa phát hiện được bình vôi nào thuộc thời kỳ văn hóa Đông Sơn. Tính đến cuối thế kỷ 20 thì bình vôi cổ nhất tìm được ở Việt Nam mang niên đại thế kỷ thứ tư, khai quật được trong ngôi cổ mộ thời Bắc thuộc.

Bình vôi thường có dáng tròn bẹp, trổ một lỗ làm miệng ở vai bình, chân có đế, và trên chóp có quai xách.

Sang thế kỷ 18-19 bình vôi còn được các phường gốm ở Trung Hoa, Pháp và Anh sản xuất theo thị hiếu của người Việt để bán sang thị trường Việt Nam.(vi.Wikipeia.org)

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Ông bà bình vôi

BÌNH VÔI VIỆT NAM

binhvoi

Bình vôi là những chiếc bình bằng gốm sứ hay đồng thường có thân hình cầu dùng để đựng vôi đã tôi phục vụ cho tập tục ăn trầu của người Đông Nam Á. Đối với người Việt, bình vôi được gọi trang trọng là Ông bình vôi, được coi là một thành viên rất gắn bó trong gia đình. Những bình vôi không còn sử dụng nữa vẫn được lưu giữ trong nhà, hay gửi ở đình làng …

Ăn trầu là một tập tục xuất hiện từ rất lâu đời ở khu vực Đông Nam Á. Hơn thế nữa, miếng trầu còn là chiếc cầu nối trong các mối quan hệ xã hội ở mọi cấp độ. Chính vì vậy mà người xưa có câu : “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, và cũng chính là lý do ra đời của hàng loạt các vật dụng cần thiết phục vụ cho tập quán này. Bình vôi là một trong số các vật dụng ấy. Bình vôi thường có hình cầu, trên thân bình có một lỗ nhỏ, tuy nhiên, cũng có loại bình vôi có nắp đậy, dùng để chuyên vôi mới tôi. Bình vôi có thể được làm từ các chất liệu như bằng gốm sứ hay bằng đồng. Kích thước của bình vôi cũng rất đa dạng và phong phú, có chiếc là bình cá nhân, kích cỡ vừa phải, nhưng có những chiếc bình thuộc nghi lễ, thường có kích cỡ rất lớn.

Tất nhiên, bình vôi không chỉ đơn thuần là một vật chứa vôi phục vụ tập tục ăn trầu cổ xưa, mà còn có mối liên hệ khăng khít với truyền thống và văn hoá. Trước tiên ta hãy xem xét đến cách mà người Việt thường gọi bình vôi. Khi nói tới bình vôi, người Việt thường dùng đại từ Ông thay vì dùng lượng từ Cái thông thường. Khi gọi bình vôi là Ông bình vôi là người ta đã sử dụng biện pháp nhân cách hoá chiếc bình. Vì vậy, Ông bình vôi được coi là một thành viên trong gia đình. Ông bình vôi tiêu biểu cho nhiều truyền thống lâu đời và mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Bình vôi có nắp thường xù xì và vì thế nên rất hiếm khi bị vỡ, nhưng một khi đã vỡ là mang một điềm báo về sự chẳng lành. Người ta không bao giờ vứt bình vôi mà thường giữ trong nhà, gửi trong làng hoặc đền thờ thành hoàng làng. Những bình vôi không dùng nữa thường được xếp quanh gốc tre đầu làng.

Để lấy được vôi trong bình người ta dùng một chiếc chìa vôi nhỏ đưa qua cái miệng nhỏ trên thân bình, mỗi khi chiếc chìa vôi đi qua miệng bình, hoặc cũng do chủ ý của người sử dụng mà vôi bị quệt lại miệng bình, và như thế theo thời gian miệng bình dày lên hình thành cổ bình, thậm chí lấp kín miệng bình, đó là lúc chiếc bình không còn sử dụng được nữa. Thật đúng với nhận xét một nhà thơ Việt Nam vào những năm 1940:

“Đời người có thể kéo dài hàng trăm năm,

Giống như bình vôi vậy.

Càng sống lâu, càng giàu kinh nghiệm,

Càng sống lâu, càng thấy mình nhỏ bé”

Mặc dù ăn trầu là một tập tục của cả vùng Đông Nam Á, nhưng bình vôi gốm của Việt Nam không phải là một mặt hàng phục vụ cho các thị trường mậu dịch gốm thế kỷ 15. Chỉ có một số rất ít được xuất khẩu. Một số rất ít bình vôi được tìm thấy tại di chỉ tàu đắm như tại di chỉ tàu đắm Pandanam ở Philippines, đồng thời cũng có thể tìm thấy tại các di chỉ Cù Lao Chàm ở Việt Nam. Ở cả hai di chỉ này, có một số bình vôi còn đang đựng vôi, điều đó giúp khẳng định đây là vật dụng cá nhân của các thuỷ thủ trên tàu. Trong trường hợp này, bình vôi giúp xác định được nguồn gốc của thuỷ thủ trên tàu.

Lại có một chiếc bình vôi mất quai khác được tìm thấy ở Indonexia, và thường bị nhầm là bình nhỏ nước. Trên thực tế, bình vôi cũng thường dùng làm bình nhỏ nước. Trong nhiều năm gần đây, các nhà quí tộc ở Nhật Bản sưu tầm bình vôi và sử dụng bình vôi làm bình chuyên nước và là đối tượng đàm đạo trong trà đạo. Khi nghi lễ trà đạo kết thúc, bình vôi không được dùng để chứa vôi mà được dùng để cắm hoa.

Thời hiện đại có rất nhiều người Việt Nam trở thành nhà sưu tập bình vôi, cùng với nhịp độ tăng trưởng của kinh tế, cùng những chương trình tái thiết đất nước, bình vôi được tìm thấy ở rải rác khắp đất nước. Bình vôi rất đa dạng phong phú về kiểu dáng và lối trang trí. Có chiếc có quai xách, có chiếc không có quai xách. Hoạ tiết trang trí cũng rất đa dạng mô phỏng theo cành và cây cau, dây trầu không…

Cổ ngữ Việt Nam có câu “Bỏ thuốc tậu trâu, Bỏ trầu tậu ruộng” để nhắc nhở những ai quá nghiền trầu và thuốc. Nhưng thuốc hiện nay đã trở nên không còn được say mê ưa chuộng như xưa kia nữa, và thời thế đã thay đổi. Hình ảnh về một cụ già ngồi têm trầu trong đình làng Đồng Kị năm 1994 với vật dụng đựng vôi là một lon Côca cho thấy rằng, dường như khi không có bình vôi thì bất cứ thứ gì cũng có thể thay thế được. Những thay đổi ở Việt Nam diễn ra gần đây đã làm sống dậy những truyền thống cổ xưa. Đây cũng chính là lúc nhà nước khuyến khích các thợ gốm duy trì sản xuất ra các vật dụng văn hoá truyền thống như bình vôi.

Bài đăng trên Netdepviet.org

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Phóng sự ảnh triển lãm giao lưu cổ vật tại Festival Huế 2009

Huế trở thành Thành phố Festival của cả nước kể từ sau Festival 2000 do Pháp tổ chức. Kể từ ấy, các năm chẵn là Festival quốc tê International Festival, và các năm lẻ là Festival các làng nghề truyền thống.

Năm 2007, BTC Festival quyết định đưa cổ vật vào trưng bầy tại lễ hội Festival làng nghề: tôn vinh nghề đúc đồng, chạm khảm, nghề gỗ

Có hơn 20 nhà sưu tập đã đến với Huế: Thanh Hóa(5), Ninh Bình(1), Nam Định(1), TP HCM (14 hội viên Hội CV Nam Bộ).

Năm nay 2009, Festival làng nghề tôn vinh các nghề Pháp Lam, sơn mài, gốm sứ. Có hơn 60 nhà sưu tập cả nước đã về dư cuộc trưng bầy hơn một ngàn hiện vật tại khu trung tâm trưng bầy vừa xây xong, 15 Lê Lợi, TP Huế.

Đêm khai mạc đã diễn ra hoành tráng bên Đập Đá, truyền hình trực tiếp lên VTV 1.

2009.06.16.05.12dem khai mac 1 rs

2009.06.16.05.11dem khai mac 2 rs

Pháp Lam trang trí khung cửa tại Thành Nội, phục chế

2009.06.21.09.59.52plam ngo mon rs

TRƯNG BÀY & TRIỂN LÃM

Pháp Lam trưng bầy trong Đại Nội

2009.06.21.10.01.01pl cung dinh rs

2009.06.21.10.02.44pl dia oval rs

Chóe Tự Đức trong Đại Nội, cao trên 60 cm

2009.06.21.10.03.44choe td 48 33 rs

Lọ Pháp Lam để chơi Cầu Hồ (ném que vào bình), một trò chơi du nhập từ Nhật, Trung Quóc vào VN mà các vua Nguyễn rất thích chơi

2009.06.21.10.05.21plam cau ho rs

Du khách thẫn thờ trước vẻ đẹp gốm Biên Hòa ( sưu tập của NST Bạch Liên )

2009.06.22.05.59.20yohan quan am rs

Lễ cắt băng khánh thành phòng trưng bầy pháp lam và đồ Huế ký kiểu tại trung tâm Phật giáo Liễu Quán.

2009.06.26.05.14.16CAT BANG

Anh Trần Đình Sơn, thứ 3, trái, hạnh phúc vì đã góp phần nhỏ bé của người con xứ Huế cho thành công của Festival, NST Bạch Liên ( Tú Anh) người đeo thẻ đứng ở ngoài cùng bên phải.

2009.06.26.05.17.49son tu anh rs

Bộ sưu tập sứ Ký kiều triều Nguyễn của nhà sưu tập Trần Đình Sơn

2009.06.22.06.01.50su tq tds rs

Bỗ sưu tập trà cụ ấm chén của NST Trần Đình Sơn

2009.06.22.06.02.50su tq tra tds rs

Bộ sưu tập Pháp Lam (fanglangcai) của NST Ngọc Lũ tại Festival

2009.06.21.09.24.18pl hinh kg kinh rs

2009.06.21.09.35.07pl hinh a rs

Bộ sưu tập Pháp Lam của NST Trần Đình Sơn tại Festival

2009.06.21.09.47.47pl tds royal rs

2009.06.21.09.48.43pl tds 1 rs

2009.06.21.09.49.22pl t d s rs

Bộ sưu tập Pháp Lam của NST Bạch Liên tại Festival

2009.06.21.09.52.07pl ta 2 rs

2009.06.21.09.52.31pl t a 1 rs

2009.06.26.12.10.32pl ang

2009.06.26.12.10.59IMG_0027

2009.06.26.12.11.19IMG_0010

2009.06.26.12.11.34IMG_0011

2009.06.26.12.11.47IMG_0015

2009.06.26.12.12.52pl lu

2009.06.26.12.13.04pl tiem

giới thiệu nguyên bộ 7 hiện vật gốm Cây Mai của NST Bạch Liên đi trưng bầy tại Festival (mặt sau cũng đắp nổi)

2009.06.25.11.22.16bl cay mai 2

2009.06.25.11.22.30bl cay mai 3

2009.06.24.09.33DSC04385

Đây là lần ra quân hoành tráng của các cụ bình vôi

1/Bộ sưu tập bình vôi của NST Đoàn Cần Thơ, NST Tường Tiền Giang, NST Kiệt HCM

2009.06.25.11.29.59bvoi can tho doan

2/03 Bình vôi của NST Trung HP (Thiên Trường-Nam Định)

2009.06.25.11.30.42BST TRUNG HP

3/Bộ sưu tập bình vôi của NST Bạch Liên

2009.06.25.11.31.08binh voi tu anh rs

2009.06.24.09.34DSC04390

Bộ sưu tập gốm Bát Tràng của các nhà sưu tập đến từ Sơn Tây

2009.06.26.02.45.30GOM BAT TRANG

Bộ sưu tập thạp hoa nâu Lý Trần của các nhà sưu tập phía Bắc

2009.06.26.02.46.23THAP GOM HOA NAU

Bộ sưu tập Chân đèn – Lư Lê, Mạc của NST Lê Quang Chức đến từ NAM ĐỊNH

2009.06.26.02.47.17CAP CHAN DEN LU LE MAC

BST điếu Bát Tràng Nguyễn và chân đèn LÊ-MẠC của NST Lê Quang Chức

2009.06.26.02.49.00BST DIEU CHAN DEN LQC

Bộ sưu tập Nghê của Bạch Liên tại Festival

2009.06.21.10.09.24nghê t a không kiếng rs

GIAO LƯU & TRAO ĐỔI CỔ VẬT

Hình ảnh các hiện vật mà các nhà sưu tập mang đến tại buổi giao lưu

2009.06.26.05.19.09hien vat a

Kha, TP HCM, người con của Huế, trái ngoài, Hoàng Huế, phải ngoài, đã nhiệt tình hết mình cho buổi giao lưu của các nhà sưu tập trên quê mình:

2009.06.26.05.20.19kha hoang hue

Ông Chức CT HCV Thiên Trường thay mặt các nhà sưu tập cả nước về dự giao lưu phát biểu cảm tưởng:

2009.06.26.05.22.34chu chuc

2009.06.24.09.33phatbiêu

2009.06.25.10.15FS DPT HAT

hình ảnh trong buổi giao lưu cổ vật:

Chiếc dầm trà lớn từ Quảng Ngãi đã về HCM, em Triều đã rất vui khi được sở hữu chiếc đĩa này từ cuộc giao lưu ( mở hàng):

2009.06.25.11.18.08MO HANG

Chiếc thạp đồng Đông Sơn niên đại 2500-2000 năm cách ngày nay đã được Chính Bắc Ninh mua giá 3.600.000 vnđ và tặng lại cho Bảo Tàng Huế ngay tại cuộc giao lưu:

2009.06.25.11.49thap chinh

Voi điếu Bát Tràng từ NB đã vào HCM

2009.06.25.10.41QN BL

xem xét hiện vật

2009.06.26.12.10.46XENH PLAM RS

Những hình ảnh lưu niệm:

2009.06.26.02.02anh quoc

2009.06.25.10.39chinh tot thuan

Hình ảnh và chú thích: NST Bạch Liên – Phó Chủ Tịch HCV Thiên Trường

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »