Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘pháp lam’

Lăng tẩm các vua nhà Nguyễn.

Là những kỳ quan được thiết kế xây dựng rất kỳ công trong những không gian hoành tráng hùng vĩ , hài hòa với những cảnh quan thiên nhiên một cách tuyệt vời ,bố cục tạo hình gợi cảm tiết điệu , có giá trị thẩm mỹ cao , tùy thuộc tư tưởng từng cá tính của mỗi vị vua . các lăng phản ánh tâm linh , quan niệm vĩnh cửu và huyền bí phương đông . Theo quan niệm phương đông khi lên ngôi , các vị vua đều nghĩ tới chuyện xây dựng lăng tẩm , nơi an nghỉ cuối cùng ‘’tức vị trị quan’’đấy là nguyên tắc của các vị đế vương .

LĂNG GIA LONG (Thiên Thọ Lăng )

Lăng Gia long còn gọi là Thiên Thọ Lăng ,bắt đầu được xây dựng năm 1814 và đến năm 1820 mới hoàn thành .Lăng thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến . Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi , núi lớn nhỏ , trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này .

Đồ án công trình bố cục theo chiều ngang ,trải rộng mênh mông , không có đình tả và thành .Tổng thể điện Minh Thành bao gồm tẩm điện , sân chầu ,tượng đá voi ngựa, quan chầu ,bia thánh đức thần công .

Bao quanh cảnh núi đồi hùng vĩ giống như một vòng thành thiên nhiên , với núi Thiên Thọ gồm 42 ngọn đồi ,khu mộ hợp táng vua và Hoàng hậu là sự độc đáo của công trình lăng ở phương đông . cảnh quan thiên nhiên hòa quyện với kiến trúc .Con người làm chủ thiên nhiên trong sự hài hòa có tính chất chiều sâu tâm linh nội tại . Một chuyên gia UNESCO đã nhận xét rằng “ lăng Gia Long ở giữa một khu vườn thiên nhiên bao la và gợi nên ấn tượng hoành tráng và thanh thoát .



LĂNG MINH MẠNG (Hiếu Lăng)

Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng năm 1840 đến năm 1843 để chon cất vua cha Minh Mạng .Lăng nằm trên núi Cẩm Khê , gần ngã ba Bằng Lăng , là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12km .

Lăng Minh mạng , với đồ án chữ Minh của mặt bằng hồ , cùng những công trình kiến trúc theo trật tự thẳng trục thần đạo , có tính chất uy nghiêm hùng vĩ , đã phản ánh tư tưởng trung ương tập quyền của vị hoàng đế này .lăng Minh Mạng được coi là một trong những công trình lăng tẩm đạt đỉnh cao của sự hài hòa đối xứng và bất đối xứng của trật tự nghiêm ngặt tạo sự hoành tráng uy nghi , đặc biệt tẩm (khu mộ khối hình tròn thành cao tượng trưng cho mặt trời biểu tượng thiên thể )



LĂNG THIỆU TRỊ (Xương Lăng )

Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng nằm ở địa phận thôn Cư Chánh , xã Thủy Bằng , huyện Hương Thủy . Được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847 để chon cất vua cha Thiệu Trị . So với Lăng tẩm các vua tiền nhiệm và kế vị . Lăng Thiệu Trị có những nét riêng . Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng tây Bắc .một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung đình và lăng tẩm thời Nguyễn .

Là sự thay đổi không gian qua biến thể cấu trúc kết hộp giữa đồ án hoành của lăng Gia Long và trục đứng đạo đến khu mộ của lăng Minh Mạng để tạo ra bố cục mới đặt cụm kiến trúc sân chầu , nhà bia ,bửu thành song song viên chính và vẫn giữ vẻ uy nghi , quy mô hòa hợp với cảnh quan thiên nhiên



LĂNG TỰ ĐỨC (Khiêm Lăng )

Lăng tự Đức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ông vua thi sĩ Tự Đức (1848-1883) đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình , phù hợp với sở thích và nguyện vọng của con người có học vấn uyên thâm và lãng tử bậc nhất trong hàng vua chúa nhà Nguyễn.Lăng tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thương ,Tổng Cư Chánh (nay là thôn Thượng Ba , xã Thủy Xuân , thành phố Huế ).

Tuy không có sự kế thừa nhưng đã phá vỡ không gian tạo hình , không giống những lăng các vị tiên đế . Đồ án uyển chuyển , nhịp nhàng , tạo nhịp điệu đầy chất thơ hòa quyện trong không gian thiên nhiên đầy thông ,hồ nước chảy quanh ,đặc biệt điễm tô thêm nhà thủy tạ , duyên dáng soi bóng trên mặt hồ sen ,một nhà bia với tấm văn bia đồ sộ biểu lộ tâm trạng bi quan của nhà vua .Lăng phản ánh tâm hồn phóng khoáng , lãng mạn của một vị vua thi sĩ đã có nhiều trước tác về thơ văn có giá trị văn học . Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn .Ở đó quanh năm có suối chảy , thông reo , muôn chim ca hát .yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng Tự Đức là sự hài hòa của đường nét . Không có những con đường thẳng tắp ,đầy góc cạnh như những kiến trúc khác , thay vào đó là con đường lát gạch bát tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn ,rồi uốn lượn quanh co ,ở phía trước lăng mộ và đột ngột khuất vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh . Sự sáng tạo của con người hài hòa với cảnh quan tự nhiên tạo nên một khung cảnh thơ mộng , diễm lệ .




LĂNG ĐỒNG KHÁNH (Tư Lăng )

Lăng Đồng Khánh tọa lạc giữa vùng quê tĩnh mịch ,thuộc làng Cư Sĩ , xã Dương Xuân ngày trước ( nay là thôn Thượng Hai, xã Thủy Xuân , thành Phố Huế ). Ông vua vắn số này yên nghỉ giữa một vị thế nồng ấm tình cảm gia đình . chung quanh ông là lăng mộ của bà con quyến thuộc. Lăng Tự Đức ( bác ruột và là cha nuôi), Lăng Kiến Thái Vương ( cha ruột), lăng bà Từ Cung (con dâu ), lăng à Thánh Cung (vợ). Xa hơn là lăng tá Thiên Nhân Hoàng Hậu ( bà cố nội ) , lăng Thiệu Trị ( ông nội )…âu đó cũng là sự bù đắp cho vị vua kém may mắn này .

Sau khi lên ngôi , Đồng Khánh thấy lăng mộ của cha mình ở Cư Sĩ chưa có điện thờ nên sai bộ công dựng điện truy Tư cạnh đó để thờ cha . điện Truy tư khởi công vào tháng 2 năm 1888, đến tháng 10 năm đó hoàn tất phần căn ản . Đồng Khánh rước bài vị của Kiên Thái Vương về thờ trong điện , đồng thời tiếp tục hoàn chỉnh công trình . Thế nhưng , trong khi công việc kiến trúc đang tiếp tục thì Đồng Khánh mắc bệnh và đôt ngột qua đời . Vua Thành Thái ( 1889-1907)kế vị trong hoàn cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn , kinh tế suy kiệt nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm , đành lấy điện truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh . Thi hài nhà vua cũng được an táng đơn giản trên quả đồi có tên là Hộ Thuận Sơn , cách điện Ngưng Hy 30m về phía tây . Toàn bộ khu lăng tẩm được gọi tên là Tư lăng .

Tháng 8 năm 1916 , sau khi lên ngôi được 3 tháng , vua Khải Định (1916-1925), con trai vua Đồng Khánh đã tu sửa điện thờ và xây cất lăng mộ cho cha mình . Toàn bộ khu lăng mộ từ bái Đình , Bi Đình đến Bửu Thành và Huyền Cung đều được kiến thiết dưới thời Khải Định .đến tháng 7-1917 mới hoàn thành .Riêng điện ngưng Hy cùng Tả , Hữu Tùng Viện ,tả , Hữu Tùng Tự tiếp tục được tu sửa cho đến năm 1923 .

Ra đời trOng quá trình dài như thế, lăng Đồng Khánh mang dấu ấn hai trường phái kiến trúc của hai thời điểm lịch sử khác nhau . Nếu phong cách cổ truyền thực sự dừng chân trong kiến trúc lăng tự Đức và phong cách hiện đại được thể hiện rõ nét trong kiến trúc lăng Khải Định sau này ,thì lăng đồng Khánh là một bước trung chuyển .


LĂNG DỤC ĐỨC (An Lăng )

Sauk hi vua Tự Đức băng hà, triều thần đã đưa Ưng chân lên ngai vàng vào ngày 19-7-1883, y theo di chiếu truyền ngôi của vua Tự Đức . Chưa kịp đặt niên hiệu , vị vua trẻ được đặt tên theo tư thất của mình là Dục Đức , nhưng chỉ vài ngày sau , Vua Dục Đức đã bị truất phế vì tội dám lược bỏ một đoạn văn trong di chiếu truyền ngôi của tiên đế và bị tống vào ngục thất . Ngày 24-10-1884 ông vua bất hạnh này bị chết đói trong nhà ngục , thi hài được gói trong một chiếc chiếu giao cho hai tên lính và một viên quyền suất gánh đi chôn ‘’đám tang ‘’của ông vua xấu số này được đưa về An Cựu để mai tang trong địa phận chùa Tường Quang (chùa do một người thân bên vợ của vua Dục Đức lập ra năm 1817) gần đến nơi thì thi hài nhà vua bị rớt giữa đường do đứt dây ,một người lính đã chạy vào chùa Tường Quang mời nhà sư trụ trì ra giải quyết .cuối cùng mọi người nhất trí chọn mảnh đất ‘’thiên tang ‘’đó làm nơi an nghỉ đời đời của vua Dục Đức.

Sáu năm sau, con trai vua Dục Đức là Bửu Lân lại được đưa lên làm vua .Sau khi tức vị , Bửu lân đặt niên hiệu là Thành Thái (1889-1907) và bắt đầu cho xây đắp lăng mộ của vua cha ngay trên nấm mồ ‘’thiên táng ‘’đó .lăng được xây dựng vào đầu năm 1890 ,đặt tên là An Lang nhưng chưa có điện thờ .vào năm Thành Thái thứ 11 (1899) nhà vua cho xây dựng điện Long Ân phía hữu lăng mộ , làm nơi thờ cúng vua cha .Ngoài điện Long Ân , nhà vua còn cho xây cất các công trình phụ như tả , hữu Phối Đường (trước) tả , Hữu Tùng Viện (sau ) dành cho bảy bà vợ thứ của vua cha ăn ở , lo việc thờ phụng hương khói .


LĂNG KHẢI ĐỊNH ( Ứng Lăng )

Lăng Khải Định còn gọi là Ứng lăng tọa lạc trên triền núi Châu Chữ ( còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế là lăng mộ của vua Khải Định , vị vua thứ 12 của Triều Nguyễn . Lăng được xây dựng từ năm 1920 ngay sau khi Khải Định lên ngôi .Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bị sự pha trộn kiến trúc đông tây kim cổ lạ thường , vì các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo .

Toa6 lạc tại vị trí này , lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án , lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm ‘’tả Thanh Long ‘’và ‘’Hữu Bạch Hổ’’, có khe CHâu Ê chảy từ trái qua phải làm thủy tụ gọi là ‘’minh đương’’ . Nhà Vua đổi tên núi Châu Chữ – vừa là hậu chẫm vùa là ‘’mặt bằng’’của lăng – thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo núi : Ứng Lăng

Lăng khởi công ngày 4-9-1920 và kéo dài trong 11na8m mới hoàn tất lăng . Lăng Khải Định có một diện tích rất khiêm tốn :117mx 48,5m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian . Người đời sau thường đặt lăng Khải Định ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi cái mới , cái lạ , cái độc đáo , cái ngông nghênh , lạc lõng …tạo ra từ phong cách kiến thức . Toàn cảnh lăng Khải Định nhìn có môt cái gì nó vừa quen , vừa lạ . Tổng thể của lăng là một khối hình chữ nhật vươn cao với 127 bậc cấp như muốn thể hiện khát vọng tự chủ của ông vua bù nhìn này . sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc : Ấn Độ Giáo , Phật Giáo , Roman , Gothicque…đã để lại dấu ấn trên những công trình cụ thể .: những trụ cổng hình tháp ,ảnh hưởng từ kiến trúc A7n1 Độ , trụ biểu dạng stoupa của nhà Phật ,hang rào như những cây thánh giá khẳng khiu, nhà bia và những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể …Điều này là kết quả của hai yếu tố : sự giao thoa văn hóa đông tây trong buổi giao thời của lịch sử và cá tính của Khải Định .


CHÙA THIÊN MỤ

Chùa Thiên Mụ hay là chùa Linh Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương , cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về phía tây . Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601) đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Nguyễn đầu tiên ở đàng trong.Đây có thể nói là ngôi chùa cổ nhất ở Huế .

Truyền thuyết kể rằng , khi chúa Hoàng vào làm trấn thủ xứ Thận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam , ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp. Xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này . Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương , ngược lên phía đầu nguồn , ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc , thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại , ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê .

Người dân địa phương cho biết nơi này ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi , nói với mọi người :

‘’rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí ,làm bền long mạch , cho nước nam hùng mạnh ‘’. Vì thế nơi đây còn được gọi là Thiên Mụ Sơn.

Tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường như cùng bắt nhịp được với ý nguyện của dân chúng .Nguyễn Hoàng cả mừng ,vào năm 1601 đã cho dựng một ngôi chú trên đồi , ngoảnh mặt ra sông Hương , lấy tên là Thiên Mụ .

Năm 1862 dưới thời vua Tự Đức để cầu mong có con nối dõi , nhà vua sợ chữ Thiên phạm đến trời , nên cho đổi từ Thiên Mụ thành Linh Mụ (hay bà mụ linh thiêng ).

Vấn đề kiêng cữ như đã nêu chỉ diễn tiến từ năm nhâm tuất (1862) cho tới năm kỷ tỵ(1869). Sau đó người dân thoải mái gọi hai tên : chùa Thiên Mụ và chùa Linh Mụ.

Vì rằng từ ‘’Linh’’ đồng nghĩa với ‘’thiêng ‘’, âm người Huế khi nói ‘thiên’nghe trại ‘thiêng ‘’, nên khi người Huế nói ‘’Linh Mụ”, “thiên Mụ”hay “thiêng Mụ” thì người nghe đều hiểu là muốn nhắc đến chú này .

Một số người còn đặt tên cho chùa là Tiên Mụ (hay bà mụ thần tiên) cách gọi này không được giới nghiên cứu chấp nhận.


Dưới thời chúa Quốc Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) theo đà phát triển và hưng thịnh của Phật giáo xứ Đàng Trong , chùa được xây dựng lại quy mô hơn . năm 1710 , chúa Quốc cho đúc một chiếc chuông lớn , nặng tới trên hai tấn , gọi là Đại Hồng Chung ,có khắc một bài minh trên đó .Đến năm 1714 chúa Quốc cho đại trùng tu chùa vì hàng chục công trình kiến trúc hết sức quy mô như Điện Thiên Vương ,Điện Đại Hùng , nhà thuyết pháp , lầu tàng kinh ,phòng tăng , nhà Thiền …mà nhiều công trình trong số đó ngày nay không còn nữa. Chúa Quốc còn đích thân viết bài văn , khắc vào bia lớn ( cao 2m60 rộng 1m2)nói về việc xây dựng các công trình kiến trúc ở đây , việc cho người sang Trung Quốc mua hơn 1000 bài kinh Phật đưa về đặt tại lầu tàng kinh , ca tụng triết lý của đạo phật , ghi rõ sự tích của Hòa Thượng Thạch Liêm , người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn chấn hưng Phật Giáo ở đàng trong .Bia được đặt trên lưng một con rùa đá rất lớn , trang trí đơn sơ nhưng tuyệt đẹp .

Với cảnh đẹp tự nhiên và quy mô được mở rộng ngay từ thời đó , chùa Thiên Mụ đã trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứ đàng trong . trải qua bao biến cố lịch sử . Chùa Thiên Mụ đã từng được dùng làm đàn tế trời , dưới triều Tây Sơn ( khoảng năm 1788) rồi được trùng tu tái thiết nhiều lần dưới các triều vua nhà Nguyễn .Năm 1844, nhân dịp mừng lễ “bát thọ”của bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ vua Gia Long ,bà nội vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị kiến trúc lại ngôi chùa một cách quy mô hơn , xây thêm ngôi tháp bát giác gọi là Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên ), đình Hương Nguyên và dựng 2 tấm bia ghi lại việc dựng tháp , đình và các bài thơ văn của nhà

Tháp Phước Duyên

Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ . Tháp cao 21m , gồm 7 tầng , được xây dựng phía trước chùa vào năm 1844.Mỗi tầng tháp đều có tượng Phật .Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng ,nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng .Phía trước tháp là đình Hương Nguyện , trên nóc đặt pháp luân ( bánh xe pháp luân , biểu tượng phật giáo , Pháp luân đặt trên đình Hương Nguyện quay khi có gió thổi) . trận bão năm 1904 đã tàn phá chùa nặng nề ,nhiều công trình bị hư hỏng trong đó đình Hương Nguyện bị sụp đổ hoàn toàn (nay vẫn còn dấu tích ) .năm 1907 Vua Thành Thái cho xây dựng lại , nhưng chùa không còn to lớn như trước nữa .Hai bên tháp có hai nhà tứ giác ,một nhà để bia và một nhà để quả chuông đúc đời chúa Nguyễn Phúc Chu .


PHÁP LAM HUẾ

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Advertisements

Read Full Post »

Ấn tượng mỹ thuật Phật giáo trên gốm sứ 3 miền

Festival nghề truyền thống lần 4 (2009) với chủ đề “Nghề truyền thống – bản sắc và phát triển”, lễ hội năm nay vinh danh 3 nghề: Gốm sứ, sơn mài và pháp lam, gắn liền với sự kiện 110 năm cầu Trường Tiền và chợ do thành phố Huế tổ chức quả đã có mổ sự bứt phá khá mãnh liệt.Trước hết phải ghi nhận một điều là khác với những Festival trước, không gian thường tổ chức trong khuôn viên khép kín của trường Hai Bà Trưng. Năm nay, lần đầu tiên sau 4 lần tổ chức không gian được mở rộng trên hầu khắp các trọng điểm của thành phố Huế mà điểm nhấn là đôi bờ sông Hương thơ mộng trên phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu, Ban Tổ chức đã dựng lên 11 ngôi nhà rường Huế để trưng bày sản phẩm, giới thiệu kỹ thuật và các công đoạn, quy trình sản xuất của hơn 150 nghệ nhân đến từ 15 làng nghề truyền thống nổi tiếng cả nước. Phía Bắc sông Hương, trên công viên Thương Bạc có sự xuất hiện “hội chợ triển lãm nghề truyền thống Việt Nam” quy tụ nhiều ngành nghề truyền thống khắp cả nước.
festival_01.JPG
Bộ tượng Bồ Tát Di Lặc
festival_02.JPG
Bộ tượng Quán Âm – Di Đà
festival_03.JPG
Quán Âm Chăm
festival_04.JPG
Bồ tát Giám Trai
Như đánh giá chung của các nhà nghiên cứu và sưu tầm cổ vật “gốm sứ và pháp lam” cũng như các nghệ nhân các làng nghề thì Festival nghề truyền thống Huế 2009 là cuộc hội ngộ của gốm Việt lớn nhất từ trước tới nay. Lần đầu tiên, hơn 30 nhà sưu tập cổ vật ở Hà Nội, Nam Định, Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, TP.Hồ Chí Minh đại diện cho 3 dòng gốm sứ Việt hội tụ tại Huế với cuộc trưng bày “Dặm dài đất nước qua các cổ vật”.
Có hơn 600 hiện vật từ các dòng gốm: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên, với sự tham gia của nhà sưu tập danh tiếng như Trần Đình Sơn (TP. HCM), Hồ Tấn Phan (Huế) cùng Đoàn Anh Tuấn và các nhà sưu tầm cổ vật của Trung tâm UNESCO nghiên cứu bảo tồn cổ vật VN với những cổ vật từ văn hoá Đông Sơn đến thế kỷ (TK) 18. Mỗi một cổ vật đều chứa đựng hàng chục câu chuyện kể của lịch sử đất nước và các nhà sưu tầm khác đến từ Hội An (Quảng Nam)…
festival_05.JPG
Quán Âm tịnh thủy
festival_06.JPG
Quán Âm tỉnh tọa
festival_07.JPG
Phù điêu Bồ tát Quán Thế Âm
festival_08.JPG
Những chiếc đèn thờ xưa
Và đúng như chủ đề tôn vinh 3 nghề chính là gốm sứ, sơn mài và pháp lam. Sự “hội tụ” của gốm sứ là nổi trội hơn cả. Thưởng ngoạn các phòng triển lãm gốm sứ và pháp lam từ “Dòng sông kể chuyện” đến “dặm dài đất nước” mọi người đều nhận xét một điều rất thực dụng “quá no”. Nhưng với nững ai quan tâm đến từng mãng đề tài thì vừa đủ. Và theo chúng tôi riêng mãn đề tài mỹ thuật Phật giáo không thôi cũng phải “cảm ơn Ban Tổ chức” lắm rồi.
Những đề tài mỹ thuật Phật giáo như tượng Phật, Bồ tát, những pháp bảo và linh thú Phật giáo cho đến những hoa văn hoa sen, lá đề trên đồ gốm sứ của 3 miền hội tụ về thật là phong phú và đa dạng. Nhiều pho tượng Phật rất lạ có niên đại vào thời Lý-Trần rất đặc biệt. Được sự quan tâm của nhiều nhà sưu tầm và nghiên cứu hên hết là bộ tượng Phật Di Lặc với hai kiểu dáng và hai tính cách khác nhau, một theo truyền thống Trung Hoa và một theo truyền thống Nam truyền.
Và khi đang trong mùa an cư, chư tôn đức khách mời đặc biệt dự khai mạc lại được dịp chiêm ngưỡng pho tượng bồ tát Giám Trai của các nhà sưu tập đến từ (TP.HCM) trưng bày ngay ngắn chính giữa phòng triển lãm. Mặc dầu pho tượng mất đi một chi tiết là chiếc búa trên tay của Ngài chưa sưu tầm lại được nhưng qua nét mặt, thế ngồi và màu men và chất men đã khiến nhiều người xúc động.
Các pho tượng Bồ tát Quán Thế Âm với sự đa dạng trong kiểu dáng cho đến màu sắc và chất liệu gốm men lam mang đặc trưng của tưng vùng miền trong các giai niên đại lịch sử tôn giáo và chính trị khác nhau cũng được rất nhiều người chú ý, chiêm ngưỡng.
Ngoài các tượng Phật và Bồ tát ra các phòng triển lãm cổ vật gốm sứ con trưng bày nhiều pháp bảo khác như lư hương, lư trầm, bình hoa bằng gốm sứ và cả pháp lam nữa. Trong các thể lọai này, có nhiều cổ vật được cho là lần đầu tiên ra mắt công chúng. Đặc biệt là bộ đồ thờ và gia dụng bằng pháp lam thời Minh Mạng Thiệu Trị, Tự Đức của nhà sưu tầm Trần Đình Sơn đến từ (TP.HCM) đã được nhiều người dân và giới nghiên cứu đặc biệt chú ý bởi không những nó là cổ vật quý hiếm mà còn bởi tính “độc bản” của nó.
festival_10.JPG
Một chiếc lư hương
festival_11.JPG
Một quả bồng hoa sen
festival_12.JPG
Bộ đồ thờ bằng pháp lam của NST. Trần Đình Sơn
festival_13.JPG
Một hoa văn lá đề
Nhiều cổ vật mang đề tài mỹ thuật Phật giáo khác như các hoa văn họa tiết hoa sen lá đề bằng gốm sứ và đất nung theo 3 phong cách 3 miền Bắc-Trung-Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng rất phong phú và đa dạng. Những con rồng, con nghê và con chim thiêng (Đại bàn kim sí điểu) mà nhiều người cho rằng đây là lần đầu tiên họ mới thấy được.
Đúng là một dịp người Huế và du khách đến từ các vùng miên khác nhau trên khắp đất nước và cả du khách nước ngoài nữa đã có dịp “no nê”, “mãn nhãn” và được lắng nghe “Dòng sông kể chuyện” và thăm lại truyền thống gốm sứ Việt theo “Dặm dài đất nước” mấy trăm năm các triều đại Lý-Trần-Lê-Nguyễn với hàng trăm hiện vật cổ quý hiếm của dân tộc lần đầu tiên được trình làng…Bài, ảnh Trí Năng – Nguồn từ nigioingaynay.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Hàng tráng men: Pháp lam và pháp lam Huế

Pháp lam là thuật ngữ dùng để gọi tên một sản phẩm thủ công mỹ nghệ có mặt ở Trung Quốc trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, có mặt ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX. Từ xưa, sản phẩm được chế tác bởi các nghệ nhân, bằng cách trang trên men nhiều màu lên trên bề mặt một số kim loại quý như vàng, bạc, đồng… Đó là sự phối hợp khéo giữa cách thức điều chế các loại men với kỹ thuật đúc, gò, hàn cốt kim loại và nung nấu sản phẩm ( ngày nay còn dùng cả kỷ thuật điện phân).

pháp lam cổ ( lộ cốt kim loại)

pháp lam cổ ( lộ cốt kim loại)

Phân loại

Dựa vào phương pháp chế tạo thai cốt và kỹ thuật thể hiện men màu, họa tiết, có thể chia chế phẩm pháp lang thành 4 loại:

1. Kháp ti pháp lang (掐 丝 珐 琅): Pháp lang làm theo kiểu ngăn chia ô hộc. Chế tác bằng cách dùng những sợi tơ đồng mảnh và nhỏ kết thành các hoạ tiết gắn lên cốt bằng đồng. Sau đó, đổ đầy men pháp lam nhiều màu lên phần trong và phần ngoài các ô trang trí ấy rồi đưa vào lò nung đốt nhiều lần, cho đến khi bên ngoài sản phẩm phủ kên men pháp lam với độ dày thích hợp. Mài nhẵn và mạ vàng (nếu có) các đường chỉ đồng là khâu cuối cùng, hoàn thành sản phẩm.

2. Họa pháp lang (画 珐 琅): Pháp lang làm theo kiểu vẽ trên nền men như các tác phẩm hội họa (Painted enamel), kiểu này được phát minh ra tại thị trấn Limoges của Pháp trong thế kỷ 15. Hoạ pháp lam là kỹ thuật dùng men pháp lam một màu quét trực tiếp lên cốt kim loại. Theo màu sắc thiết kế của hoa văn, dùng men pháp lam vẽ nên các họa tiết, sau đó đưa vào lò nung ở nhiệt độ cao. Sản phẩm sau khi đưa ra khỏi lò được mài bóng để hoàn chỉnh. Trên thực tế nhiều hoạ tiết vẽ trên cốt đồng là nhân vật, phong cảnh với các điển tích lịch sử…

Pháp lam Huế (họa pháp lang)-một tiêu bản

Pháp lam Huế (họa pháp lang)-một tiêu bản

3. Tạm thai pháp lang (錾 胎 珐 琅): Pháp lang có cốt được chạm trổ (champleve). Phương pháp chế tác giống Kháp ti pháp lam, chỉ khác ở chỗ hoa văn tô điểm bên ngoài, cốt sản phẩm, được khắc lõm xuống khiến đường viền hoa văn nổi lên. Ở phần lõm này được phủ đầy men pháp lam, sau khi nung đốt thì đem mài bóng để hoàn thiện. Các đường nổi trên sản phẩm Tạm thai Pháp lam tuy rắn rỏi nhưng đạt được sự trang trọng mà mộc mạc trong nghệ thuật.

4. Thấu minh pháp lang (透 明 珐 琅): Pháp lang có phủ lớp men trong bên ngoài. Thấu minh pháp lam chỉ tráng men pháp lam trong suốt lên cốt bằng vàng, bạc hoặc đồng sau khi được chạm nổi, khắc chìm, rồi đem nung là hoàn thành. Cốt hoa văn được chạm nổi hoặc khắc chìm, đôi khi các đường nét hoa vàn chạm khắc này được thiếp vàng, bạc, hiện rõ xuyên qua lớp men pháp lam một màu như: vàng, lục, lam, tím… Loại hình pháp lam này lợi dụng tính chất của lớp men trong suốt hoặc trong mờ để biểu thị sự biến đổi của đồ án hoa vàn do độ sáng tối, đậm nhạc mà có.

Kháp ti pháp lang Trung Quốc

Kháp ti pháp lang Trung Quốc

Nguồn gốc xuất xứ Pháp lam Huế

Pháp lam Huế tiếp thu kỹ nghệ Họa pháp lang của Quảng Đông, Trung Quốc. Quảng Đông là cửa ngõ du nhập công nghệ chế tác Họa pháp lang (Émaux hay Painted enamel) vào Trung Hoa. Khác với kỹ nghệ Kháp ti pháp lang (Cloisonné), từ xứ Byzantine du nhập vào Trung Hoa qua ngã Tây Vực theo vó ngựa viễn chinh của quân Mông Cổ, kỹ nghệ Họa pháp lang xuất xứ từ vùng Limoges ở Pháp và vùng Battersea ở Anh, du nhập vào Trung Hoa theo chân các tu sĩ dòng Tên vào cuối thế kỷ 17.

Kỹ nghệ này du nhập vào Việt Nam từ thời vua Minh Mạng (năm 1827). Bấy giờ, có một nhóm thợ vẽ ở Nội Tạo, cơ quan chuyên việc vẽ vời, trang trí trong cung Nguyễn, học được nghề làm pháp lam từ Trung Hoa.

Pháp lam Huế thuộc Họa pháp lang và một số vật dụng khác là đồ ký kiểu thuộc Kháp ti pháp lang được đặt mua tại Trung Hoa. Dựa trên các hiện vật pháp lam được trang trí trên các cung điện của triều Nguyễn và các hiện vật pháp lam hiện còn lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế cũng như trong dân gian, có thể thấy pháp lam được sử dụng vào các mục đích chính sau đây:

* Pháp lam dùng trong trang trí ngoại thất các cung điện triều Nguyễn: Loại hình này thường thấy trên các bờ nóc, bờ quyết, cổ diềm tại các cung điện điển hình như ở điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng); điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị); điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức); điện Thái Hòa (Đại Nội) và các nghi môn ở các lăng trên cũng như khu vực Đại Nội.

* Pháp lam dùng trong trang trí nội thất: Đó là những hoành phi, câu đối, bình, choé…

* Pháp lam gia dụng và pháp lam tế tự: Hiện vật nhóm này bao gồm các đồ dùng trong việc tế tự như lư hương, quả bồng, chân đế quả bồng, cơi trầu… và các đồ gia dụng như khay trà, tô, bát, tìm đựng thức ăn.

Pháp lam Huế

Sau gần 150 năm tồn tại, nhà Nguyễn đã để lại trên đất Huế một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ. Trong đó, không thể không nhắc đến những sản phẩm pháp lam ở di tích Huế – một loại hình trang trên, đồng thời là những tác phẩm nghệ thuật – nay đã thất truyền về kỹ thuật chế tác, không còn dấu tích các lò xưởng và đang được nhiều nhà nghiên cứu, bảo tồn quan tâm phục hồi.

Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế hiện đang trưng bày 98 hiện vật pháp lam, bao gồm các vật dụng trong cung như: bát, ly, khay, đĩa, bình hoa, chum, hộp, quả bồng, lư hương, bát hương, chậu đựng cành vàng lá ngọc… Ngoài ra, pháp lam còn được dùng để trang trí các đồ áng rồng, máy, bát bửu, hoa điểu, thơ văn chữ Hán… trên các công trình kiến trúc khác ở cố đô Huế. Đa số những hiện vật pháp lam này đều do thợ thủ công Việt Nam, có thể có sự giúp đỡ của các nghệ nhân mời từ Trung Quốc làm ra. Một số ít hiện vật có khả năng ký kiểu hay mua ở Trung Quốc như những đồ sứ cùng thời.

Pháp lam Huế

Pháp lam Huế

Các tài liệu, thư tịch và hiện vật pháp lam ở bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, cũng như ở trên các công trình kiến trúc thời Nguyễn cho thấy kỹ nghệ chế tác pháp lam được nghệ nhân Việt Nam tiếp thu, sáng tạo, làm nên những sản phẩm tuyệt mỹ, những hiện vật vô giá được trưng bày, quản lý cẩn thận ở Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình và trên các di tích khác ở Huế. Pháp lam Huế có mặt ở các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Đãy là buổi thịnh thời của triều Nguyễn: quốc gia thống nhất, kinh tế ổn định. Triều đình lo việc xây dựng kinh đô, lập đền miếu, trang trí tô điểm cho đời sống đế vương. Để thực hiện công việc lớn lao đó, nhiều người đã được cử đi học nghề và kinh nghiệm ở Trung Quốc, đương thời là một quốc gia nổi tiếng về các nghề thủ công, mỹ nghệ. Do vậy, có thể một số đồ pháp lam đạ được mua về từ nước ngoài, trước khi nảy sinh nghề làm pháp lam ở Huế.

Hiện vật pháp lam ở Huế thuộc loại hình pháp lam hoạ. Do chỉ được sử dụng trong Hoàng cung Huế, nên thuật ngữ pháp lam Huế đã được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam vào thời Nguyễn. Trình độ kỹ thuật chế tác pháp lam thời kỳ này chưa đạt độ sắc nét, tinh xảo, màu sắc không đẹp như pháp lam ở các nước khác, nhất là Trung Quốc. Tuy nhiên, pháp lam Huế lại khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế – chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn. Pháp lam được xem là một báu vật xa xỉ, quý hiếm, sang trọng, chỉ được dùng để trang trí ở những nơi cung điện, tôn miếu uy nghiêm như điện Thái Hoà (Đại Nội, Huế), điện Hoà Khiêm (làng Tự Đức), điện Biểu Đức (làng Thiệu Trị)… hoặc làm đồ dùng trong cung đình như bát, tô, đĩa, khay, chậu hoa, bình hoa, hộp trầu, hộp phấn… hoặc làm đồ tế tự như lư trầm, bát hương, quả bồng… Nguyên liệu pháp lam phải mua từ nước ngoài, kỹ thuật chế tác phức tạp, trải qua nhiều công đoạn, nên làm pháp lam rất tốn kém, đòi hỏi phải có một nền kinh tế vững chắc, ổn định. Chênh vì điều đó, pháp lam Huế không phát triển và dẫn đến thất truyền từ nửa sau thế kỷ XIX do chiến tranh xảy ra, kinh tế sa sút, kỹ nghệ đặc sắc này không còn được quan tâm như trước.

Những nỗ lực và tâm huyết

Trong nỗ lực trùng tu, tôn tạo các công trình kiến trúc thời Nguyễn – có dấu ấn của pháp lam Huế, nhiều nhóm chuyên gia bảo tồn đã dày công nghiên cứu chất liệu pháp lam cổ, xây dựng phương pháp, kỹ thuật chế tác trong điều kiện các thư tịch, bí quyết đều thất truyền. Sau nhiều năm nghiên cứu, trải qua vô số hoạt động thử nghiệm, nhóm nghiên cứu của Thạc sĩ Đỗ Hữu Triết (công ty cổ phần Kỹ nghệ Pháp lam Sao Khuê – Khuestar JSC) đã thành công và tự hào phục hồi – tôn vinh nét văn hoá – nghệ thuật độc đáo của dân tộc. Hơn một thế kỷ thất truyền, pháp lam Huế đang trở lại nhờ những bàn tay tài hoa của nghệ nhân hiện đại, tâm huyết của những con người yêu quê hương.

Pháp lam Huế ngày nay không dừng ở việc chế tác phục vụ trùng tu, bảo tồn các công trình kiến trúc thời Nguyễn và cũng không dừng lại ở loại hình hoạ pháp lam truyền thống. Khuestar JSC đang nỗ lực kết hợp pháp lam với các ngành mỹ nghệ khác như chạm, khảm… nâng lên thành những tác phẩm có giá trị về mặt hội hoạ và hàm lượng nghệ thuật cao.

Pháp lam Huế không dừng ở việc chế tác phục vụ trùng tu, bảo tồn...

Pháp lam Huế không dừng ở việc chế tác phục vụ trùng tu, bảo tồn...

Lịch sử tên gọi “Pháp lam”

Lư trầm, pháp lam nội thất Huế

Lư trầm, pháp lam nội thất Huế

Vấn đề này hiện đang còn được tiếp tục tranh luận bởi giới nghiên cứu về Huế.

* Dựa theo một số bài viết của cố họa sĩ Phạm Đăng Trí, những nhà sưu tập cắt nghĩa rằng: “pháp lam” bắt nguồn từ chữ “pha lang” do người Trung Hoa dùng để chỉ một loại đồ tráng men mà các nhà truyền giáo Tây phương trước kia hướng dẫn cho họ sản xuất rồi du nhập kỹ thuật sang Việt Nam. Sở dĩ chữ “pháp lam” phải trại ra từ chữ “pha lang” (france) là để tránh phạm húy chúa Nguyễn Phúc Lan1…

Pháp lam ngoại thất Huế

Pháp lam ngoại thất Huế

* Một số nhà khảo cổ học cho rằng “Pháp lam” là loại đồ men Pháp, chữ “Pháp” ở đây được người Trung Hoa dùng đề chỉ chung người phương Tây chứ không riêng gì người Pháp…; chữ “lam” ngoài nghĩa thông thường chỉ màu sắc xanh lam, cây chàm… còn được Từ điển Hán Việt Thiều Chửu giải thích trong là soi, làm gương theo kiểu Pháp… Theo từ điển, Cảnh Thái lam là tên gọi sản phẩm mỹ nghệ dùng men tráng lên đồng hoặc thiếc… niên hiệu Cảnh Thái đời Minh Đại Tông, hàng được chế tạo tại Bắc Kinh, và gọi: Cảnh Thái lam…

* Ý kiến khác: “… Châu Âu trang trí cửa sổ bằng khung ghép hình và cùng với vật gia dụng tráng men trắng có lấm tấm hạt các màu xanh lục… Nghệ nhân Huế dưới triều nhà Nguyễn cũng chế tác mặt hàng nhiều mảng màu trên men, cốt đồng và nghĩ rằng nó có nguồn gốc từ “pháp lang sa” (Française) và do kiêng húy 2 Thượng Vương Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) nên gọi là “Pháp lam”. Về việc đổi chữ “lang” thành “lam” đó là vì chữ Lang (瑯) có âm gần giống với chữ Lan (灡) trong tên chúa Nguyễn Phước Lan, nhất là phát âm theo lối Huế. Vì thế cần phải đọc trại đi để tránh phạm húy…

* Tạm gọi và hiểu: Sản phẩm này mang tính địa phương (Huế) cao và trong lịch sử chỉ thời Nguyễn mới sản sinh ra chúng. Chúng có liên quan đến một di tích nằm trong quần thể Di sản văn hóa thế giới (Cố đô Huế), đó là Pháp lam tượng cục. Dẫu không còn rõ nét trên thực địa nhưng tên gọi của cơ quan này vẫn còn ghi trong sử liệu. Thời xưa nghệ nhân Huế có sáng tạo trong quy trình công nghệ chế tác đồ pháp lam. Đây chính là cái giá trị văn hóa phi vật thể của loại đồ đặc biệt này và Luật di sản văn hóa buộc mọi người phải bảo vệ. Do đó không nên đổi tên gọi “Pháp lam” thành “đồ đồng tráng men”, cũng không nên viết chung chung “Pháp lam” mà phải viết rõ ràng “Pháp lam Huế” hay “đồ đồng tráng men thời Nguyễn” để khỏi nhầm với Pháp lang Trung Hoa.

tổng hợp từ Wikipedia và hue.vnn.vn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Phóng sự ảnh triển lãm giao lưu cổ vật tại Festival Huế 2009

Huế trở thành Thành phố Festival của cả nước kể từ sau Festival 2000 do Pháp tổ chức. Kể từ ấy, các năm chẵn là Festival quốc tê International Festival, và các năm lẻ là Festival các làng nghề truyền thống.

Năm 2007, BTC Festival quyết định đưa cổ vật vào trưng bầy tại lễ hội Festival làng nghề: tôn vinh nghề đúc đồng, chạm khảm, nghề gỗ

Có hơn 20 nhà sưu tập đã đến với Huế: Thanh Hóa(5), Ninh Bình(1), Nam Định(1), TP HCM (14 hội viên Hội CV Nam Bộ).

Năm nay 2009, Festival làng nghề tôn vinh các nghề Pháp Lam, sơn mài, gốm sứ. Có hơn 60 nhà sưu tập cả nước đã về dư cuộc trưng bầy hơn một ngàn hiện vật tại khu trung tâm trưng bầy vừa xây xong, 15 Lê Lợi, TP Huế.

Đêm khai mạc đã diễn ra hoành tráng bên Đập Đá, truyền hình trực tiếp lên VTV 1.

2009.06.16.05.12dem khai mac 1 rs

2009.06.16.05.11dem khai mac 2 rs

Pháp Lam trang trí khung cửa tại Thành Nội, phục chế

2009.06.21.09.59.52plam ngo mon rs

TRƯNG BÀY & TRIỂN LÃM

Pháp Lam trưng bầy trong Đại Nội

2009.06.21.10.01.01pl cung dinh rs

2009.06.21.10.02.44pl dia oval rs

Chóe Tự Đức trong Đại Nội, cao trên 60 cm

2009.06.21.10.03.44choe td 48 33 rs

Lọ Pháp Lam để chơi Cầu Hồ (ném que vào bình), một trò chơi du nhập từ Nhật, Trung Quóc vào VN mà các vua Nguyễn rất thích chơi

2009.06.21.10.05.21plam cau ho rs

Du khách thẫn thờ trước vẻ đẹp gốm Biên Hòa ( sưu tập của NST Bạch Liên )

2009.06.22.05.59.20yohan quan am rs

Lễ cắt băng khánh thành phòng trưng bầy pháp lam và đồ Huế ký kiểu tại trung tâm Phật giáo Liễu Quán.

2009.06.26.05.14.16CAT BANG

Anh Trần Đình Sơn, thứ 3, trái, hạnh phúc vì đã góp phần nhỏ bé của người con xứ Huế cho thành công của Festival, NST Bạch Liên ( Tú Anh) người đeo thẻ đứng ở ngoài cùng bên phải.

2009.06.26.05.17.49son tu anh rs

Bộ sưu tập sứ Ký kiều triều Nguyễn của nhà sưu tập Trần Đình Sơn

2009.06.22.06.01.50su tq tds rs

Bỗ sưu tập trà cụ ấm chén của NST Trần Đình Sơn

2009.06.22.06.02.50su tq tra tds rs

Bộ sưu tập Pháp Lam (fanglangcai) của NST Ngọc Lũ tại Festival

2009.06.21.09.24.18pl hinh kg kinh rs

2009.06.21.09.35.07pl hinh a rs

Bộ sưu tập Pháp Lam của NST Trần Đình Sơn tại Festival

2009.06.21.09.47.47pl tds royal rs

2009.06.21.09.48.43pl tds 1 rs

2009.06.21.09.49.22pl t d s rs

Bộ sưu tập Pháp Lam của NST Bạch Liên tại Festival

2009.06.21.09.52.07pl ta 2 rs

2009.06.21.09.52.31pl t a 1 rs

2009.06.26.12.10.32pl ang

2009.06.26.12.10.59IMG_0027

2009.06.26.12.11.19IMG_0010

2009.06.26.12.11.34IMG_0011

2009.06.26.12.11.47IMG_0015

2009.06.26.12.12.52pl lu

2009.06.26.12.13.04pl tiem

giới thiệu nguyên bộ 7 hiện vật gốm Cây Mai của NST Bạch Liên đi trưng bầy tại Festival (mặt sau cũng đắp nổi)

2009.06.25.11.22.16bl cay mai 2

2009.06.25.11.22.30bl cay mai 3

2009.06.24.09.33DSC04385

Đây là lần ra quân hoành tráng của các cụ bình vôi

1/Bộ sưu tập bình vôi của NST Đoàn Cần Thơ, NST Tường Tiền Giang, NST Kiệt HCM

2009.06.25.11.29.59bvoi can tho doan

2/03 Bình vôi của NST Trung HP (Thiên Trường-Nam Định)

2009.06.25.11.30.42BST TRUNG HP

3/Bộ sưu tập bình vôi của NST Bạch Liên

2009.06.25.11.31.08binh voi tu anh rs

2009.06.24.09.34DSC04390

Bộ sưu tập gốm Bát Tràng của các nhà sưu tập đến từ Sơn Tây

2009.06.26.02.45.30GOM BAT TRANG

Bộ sưu tập thạp hoa nâu Lý Trần của các nhà sưu tập phía Bắc

2009.06.26.02.46.23THAP GOM HOA NAU

Bộ sưu tập Chân đèn – Lư Lê, Mạc của NST Lê Quang Chức đến từ NAM ĐỊNH

2009.06.26.02.47.17CAP CHAN DEN LU LE MAC

BST điếu Bát Tràng Nguyễn và chân đèn LÊ-MẠC của NST Lê Quang Chức

2009.06.26.02.49.00BST DIEU CHAN DEN LQC

Bộ sưu tập Nghê của Bạch Liên tại Festival

2009.06.21.10.09.24nghê t a không kiếng rs

GIAO LƯU & TRAO ĐỔI CỔ VẬT

Hình ảnh các hiện vật mà các nhà sưu tập mang đến tại buổi giao lưu

2009.06.26.05.19.09hien vat a

Kha, TP HCM, người con của Huế, trái ngoài, Hoàng Huế, phải ngoài, đã nhiệt tình hết mình cho buổi giao lưu của các nhà sưu tập trên quê mình:

2009.06.26.05.20.19kha hoang hue

Ông Chức CT HCV Thiên Trường thay mặt các nhà sưu tập cả nước về dự giao lưu phát biểu cảm tưởng:

2009.06.26.05.22.34chu chuc

2009.06.24.09.33phatbiêu

2009.06.25.10.15FS DPT HAT

hình ảnh trong buổi giao lưu cổ vật:

Chiếc dầm trà lớn từ Quảng Ngãi đã về HCM, em Triều đã rất vui khi được sở hữu chiếc đĩa này từ cuộc giao lưu ( mở hàng):

2009.06.25.11.18.08MO HANG

Chiếc thạp đồng Đông Sơn niên đại 2500-2000 năm cách ngày nay đã được Chính Bắc Ninh mua giá 3.600.000 vnđ và tặng lại cho Bảo Tàng Huế ngay tại cuộc giao lưu:

2009.06.25.11.49thap chinh

Voi điếu Bát Tràng từ NB đã vào HCM

2009.06.25.10.41QN BL

xem xét hiện vật

2009.06.26.12.10.46XENH PLAM RS

Những hình ảnh lưu niệm:

2009.06.26.02.02anh quoc

2009.06.25.10.39chinh tot thuan

Hình ảnh và chú thích: NST Bạch Liên – Phó Chủ Tịch HCV Thiên Trường

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Hình ảnh cảnh quan triển lãm các làng nghề gốm sứ, sơn mài, pháp lam tại Festival Huế 2009

festival09 -1

Festival nghề truyền thống Huế lần thứ 3 đã khai mạc ngày 12/6 với chủ đề Gốm sứ, sơn mài, pháp lam, quy tụ hơn 100 làng nghề trên cả nước.

Nghệ nhân và các làng nghề được tôn vinh trong một không gian trữ tình, thoáng đảng bên bờ Sông Hương, với hệ thống nhà rường và cảnh sắc đậm đà nét Huế. 150 nghệ nhân đến từ 17 làng nghề truyền thống nổi tiếng (Bát Tràng, Chu Đậu, Thổ Hà, Hương Canh, Hạ Thái, Phù Lãng, Phước Tích, Cát Đằng, Thanh Hà, Châu Ổ, Hạ Tháp, Bầu Trúc, Tương Bình Hiệp, Thuận An, Thủ Dầu Một…) trưng bày sản phẩm, giới thiệu kỹ thuật và các công đoạn, quy trình sản xuất độc đáo của các nghề và làng nghề… Đặc biệt công chúng có thể cùng thao tác và sáng tạo, làm ra các sản phẩm và mang về kỷ niệm dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân.

Trưng bày cổ vật

– “Dặm dài đất nước qua các cổ vật” là cuộc hội tụ độc đáo lần đầu tiên của hơn 30 nhà sưu tập cổ vật ở Hà Nội, Nam Định, Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Tp. Hồ Chí Minh với gần 300 hiện vật quý hiếm qua nhiều niên đại, tiêu biểu cho các dòng gốm sứ Đồng Bằng Bắc Bộ, Trung Bộ, Chăm, Nam Bộ (Đông Sơn, Sa Huỳnh, Gò Sành, Quảng Đức, Óc Eo, Cây Mai…)

wsbsg1244806206

Gốm Bát Tràng

yiwem1244806206

Gốm Cây Mai, thế kỷ 19

ztibx1244806206

Bát, đĩa vớt từ đáy sông

Festival cũng là dịp hội tụ từ sơn mài hoàng triều Huế đến làng nghề sơn mài Hà Nội, Bình Dương.

Tại festival có khu Câu chuyện dòng sông kể về trầm tích gốm xưa từ ngàn năm nay nằm ẩn khuất dưới bao con sóng nước sông Hồng, Cửu Long, Hương Giang. Nhiều bộ sưu tập đã nói lên tâm huyết của “nghề chơi cũng lắm công phu”.

qekmp1244806206

Gốm Bát Tràng

iswjp1244806206

Gốm Gọ, Bình Thuận


Nghệ nhân nặn tượng Apsara


Ống nhổ, ống đựng vôi vớt từ đáy sông


Những mảnh pháp lam được phục hồi


Tác phẩm của cố họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng

Cố họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng, người đầu tiên đưa sơn mài Huế vào sản xuất thành hàng mỹ nghệ từ năm 1962, được dành riêng một khu trang trọng. Ông là người khai canh chuyển biến những bí mật nghề sơn mài, truyền lại cho nhiều thế hệ mỹ thuật Huế.

Gốm Chu Đậu

Linga bằng đá đen của gốm Bàu Trúc

Gốm của họa sĩ Lê Bá Đảng

Sơn mài Hạ Thái (Hà Nội)

Festival nghề Huế là cuộc tôn vinh làng nghề và nghệ nhân như một lời tri ân cái cũ, cái gốc tinh hoa dân tộc.

Hình ảnh các hoạt động trưng bày và triễn lãm cổ vật của các nhà sưu tập từ khắp nơi ở VN liên quan đến chủ đề của Festival khác:

 

 

 

Khai mạc 08h30 ngày 12 tháng 06 năm 2009. Tại khu trưng bày số 15 Lê Lợi-TP.Huế

– Bộ sưu tập “ Đồ sứ ký kiểu và Mỹ nghệ Pháp Lam thời Nguyễn” của nhà sưu tập và nghiên cứu Trần Đình Sơn với 110 hiện vật ký kiểu do người Việt đặt làm riêng tại các lò sứ danh tiếng Trung Quốc và Châu Âu, 30 vật phẩm Pháp Lam phục vụ việc thờ cúng, sinh hoạt, trang trí do tượng cục Pháp Lam triều Nguyễn chế tạo. Pháp lam Huế, cổ vật bằng đồng tráng men với nhữngcông nghệ phục chế mới đang mở ra hướng khôi phục nghề vàng son một thời này.

Khai mạc 17h00 ngày 11 tháng 06 năm 2009, tại trung tâm văn hoá Phật giáo Liễu Quán số 13 Lê Lợi – TP.Huế.

– Bộ sưu tập “Chuyện kể từ dưới lòng sông”là khám phá thú vị cùng những lưu giữ thằm lặng mà đầy ý vị của cổ vật dưới lòng Sông Hương, có cả Sông Đồng Nai và nhiều dòng sông khác của nhà nghiên cứu Huế và Bảo tàng Lịch sử TP.Hồ Chí Minh

Khai mạc lúc 17h00 ngày 10 tháng 06 năm 2009, tại Trung Tâm Festival Huế số 19 Lê Lợi – TP.Huế.

– Bộ sưu tập “Cổ Vật Cung đình” tại nhà Tả Vu trong suốt những ngày diễn ra Festival.

– Ngày dã ngoại về thăm Làng Cổ, dự lễ tế tổ và các hoạt động tại Làng Gốm Phước Tích – xã Phong Hoà – Huyện Phong Điền

Từ 07h00 đến 12h00 ngày 13 tháng 06 năm 2009.

Festival làng nghề truyền thống Huế 2009 là nơi hội tụ văn hóa Việt

Với mục tiêu vực dậy các nghề truyền thống của tỉnh và nhiều địa phương khác trong cả nước, phát huy đúng tiềm năng, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội trên địa bàn.

Ông Phan Trọng Vinh – Chủ tịch UBND TP. Huế – Trưởng Ban tổ chức Festival nghề truyền thống Huế 2009 cho biết: Theo thông lệ, bên cạnh các kỳ Festival Huế do tỉnh tổ chức vào các năm “chẵn”, TP. Huế chịu trách nhiệm tổ chức festival chuyên đề vào các năm “lẻ”. Thực hiện chủ trương đó, TP. Huế đã chọn nghề thủ công truyền thống để tổ chức các kỳ festival chuyên đề, bắt đầu từ năm 2005 với nghề thêu và chằm nón, năm 2007 với các nghề mộc mỹ nghệ, đúc đồng, kim hoàn và năm 2009 với nghề gốm, sơn mài, pháp lam. Cả ba kỳ festival chuyên đề đều thống nhất một chủ đề: “Nghề truyền thống Huế – bản sắc và phát triển”.

Tiếp tục phát huy kết quả của 2 kỳ Festival nghề truyền thống 2005, 2007, đặc biệt là sự thành công tốt đẹp của Festival Huế 2008, Festival nghề truyền thống Huế 2009 sẽ có những điểm mới lạ, hấp dẫn hơn so với 2 lần trước với rất nhiều hoạt động đặc sắc, phong phú, được chuẩn bị rất công phu.

Đây là festival nghề truyền thống có quy mô tổ chức lớn hơn so với 2 kỳ trước, không gian lễ hội trải dài cả hai bờ Bắc và Nam sông Hương, với sự tham gia của hầu hết các làng nghề nổi tiếng trong cả nước về gốm, sơn mài, pháp lam. Festival nghề truyền thống Huế năm nay còn gắn với sự kiện kỷ niệm 110 năm cầu Trường Tiền và chợ Đông Ba nên càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tại không gian tôn vinh, quảng bá, giao lưu và giới thiệu sản phẩm tiêu biểu của ba nghề gốm, sơn mài, pháp lam ở khu trung tâm 15 Lê Lợi và dọc đường Nguyễn Đình Chiểu sẽ có khu trưng bày cổ vật đặc sắc và lớn nhất từ trước đến nay ở Huế về gốm sứ, sơn mài, pháp lam, như chuyên đề “Dặm dài đất nước qua các cổ vật”, “Dòng sông kể chuyện”…Các hoạt động trong văn hoá nghệ thuật như chương trình ca múa nhạc “Lời ru dòng sông” (tối 12/6), đặc biệt là chương trình nghệ thuật cầu Trường Tiền và chợ Đông Ba tại sân khấu bãi bồi Đập Đá (tối 13/6) sẽ là một bất ngời thú vị… Ngoài ra, từ 10-14/6/2009, Hội chợ triển lãm làng nghề Việt Nam 2009 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp tổ chức tại Công viên Thương Bạc Huế sẽ góp phần làm cho Festival nghề truyền thông Huế 2009 sôi động, hấp dẫn, hoàng tráng… Điều đặc biệt quan trọng là cũng trong dịp lễ hội festival lần này “Hội áo dài” chính thức được công bố và ra mắt vào đêm 13/6 đây là một dịp quy tụ nghệ nhân phô diễn những màu áo dài truyền thống của Việt Nam làm tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, là điểm nhấn của lễ hội, thu hút du khách trong và ngoài nước.

Ngoài ra địa bàn TP. Huế là trung tâm của các kỳ festival Huế, nhất là từ năm 2000 trở lại đây. Đặc biệt là sau khi có Quyết định 143/TTg/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án xây dựng Huế thành thành phố festival đặc trưng của Việt Nam, thì việc chuẩn bị về sơ sở vật chất cho các kỳ festival ngày càng được Chính phủ, lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm, trong đó trọng tâm là công tác chỉnh trang đô thị; điều chỉnh và triển khai từng bước các qui hoạch đã được phê duyệt; bổ sung, nâng cấp và xây dựng mới nhiều cơ sở phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của thành phố; Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Huế đã nỗ lực thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch kinh tế – xã hội của thành phố trong nhiều năm nên mới có được bộ mặt thay đổi khá toàn diện của đô thị Huế như hiện nay. Riêng việc chuẩn bị cơ sở vật chất cho Festival nghề 2009, chính quyền thành phố đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng tiếp tục giải quyết các nhiệm vụ nêu trên trong năm 2008, 2009. Đến nay công tác tổ chức Festival nghề truyền thống 2009 đã được triển khai đúng kế hoạch và tiến độ dự kiến. Chỉ còn ít ngày nữa festival sẽ diễn ra nên công tác chuẩn bị hết sức khẩn trương, bề bộn song vẫn được ban tổ chức chỉ đạo triển khai nghiêm túc, hiệu quả nhằm đảm bảo cho một kỳ festival diễn ra an toàn, hấp dẫn, đúng kế hoạch. Tiếp tục phát huy chủ đề “Nghề truyền thống Huế – bản sắc và phát triển”, ý tưởng của Festival nghề 2009 là sáng tạo vì lợi ích của cộng đồng, vì sự phát triển của thành phố festival đặc trưng của Việt Nam.

Festival nghề truyền thống Huế năm 2005, 2007, 2009 luôn là cuộc hội tụ lớn của các nghệ nhân nghề và làng nghề tiêu biểu trong cả nước, trong đó có Thừa Thiên Huế. Festival nghề truyền thống Huế 2009 có sự tham gia của 150 nghệ nhân đến từ 15 làng nghề truyền thống nổi tiếng (Bát Tràng, Chu Đậu, Thổ Hà, Hạ Thái, Phù Lãng, Phước Tích, Cát Đằng, Thanh Hà, Châu Ổ, La Tháp, Bầu Trúc, Trương Bình Hiệp, Quảng Nam, Thủ Dầu Một, Pháp Lam Huế…).

Ông cũng cho biết: Trên phạm vi toàn quốc, không phải nghề và làng nghề truyền thống nào cũng gặp khó khăn. Đã có không ít nghề và làng nghề truyền thống hồi sinh và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là khu vực phía Bắc và phía Nam như gốm Chu Đậu, Bát Tràng, Phù Lãng, Bình Dương, Vĩnh Long; sơn mài Hạ Thái, Cát Đằng, Thủ Dầu Một…

Ở phạm vi từng địa phương, trong đó địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, vốn là những nơi có các nghề và làng nghề truyền thống nổi tiếng một thời như gốm Bầu Trúc (Ninh Thuận), gồm Thanh Hà (Hội An), gốm Châu Ô (Quảng Ngãi), gốm Quảng Đức (Phú Yên), gốm Phước Tích (Thừa Thiên Huế); đúc đồng Phước Kiều (Quảng Nam); đúc đồng Phường Đúc (TP. Huế)… đều có rất nhiều nỗ lực để tìm cách tồn tại và phát triển, trước hết dựa vào chính nội lực của các làng nghề đó và hầu hết trong số đó đến nay vẫn phát triển tốt. Bên cạnh đó, một số làng nghề tưởng chừng như đã bị “xoá sổ” như làng gốm Phước Tích (Thừa Thiên Huế) song từ nhiều năm nay vẫn đang nỗ lực để phục hồi thương hiệu của mình, điều này rất đáng hỗ trợ, khuyến khích.

Như vây, trong quá trình hội nhập kinh tế thị trường hiện nay, nếu nghề và làng nghề truyền thống nào có sản phẩm phục vụ tốt nhu cầu cuộc sống, biết cách để phục hồi sản xuất và khẳng định được mình, giành được thị phần thì sẽ tồn tại và phát triển với phương châm bằng nghề truyền thống của mình sản xuất ra những sản phẩm mà xã hội cần, phục vụ cho cuộc sống của con nguời hiểu biết về kinh tế và văn hoá của địa phương.

Festival nghề truyền thống do thành phố Huế tổ chức là một sự kiện lễ hội – văn hoá chứ không phải là các giải pháp kích cầu đối với nghề và làng nghề truyền thống. Festival là một cuộc hội tụ và biểu dương lực lượng lớn của các nghề và làng nghề nổi tiếng trong cả nước; là cơ hội quảng bá; giao lưu, trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau giữa các nghệ nhân tiêu biểu của các làng nghề. Festival còn là dịp tôn vinh các nghệ nhân và sản phẩm của họ góp phần làm cho xã hội, công chúng hiểu biết sâu sắc hơn về những giá trị văn hoá và kinh tế mà họ đã đóng góp cho sự phồn vinh của xã hội. Đó là những mục đích tốt đẹp mà các kỳ Festival nghề truyền thống Huế hướng đến.

.nghetrthue

nghe-truyen-thong-hue

kỳhữuphuoc4

nét dẹp huế

nét dẹp huế a

KhanhHoaThuyNga tổng hợp tin, hình từ web.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Khai mạc Festival làng nghề Huế 2009

 

Không gian tôn vinh các làng nghề dọc đường đi bộ Nguyễn Đình Chiểu, bên sông Hương

Không gian tôn vinh các làng nghề dọc đường đi bộ Nguyễn Đình Chiểu, bên sông Hương

 

(VH)- Festival nghề truyền thống Huế 2009 diễn ra chính thức từ 12-14.6 mang chủ đề “Nghề truyền thống- bản sắc và phát triển” với nhiều chương trình, sự kiện văn hóa- văn nghệ đặc sắc.

Tôn vinh 3 nghề: gốm sứ, sơn mài, pháp lam

Chủ đề chính của Festival nghề truyền thống Huế lần thứ 3 này là “Nghề truyền thống- bản sắc và phát triển” với việc tôn vinh ba nghề: gốm sứ, sơn mài và pháp lam. Có 150 nghệ nhân đến từ 15 làng nghề nổi tiếng trong cả nước như Chu Đậu, Bát Tràng, Thổ Hà, Hạ Thái, Phù Lãng, Phước Tích, Cát Đằng, Thanh Hà, Chẩu Ổ, Bầu Trúc, La Tháp, Gọ, Tương Bình Hiệp, Thuận An, Thủ Dầu Một… sẽ có mặt trong “không gian tôn vinh nghệ nhân và các làng nghề” được tổ chức bên bờ sông Hương với cảnh thoáng đãng cùng hệ thống nhà rường đậm sắc Huế. Tại đây, sẽ trưng bày các sản phẩm, giới thiệu kỹ thuật và các công đoạn, quy trình sản xuất  độc đáo của các nghề và làng nghề. Đặc biệt, tại khu trưng bày số 15 Lê Lợi- TP Huế sẽ diễn ra cuộc trưng bày mang tên “Dặm dài đất nước qua các cổ vật”. Đây là cuộc hội tụ độc đáo lần đầu tiên của hơn 30 nhà sưu tầm cổ vật đến từ Hà Nội, Nam Định, Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, TP.HCM với gần 500 hiện vật quý hiếm qua nhiều niên đại Lý- Trần- Lê- Mạc- Nguyễn…, tiêu biểu cho các dòng gốm sứ Đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ, Chăm, Nam Bộ (như Đông Sơn, Sa Huỳnh, Gò Sành, Quảng Đức, Óc Eo…). Cũng trong chương trình này, triển lãm về bộ sưu tập đồ sứ kiểu và mỹ nghệ pháp lam thời Nguyễn với 110 hiện vật của nhà sưu tập và nghiên cứu Trần Đình Sơn do người Việt đặt làm riêng tại các lò sứ danh tiếng của Trung Quốc và châu Âu; 70 vật phẩm pháp lam phục vụ việc thờ cúng, sinh hoạt được chế tạo dưới triều Nguyễn.

Biểu diễn Lễ hội áo dài trong Festival Huế 2008

Biểu diễn Lễ hội áo dài trong Festival Huế 2008

Nằm trong chủ đề tôn vinh “Gốm sứ, sơn mài, pháp lam”, cuộc trưng bày gốm sứ của Gilles Fromonteil đến từ vùng Poitou Charentes- Pháp sẽ tạo ra một sự giao hòa giữa các dòng gốm sứ Việt Nam và bạn bè phương xa; trưng bày cổ vật cung đình triều Nguyễn gồm các hiện vật gốm sứ, sơn mài, pháp lam…

Bộ sưu tập mang tên “Dòng sông kể chuyện” của nhà nghiên cứu và sưu tầm Hồ Tấn Phan và Bảo tàng Lịch sử TP.HCM sẽ được trưng bày ngay tại trung tâm Festival Huế (19 Lê Lợi). Với hàng trăm hiện vật quý hiếm được trục vớt dưới lòng sông Hương, sông Đồng Nai và các dòng sông ở Bắc Bộ, bộ sưu tập sẽ là điểm nhấn cho các thời kỳ văn hóa trong lịch sử Việt… Cũng trong dịp này, chương trình “Ngày dã ngoại về thăm làng cổ” sẽ góp phần giúp cho du khách có cơ hội khám phá vẻ đẹp của làng cổ Phước Tích, tận mắt chứng kiến cảnh thổi lửa các lò gốm tại làng gốm cổ này và diễn ra lễ đón nhận bằng chứng nhận di tích cấp quốc gia cho ngôi làng đã tồn tại hơn 500 năm này.  

Lần đầu tiên, khai mạc Festival Làng nghề truyền thống Huế sẽ được tổ chức ở bãi nổi giữa sông Hương, lấy cầu Tràng Tiền và chợ Đông Ba làm phông nền chính. Sự kiện lần này gắn với dịp kỷ niệm 110 năm xây dựng cầu Tràng Tiền và chợ Đông Ba. Cũng chính từ đó mà nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ, triển lãm ảnh tư liệu và nghệ thuật mang tên “Cây cầu và dòng sông” sẽ được diễn ra. Cũng trong lễ khai mạc (diễn ra chính thức vào tối 13.6), Hội Áo dài Huế- hội áo dài đầu tiên của Việt Nam cũng được công bố thành lập, góp phần tôn vinh và giữ gìn, quảng bá cho văn hóa Huế nói riêng và văn hóa Việt nói chung.

 

Nghệ thuật và văn hóa cộng đồng

Thành lập Hội Áo dài và Hội Nón lá Huế

UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế vừa ban hành Quyết định số 1157/QĐ-UBND và Quyết định số 1158/QĐ-UBND về việc cho phép thành lập Hội Áo dài Huế  và Hội Nón lá Huế. Sự ra đời của Hội Áo dài và Hội Nón lá Huế nhằm mục đích giữ gìn, phát huy và tôn vinh vẻ đẹp của văn hóa Huế nói riêng và văn hóa Việt nói chung, qua đó góp phần quảng bá cho giá trị văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.

Cũng nằm trong khuôn khổ Festival nghề truyền thống Huế 2009, nhiều chương trình nghệ thuật- văn hóa cộng đồng cũng được khai mạc và diễn ra trong suốt 1 tuần. Cụ thể: triển lãm tranh sơn mài của các họa sĩ Huế và gốm của họa sĩ Lê Bá Đảng; triển lãm tranh sơn mài của các họa sĩ đến từ Hà Nội; triển lãm Gốm mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam; triển lãm hồi cổ tranh sơn mài của cố họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng; triển lãm ảnh tư liệu- nghệ thuật “Cây cầu và dòng sông” mang độc giả về với những sự kiện lịch sử và phát triển qua 110 năm của cầu Tràng Tiền.

Các chương trình biểu diễn nghệ thuật của các nghệ sĩ, nghệ nhân đến từ các địa phương khắp cả nước như: biểu diễn nghệ thuật truyền thống của Đồng bằng Bắc Bộ; múa rối nước; biểu diễn các nhạc cụ dân tộc và thao diễn nghề; âm nhạc đường phố- liên hoan múa lân và quảng diễn đường phố;  nghệ thuật diều Huế; đua thuyền trên sông; ẩm thực Huế xưa và nay…

Bên cạnh đó, cuộc giao lưu và nhiều hoạt động mang chủ đề “Ánh sáng trong bóng tối” dành cho trẻ em khiếm thị đến từ trường phổ thông cơ sở Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội, trường Phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu TP.HCM và Trung tâm giáo dục hướng nghiệp trẻ em mù Thừa Thiên – Huế sẽ là cuộc gặp gỡ đầy tính nhân văn, lần đầu tiên được tổ chức tại Festival nghề truyền thống. Thông qua các hoạt động vẽ tranh, nặn tượng, sáng tạo gốm mỹ thuật, gốm tạo hình, biểu diễn văn nghệ… sẽ giúp cho các em rèn luyện kỹ năng sống và hòa nhập với cộng đồng.

Theo ông Nguyễn Đăng Thạnh- Phó Chủ tịch UBND thành phố Huế, Phó trưởng Ban tổ chức festival lần này quy mô của các lễ hội, các cuộc triển lãm và trưng bày nghệ thuật rộng hơn và chất lượng hơn rất nhiều so với những lần đã tổ chức trước đó, vừa tôn vinh, quảng bá nghề và các làng nghề truyền thống, vừa tạo một sức hút cho khách du lịch đến vùng đất đầy tiềm năng du lịch và giá trị văn hóa như Huế. Được biết, Festival nghề truyền thống Huế 2007 đã thu hút hơn 200.000 du khách.

Một số hình ảnh hoạt động khai mạc và chuẩn bị khai mạc do NST Đoàn Phước Thuận chụp cùng chú thích:

* hình ảnh về triển lãm cổ vật cung đình Huế tại Nhà Tả Vu Đại Nội

TLdosukykiêu2009

TLdosukykiêu2009a

TLdosukykiêu2009b

* Khai mạc Triển lãm tại Trung tâm Liễu Quán về đề tài Pháp Lam ;hình bộ sưu tập Pháp Lam của NST Trần Đình Sơn TP HCM.

TLphaplam2009

TLphaplam2009a

TLphaplam2009b

* Chuẩn bị khai mạc Làng nghề truyền thống dặm dài đất nước vào lúc 8giờ ngày 12/06/09

TLlangnghe2009

TLlangnghe2009a

TLlangnghe2009b

Nguồn bản tin chữ: Baovanhoa.vn

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Một nghề không có làng nghề tại Festival làng nghề truyền thống Huế 6/2009.


Pháp lam tấm phẳng, trang trí cổ diềm
Điện Sùng Ân – Lăng Minh Mạn
Pháp lam, một trong ba nghề được tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009 (cùng với Gốm và Sơn mài) là một trong những nghề độc đáo bởi chỉ có ở Huế. Lạ hơn, đây là nghề duy nhất không có làng nghề.
Hơn 200 năm vắng bóng
Pháp lam là những tác phẩm mỹ thuật hay các chi tiết trang trí trong kiến trúc Huế, cốt làm bằng đồng đỏ, bên ngoài phủ các lớp men nhiều màu tạo nên các họa tiết rực rỡ màu sắc.
Pháp lam có một lịch sử rất lâu đời với việc những sản phẩm pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước công nguyên khi những người thợ kim hoàn Mycenaean tráng men thuỷ tinh trên những đôi khuyên tai bằng vàng. Kể từ đó các nền văn minh trên toàn thế giới đã du nhập kỹ thuật pháp lam vào các hình thức nghệ thuật riêng biệt của họ.
Nghệ thuật chế tác pháp lam được du nhập Việt Nam vào năm Minh Mạng  thứ 8 (1827). Bấy giờ, có một nhóm thợ vẽ ở Nội Tạo, cơ quan chuyên việc trang trí trong cung Nguyễn, học được nghề làm pháp lam từ Trung Hoa. Nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục, gồm 15 người, do Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Xưởng chế tác pháp lam được đặt ở khu Canh Nông trong Thành nội. Ngoài ra, triều đình còn mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình) để sản xuất pháp lam, đáp ứng các nhu cầu của triều đình.
Một số mẫu pháp lam mỹ nghệ mới do Trung tâm BTDTCĐ Huế sản xuất
Pháp lam Huế có nhiều loại hình sản phẩm, tập trung thành ba nhóm chính: pháp lam trang trí ngoại thất các cung điện Huế; pháp lam trang trí nội thất và các đồ tự khí, đồ gia dụng làm bằng pháp lam.
Trong đó, được chú ý nhiều nhất là loại hình pháp lam trang trí ngoại thất: những chi tiết trang trí hình rồng, mây… gắn ở các bờ nóc, bờ quyết của cung điện và các cửa tam quan trong lăng tẩm các vua Nguyễn; các ô hộc trang trí theo lối “nhất thi, nhất họa” ở cổ diềm, đầu hồi, bờ mái… các ngôi điện lớn như điện Thái Hòa, điện Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh); những bức hoành trước mộ vua Minh Mạng và trước điện Thái Hòa; các đồ án mây ngũ sắc, bầu thái cực các ô hộc trang trí bát bửu, tứ quý… chính giữa bờ nóc Minh Lâu, điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng), điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức) hay ở bờ nóc bờ quyết của điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị)…
Pháp lam Huế khởi nguyên từ triều Minh Mạng, phát triển rực rỡ dưới triều Thiệu Trị sang đến triều Tự Đức thì phôi pha dần rồi mất hẳn. Sau đó do chiến tranh và những biến động của lịch sử, kỹ nghệ này đã thất truyền gần 200 năm nay. Do thời gian thất truyền quá lâu nên người dân Việt Nam và ngay cả người Huế đều cảm thấy xa lạ với thuật ngữ “Pháp lam”.
Hồi sinh Pháp lam
Cách đây hơn 10 năm, một số nhà khoa học ở Huế như TS Nguyễn Nhân Đức (Đại học Y Dược Huế); Trần Đình Hiệp (Công ty Xây lắp Huế); Đỗ Hữu Triết (Trung tâm BTDTCĐ Huế)…đã tiến hành nghiên cứu phục hồi Pháp lam Huế và đã thu được những kết quả khả quan đến ngỡ ngàng.
Những sản phẩm pháp lam mới đã bắt đầu xuất hiện sau một thời gian dài vắng bóng gần hai thế kỷ, và đã được Trung tâm BTDTCĐ Huế ứng dụng trong việc phục hồi các trang trí pháp lam ngoại thất ở các công trình di tích Huế và đã có được những thành công bước đầu như phục hồi pháp lam của tháp Phước Duyên di tích chùa Thiên Mụ, các phường môn trong Đại Nội, lăng vua Minh Mạng, trang trí ô hộc và bờ nóc của công trình Điện Biểu Đức lăng vua Thiệu Trị…
Pháp lam trang trí bên ngoài điện Thái Hoà
Song song với việc trùng tu di tích, năm 2004, ông Đỗ Hữu Triết đã đứng ra thành lập công ty cổ phần kỹ nghệ pháp lam Sao Khuê để “phục hồi lại được kỹ nghệ sản xuất pháp lam, phục hồi lại những di sản văn hoá độc đáo đã bị thất truyền qua những sản phẩm pháp lam mỹ nghệ của công ty”.
Sản phẩm mỹ nghệ pháp lam của Sao Khuê khá đa dạng. Tất cả đều được làm trên chất liệu đồng đỏ, gồm các bức tranh dân gian, các hoạ tiết trang trí truyền thống. Các đồ vật trang trí phục chế dựa theo các mẫu pháp lam cổ, và các đồ vật trang trí theo thiết kế mới.
Đặc biệt, các hoạ sỹ của Sao Khuê còn còn cho ra đời những sản phẩm mang tính nghệ thuật cao, bao gồm cả hội hoạ truyền thống và hội hoa đương đại, mở ra một xu hướng mới cho việc ứng dụng men màu pháp lam.
Pháp lam sẽ là một nghề thủ công
Theo ông Đỗ Hữu Triết thì mặc dù đã đạt được những thành quả ngoài mong đợi, tuy nhiên xét về góc độ kỹ thuật, mỹ thuật và về góc độ phổ quát rộng rãi để Pháp lam thực sự là một nghề thủ công thì chúng tôi vẫn (và nhiều người khác) chưa làm được như tầm vóc đáng có của nghề thủ công này.
Hiện tại, ông Triết cùng các cộng sự của Trung tâm BTDTCĐ Huế đang thực hiện đề tài “nghiên cứu, ứng dụng và phát huy nghề thủ công truyền thống Pháp lam”.
Theo ông Đỗ Hữu Triết thì thế giới có tất cả 17 loại hình kỹ thuật Pháp lam, tuy nhiên đến thời điểm này, Trung tâm BTDTCĐ Huế mới chỉ làm được có 3 loại. Mục tiêu mà ông Triết cùng đội ngũ làm Pháp lam của Trung tâm hướng tới là đạt trình độ của thế giới.
Đề tài gần như là một cuốn cẩm nang dạy nghề làm Pháp lam rất tỷ mỉ gồm: Một số chú giải trong kỹ nghệ và lịch sử Pháp lam; Dụng cụ và nguyên vật liệu để chế tạo sản phẩm Pháp lam (Lò nung – cách chế tạo, Chế tạo men và men màu); Khái quát kỹ thuật cơ bản chế tác Pháp lam (Chế tác và xử lý nguyên liệu kim loại, kỹ thuật tráng và nung men); Kỹ thuật hoạ pháp lam phục chế; Kỹ thuật hoạ pháp lam bảo quản phục hồi; các kỹ thuật làm pháp lam như: hoạ pháp lam hiện đại, pháp lam ô hộc (Champleve), thấu minh pháp lam (Basse taille)….
Ngoài ra còn có các kỹ thuật hỗ trợ khác như:  Kỹ thuật đúc đồng (áp dụng kỹ thuật đúc đồng truyền thống, cải tiến công đoạn làm khuôn và hỗ trợ hút chân không trong công đoạn đúc rót). Kỹ thuật chạm khảm kim loại (áp dụng kỹ thuật chạm truyền thống làng nghề Chạm bạc Đồng Xâm-Thái Bình, cải tiến công đoạn làm khuôn dập cho các sản phẩm nhỏ). Kỹ thuật ăn mòn kim loại. Kỹ thuật làm khuôn in bằng lụa….
Theo ông Đỗ Hữu Triết thì đây việc giới thiệu rộng rãi các kỹ thuật sản xuất pháp lam, lịch sử phát triển của kỹ nghệ pháp lam ra công chúng là một bước để giới thiệu và tạo điều kiện hỗ trợ cho ngành thủ công  truyền thống phát triển (Pháp lam kết hợp với đồ gỗ, Sơn mài…).
Sự kết hợp phong phú và đa dạng các ngành nghề thủ công truyền thống trong  sản phẩm pháp lam vừa tạo sự hấp dẫn riêng biệt mang đậm nét văn hóa truyền thống cho sản phẩm vừa là một cầu nối cho các ngành truyền thống có thể kết hợp lại với nhau.
Cũng theo ông Triết, đây là đề tài mới và tính hữu ích cao bởi các đề tài Pháp lam đã được thực hiện trước đây chủ yếu là nhằm phục vụ việc phục chế với hình thức Họa pháp lam, chưa có đề tài mang tính kỹ thuật tổng quát cho nhiều loại pháp lam trong đó kết hợp và phát huy cùng các ngành thủ công truyền thống khác.
Trong Festival làng nghề truyền thống Huế vào đầu tháng 6 tới, Trung tâm BTDTCĐ Huế sẽ đại diện cho “làng nghề” Pháp lam để tham gia với các hoạt động: Trưng bày các sản phẩm Pháp lam nguyên gốc, phục chế và phát triển thành các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Giới thiệu về lịch sử Pháp lam. Đặc biệt, Trung tâm sẽ mở một quy trình sản xuất Pháp lam nhỏ để hỗ trợ cho du khách trực tiếp sản xuất các mặt hàng lưu niệm.
TƯỜNG MINH – Baomoi

Read Full Post »

Older Posts »