Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘ceramic’

GII THIU V TRƯỜNG

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai tiền thân là trường dạy nghề Biên Hòa đã hình thành tồn tại và phát triển trong hơn 100 năm qua ( 1903-nay). Trong hơn 100 năm trường đã thay đổi khá nhiều lần từ tên trường đến quy mô đào tạo- ngành nghề đào tạo mục tiêu đào tạo. Trường đã trải qua ba thời kỳ: thời kỳ thuộc Pháp – dưới chế độ Sài gòn ( 1954-1975 ) và thời kỳ đất nước được hoàn toàn thống nhất.

Dưới thời kỳ đất nước ta bị đô hộ dưới ách thống trị của thuộc dân Pháp, mạng lưới Trường lớp đào tạo nghề ở cả nước là rất mỏng. Ở miền Nam trong một số rất ít trường được thành lập trong đó có trường dạy nghề Biên Hòa mà nhân dân thường gọi là( trường bá nghệ Biên Hòa). Do kinh tế chưa phát triển nên quy mô của Trường nhỏ bé số lượng học sinh ít.

Mãi đến năm 1964 ( sáu mươi năm sau ) từ trường dạy nghề mới phát triển thành trường Trung học chuyên nghiệp mang tên trường Kỹ thuật Biên Hòa.

Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng 30-4-1975 sau mấy năm tiếp quản trường đổi tên thanh trường Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai năm 1978 đến năm 1998 trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai.

Trong hơn  100 năm qua trường trải qua 3 giai đọan phát triển.

Từ 1903 -1963 là trường đào tạo nghề tồn tại 60 năm

Từ 1964 -1997 là trường Trung học chuyên nghiệp tồn tại 33 năm

Từ 1998 đến nay là Trường Cao đẳng.

 Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai đã không ngừng mở rộng quy mô đào tạo. Đặc biệt là từ năm 1975 đến nay, nội dung đào tạo của trường đã chuyển dần sang lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Từ năm 1998 đến nay, trường đã mở thêm một số khoa, ngành mới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội: thiết kế mỹ thuật truyền thông đa phương tiện; thiết kế thời trang. Hiện nay, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai tổ chức đào tạo 7 khoa chuyên môn, gồm:

-khoa thiết kế đồ họa

-Khoa trang trí nội thất

-Khoa thiết kế thời trang

-Khoa thiết kế mỹ thuật truyền thông đa phương tiện

-Khoa nhiếp ảnh quảng cáo

-Khoa gốm mỹ thuật & điêu khắc

-Khoa  cơ bản.

Một chặng đường dài với biết bao thay đổi trong lịch sử của trường cùng lịch sử của dân tộc , biết bao thế hệ học trò đã trưởng thành từ đây , biết bao thế hệ thầy cô đã cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cùng góp phần làm nên lịch sử của mái  trường .

đúng vào dịp kỷ niệm 110 năm thành lập, nhà trường vinh dự được đón nhận Huân chương Độc lập hạng nhì. Đây là thành quả lao động hăng say, miệt mài của tập thể cán bộ, giáo viên, sinh viên toàn trường. Điều này  khích lệ tập thể nhà trường phấn đấu hơn nữa để tiến lên trở thành trường đại học, đào tạo ngày càng nhiều nhân tài phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

nguồn : Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Trang Trí đồng Nai .

Khanhhoathuynga thực hiện :

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC – BẢO TÀNG

 

Advertisements

Read Full Post »

Căn cứ Luật di sản văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa;

Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Di sản văn hóa;

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này quy định loại di vật, cổ vật không được mang từ Việt Nam ra nước ngoài.

2. Loại di vật, cổ vật quy định tại Thông tư này không áp dụng đối với trường hợp di vật, cổ vật được mang ra nước ngoài để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến việc mang di vật, cổ vật từ Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 3. Loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài

1. Cá thể hoặc bộ phận hóa thạch người, động vật, thực vật thuộc thời kỳ Tiền sử Việt Nam;

2. Cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc thời kỳ Tiền sử và Sơ sử Việt Nam;

3. Tài liệu bằng các chất liệu có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa, chủ quyền quốc gia Việt Nam và anh hùng dân tộc, danh nhân có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia Việt Nam;

4. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc các giai đoạn lịch sử Việt Nam trước tháng 9 năm 1945;

5. Bản thảo tác phẩm văn học, bản gốc tác phẩm tạo hình (hội họa, đồ họa, điêu khắc), tác phẩm nhiếp ảnh có giá trị cao về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, có tác dụng và ảnh hưởng lớn trong xã hội được sáng tác từ tháng 9 năm 1945 đến nay;

6. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng và kiểm kê;

7. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học của các dân tộc thiểu số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sản xuất, sáng tạo trước năm 1975;

8. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu liên quan đến các sự kiện quan trọng và sự nghiệp của các Nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu, Nhà hoạt động chính trị, quân sự xuất sắc trong thời kỳ thành lập Đảng, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước từ tháng 9 năm 1945 đến nay;

9. Cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học có xuất xứ từ nước ngoài (trừ trường hợp tạm nhập khẩu – tái xuất khẩu).

Danh mục cụ thể loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài được ban hành kèm theo Thông tư này.

Điều 4. Điều khoản thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2013.

2. Cục Di sản văn hóa có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này.

3. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, tổ chức, cá nhân kịp thời phản ánh về Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung./.

 

BỘ TRƯỞNG

(đã ký)

Hoàng Tuấn Anh

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Nằm bên tả ngạn sông Hồng cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 10 km về phía Đông Nam. Bát Tràng là một làng gốm cổ truyền nổi tiếng của Việt Nam .

Ban đầu xã Bát Tràng  với tên là xã Bát  , làng Bát từ đời nhà Trần  . Thời Lê xã Bát Tràng  thuộc  huyện Gia Lâm , phủ Thuận An Trấn Kinh Bắc . Sang thời Nguyễn năm 1822 trấn kinh bắc đổi thành trấn Bắc Ninh , năm 1831 đổi thành tỉnh Bắc Ninh  . Lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Du , huyên Gia lâm  , phủ thuận An  , đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành  và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn . Sau cách mạng tháng tám 1945 , có một thời gian ngắn từ tháng 2  đến tháng 11 năm 1949 huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên . Năm 1948  xã Bát Tràng nhập với xã Giang cao và xã Kim Lan thành xã Quang Minh . từ năm 1964 tên xã Bát Tràng được khôi phục gồm Bát Tràng và Giang Cao như hiện nay .

Theo các thư tịch cổ thì nghề gốm xuất hiện ở  Bát Tràng từ thế kỷ thứ XV , nhưng theo những tư liệu thu thập được  ở Bát Tràng thì làng gốm này có thể ra đời sớm hơn . Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ( Ninh Bình ) về Thăng Long ( Hà Nội ) . Thăng Long trở thành trung tâm chính trị , kinh tế và văn hóa của cả nước , do nhu cầu phát triển của kinh thành  nhiều thương nhân , thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long để lập nghiệp , Thăng Long ngày càng mở mang và phát triển  , một loạt các làng ven đô cũng dần phát triển kinh tế  ,  trong đó có làng Bát Tràng .Do gần kinh thành lại nằm bên bờ sông Hồng  , Bát Tràng có điều kiện giao thông thuận lợi để phát triển công thương nghiệp , đăc biệt ở vùng này lại có nhiều đất sét trắng  ,theo  người dân Bát Tràng ngày xưa ở đây có 72  gò đất sét trắng ,  một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm .Lúc bấy giờ một số thợ gốm Bồ Bát ((xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hóa ngoại, nay là hai thôn của xã Yên Thành, huyện    Yên Mô , tỉnh Ninh Bình )   đã di cư về Bát Tràng để lập lò gốm  ,  khi mới đến lập nghiệp ở vùng này , dân Bồ Bát đặt tên cho quê mới của mình là Bạch Thổ Phường , tức phường đất trắng . Khi công việc sản xuất gốm đã ổn định , người dân ở đây đã đổi tên Bạch Thổ Phường  thành Bát Tràng Phường , ý nói là Phường có trăm lò bát . Cuối cùng họ mới đổi tên thành Bát Tràng ( nơi làm bát ) . Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho triều đại nhà Minh  .

Người  dân Bát Tràng đến nay vẫn lưu truyền một huyền thoại về nguồn gốc của nghề gốm như sau :

Vào thời Lý ( 1010 – 1225 ) , có ba vị Thái học sinh ( học vị như Tiến sĩ ) là Hứa Vĩnh Kiều ( hay Cảo ) , Đào Trí Tiến  và Lưu Phương Tú ( hay Lưu Vĩnh Phong ) , được cử đi sứ Bắc Tống (  960 – 1127 ) . Sau khi hoàn thành sứ mạng , trên đường trở về nước qua Thiều châu ( Quảng Đông – Trung Quốc ) thì gặp bão , phải nghỉ lại . Ở đây có lò gốm nổi tiếng , ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê hương .

Hứa Vĩnh Kiều ( hay Cảo )  truyền cho Bát Tràng nước men trắng

Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà ( Việt Yên – Hà Bắc ) nước men sắc đỏ

Lưu Phương Tú ( Lưu Vĩnh Phong )  truyền cho Phù Lãng ( Quế Võ – Hà Bắc ) nước men màu vàng thẫm

Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng với ít nhiều sai biệt về tình tiết . Điều đáng lưu ý là theo những tư liệu dân gian này , nghề gốm Bát Tràng đã có từ thời Lý , ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127 , khoảng đầu thế kỷ XII . Nhưng cho đến nay , chưa tìm thấy tư liệu  lịch sử  nào xác nhận tiểu sử của ba nhân vật trên .

Gốm Bát Tràng rất nổi tiếng ,  địa danh gốm Bát Tràng đã đi vào  thơ  và ca dao tục ngữ . Bằng vốn di sản kinh nghiêm nghề nghiệp những người thợ đã đưa nghề gốm ở đây lên đỉnh cao , những loại gốm quý và độc đáo nổi tiếng khắp trong và ngoài nước như : gốm men ngọc ( thời Lý – Trần ) gốm men nâu hay gốm hoa nâu ( cuối Trần – đầu Lê ) gốm men rạn ( thời  Lê –  Trịnh )và gốm hoa lam  ( vào cuối thời Nguyễn ) . Nhiều  sản phẩm gốm men ngọc , men rạn  , hoa lam của Bát Tràng rất hoàn mỹ , được coi là đỉnh cao của nghệ thuật và kỹ thuật gốm ở Việt Nam và đã trở thành  những tác  phẩm nghệ thuật gốm cổ , quý giá .

Sản phẩm gốm Bát Tràng phong phú và đa dạng  , với đôi bàn tay khéo léo của thợ gốm họ đã làm ra những sản phẩm gốm tinh xảo như : độc bình , chân đèn , đôn , bình vôi , nậm , chóe bằng gốm men ngọc và men chảy , hoa lam , men rạn , Trong suốt mấy trăm  năm  nay , gốm hoa lam tiếp tục ra đời khg hề đứt đoạn ở làng gốm Bát Tràng . Song song với các sản phẩm gốm đàn dân dụng , gốm hoa lam của Bát Tràng đã đi vào đời sống nhân dân cả nước  , mà trước hết là các tỉnh Bắc Bộ . Ngoài các mặt hàng truyền thống  , các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của người dân trong khắp cả nước như các loại ấm chén , bát đĩa , lọ hoa ,  đặc biệt là gạch Bát Tràng và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài .  …. Trên các sản phẩm không chỉ được tạo dáng uyển chuyển mà còn trang trí rồng uốn khúc đắp nổi , những hoa lá tinh tế , hoa văn khắc chìm nhìn rất sinh động , ngoài  men trắng ngà cổ truyền , người thợ Bát Tràng cũng biết dùng men màu và vẽ màu dưới men , giữa men , trên men , nhằm tạo hiệu quả huyền ảo cho người thưởng thức sản phẩm gốm Bát Tràng . Việc tìm đất , chọn nguồn đất nguyên liệu thích hợp , tạo ra các loại men từ tro , đất phù sa , đá màu , rỉ đồng . rỉ sắt , cũng như sự cải tiến kỹ thuật lò nung có hiệu quả đã chứng tỏ được tài nghệ của các nghệ nhân và thợ gốm nhiều thế hệ ở Bát Tràng .

Bát Tràng có may mắn và thuận lợi lớn là nằm bên bờ sông Hồng , ở khoảng giữa Thăng Long và Phố Hiến , trên đường thủy nối liền hai đô thị này và là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài  nên các sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi . Từ cuối thời Trần đến thời Lê và đầu thời Nguyễn  một khối lượng lớn gốm các loại của Bát Tràng được xuất khẩu sang nhiều nước  như  : Nhật Bản , Malaixia , Thái lan , quần đảo Java , các nước trung đông , và một số nước châu âu . Trong nhiều gia đình quý tộc , thương gia , và trong một số bảo tàng các nước   cho đến nay vẫn còn lưu giữ nhiều di vật gốm Việt Nam trong đó có gốm Bát Tràng  .

Trong suốt quá trình nghề gốm của mình , người Bát Tràng luôn luôn ý thức tầm quan trong sống còn của làng nghề là thích nghi với hoàn cảnh biến đổi của nền kinh tế xã hội theo từng thời kỳ , họ nắm bắt nhanh các thành tựu gốm mới và đặc biệt quan tâm  thích ứng với thị hiếu , thẩm mỹ và yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước,  ưu tiên sản xuất các mặt hàng cao cấp đắt tiền , các đồ gốm giả cổ ….xưa kia các lò gốm thủ công tuyệt đối giấu nghề bằng biện pháp ‘’ cha truyền con nối ‘’ Trong đời sống cũng như quá trình sản xuất  người dân Bát Tràng có tinh thần cộng đồng  cao và ý thức bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp . Bí quyết nghề nghiệp đặc biệt khâu pha chế men  được bảo vệ chặt chẽ . bí mật này chỉ được truyền cho con trai và những quy đinh trong các hương ước của làng , hay của dòng họ . Trước đây Bát Tràng có tục lệ trai gái trong làng lấy nhau , con trai có thể lấy vợ ngoài làng nhưng con gái nhất thiết không được lấy chồng ở làng khác  vì sợ để lô  bí quyết nghề của làng . Tục lệ này cũng phai mờ dần và nay  đã được xóa bỏ  .

Hiện nay làng gốm Bát Tràng đang phát triển sản xuất hai chủng loại gốm đó là

gốm giả cổ và gốm hiện đại   .  Khôi phục gốm cổ , người Bát Tràng cũng như các làng gốm khác đang làm sáng lên những giá trị di sản văn hóa  . không chỉ khôi phục , họ còn tìm tòi khai thác các men quý , men đẹp , dáng cổ để tạo ra các mặt hàng mỹ nghệ đặc sắc  đưa sản phẩm gốm Bát Tràng tới đỉnh cao của nghệ thuật .

Bát Tràng là một làng gốm lâu đời , nổi tiếng , có nhiều truyền thống văn hóa  vừa mang những sắc thái công đồng chung của làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ , vừa phản ánh những nét đặc thù của nghề gốm , Ở làng gốm này , mọi lứa tuổi đều có công ăn việc làm , ít thấy trẻ em chạy ngoài đường , hoặc trai tráng ngồi chơi bê tha , các cụ già giỏi nghề , làm việc suốt ngày bên bàn tạo mẫu , hay bên lò nung đang rừng rực lửa . Phụ nữ thì vuốt gốm , phơi gốm , vào lò ….mỗi công đoạn sản xuất đòi hỏi nhiều thao tác , người thợ cần có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao .Sản phẩm của người Bát Tràng là kết tinh của sức lao động cần cù , sự khéo tay và đầu óc thẩm mỹ .Bằng mọi cách để giữ lấy nghề và di sản quý của cha ông .Từ nền tảng đó họ ra sức sáng tạo  để  cho ra đời những sản phẩm gốm là những tác phẩm nghệ thuật  tinh túy  và sống động .

Khanhhoathuynga  tổng hợp .

HÌNH ẢNH GỐM BÁT TRÀNG TỪ THẾ KỶ 14  ĐẾN THẾ KỶ 19

This slideshow requires JavaScript.

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Nội dung này được bảo mật. Hãy nhập mật khẩu để xem tiếp:

Read Full Post »

Nội dung này được bảo mật. Hãy nhập mật khẩu để xem tiếp:

Read Full Post »

TIÊU BẢN GỐM SỨ CỔ TRUNG QUỐC – 1

This slideshow requires JavaScript.

 

 

*MỤC LỤC  – VIDEO – SLIDE SHOW

Read Full Post »

TIÊU BẢN GỐM SỨ CỔ TRUNG QUỐC – 2

This slideshow requires JavaScript.

 

 

*MỤC LỤC  – VIDEO – SLIDE SHOW

Read Full Post »

Older Posts »