Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘đinh’

CHÙA TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM – PHẦN 2

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

*MỤC LỤC  – VIDEO – SLIDE SHOW

Read Full Post »

Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt nam , bắt đầu khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và chấm dứt khi vua Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 , tổng cộng là 143 năm . triều đại nhà Nguyễn được ghi nhớ với các giai đoạn chính :

Giai đoạn độc lập (1802-1858)

Giai đoạn bị người Pháp xâm lăng và đô hộ (1858-1945)

Từ thời Gia long có quốc hiệu Việt Nam , ban đầu Gia Long cho đổi quốc hiệu Đại Việt sang Nam Việt nhưng về sau ,vì vua Gia khánh nhà Thanh sợ lầm với nước nam Việtcua3 nhà Triêu mà lãnh thổ bao gồm cả Lưỡng Quảng nên đổi tên thành Việt Nam .

Triều Nguyễn đã để lại cho lịch sử Việt nam một di sản văn hóa khổng lồ . riêng số sách do triều Nguyễn viết ra trong 2/3 thế kỷ XIX còn nhiều hơn cả 300 năm trước đó gộp lại .

Các vua nhà Nguyễn

-Vua Gia Long sinh năm 1762 mất năm 1819 , là con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Luân , lên ngôi năm 1802 , có 13 con trai và 18 con gái . vua Gia Long cũng là người đặt tên nước là Việt Nam .

-Vua Minh mạng sinh năm 1791 , mất năm 1840 , là con trai thứ tư của vua Gia Long , lên ngôi năm 1820( ngày 1 tháng giêng âm lịch )vì người anh cả là hoàng tử Cảnh lúc đó đã chết ( các anh thứ hai , thứ ba chết lúc còn nhỏ ) có 78 con trai và 64 con gái

-Vua Thiệu Trị sinh năm 1807 , mất năm 1847 , là con trai lớn của vua Minh Mạng , lên ngôi năm 1841 ( ngày 1 tháng giêng âm lịch )có 29 con trai và 35 con gái .

-Vua Tự Đức sinh năm 1829 , mất năm 1883 , là con trai thứ hai của vua Thiệu Trị , lên ngôi năm 1847 , vì không có con nên nuôi ba người cháu , cả ba đều lên làm vua :Dục Đức , Đồng Khánh , Kiến Phúc .

-Vua Dục Đức sinh năm 1852 , mất năm 1883 , là con trai trưởng ( con nuôi ) của vua Tự Đức .lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1883 nhưng ba ngày sau bị Nguyễn văn Tường và tôn Thất Thuyết truất phế rồi giết chết , có 11con trai va 8 con gái . Dục Đức vì ở trên ngôi có 3 ngày , không có thời gian chọn niên hiệu , Dục Đức là tên dinh thự của vua này . Miếu hiệu và thụy hiệu về sau mới được tôn vinh .

-Vua Hiệp Hòa sinh năm 1847 , mất năm 1883 , là con trai thứ 29 của vua Thiệu trị ( tức là em của vua Tự Đức ). Lên ngôi ngày 30 tháng 7 năm 1883 nhưng 4 tháng sau bị Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết giết chết , không có con .

-Vua kiến Phúc sinh năm 1869 , mất năm 1884 , là con trai thứ ba ( con nươi ) của vua Tự Đức . lên ngôi ngày 2 tháng 2 năm 1883 nhưng 8 tháng sau thì bị bệnh rồi chết , mọi việc đe7u2 được lo bởi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết , không có con .

-Vua hàm Nghi sinh năm 1872 ,mất năm 1943 ,là cháu gọi vua Tự Đức là chú . Lên ngôi năm 1884 nhưng bị Pháp truất phế 1 năm sau đó vì mưu lược chống họ , có 1 con trai và 2 con gái . sau khi bị truất phế , vua Hàm Nghi tiếp tục việc chống Pháp nhưng bị bắt vào năm 1888 và bị Pháp đày sang Algerie .

-Vua Đồng Khánh sinh năm 1864 , mất năm 1889 , là con trai thứ hai ( con nuôi ) của vua Tự đức .Lên ngôi năm 1885 nhưng sau 3 năm thì bị bênh5 rồi chết , có 6 con trai và 3 con gái .

-Vua Thành Thái sinh năm 1879 , mất năm 1995 , là con trai thứ bảy của vua Dục Đức ( người làm vua chỉ trong ba ngày ). Lên ngôi năm 1889 nhưng bị truất phế vào năm 1907 vì chống lại họ , có 16 con trai và nhiều con gái . Vào năm 1916 Vua Thành Thái (cùng con là vua Duy tân ) bị Pháp đày sang đảo Reunion , nhưng được đón trở lại Việt Nam vào năm 1947.

-Vua Duy Tân sinh năm 1899, mất năm 1945 , là con trai thứ năm của Vua Thành Thái , lên ngôi năm 1907 nhưng chỉ lo việc chống người Pháp nên bị họ truất phế và bị đày sang đảo Reunion(cùng với cha là vua Thành Thái ). Vào năm 1916 , có 3 con trai và 1 con gái .

-Vua Khải Định sinh năm 1885 , mất năm 1925 , là con trai trưởng của vua Đồng Khánh . Lên ngôi năm 1916 với ý định hòa hoãn với Pháp , chỉ có 1 con trai .

-Vua Bảo Đại sinh năm 1913 , mất năm 1997 , là con trai độc nhất của vua Khải Định .Lên ngôi năm 1926 , trong khi đang du học tại Pháp nên về Việt nam 6 năm sau đó , có 2 con trai và 3 con gái .Ngày 11thang1 3 năm 1945 , triều đình Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hòa ước Patenotre ký với Pháp năm 1884 , khôi phục chủ quyền Việt Nam . Nhà sử học Trần Trọng Kim được bổ nhiệm làm Nội Các Tổng trưởng , giao nhiệm vụ thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4 và quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam .Vua Bảo Đại thoái vị vào ngày 30 tháng 8 năm 1945 và giao chức ‘’cố vấn tối cao’’cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mới thành lập , nhưng chẳng bao lâu lại từ chức đi sống tại các nước ngoài . Bảo Đại trở lại Việt nam , với chức vụ Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam vào năm 1948 nhưng lại bị mất quyền sau môt cuộc trưng cầu dân ý trong năm 1956.

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

MỸ THUẬT THỜI TÂY SƠN

Trong Thế kỷ 18 , nước Đại Việt nằm dưới quyền cai trị tượng trưng của vua Lê , có danh mà không có quyền hành chính trị . Quyền lực thực sự nằm trong tay hai gia đình phong kiến , các chúa Trịnh ở phía bắc ,kiểm soát nhà vua và điều khiển triều đình ở Thăng Long và các chúa Nguyễn ở phía nam , đóng đô tại thành Xuân Phú . Hai bên từng đánh lẫn nhau để giành quyền kiểm soát toàn bộ đất nước trong suốt 45 năm va đều tuyên bố trung thành với nhà Lê để củng cố quyền lực cho mình .

Cuộc chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kết thúc năm 1672 và cuộc sống của những người nông dân ở phía bắc của các chúa Trịnh khá yên bình .Trong khi đó ở phía nam , các chúa Nguyễn thường gây chiến với Đế Chế Khmer yếu ớt ở bên cạnh và sau đó là với cả một nước khá mạnh là nước Xiêm . các chúa Nguyễn thường thắng trận và mở mang thêm đất đai phía nam . Từ giữa thế kỷ , người nông dân bị bần cùng và họ đứng lên khởi nghĩa cả ở Đàng ngoài lẫn Đàng trong .

Năm 1771 Anh em nhà Nguyễn Nhạc , Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nổi lên lập đồn ải ở đất Tây Sơn tỉnh Bình Định . Thanh thế của anh em Tây Sơn ngày càng lớn ,họ được hưởng ứng không những của người nghèo mà còn có của người giàu có , các thổ hào nữa. Sự nghiệp oanh liệt mà chớp nhoáng của Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792)như kỳ công xóa bỏ nạn phân tranh Trịnh- Nguyễn , rồi võ công BÌnh Xiêm (1786)diệt Thanh (1789).

Kể từ năm 1787 , với sự giúp đỡ mạnh mẽ hơn của người Pháp thông qua giám Mục Pigneau de Béhaine (tức Bá Đa Lộc ), Nguyễn Ánh quay trở lại Gia Định . Trong lúc Nguyễn Huệ bận đối phó tình hình Bắc Hà , Nguyễn Lữ qua đời , Nguyễn Nhạc bất lực , Ánh nhanh chóng chiếm lại đất đai ở Nam bộ rồi đánh lấn ra Diên Khang ,Bình Thuận – đất của Nguyễn Nhạc .Nguyễn Nhạc già yếu không cứu được chỉ còn lo giữ Qui Nhơn , Quảng Ngãi , Phú Yên . Vua Quang Trung đang định chuẩn bị phối hợp với vua anh đem quân vào nam đánh Gia Định thì qua đời (1792), con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi , tức là vua Cảnh Thịnh . Nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu . Nội bộ xảy ra tranh chấp , giữa năm 1802 Nguyễn Ánh tiến ra chiếm được Thăng Long , Quang Toản không chống nổi , bỏ chạy và bị bắt . triều đình Tây Sơn bị sụp đổ .

BIÊN NIÊN CÁC SỰ KIỆN :

-1771 : Anh em Tây Sơn nổi dậy

-1776: Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương

-1777: Nguyễn Huệ tiêu diệt chúa Nguyễn tại Gia Định

-1778: Nguyễn Nhạc xưng đế , đặt tên hiệu là Thái Đức

-1780: Nguyễn Ánh xưng vương tại Gia Định

-1782: Nguyễn Ánh bị quân tây Sơn đuổi , chạy ra Phú Quốc

-1783: Nguyễn Ánh lánh nạn tại Côn Sơn

-1785 : Nguyễn Huệ đánh bại quân Xiêm tại Rạch Gầm –Xoài Mút , Nguyễn Ánh chạy sang Xiêm .

-1786:Nguyễn Huệ lật đổ chúa Trịnh

-1787: Nguyễn Huệ trở lại Long Xuyên

-1788:Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế

-1789: Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh , Nguyễn Ánh lấy thành Gia Định

-1792: Vua Quang Trung mất

-1793 :Nguyễn Nhạc mất

-1799: Nguyễn Ánh chiếm thành Qui Nhơn .

-1801: Nguyền Ánh lấy được Phú Xuân .

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO THỜI TRẦN

Chùa Phổ Minh ( Phổ Minh Tự )là một ngôi chùa ở thôn Tức Mạc , nằm cách thành phố Nam Định khoảng 5km về phía bắc , vùng quê này là quê hương của vua Trần . Chùa còn có tên là Chùa Tháp .

Biên niên sử , chùa được xây dựng vào năm 1262 , ở phía tây cung Trùng Quang của các vua nhà Trần . Nhưng theo các minh văn trên bia , trên chuông thì ngôi chùa này đã có từ thời nhà Lý .Có thể chùa đã được xây dựng lại với quy mô rộng lớn từ năm 1262 tuy đã nhiều lần tu bổ nhưng chùa vẫn giữ được nhiều dấu tích nghệ thuật thời Trần .Cụm kiến trúc chính của chùa bao gồm 9 gian tiền đường , 3 gian thiêu hương , tòa thượng điện cũng 3 gian nhưng rộng lớn , xếp theo hình chữ “công” bộ cửa gian giữa nhà tiền đường gồm 4 cánh bằng gỗ lim , to dày , chạm rồng , sóng nước , hoa lá và văn hoa hình học . Hai cánh ở giữa chạm đôi rồng lớn chầu mặt trời trong khuôn hình lá đề ., được coi là một tác phẫm điêu khắc khá hoàn mỹ . Cũng như đôi sấu đá trên thành bậc tam quan và đôi rồng trên thành bậc gian giữa tiền đường , bộ cánh cừa này còn giữ được những dấu ấn của nghệ thuật chạm khắc đời Trần trong chùa có bày tượng Trần Nhân Tông nhập niết bàn ( tượng nằm ), tượng Trúc Lâm tam tổ dưới bóng trúc , một số tượng Phật đẹp lộng lẫy . Chuông lớn của chùa có khắc bản văn “Phổ Minh đỉnh tự “ đúc năm 1796 – chùa vốn có một vạc lớn , sử sách coi là một trong bốn vật báu của Việt Nam ( An Nam tử khí , nay không còn ).

Sau thượng điện , cách một sân hẹp là ngôi nhà dài 11 gian . Ở giữa là 5 gian nhà tổ , bên trái là 3 gian nhà tăng và bên phải là 3 gian điện thờ . Hai dãy hành lang nối tiền đường ở phía trước với ngôi nhà 11gian ở phía sau làm thành một khung vuông bao quanh kiến trúc Chùa .


Tháp Bình Sơn còn gọi là tháp chùa Vĩnh Khánh hay là Tháp Then , là một ngôi tháp tương truyền có 15 tầng tuy hiện nay chỉ còn lại 11 tầng . Tháp được xây dựng từ thời Trần , nằm ở trong khuôn viên chùa Vĩnh Khánh ( Chùa Then ) thuộc thôn Bình Sơn , xã Tam Sơn , huyện Lập thạch , tỉnh Vĩnh Phúc .

Là ngọn tháp tiêu biểu cho kiến trúc chùa tháp thời Lý – trần ở Việt Nam và là ngọn tháp đất nung đời Trần cao nhất còn lại đến ngày nay , Tháp bình Sơn với hình khối thanh thoát , đường nét mềm mại , trang trí phong phú điêu luyện , là di tích lịch sử và di tích nghệ thuật có giá trị cao vào bậc nhất trên lãnh thỗ Việt Nam .

Tháp Bình Sơn tương truyền có 15 tầng , theo các cụ cao niên địa phương kể lại thì trên nóc tháp còn có một hình khối búp hoa sen chưa nở bằng đất nung tạo cho tháp một dáng vẻ thanh thoát vươn cao .Tháp hiện chỉ còn 11 tầng tháp và 1 tầng bệ vì phần chóp của tháp bị bể , có tổng độ cao là 16,5 m . tháp cấu tạo theo mặt bằng hình vuông nhỏ dần phía ngọn với cạnh của tầng dưới cùng là 4,45 m cạnh của tầng thứ 11 là 1,55m .

Toàn bộ phần còn lại của tháp , căn cứ vào thống kê phân loại trong tiến trình tháo dở phục dựng , cho thấy tháp được xây dựng bằng 13.200 viên gạch nung , gồm 2 loại trong đó có một loại hình vuông kích thước là 0,22m x 0,22m , một loại kích thước hình chữ nhật kích thước 0,45m x 0,22m . trong lòng tháp là một khoảng rỗng nhỏ chạy suốt chân tháp lên đến ngọn .

Thân của tháp Bình Sơn được cấu trúc bằng hai lớp gạch : gạch khẩu chịu lực có nhiều kích cỡ để trơn được sử dụng xây bệ , xây bên trong tháp và giật cấp làm mái phân tầng . phần lớn các viên gạch khẩu được cấu trúc có mộng chốt , tạo dáng khớp nhau theo từng lớp , từng tầng rồi mới nung rắn chắc để xây , bảo đảm liên kết tốt và khả năng chịu đựng lớn . Bên ngoài , xung quanh tháp được ốp một lớp gạch vuông , mỗi cạnh dài 0,46m phủ kín thân tháp . Mặt ngoài của gạch ốp này đều có trang trí hoa văn rất phong phú .


Gần tháp có môt vũng nước được bao bọc bằng bờ gạch , mà người ta thường gọi là giếng .Tương truyền đất của giếng là môt ngôi tháp , được gọi là tháp xanh . Một hôm ngôi tháp biến mất , còn lại miệng giếng như hiện nay .


CHÙA DÂU

Chùa Dâu , còn có tên gọi là Diên Ứng ,Pháp Vân hay Cổ Châu , là một ngôi chùa nằm ở xã Thanh Khương , huyện Thuận Thành ,tỉnh Bắc Ninh , cách Hà Nội khoảng 30km . Chùa còn được người dân gọi với những tên gọi khác nhau như Chùa Cả , Cổ Châu Tự , Duyên Ứng Tự . Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam

Chùa nằm ở vùng Dâu , thời thuộc hán gọi là Luy Lâu . Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật Giáo Việt Nam . tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ : chùa dâu thờ Pháp Vân ( mây pháp ), Chùa Đậu thờ Pháp Vũ ( mưa Pháp ) ,Chùa Tướng thờ Pháp Lôi (Sấm Pháp ), Chùa Dàn thờ Pháp Diện ( chớp pháp ), và Chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ cũa Tứ Pháp . Năm Chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần .

Chùa được xây dựng vào buổi đầu công nguyên . các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây . Vào thế kỷ thứ 6 , nhà sư Ti-ni-đa-lui-chi từ Trung Quốc đến chùa này , lập nên một phái thiền ở Việt Nam . Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226 , là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa Phật Giáo Việt Nam , được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày 28 tháng 4 năm 1962 .

Chùa Dâu được gắn liền với sự tích Phật mẫu Man Nương , thờ tại chùa Tổ ở làng Mèn , Mãn Xá cách chùa Dâu 1km

Chùa được xây dựng lại vào năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo .Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa dâu thành chùa trăm gian , tháp chín tầng , cầu chín nhịp .Hiện nay , ở tòa thượng điện , chỉ còn sót lại vài mảng chạm khắc thời Trần và thời nhà Lê .

Cũng như nhiều chùa chiền trên đất Việt Nam , Chùa Dâu được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc . Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi nhà chính : Tiền Đường , thiêu hương và thượng điện . Tiền đường của chùa Dâu đặt tương Hộ Pháp , tám vị Kim Cương , gian Thiêu Hương đặt tượng Cửu Long , hai bên có tượng các vị Diêm Vương , Tam Châu Thái Tử ,Mạc Đĩnh Chi .Thượng Điện để tượng bà Dâu (Pháp Vân) Bà Đậu (Pháp Vũ ), và các hầu cận .Các pho tượng Bồ Tát , Tam Thế , Đức Ông , Thánh Tăng được đặt ở phần hậu điện phía sau chùa chính .

Một trong những ấn tượng khó có thể quên được ở nơi đây là những pho tượng thờ . ở gian giữa chùa có tượng bà Dâu , hay nữ thần Pháp Vân , uy nghi , trầm mặc , màu đồng hun , cao gần 2m được bày ở gian giữa . Tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán , gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ Ấn Độ , tới quê hương Tây Trúc . Ở hai bên là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ . Phía trước là một hộp gỗ trong đặt Thạch Quang phật là một khối đá , tương truyền là em út của tứ pháp .

Do Chùa Đậu (Bắc Ninh) bị Pháp phá hủy , nên tượng bà Đậu ( Pháp Vũ ) cũng được đưa về thờ ở chùa Dâu . Tượng Pháp Vũ với những nét Thuần Việt , đức độ , cao cả . Những tượng này đều có niên đại thế kỷ 18 .

Bên trái của thượng điện có pho tượng Thiền Sư Tỳ ni Đa Lưu Chi . Tượng được đặt trên một bệ gỗ hình sư tử đội hoa sen , có thể có niên đại thế kỷ 14 .


Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong . Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa ,được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành . Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp , nay chỉ còn ba tầng dưới , cao khoảng 17m ,nhưng vẫn uy nghi , vững chãi thế đứng ngàn năm . Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ “ Hòa Phong Tháp “. Chân tháp vuông , mỗi cạnh gần 7m . tầng dưới có 4 cửa vòm , trong tháp treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817 . Có 4 tượng Thiên Vương cao 1,6m ở bốn góc .Trước tháp ,bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738 , bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33m cao 0,8m . Tượng này là dấu vết duy nhất còn sót lại từ thời nhà Hán .


CHÙA BỐI KHÊ

Chùa được gọi là chùa Bối Khê, tọa lạc ở xã Bối Khê nay là xã Tam Hưng , huyện Thanh Oai ,tỉnh Hà Tây . Chùa được xây dựng vào thời Trần , khoảng năm 1338 . Kiến trúc hiện nay chủ yếu vào những lần trùng tu vào cuối thế kỷ 18 và năm 1923 . Chùa còn giữ được nhiều di vật của thời Trần ở tòa thượng điện và tượng Bồ Tát Quan Thế Âm tạc vào thế kỷ XVI . Theo sách từ điển di tích văn hóa Việt Nam ( Hà Nội , 1993) , ngoài chư phật ,chùa còn thờ Minh Đức Chân Nhân đời Trần . Ngài họ Nguyễn , húy là Nữ , tự Bình An , tu hành đắc đạo , tăng đồ theo thụ giáo rất đông . Hàng năm mở hội lễ vào ngày 12 tháng giêng (âm lịch) . Chùa đã được bộ văn hóa công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.


Chùa Bối Khê không những là di tích lịch sử quý giá về niên đại mà còn có kiến trúc bằng gỗ rất đẹp . Kiến Trúc chùa Bối Khê có tiền đường , hành lang tả hữu ,nhà tam bảo đều bằng gỗ dựng theo hình chữ Quốc . hậu đường được kết nối với điện thờ Thánh có hình chữ công .Toàn bộ kiến trúc được sắp xếp cân xứng hai bên theo một trục chính . Đặc biệt , chùa Bối Khê còn lưu giữ được kiến trúc độc đáo , những họa tiết về kiến trúc gỗ 4 vị chim thần .

Cổng chùa có 5 cửa , phía trên cửa chính có chữ Đại Bi Tự . Qua cổng chùa thấy ngay chiếc cầu gạch vắt qua hào nước hẹp . Dấu tích của dòng sông Đỗ Động , rẽ trái là con đường dẫn tới từ đường Trạng Nguyên Nguyễn Trực ( 1417-1474) cách chùa 30m . Đi qua cầu là tam quan cao hai tầng , tám mái .Tầng trên treo quả chuông lớn , đường kính 60cm , cao 1m , đúc năm Thiệu Trị thứ 4 ( 1844).

Qua khỏi gác chuông là sân gạch rộng chừng 400m vuông , hai bên là hai hồ nước , một trồng sen , một làm giếng nước sinh hoạt cho dân làng trước đây . TòaTam bảo còn gọi là Thượng điện, thờ Phật , Pháp , Tăng , cấu tạo theo 4 hàng cột , mỗi hàng 4 chiếc , riêng thềm điện có 6 cột đỡ mái , chia thành 7 gian . hai vì kèo giữa mang đậm phong cách nghệ thuật thời Trần , các đầu bảy đỡ mái phía ngoài được chạm khắc hình rồng , đầu bảy góc trái phía ngoài chạm hình chim thần Garuda . Bên phải tam bảo là nhà bia dựng năm 1450 ghi sự tích Đức Thánh Bối . Chùa còn bảo lưu được nhiều nghi thức tôn giáo của phái Trúc Lâm , Đạo giáo , Khổng Giáo và có nhiều cổ vật quý 58 pho tượng lớn nhỏ , 2 cây đèn gốm thời Mạc và nhiều sắc phong . Trong số 58 pho tượng , đáng chú ý là tượng Quan Âm 12 tay ngồi trê tòa sen đặt trên bệ đá chạm khắc hình rồng , chim thần , hoa lá có niên đại Xương Phù luc niên ( 1382 ) triều vua Trần Phế Đế . Hai hành lang chạy dọc , mỗi bên 9 gian ,18 vị La hán ngồi trên bệ đá , thể hiện đủ gương mặt , tư thế khác nhau . Sau tam Bảo là hậu cung thờ Đức Thánh Bối Nguyễn Đình An , hai tầng tám mái .

Đến nay , Chùa Bối Khê vẫn còn lưu giữ được những cổ vật quý giá như tượng Phật Bà nghìn mắt , nghìn tay có từ đời Lý là một trong hai pho tượng đẹp và quý nhất Việt Nam , 11 bia đá có từ đời Hậu Trần , hai quả chuông được đúc bằng đồng và 22 đạo sắc từ thời Lý cho đến thời Nguyễn , một quần thể tượng Cửu Long 9 pho tượng được đặt trên 9 bệ rồng .



CHÙA THÁI LẠC

Chùa thuộc thôn Thái lạc , xã Lạc Hồng , huyện Văn Lâm , ngoài thờ Phật , chùa còn thờ Pháp Vân ( Thần Mây ) nên có tên gọi là Pháp Vân Tự , hay là Chùa Pháp Vân .Xây dựng từ thời Trần ( 1225- 1400) Chùa được tu sửa vào các năm 1609, 1612 , 1630 -1636, 1691-1703 . kiến trúc hiện nay là kiểu nội công ngoại quốc ,gồm tiền đường 5 gian , ba gian thượng điện , hai dãy hành lang mỗi bên chin gian , nhà tổ bảy gian .

Chùa Thái Lạc còn giữ được bộ vì gỗ ở gian giữa tòa thượng điện ,kiến trúc thời Trần , còn khá nguyên vẹn . Loại hình này ở nước ta rất hiếm , ngoài chùa Thái Lạc chỉ còn thấy ở chúa Dâu , chùa Bối Khê .Bộ vì kiến trúc kiểu giá chuông , dựa trên kết cấu 4 hàng chân cột . Trên bộ vì được kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và trang trí . Trên các cốn ,các đố của bộ vì và trẹn các cột , đấu có nhiều mảng chạm khắc lớn . nếu nguyên vẹn ,có khoảng 20 bức chạm nổi các đề tài khác nhau , hiện nay có 16 bức . Trên ván có bưng chạm tiên nữ đầu người mình chim . Trên thân cột trụ chạm hình các ông phỗng giơ tay đỡ bệ sen phía trên . trên ván nong trang trí các đề tài tiên nữ . Nơi tiên nữ đang cưỡi phượng , người thổi tiêu ,người kéo nhị . Nơi khác , tiên nữ đang thổi sáo , đánh đàn .Có cảnh tiên nữ đầu người mình chim đang giơ tay dâng hoa . Độc đáo hơn còn có cảnh chạm dàn nhạc ba người đang sử dụng những nhạc cụ dân tộc . Chùa Thái Lạc còn giữ được tượng Pháp Vân , ba bệ thờ và ba tấm bia đá ghi quá trình trùng tu tôn tạo chùa . tất cả đều có niên đại thế kỷ 16-17.

Năm 1967 , chùa được bộ văn hóa thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật đặc biệt quan trọng .


Chùa Hoa Yên , Chùa Thiên Trúc và Thiền Viện Trúc Lâm Yê Tử Quảng Ninh ,núi Yên Tử ở xã Thượng yên Công ,phía tây thị xã Uông Bí , tình Quảng Ninh , ở đỉnh cao 1068m.

Chùa Hoa yên thường gọi là chùa Cả ,tọa lạc trên núi Yên Tử , ở độ cao 516m . Chùa nguyên tên là Vân yên , do Thiền Sư Hiện Quang khai sơn . Ngài là đệ tử nối pháp của Thiền Sư Thường Chiếu ,Kế tiếp Thiền Sư Hiện Quang và Quốc Sư Trúc Lâm , Quốc Sư Đại Đăng ,Thiền Sư Tiêu Diêu ,Thiền Sư Huệ Tuệ , Đại Đầu Đà Trúc lâm tức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông ( 1299) vv…

Đại Đầu Đà Trúc lâm thuộc thế hệ thứ 6 ổ Yên Tử , nhưng đến Ngài , Ngài đã thống nhất các Thiến Phái đã có thành một Thiến Phái Trúc Lâm nên người đời gọi Ngài là Trúc Lâm Đệ Nhất Tổ .

Ngài cho mổ chùa Vân Yên to rộng ,Tả hữu dựng Viện Phù Đồ , lầu chuông trống ,nhà dưỡng tăng , nhà khách , dưới sườn núi dựng nhà cửa đến suốt đến sứ Thanh Lương .Tăng đồ khắp nơi đến nghe giảng yếu chỉ Thiền Tông rất đông .Chùa Vân yên trở thành trung tâm Phật Giáo thời bấy giờ .

Đến khoảng niên hiệu Hồng Đức ( 1470- 1497 ), vua Lê Thánh Tông lên thăm chùa , thấy cảnh hoa nở đầy sân , bèn cho đổi là Hoa Yên .

Trước chùa Hoa Yên có Huê Quang Kim Tháp xây năm 1309 , an táng xá lợi Trần Nhân Tông và hơn 40 ngôi tháp lớn nhỏ khác , đều là tháp cổ thời Trần .

Hệ thống Chùa ở Yên Tử hiện nay đang được trùng tu ,xây dựng quy mô lớn : Chùa Cấm THực , Chùa Giải Oan ,Chùa Một Mái , Chùa Bảo Sái ,Chùa Vân Tiêu , Chùa Thiên Trúc …

Tuyến cáp treo từ chân núi đến gần khu vực tháp Tổ đã hoạt động từ năm 2002 .


THÁP HUỆ QUANG

Thờ đệ nhất Tổ Trúc lâm Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông , tên húy là Trần Khâm .

Tháp xây dựng vào năm Kỷ Dậu ( 1309 ).niên hiệu Hưng Long thứ 17 , trong lăng Quy Đức , để quàn xá lợi Điều Đức Ngự , tên gọi là Huệ Quang Kim tháp và dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật .


CHÙA THIÊN TRÚC

Chùa Thiên Trúc ( Chùa Đồng ) trên đỉnh núi Yên Tử do một bà phi của chúa Trịnh phát tâm cúng dường , ngôi chùa nhỏ ở dạng một khối đồng hình chữ nhật cao 1,35m , dài 1,4m , rộng 1,1m , qua thời gian đã hư hỏng nhiều .Ngày 23-10-2005 UBND tình và Ban trị sự Phật Giáo tỉnh Quảng Ninh đã làm lễ khởi công xây dựng lại chùa Đồng hoàn toàn bằng chất liệu đồng với khoảng 70 tấn đồng , diện tích khoảng 20m vuông , chiều cao từ cột nền tới mái lá 3,35m mỗi viên ngói nặng khoảng 4 kg , 4 cột chùa , mỗi cột nặng 1 tấn . Trong đại lễ khánh thành Chùa Đồng ngày 30-1-2007 , trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã trao bằng xác lập kỷ lục : Thiên Trúc Tự – Ngôi chùa bằng đồng lớn nhất Việt Nam trước hang ngàn chư tôn đức tăng ni , quan khách , phật tử và khách tham dự.


THIỀN VIỆN TRÚC LÂM

Thiền Viện Trúc Lâm , tức chùa Lân , chùa Long Động , nằm trên đường vào khu danh thắng Yên Tử . Cách tỉnh lộ 18 khoảng 10km , thuộc xã Thượng Yên Công , thị xã Uông Bí , tỉnh Quảng Ninh , đã được Hòa Thượng Thích Thanh Từ cho khởi công xây dựng lại ngày 15-8-2002 và tổ chức khánh thành ngày 14-12-2002. Đây là nơi trước kia Trúc Lâm Đệ Nhất Tổ Trần Nhân Tông làm nơi giảng đạo .

Trước sân THiền Viện có đặt một quả cầu Như Ý Báo Ân Phật bằng đá hoa cương đỏ ( ru bi) đường kính 1590mm , trọng lượng 6,5 tấn , được lấy từ mỏ đá An Nhơn ( Quy Nhơn ). Quả cầu đặt trên một bệ đá granit có tiết diện vuông , nặng 4 tấn ,bọc bên ngoài là bể nước hình bát giác với tám bồn hình cánh hoa bao quanh tượng trưng cho Bát Chánh Đạo . Quả cầu do nhóm Phật Tử Minh Hạnh Túc Phát Tâm cúng dường , được Công Ty TNHH Hà Quang thi công trong 18 tháng . Lễ cúng dường được tổ chức vào ngày 06-7-2005 ( 1 /6/ năm Ất Dậu ). Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục : Quả cầu Như Ý lớn nhất Việt Nam .


MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC

Kiến trúc phát triển mạnh dưới thời nhà Lý và chịu ảnh hưởng của Phật Giáo rất sâu đậm .cung điện , lâu đài ,thành quách và chùa tháp được xây dựng với quy mô lớn . Thành Thăng Long là một công trình xây dựng lớn trong các triều đại phong kiến .Thành gồm hai vòng dài khoảng 25km .Trong hoàng thành có những cung điện cao đến bốn tầng

Lý Công Uẩn lên ngôi vua , sáng lập vương triều Lý(1009-1225) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ngày 2-11 Kỷ Dậu(21-11-1009) .Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La đổi tên là Thăng Long. Ngay trong mùa thu năm đó , nhà Lý đã khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua , triều đình và hoàng gia .Trung tâm là điện Càn nguyên , nơi thiết triều của nhà vua, hai bên là điện Tập Hiền và Giảng Võ , phía sau là điện Long An , long Thụy làm nơi vua nghỉ . Đến cuối năm 1010 , 8 điện 3 cung đã hoàn thành .Những năm sau , một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm . Một vòng thành được bao quanh các cung điện cũng xây đắp trong năm đầu , gọi là Long Thành hay Phượng Thành .Đó chính là Hoàng Thành theo cách gọi phổ biến về sau này . Thành đắp bằng đất , phía ngoài có hào , mở 4 cửa : Tường Phù ở phía đông , Quảng Phúc ở phía tây , Đại hưng ở phía nam , Diệu Đức ở phía bắc .Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia . Trong đời Lý , các kiến trúc trong Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm .Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của kinh thành .Phía ngoài cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú , buôn bán , làm ăn của dân chúng gốm các bến chợ , phố phường và thôn trại nông nghiệp . Một vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp từ năm 1014, gọi là thành Đại la hay La Thành . Trong những biến loan cuối thời Lý , Hoàng Thành bị tàn phá nặng nề . sau khi thành lập , nhà Trần phải đắp lại thành , xây lại các cung điện , nhưng vị trí qui mô của Hoàng Thành , thường gọi là Long Phượng Thành không thay đổi .

Thời Lê sơ,Hoàng Thành nhiều lần được tu bổ và mở rộng thêm mà trung tâm điểm là điện Kính Thiên dựng năm 1428 xây dựng lại năm 1465 với lan can bằng đá chạm rồng năm 1467 nay vẫn còn trong thành Hà Nội . Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) , vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước gồm 13 thừa tuyên Và phủ Trung Đô tức thành Đông Kinh thời Lê sơ. Tập bản đồ thời Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông định bản đồ Hống Đức còn lại đến nay đã qua nhiều lấn sao chép lại về sau ,nhưng vẫn là tập bản đồ xưa nhất của nước Đại Việt sang thời Nguyễn , thành Hà Nội do vua Gia Long xây năm 1805 theo kiểu Vauban không những hạ thấp độ cao mà còn thu nhỏ qui mô so với Hoàng Thành của Thăng Long xưa . Tuy nhiên trục trung tâm Đoan Môn Kính Thiên của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê vẫn không thay đổi và trên trục này thêm cột cờ, Cửa bắc thời Nguyễn


Kiến trúc thời Lý phục vụ Phật Giáo , rất nhiều Quốc Tự được xây dựng .Phong cách thống soái là hoành tráng , đồ sộ.Chùa một cột ( Chùa Diên Hựu)được xây dựng ở Thăng Long với quy mô lớn hơn ngôi chùa đã có trước đó ở Hoa Lư và với sự cách điệu tuyệt diệu . Việc xây dựng các chùa tháp rất được coi trọng . Năm 1031 Lý Thái Tông cho xây dựng 950 ngôi chùa .Năm 1056 Lý Thánh Tông lập chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, phải dùng 11 ngàn cân đồng để đúc chuông chùa , năm sau lại dựng Tư Thiên Bảo Tháp trước chùa Báo Thiên ,cao vài chục trượng (khoảng 50-60 m)và có 30 tầng . Ngoài ra còn có nhiều chùa tháp khác cũng đồ sộ và huy hoàng không kém .

Chùa Báo Ân và tháp Báo Thiên cao khoảng 70m .Chùa Phật Tích- Bắc Ninh , chùa Long Đọi –Hà nam , Chùa Bà Tấm – hà Nội ,chùa Quảng Giáo –Quảng Ninh đều là những chùa lớn .

Kiến trúc chùa tháp thời Lý đều to lớn , cao . Các chùa thường nằm trên đỉnh núi cao .cấu trúc và bố cục chùa tháp đơn giản , chỉ gồm một ngôi chùa chính và một ngọn tháp lớn có đáy vuông .Điều này phản ánh tư tưởng giản dị , phóng khoáng của người thời Lý .Trang trí tháp chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm , với các hình chim thần ( Garuda ), nữ thần đầu người mình chim , có lẽ do việc bắt những tù binh Chăm sau cuộc nam chinh của Lý Thánh Tông. Vì thế ấn tượng của ngọi chùa Lý rất độc đáo : Vùa tôn nghiêm , hùng vĩ , đường bệ bởi không gian và đường sống kiến trúc , vùa phóng khoáng lãng mạn bởi gần thiên nhiên, vừa sinh động , lý thú với các trng trí mang hơi hướng Chăm .

Chùa Một Cột hay chùa Mật ( gọi theo Hán Việt là Nhất Trụ Tháp ) còn có tên khác là Diên Hựu hoặc Liên Hoa Đài ( Đài hoa sen ) , là môt ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội .Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam .

Chùa được khởi công xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm 1049 .Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa Hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen . Truyền thuyết kể lại rằng, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý thái Tông (1028-1054)và theo gợi ý của nhà sư Thiền Tuệ .vào năm 1049 vua đã mơ thấy được Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên tòa . Khi tỉnh dậy,nhà vua kể chuyện đó lại cho bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa , dựng cột đá như trong chiêm bao , làm tòa sen của Phật Bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ , vì thế chùa mang tên Diên Hựu .

Đến năm 1105 , vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng . Năm 1108 Nguyên Phi Ỷ lan sai bày tôi đúc một cái chuông rát to ,nặng đến môt vạn hai nghìn cân , đặt tên là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời ).Đây được xem là một trong tứ đại khí- bốn công trình lớn của Việt nam thời đól là : Tháp Báo Thiên ,chuông Qui Điền , vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm . Giác Thế Chung đúc xong nặng quá không treo lên được , để dưới mặt đất thì đánh không kêu .Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ , ruộng này có nhiều rùa , do đó có tên là La Quy Điền chuông (chuông ruộng rùa ).

Đến thế kỷ 15 , giặc Minh xâm lược , chiếm thành Đông Quan ( Hà Nội ).Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân lam Sơn ra đánh ,vây thành rất gấp .quân Minh thiếu thốn vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn sai người đem phá chuông Quy Điền lấy đồng .Quân Minh thua trận , nhưng chuông Quy Điền thì không còn nữa .

Đến thời nhà Trần , chùa đã không phải là ngôi chùa nhà Lý nữa vì sách cũ đã ghi : Năm 1249 :”…mùa xuân , tháng giêng , sửa lại chùa Diên Hưu ,xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ…” chùa đã qua nhiều đợt tu sửa .Đợt tu sửa chữa lớn vào năm Thiên Ứng Chính Bình 18 ( 1249 ) gần như phải làm lại toàn bộ. Thời Lê ,triều đình nhiều lần cho tu sửa , thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá . Năm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Văn Hòa tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường , hành lang tả hữu ,gác chuông và cửa tam quan . Năm 1852, bố chính Tôn Thất Giáo xin đúc chuông mới . Năm 1864 , tổng đốc Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu , làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ tòa sen , chạm trổ thêm công phu tráng lệ . năm 1954 ,trước khi rút khỏi Hà Nội , quân Pháp đã đặt mìn phá đổ chùa . Sau ngày tiếp quản thủ đô , Bộ văn hóa đã cho tu sửa chùa một cột theo đúng kiểu mẫu cũ để lại từ thời Nguyễn .

Cạnh chùa Một Cột ngày nay còn có một ngôi chùa có cổng tam quan , với ba chữ “:Diên Hựu Tự “ , là một ngôi chùa mới được xây dựng phụ vào với chùa Một Cột , xây khoảng đầu thế kỷ 18 .


 

Chùa Phật Tích ( Phật Tích Tự ) còn gọi là chùa Vạn Phúc ( Vạn Phúc Tự ) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía nam núi Phật Tích ( còn gọi núi Lạn Kha , non tiên ), xã Phật Tích , huyện Tiên Du , tỉnh Bắc Ninh . Trong chùa có tượng Đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam. Chùa Phật Tích được công nhận là di tích Lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia .

Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư ( 1057 ) với nhiều tòa ngang dãy dọc . Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý . Ngôi chùa vào thời nhà Lý hiện nay không còn nữa .

Năm 1066 , vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một ngôi tháo cao . sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó có bức tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng . để ghi nhận sự xuát hiện kỳ diệu của bức tượng này , xóm Hỏa Kê ( cạnh chùa ) đổi tên thành thôn Phật Tích .

Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy ( 1686 )ca ngợi vẻ đẹp của cạnh chùa :” Đoái trông danh thắng đất Tiên Du , danh sơn Phật Tích , ứng thế ở Càn Phương( hướng Nam ) có núi Phượng Lĩnh bao bọc , phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh . Phía Hữu Bạch Hổ núi ôm , trên đỉnh nhà khai bàn đá …”

Năm 1071 , vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ “Phật” dài tới 5m , sai khắc vào đá đặt trên sườn núi . Bà Nguyên Phi Ỷ lan có đóng góp quan trọng trong bưởi đầu xây dựng chùa Phật Tích .

Vào thời nhà Lê , năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông , năm 1686 , chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn , có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc Tự .

Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại su đó được gần 300 năm .kháng chiến thực dân Pháp bùng nổ và Chùa bị tàn phá nhiều . Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947 .

Khi hòa bình lập lại (1954)đến nay , Chùa Phật Tích được khôi phục dần . năm 1959 , bộ văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A Di Đà bằng đá quý giá .Tháng 4 năm 1962 , nhà nước công nhận chùa Phật tích là Di tích Lịch Sủ văn hóa .

Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc“ , sân chùa là cả một vườn hoa mẫu Đơn rực rỡ . Bên phải Chùa là miếu thờ Đức Chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này .

Cho tới nay , Chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách , 5 gian bảo thờ Phật , Đức A Di Đà cùng các vị Tam Thế Phật , 8 gian nhà tổ , và 7 gian nhà thồ Thánh Mẫu .

Ngôi Chùa có kiến trúc của thời Lý , thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi .các nền hình chữ nhật dài khoảng 60m rộng khoảng 33m , mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật .


 

 

Chùa Dạm căn cứ vào các thư tịch cổ , Chùa Dạm được Vua Lý Nhân Tông (1072-1127 ) cho xây dựng vào năm Quang Hựu thứ hai ( 1086 ).Để tiện vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ công trình , vua cho đào ngòi Con Tên từ chân núi Lãm Sơn chạy thẳng ra sôngĐuống .Năm 1087 , “Vua ngự đến chùa Lãm Sơn , đến đêm ban yến cho các quan .Vua làm 2 bài Lãm Sơn dạ yến” công trình làm trong 9 năm mới xong .Vua ban tên Chùa là Cảnh Long Đồng Khánh, lại thân đề biển bằng chữ triện .

Năm long phù nguyên hóa thứ 5 (1105) , Vua Lý Nhân Tông cho xây thêm ba tháp đá nữa .Chùa làm xong(1094), vua ban 300mẫu ruộng tự điền để nhà chùa có hoa lợi hương khói và 7 gia đình ở mé dưới núi được giao việc chuyên đóng mở cửa chùa.

Chùa đặt ở sườn núi phía nam của dãy Lãm Sơn , chính giữa ngọn cao nhất .Núi Rùa làm tiền án , ngòi Con Tên làm Minh Đường bên tả có thanh Long ,bên hữu có Bạch Hổ chầu về .Chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theo thuyết phong thủy . Chùa dựa hẳn vào sườn núi và 4 lớp nền đá trườn theo sườn núi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghi êm hài hòa với cảnh quan thiên nhiên chung quanh . hơn nữa tránh được nạn lụt lội ở vùng “rốn nước “ Quế Võ lắm đồng sâu ruộng trũng . chiều dài của lớp nền 120m , chiều rộng 70m ( Chùa Phật Tích là 100m và 60m ).Tổng cộng diện tích gần 8000m vuông ,Bốn lớp nền được bó ghép bằng đá tảng (mỗi viên có kích thước 50×60 cm) các lớp đá được cấu tạo choãi chân đế ,chếch khoảng 70 độ ,và có độ cao 5-6m .


 

Chùa Long Đọi Sơn còn có tên chữ là Diên Linh Tự do Vua lý Thánh Tông và Vương Phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 .Đến đời Lý Nhân Tông nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121.

Sau ba trăm đứng vững thì đến đầu thế kỷ XV , khi giặc Minh xâm lược nước ta , chùa và tháp bị phá hủy hoàn toàn .Riên bia thì không phá nổi , chúng đả lật đổ xuống bên cạnh núi , ngôi chùa đã trở nên hoang phế hoàn toàn . Mãi đến năm Tự Đức thứ 13 ( 1860 ) nghĩa là 170 năm sau khi giặc Minh tàn phá nhân dân trong vùng mới cho sửa sang lại Thượng Điện , Tiền Điện , gác chuông , nhà tổ …đến năm 1864 , chùa lại tiếp tục sửa hành lang , đúc tượng Di Lặc , đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh 125 gian , từ đó trở thành trường Bắc Kỳ Phật Giáo .Ngôi chùa này được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc . Tại tiền đường, thượng điện tượng Phật rất nhiều .hai bên Chùa là 18 gian hành lang thờ Thập bát La Hán .


Chùa Bà Tấm ( Dương Xá – Gia Lâm –Hà Nội )

 

Cụm di tích đền – Chùa Bà Tấm thuộc địa phận xã Dương Xá huyện Gia Lâm , ngoại thành Hà Nội . Di tích nằm ở phía đông và cách khu vực nội thành Hà Nội gần 20km .Từ trung tâm thành phố , qua cầu Chương Dương , theo quốc lộ 5 đi Hải Phòng khoảng 8km thì đến địa phận xã Dương Xá .Di tích nằm bên trái , liền kề đường quốc lộ . Theo sử sách và truyền thuyết dân gian , cụm di tích đền – chùa Bà tấm được xây dựng từ thời Lý , sự ra đời của di tích gắn liền với Nguyên Phi , Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – một nhân vật kiệt xuất của vương triều nhà Lý .Sử cũ cho biết Nguyên Phi Ỷ lan giỏi việc trị nước ( hai lần nhiếp chính ), khiến nhân tâm hòa hợp , đất nước thanh bình , dân gian sùng phật , tôn bà là Phật Bà Quan Âm .

Cụm di tích chùa – đền Bà Tấm vốn được xây dựng trên một gò đất cao, rộng, nằm bên hữu ngạn dòng sông Thiên Đức nổi tiếng(phía bên tả ngạn là chùa Báo Ân thời Trần ,gắn liền với cuộc đời tu hành của vua Trần Nhân Tông ) . Trải qua quá trình tồn tại , mặt bằng di tích có nhiều thay đổi , hiện nay còn có chùa , đền và nhà thờ Mẫu cùng một số đơn nguyên kiến trúc kề cận .

Còn tiếp

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


 

 

Read Full Post »

kỷ lục về tranh ghép bằng nút chai rượu vang, tăm tre và đinh.

tranhghep 01

Họa sĩ nổi tiếng người Albania Saimir Strati đang gấp rút thực hiện những bước cuối cùng để cho ra đời bức tranh ghép lớn nhất thế giới được làm từ 300.000 nút chai rượu vang với hy vọng lần thứ 3 được ghi danh vào sách kỷ lục Guinness thế giới.

tranhghep 02

Bức tranh ghép đang được họa sĩ Saimir Strati gấp rút hoàn thiện trên một bức tường của khách sạn Sheraton Hotel ở thủ đô Tirana (Albania).

tranhghep 03

Tác phẩm “Nghệ sĩ chơi guitar” của họa sĩ người Albania Saimir Strati

Với tổng diện tích lên tới 96 m2, bức tranh hứa hẹn sẽ giúp người nghệ sĩ 42 tuổi này lần thứ 3 ghi tên mình vào sách kỷ lục Guinness là người sáng tạo bức tranh ghép lớn nhất thế giới.

tranhghep 04

Tác phẩm “Nghệ sĩ chơi guitar” được làm bằng 300.000 chiếc nút chai rượu vang

Hiện tại,

Saimir Strati vẫn đang làm việc cật lực để hoàn thiện tác phẩm của mình dưới sự giám sát chặt chẽ của hội đồng chuyên viên giám định của tổ chức Guinness thế giới và ống kính camera.

Saimir Strati cho biết đã bắt chước kỹ thuật ảnh điểm trong ảnh kỹ thuật số để tạo màu sắc cho bức tranh các bức tranh. Trong đó, mỗi chiếc nút chai là một một ảnh điểm.


Saimir Strati đang làm việc cật lực để hoàn thiện bức tranh ghép khổng lồ này

tranhghep 05

Toàn cảnh bức tranh khổng lồ rộng 96 m2 của Saimir Strati

Dự kiến, tác phẩm “Nghệ sĩ chơi guitar” làm từ 300.000 nút chai rượu vang này sẽ được ra mắt công chúng vào trung tuần tháng 9 năm nay.


Trước đây, vào năm 2006, Saimir Strati đã lần đầu tiên đi vào sách kỷ lục Guinness thế giới với tác phẩm tái hiện lại bức chân dung thiên tài người Ý Leonardo De Vinci từ 500.000 chiếc đinh trên một bề mặt rộng 8 m2. Tác phẩm được đánh giá là có giá trị nghệ thuật cao và đã gây được tiếng rất lơn vang lớn.

tranhghep 06


Khi đó, họa sĩ người Albania này đã phải làm việc cật lực trong 24 ngày liên tục, mỗi ngày 14 tiếng để hoàn thành tác phẩm để đời đầu tiên của mình.

Năm 2007, một tác phẩm làm từ hơn 1,5 triệu chiếc tăm tre lại một lần nữa đưa Saimir Strati vào sách kỷ lục Guinness thế giới lần thứ 2. Bức tranh dài 4 mét và cao 2 mét có hình một chú ngựa lúc đó phải cần tới 40 ngày làm việc nghiêm túc với 12 tiếng mỗi ngày để hoàn thành.

Bức tranh tăm tre được Saimir Strati đã làm để dành tặng thần tượng của mình là kiến trúc sư nối tiếng Antonio Gaudi, người vẽ thiết kế nhà thờ Sagrada Familia ở Barcelona (Tây Ban Nha).

tranhghep 07

Saimir Strati và bức tranh con ngựa được “vẽ” 1,5 triệu chiếc tăm tre

tranhghep 08

Anh Chính Thường Luân – một nghệ nhân nổi tiếng ở thành phố Giang Tây, Trung Quốc dự tính phải huy động hơn 130.000 chiếc tăm để hoàn tất bức khảm cao 1,2 mét, rộng 0,6 mét có hình Phật Bà Quan Âm.

Sau khi hoàn tất công trình này, anh Chính sẽ tiếp tục thực hiện một tác phẩm tương tự nhưng kích thước lớn hơn, với mục đích cạnh tranh với nghệ sĩ Saimir Strati người Albani chức “vô địch khảm tăm” thế giới.


tranhghep 09


Đầu tháng 8/2007, Saimir Strati đã thực hiện bức khảm rộng 8 mét vuông của mình tại Trung tâm văn hóa quốc tế ở thủ đô Tirana, Albani với hơn 1 triệu cây tăm.

tranhghep 10

Theo Etoday và Jxnews (2008)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »