Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘phong cách’

Nhà cổ ở Huế

Tống Văn Thụy
Ảnh: Phan Gia Khánh và Lê Văn Thọ
Trích Nhà đẹp

Tháng ba, trời Huế vào xuân muộn. Có sống qua một mùa đông dài lê thê và ẩm ướt ở Huế mới thấy thêm chút nắng ấm hanh hao đầu mùa, chút hương hoa của trời đất cỏ cấy lúc giao mùa. Mời bạn cùng chúng tôi thả bộ một vòng thăm Huế.

Nét Huế đầu tiên bắt gặp có lẽ là nếp nhà. Cái ngôi nhà khung gỗ ẩn khuất trong vườn cây, nép mình sau hàng chè tàu, dâm bụt… cứ vấn vương hoài trong tôi.
Nhà cổ Huế vẫn còn đó đây ở miệt Kim Long, Nguyệt Biều, Bến Ngự, Vĩ Dạ… hay bên trong Thành Nội. Dù ở đâu, bố cục nhà cổ thường đồng nhất. Cổng chính đưa vào khuôn viên nhà thường chỉ có một lối đi (cửa phòng môn) như nhà An Hiên, Lạc Tịnh Viên…, bề thế hơn là cổng tam quan như Phủ Tuy Lý… Hai bên lối đi, chủ nhân trồng cây, hoa hoặc chè tàu. Cuối “ngõ hạnh” (chữ của Hoàng Phủ Ngọc Tường) là bình phong có nhiệm vụ che chắn. Sau bình phong, điểm xuyết có bể cạn, hòn non bộ, cây cảnh và hoa trái. Khuất kín bên trong góc nhà có khi là một lu nước nhỏ, chút âm tính cần thiết để làm trôi đi những nỗi lo toan bên ngoài.
Nhà nép mình trong vườn. Phía trước vườn thưa thoáng, đằng sau thì sum suê hơn. “Chuối sau cau trước”. Hàng rào phía sau thường là khóm tre dày chắn gió.
Con người, ngôi nhà và thiên nhiên như hòa quyện vào nhau, nên chỉ ở Huế mới có câu “sống như thảo dã” và hình như người Huế cũng có óc hưởng nhàn sớm (!)
Kim Long, từ 1636 là thủ phủ của Đàng Trong. Phủ Chúa gày xưa là một trong những nơi tập trung nhiều nhà cổ mà điển hình là nhà An Hiên.
Nhà vườn An Hiên được xây dựng từ 1895 bởi ông Hường Thập (Phạm Đăng Thập), cháu bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ. Năm 1920, chủ nhân bán lại cho Tùng Lễ. Đến năm 1936, ông bà Nguyễn Đình Chi – người phụ nữa đầu tiên đỗ Tú tài Tây tại Trung Kỳ – qua đời tháng 6/1977 tại đây. Hậu duệ hiện nay của ngôi nhà là ông Nguyễn Đình Châu.
Đến thăm nhà An Hiên, nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Đến đây như đi trong thời gian xưa, trở về với hồn dân tộc. Chỉ có Huế nơi cơm đùm trong lá sen, trái ớt chẻ ra thành hoa năm cánh mới có những khu vườn như vậy…”
Sau cơn lũ dữ tháng 11/1999, “Hoa trái quanh tôi” (1) vẫn xanh tươi trong vườn An Hiên.
Rất nhiều ngôi nhà cổ Huế tập trung tại Phú Mộng, Kim Long, trông ra nhánh sông Bạch Yến (sông Lấp). Đó là nhà anh Nguyễn Văn Trọng xây dựng cách đây 76 năm, nguyên của quan tri phủ Nguyễn Văn Phú, làm quan dưới triều Khải Định. Tại nhà số 3/2 Phú Mộng, Kim Long, rất tiếc dù đã cố gắng dò hỏi nhiều lần, chúng tôi vẫn không nắm được nguồn gốc ngôi nhà này.
Lạc Tịnh Viên, 65 Phan Đình Phùng – Huế, nhìn ra sông Bến Ngự (sông Lợi Nông) là nếp nhà tiêu biểu của nhà vườn Phủ đệ. Bốn phía nhà vườn được bao quanh bởi hàng chè tàu, cẩn, dâm bụt…
Cổng đưa vào nhà đắp nổi ba chữ Hán “Lạc Tịnh Viên”. Nhà được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 bởi Nguyễn Phúc Hồng Khẳng, con của Tùng Thiện Vương. Nằm ở trung tâm là nhà “Hy Trần Trai”, kiểu nhà rường ba gian hai chái, nền được tôn cao, thông thoáng. Nối với mái hiên “Hy Trần Trai” là “Nhà Nhân Hậu”, bốn bề không có vách, là nơi tiếp khách. Dọc hai bên là hai căn nhà xây dựng vào đầu thế kỷ 20: “Di Tâm Thích Thể Đường” (1901) và “Nhà Vấn Trai” (1910).
Đến Lạc Tịnh Viên, một trong những ngôi nhà được bảo quản tốt nhất Huế, bạn được thả mình trong cái thinh lặng, yên ả. Nếu may mắn, bạn còn được một phụ nữ, hậu duệ của Lạc Tịnh Viên, đón tiếp; nét Huế trong tà áo dài, giọng nói, phong thái khiêm cung mà đĩnh đạc…
Đến Phường Đúc, làng đúc đồng nổi tiếng ở hữu ngạn sông Hương, bạn nên ghé thăm nhà anh Nguyễn Hữu Thông, một nhà nghiên cứu văn hóa, ở số 164 Bùi Thị Xuân. Nhà vườn anh Thông phảng phất cái không khí miền trung du gò đồi Huế. Dân địa phương gọi là nhà cụ nghè Đường. Cụ là cháu nội ông Quản Lạc (Nguyễn Hữu Dược), người xây dựng ngôi nhà (1860 – 1866). Người Huế có câu “Lúa ông Khuyên. Tiền ông Quản lạc. Bạc ông Bồ Ghè” (2). Anh Nguyễn Hữu Thông là con của ông cụ nghè Đường.
Xuôi về Vỹ Dạ, đất các phủ – đệ, một trong những ngôi nhà rường được bảo quản gần như nguyên vẹn là nhà cụ Thượng Tôn Thất Gián, xây dựng muộn hơn (1937). Nhạc sĩ Tôn Thất Tiết, tác giả “Ngôi vườn thế giới bên kia” (Le jardin d’autre monde) đã lớn lên từ ngôi nhà vườn nhỏ này để bước vào ngôi nhà vườn lớn hơn của vũ trụ.
Loạt phóng sự ảnh về nhà cổ Huế chỉ là một cuộc dạo chơi, một chút tìm tòi với vài nét sơ phác về ngôi nhà Huế. Có quá nhiều nếp nhà cổ xưa độc đáo, tiêu biểu mà chúng tôi chỉ mới được nghe nói chứ chưa hề đặt chân đến. Đành hẹn một chuyến du xuân sau vậy.
Huế, 15/3/2000

(H1) Cổng Lạc Tịnh Viên, 65 Phan Đình Phùng, Huế.

(H2) “Nhà Nhân Hậu” (Lạc Tịnh Viên).

(H3) Bình phong Lạc Tịnh Viên.

(H4) Hàng hiên “Hy Trần Trai” (Lạc Tịnh Viên). Ngôi nhà rường cổ ba gian hai chái được xây dựng trên nền cao thông thoáng, nhìn ra sông Bến Ngự.

(H5) Nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên).

(H6) Nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên) xây dựng năm 1901, là nơi con cháu học hành.

(H7) Bàn thờ Phật (Lạc Tịnh Viên)
(H8) Hành hiên nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên).
Lạc Tịnh Viên – Ngôi nhà của cháu Nội Vua Minh Mạng

(H9) Hàng hiên nhà “Hy Trần Trai” (Lạc Tịnh Viên). Một trong những căn nhà rường được bảo quản tốt nhất ở Huế.
Nhà An Hiên – Từ cháu Bà Hoàng Thái Hậu đến người phụ nữa đầu tiên đỗ tú tài Tây tại Trung Kỳ

(H10) Nhà An Hiên (Kim Long) cổng vào

(H11) Mặt trước nhà

(H12) Nhà An Hiên – Bình Phong

(H13) Nhà An Hiên. Bàn thờ
(H14) Nhà An Hiên “Ngô Hạnh”

(H15) Nhà An Hiên. Phía bên trong.

(H16) Nhà An Hiên. Một góc nhà.
Nhà Thượng Thư Tôn Thất Gián

(H18) Bình phong nhà cụ Thượng Gián. Vĩ Dạ – Huế.
(H19) Một góc nhà rường Huế – Nhà Cụ Thượng Gián.

(H20) Mặt tiền nhà Cụ Thượng Gián.
(H21) Mô-típ trang trí bờ nóc. Nhà Cụ Thượng Gián.
Nhà Cụ Nghè Đường

(H22) Cổng vào nhà Cụ Nghè Đường,
nay là nhà anh Nguyễn Hữu Thông, 164 Bùi Thị Xuân – Huế.

(H23) Bên trong cổng vào
(H24) Sập gụ, bên trong nhà

(H25) Bên trong nhà.
(H26) Sân nhà
Nhà Tri Phủ Nguyễn Văn Phú

(H27) Nhà cổ vùng Phú Mộng – Kim Long,
nay là nhà anh Nguyễn Văn Trọng

(H28) Cổng vào nhà Tri Phủ Nguyễn Văn Phú.

(H30) Nhà anh Nguyễn Văn Trọng.
Tiền đường, Vì kèo Huế.

(H29) Phía trong nhà anh Nguyễn Văn Trọng.
Thời gian ở đây như ngừng lại.
(H31) Một góc nhà
————————–
(1) Tên bài bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về An Hiên.
(2) Ông Bồ Ghè là phiên âm tên một ông Tây, chủ hãng gạch bông ở Phường Đúc.

Tống Văn Thụy

Nguồn: Trích Nhà đẹp

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

86 Bộ tranh và bức tranh cổ Thời nhà Minh (1 – 42)

Paintings of Ming Dynasty (1368 – 1644)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Tìm hiểu một số hình ảnh biểu tượng trong hội họa TQ xưa

Ngày nay nghành gốm sứ TQ vẫn tiếp tục sản xuất các sản phẩm copy lại từ những nguyên mẫu cổ xưa hoặc sử dụng lối vẽ xưa trên các sản phẩm có dáng dấp cổ điển. Việc nắm bắt được ý nghĩa của các hình vẽ trang trí này sẻ giúp việc sưu tầm hoặc chơi đồ gốm sứ trở nên thích thú hơn. Tuy nhiên, nội dung của bài sưu tầm dưới đây cung cấp thông tin rộng lớn hơn chủ yếu về nghệ thuật hội họa TQ xưa, giải thích ý nghĩa một số tranh biểu tượng; còn trang trí hình vẽ trên gốm sứ chỉ là sao chép lại một phần nào đó của tranh nguyên bản, hiếm khi mang tính sáng tác.

Đối với loại tranh TQ cổ điển này, cái chủ đề với ý nghĩa biểu tượng thì quan trọng hơn phong cách hay kỹ thuật thể hiện (thuật ngữ chuyên môn gọi là kỹ pháp 技法). Tác giả có thể dùng công bút 工笔 (tức là lối vẽ tỉ mỉ, bất cứ vật gì cũng có đường viền thậm chí cọng cỏ hay chiếc lá, rồi tô màu lên); hoặc dùng ý bút 意笔 (tức là lối vẽ phóng khoáng, loại bỏ hoặc rất hạn chế đường viền, thậm chí một nét bút cũng thành lá lan hay cọng cỏ). Tác giả cũng có thể dùng màu sắc rực rỡ tươi thắm, hoặc màu sắc nhàn nhạt lạnh lẽo, thậm chí vẽ toàn mực đen (thuật ngữ gọi là mặc hoạ 墨畫). Dù sao, tất cả điều ấy cũng chỉ là những hình thức thể hiện đa dạng, mà mục đích chủ yếu là nhằm chuyển tải một ý nghĩa biểu tượng nào đó.

Có hai điểm nổi bật của loại tranh này. Thứ nhất, trong cuộc sống người ta thường gán cho một sự vật nào đó một ý nghĩa biểu tượng. Thí dụ: trúc là quân tử, mai là giai nhân, cây tùng và chim hạc ngụ ý trường thọ (tùng hạc diên niên 松鶴延年), v.v… Hoạ sĩ chỉ việc thể hiện nó bằng kỹ pháp riêng của mình. Đặc điểm thứ hai là thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người. Thí dụ bức tranh vẽ con cá. Chữ Hán ngư 魚 (cá) đồng âm [yú] (âm Bắc Kinh) với chữ 餘 (dư thừa, dư dật). Qua ý nghĩa biểu tượng này là niềm ao ước một cuộc sống dư dật, khá giả. Nếu vẽ 9 con cá, thì ước nguyện này càng mạnh mẽ. Chữ Hán cửu 九 (số 9) đồng âm [jiǔ] với chữ cửu 久(lâu dài, trường cửu). Cửu ngư 九魚 (9 con cá) phát âm [jiǔ yú] giống như cửu dư 久餘 (dư dật lâu dài), ngụ ý một ước mong được sống khá giả mãi. Điều này cũng giống như người Việt Nam sắp đặt dĩa trái cây chưng tết gồm mãng cầu, dừa xiêm, đu đủ, xoài với ước nguyện khiêm tốn «cầu vừa đủ xài» trong tiết xuân sang; bởi vì người Việt ở Nam Bộ phát âm «dừa» giống như «vừa», «xoài» giống như «xài». (Thật ra mong ước đó không khiêm tốn đâu, bởi vì ở đời biết thế nào mới là đủ). Tất nhiên sự so sánh này chỉ nhắm vào khía cạnh ngôn ngữ, không xét tới hình thức thể hiện.

Tranh của Đường Dần (đời Minh)

Sau đây chúng ta thử tìm ra một số hình ảnh biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc. Trước tiên, khi nói đến tranh thuỷ mặc 水墨 (thường bị đọc nhầm là thuỷ mạc) thì chúng ta thường liên tưởng ngay đến tranh sơn thủy. Đây là một mảng đề tài đặc sắc trong hội hoạ Trung Quốc. Hai chữ sơn thuỷ có ý nghĩa triết lý thâm trầm của chúng, không chỉ đơn thuần sơn 山 là núi non, thuỷ 水 là sông nước.

Khổng Tử từng nói rằng: «Kẻ trí vui chơi nơi sông nước, kẻ nhân vui chơi nơi núi non. Kẻ trí hiếu động, kẻ nhân trầm tĩnh. Kẻ trí vui vẻ, kẻ nhân trường thọ.» 知(智)者樂水, 仁者樂山, 知(智)者動, 仁者靜, 知(智)者樂, 仁者壽 (Trí giả nhạo thuỷ, nhân giả nhạo sơn, trí giả động, nhân giả tĩnh, trí giả lạc, nhân giả thọ.– Luận Ngữ – Ung Dã).

Sông nước trôi chảy, linh động biến dịch không ngừng, tìm về trùng dương mênh mông. Sự trôi chảy không ngừng này tượng trưng bản thể của Đạo. Khổng Tử có lần đứng trên bờ sông, nhìn nước chảy, giác ngộ lý lẽ ấy, nên ngài tán thán: «Ôi, trôi chảy thế này, ngày đêm nó không hề ngừng nghỉ !» 逝者如斯夫不舍晝夜 (Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ ! – Luận Ngữ – Tử Hãn).

Do đó, kẻ trí tuệ thấu đạt lý lẽ của sự vật, linh hoạt tiến triển mãi không ngưng trệ, cũng linh động như bản tính của nước. Kẻ nhân ái yên ổn với nghĩa lý mà dày dặn kiên cố vững bền, cũng tĩnh như bản tính của núi. Động và tĩnh nói về bản thể, mà vui vẻ trường thọ là nói về hiệu quả đạt được.

Người nhân ái và trí tuệ xưa nay hiếm. Trong cõi trần ai, ngay bản thân kẻ nhân và trí cũng không biết tìm đâu ra bạn tri âm tri kỷ. Không biết tìm đâu, nên mượn tranh sơn thuỷ để ký thác tâm tình, gởi gấm nỗi niềm. Nhưng triết lý của sơn thuỷ có lẽ là do giới thưởng ngoạn đời sau gán cho. Thuở xa xưa, chắc gì các hoạ gia đã nghĩ như thế.

Chủ đề nổi bật thứ hai là hoa điểu 花鳥 (hoa và chim chóc). Về hoa, các văn nhân Trung Quốc thường gán cho từng loại hoa một đức tính, một ý nghĩa tượng trưng văn học nào đó, và các họa sĩ đã tiếp thu toàn bộ những quan niệm này. Chẳng hạn Chu Đôn Di 周惇頤 đời Tống từng nói: «Trong các loài hoa, cúc là kẻ ẩn dật, mẫu đơn là kẻ phú quý và sen là bậc quân tử vậy.» 菊花之隱逸者也牡丹花之富貴者也蓮花之君子者也 (Cúc, hoa chi ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã).

Quan niệm cúc là kẻ ẩn dật có lẽ phát xuất từ Đào Tiềm 陶潛 tức Đào Uyên Minh 陶淵明 đời Tấn, một thi sĩ vĩ đại, chán cảnh làm quan luồn cúi, treo áo từ quan, hưởng thú điền viên, vui cảnh nghèo, thích uống rượu chơi cúc và nhàn du. Người đời khen ông là bậc ẩn dật cao khiết. Trong bài Ẩm Tửu 飲酒 của ông có nhắc đến hoa cúc: «Hái cúc dưới giậu đông, thơ thới nhìn núi Nam.» 採菊東籬下悠然見南山 (Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam Sơn). Người ẩn sĩ này uống rượu ngắm cúc để quên cảnh náo nhiệt, trầm luân trong đời, cho nên hoa cúc cũng là biểu tượng của bậc quân tử ẩn dật lánh đời vậy. Đào Tiềm từng thốt rằng: «Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh xa tình đời.» 秋菊有佳色裛露掇其英泛此忘憂物遠我遺世情 (Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ xuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình).

Người giàu có ưa chuộng màu sắc lộng lẫy rực rỡ của mẫu đơn. Mẫu đơn là loài hoa quý hiếm, chỉ có bậc quyền quý đài các mới chơi hoa này. Cho nên mẫu đơn là biểu tượng của sự giàu sang phú quý.

Hoa sen là cốt cách của bậc quân tử. Đẹp và ngát hương, gần bùn mà chẳng tanh bùn. Dù cuộc đời ô trọc, nhân tình ấm lạnh, bậc quân tử vẫn giữ được tiết tháo của mình, thơm tho và tinh khiết như đóa sen kia.

Tranh của Từ Vị (đời Minh)

Cổ nhân gọi tùng, trúc, mai là ba người bạn mùa lạnh (tuế hàn tam hữu 歲寒三友), bởi vì ba loại cây này dù mùa sương tuyết vẫn tươi tốt trong khi những loại cây khác hầu như cằn cỗi héo hon. Tính chịu lạnh của tùng, trúc, mai tượng trưng đức tính nhẫn nại của người quân tử, tự cường mãi không thôi, luôn trau giồi tài đức trước nghịch cảnh cuộc đời.

Mai, lan, cúc, trúc thường được gộp chung thành một cụm, xem như biểu tượng của bậc quân tử, nên cũng được gọi là «tứ quân tử» 四君子(bốn người quân tử). Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo. Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, vô tâm, đầy tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Hơn hai ngàn năm trước, thi nhân Khuất Nguyên thậm chí còn so sánh hoa lan với mỹ nhân rằng: «Thu lan ơi mườn mượt, cọng tía cùng lá xanh. Đầy nhà toàn người đẹp, riêng với ta đưa tình.» 秋蘭兮清清綠葉兮紫莖滿堂兮美人忽獨與余兮且成 (Thu lan hề thanh thanh, lục diệp hề tử hanh. Mãn đường hề mỹ nhân, hốt độc dữ dư hề thả thành). Hoa cúc trác việt siêu phàm, là biểu tượng của bậc quân tử ở ẩn mà trên đây đã đề cập. Đời Tống có ẩn sĩ Lâm Bô 林逋 yêu hoa mai đến độ không cần có vợ con, chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôi hạc. Người đời tặng cho ông câu mai thê hạc tử 梅妻鶴子 (hoa mai là vợ, chim hạc là con). Yêu trúc có thể kể đến Tô Thức. Ông nói: «Thà ăn không có thịt chứ không thể ở thiếu trúc.» 寧可食無肉不可居無竹 (Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc).

Không chỉ hoa, mà quả cũng mang ý nghĩa biểu tượng nữa. Chẳng hạn quả đào tượng trưng sự trường thọ; thí dụ tranh «Đào hiến thiên xuân» 桃獻千春 (đào dâng nghìn tuổi xuân) vẽ ông lão cầm quả đào. Quả lựu tượng trưng cho sự đông con cái; thí dụ tranh «Lựu khai bách tử» 榴開百子(quả lựu mở sinh trăm con) vẽ ông lão cầm quả lựu bóc dở, cho trông thấy hạt. Quả phật thủ tượng trưng cho phúc; thí dụ tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) là ngụ ý: đa phúc, đa thọ, đa nam tử. Quả quít tượng trưng sự tốt lành (cát). Ngay trong đời sống hằng ngày người ta cũng thích biếu xén nhau quít.

Hoa thường được vẽ chung với điểu. Chim hạc tượng trưng cho sự trường thọ. Người Trung Quốc tin rằng hạc sống đến ngàn năm (hạc thọ thiên tuế 鶴壽千歲). Hạc thường được vẽ chung với cây tùng (cũng ngụ ý trường thọ), nên tranh «Tùng hạc diên niên» 松鶴延年 (tùng và hạc sống lâu) được dùng để chúc thọ.

Thi nhân cho rằng chim én là loài chim nhỏ có cảm tình, mùa thu và mùa đông bay đi tìm cái ấm áp của miền nhiệt đới và mùa xuân quay về tổ cũ. «Xuân phong yến hỉ» 春風燕喜 (chim yến vui trong gió xuân) mô tả một đôi én về tổ trong cành liễu xanh phất phơ hay cành đào hồng thắm. Một bức tranh với đôi én hoặc một bức tranh với cặp hồng nhạn (vịt trời) hay đôi uyên ương bơi lội trong ao sen chính là biểu tượng tình nghĩa vợ chồng, gia đình khang lạc.

SONG THỌ – tranh Tề Bạch Thạch

Tranh «Thập toàn báo hỉ» 十全報喜 vẽ mười con chim khách đậu trên phiến đá và trên cây tùng hót líu lo báo tin mừng (chim khách được tin tưởng là báo điềm lành nên tục gọi nó là «hỉ thước» 喜鵲), tranh để chúc sự nghiệp thành công.

Dưới cội mai vàng (biểu tượng của phúc) là đôi chim cun cút hoặc một đàn gà con cùng gà trống gà mái cũng là biểu tượng của ân nghĩa tào khang, quan hệ nhân luân. Tranh phụ đề «ân nghĩa tại sinh tiền» 恩義在生前 (ân nghĩa đối với nhau lúc còn sống) thật là cảm động và thâm trầm biết bao! Con gà mái với bầy con tượng trưng cho gia đình đông đúc, đầm ấm.

Con công tượng trưng cho sự bình an thịnh vượng. Chim phượng (thường gọi gộp là phượng hoàng, thực ra phượng 鳳 là con trống, hoàng 凰 là con mái) là linh điểu, tương truyền chim phượng xuất hiện là thánh nhân ra đời. Nhưng chim loan và chim phượng thì tượng trưng duyên nợ vợ chồng. Tranh «loan phượng hoà minh» 鸞鳳和鳴 (chim loan và chim phượng hoà chung tiếng hót) ngụ ý sự hoà thuận êm ấm của vợ chồng.

Một số động vật cũng có ý nghĩa biểu tượng. Rồng (long 龍 ), một con vật huyền thoại, là biểu tượng của vương quyền. Kỳ lân (kỳ 麒 là con đực, lân 麟 là con cái) tượng trưng nhân ái và thái bình. Con rùa (quy 龜) cũng là thần vật, tương truyền nó sống tới ngàn năm, nên tượng trưng sự trường thọ.

Ngựa là một chủ đề quen thuộc. Dân gian cho rằng ngựa có đức tính trinh tiết, ý thức rõ quan hệ truyền chủng, không vi phạm cái mà luân lý loài người gọi là loạn luân. Như Dịch Kinh từ đời Chu đã ca ngợi là «Tẫn mã chi trinh» 牝馬之貞 (đức trinh tiết của ngựa cái). Ngựa còn có đức tính trung thành, một đức tính mà Nho gia rất coi trọng trong các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, ngựa từ thời xa xưa có giá trị rất cao. Trong chiến tranh ở Trung Quốc cổ đại, ngựa giữ vai trò rất quan trọng có thể gọi là nền tảng của sức mạnh quân sự. Các kỵ binh du mục trên lưng các chiến mã thần tốc và dũng mãnh luôn là mối kinh hoàng cho binh quân của Trung Quốc. Trong giao thông vận tải thì ngựa là phương tiện nhanh chóng và hữu hiệu. Từ đời Thương người ta đã biết đánh xe ngựa tới nơi xa xôi để buôn bán. Ngoài giá trị quan trọng của ngựa trong vận tải và quân sự, người ta còn tìm thấy giá trị y học của ngựa, được mô tả trong Bản Thảo Cương Mục (xuất bản 1596) nữa. Cứ xem đời nay mà xét, ngày nay người ta xem những xe hơi hiện đại sang trọng là biểu tượng của giàu có thì ngày xưa ngựa chính là biểu tượng đó. Nói chung, ngựa xuất hiện trong tranh Trung Quốc như là biểu tượng của sự mau chóng và thành đạt. Thí dụ bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là «mã đáo thành công» 馬到成功 thể hiện qua một bầy ngựa phi nước đại gió bụi mịt mù. Nguyên ý câu này là «Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công» 旗開得勝馬到成功 (Cờ phất [làm hiệu thì] chiến thắng, ngựa quay về [báo tin] thành công). Ngày xưa khi xuất binh phải phất cờ hiệu, mà cờ đã phất rồi thì phải chiến thắng; tướng soái khi lấy đầu tướng giặc, chiến mã quay về tất báo tin thành công. Ý nghĩa câu «mã đáo thành công» ngày nay chỉ còn tượng trưng là tốc chiến tốc thắng. Và một bức tranh «mã đáo thành công» làm quà khai trương cho một cửa hiệu chỉ đơn giản tương tự như là «khai trương hồng phát» (mở cửa tiệm thì phát đạt lớn).

Có những vật tưởng như bình thường nhưng cũng có ý nghĩa đặc biệt, thí dụ con cóc tía (thiềm thừ 蟾蜍) tượng trưng cho sự giàu có, can đảm, và cái gì quý báu, khó kiếm ra được. Con bướm (hồ điệp 蝴蝶) tượng trưng sự trùng điệp. Con mèo tượng trưng sống lâu. Con cá chép (lý ngư 鯉魚, cá hoá long, cá vượt vũ môn) tượng trưng thi đỗ, v.v…

Rồi sự kết hợp nhiều thứ khác nhau cũng có ngụ ý tổng hợp. Thí dụ hoa kết hợp với điểu, thảo trùng, cá, đá (tượng trưng sự vững chắc) và các khí vật khác (thí dụ cái bình hoa, ngụ ý an bình) làm tăng thêm thi ý cho tranh, thường đó là lời chúc nguyện cát tường.

Mẫu đơn phối hợp với cá lội là biểu tượng «Phú quý hữu dư» 富貴有餘 (phú quý dư dật) là lời chúc nguyện tốt đẹp vào ngày đầu năm. Mẫu đơn vẽ chung với khổng tước (chim công) mang tên «Khổng tước khai bình» 孔雀開屏 là tranh chúc mừng khai trương cửa tiệm. Hoa xuân điểm thêm vài cánh bướm, tạo sinh động cho tranh. Bướm ngụ ý là trùng điệp. Tranh mẫu đơn điểm thêm cánh bướm ngụ ý phú quý trùng điệp 富貴重疊. Hoặc trên cánh hoa vẽ con dế, cho ta hình dung tiếng thu đang về rồi với tiếng nhạc để râm ran đâu đây.

Như trên đã nói, thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người.

– Bông hoa, chữ Hán là hoa 花 phát âm [huā] gần giống chữ hoa (vinh hoa) [huá].

– Hoa sen, chữ Hán là liên phát âm [lián] giống như chữ liên (liên tục) [lián]; hoặc chữ Hán là phát âm [hé] giống như chữ hoà (hoà hợp) [hé].

– Quả thị hay cành thị, chữ Hán là thị phát âm [shì] giống như chữ sự (sự việc) [shì].

– Quả lựu, chữ Hán là lựu phát âm [liú] giống như chữ lưu 流 (trôi chảy, lưu truyền) [liú].

– Cây phong, chữ Hán là phong 楓 phát âm [fēng] giống như chữ phong 封 (ban phong) [fēng].

– Cây ngô đồng, chữ Hán là đồng 桐 phát âm [tóng] giống như chữ đồng 同 (cùng với) [tóng].

– Cành mai, chữ Hán là mai 梅 phát âm [méi] gần giống chữ mỗi (mỗi thứ, mỗi người) [měi].

– Cành trúc, chữ Hán là trúc 竹 phát âm [zhú] gần giống chữ chúc (chúc tụng) [zhù].

– Con gà, chữ Hán là phát âm [ji] gần như chữ cát 吉 (tốt lành) [jí].

– Con cá, chữ Hán là ngư phát âm [yú] giống như chữ (dư thừa, dư dật) [yú].

– Con dơi, chữ Hán là bức 蝠 phát âm [fú] giống như chữ phúc (hạnh phúc) [fú]. Vẽ 5 con dơi tức là ngũ bức 五蝠 , phát âm [wǔ fú] giống như ngũ phúc 五福 . Con dơi vẽ lộn ngược tức là đảo bức 倒 蝠 , phát âm [dào fú] giống như đáo phúc 到福 (phúc đến).

– Con mèo, chữ Hán là miêu 猫 phát âm [máo] gần giống chữ mạo (già 80 tuổi) [mào].

– Con bướm, chữ Hán là điệp 蝶 phát âm [dié] giống như chữ điệt (già 70 tuổi) [dié] và chữ điệp 疊 (trùng điệp) [dié].

– Con hươu, con nai, chữ Hán là lộc 鹿 phát âm [lù] giống như chữ lộc 禄 (bổng lộc) [lù].

– Con vượn, con khỉ, chữ Hán là hầu 猴 phát âm [hóu] giống như chữ hầu 侯 (tước hầu) [hóu].

– Cái quạt, chữ Hán là phiến 扇 phát âm [shàn] giống như chữ thiện (tốt lành) [shàn].

– Ống sáo, chữ Hán là sinh 笙 phát âm [shēng] giống như chữ sinh (sinh nở) [shēng] và chữ thăng 升 (bay lên) [sheng].

– Cái lục bình, chữ Hán là bình phát âm [píng] giống như chữ bình 平 (bình an) [píng].

– Cái mũ, cái mão, chữ Hán là quan 冠 phát âm [guān] giống như chữ quan 官 (ông quan) [guan].

– Ngọc như ý đúng ý nghĩa là như ý 如意 [rú yì].

– Số 9, chữ Hán là cửu 九 phát âm [jiǔ] giống như chữ cửu 久 (lâu dài) [jiǔ].

– v.v…

Phối hợp nhiều thứ với nhau, tranh vẽ mang ý nghĩa biểu tượng tổng hợp. Thí dụ như:

1. Tranh vẽ quả đào với 5 con dơi ngụ ý Ngũ Phúc Lâm Môn 五福臨門. Ngũ Phúc là: phú 富(giàu), thọ 壽 (sống lâu), khang ninh 康寧 (khỏe mạnh), du hiếu đức 攸好德 (yêu nhân đức), khảo chung mệnh 考終命 (chết êm ái).

2. Tranh vẽ quả phật thủ với con bướm ngụ ý sống lâu đến 70-80 tuổi, vì quả phật thủ tượng trưng cho thọ hay phúc, con bướm (điệp) ngụ ý già 70 tuổi (điệt 耋 ) hay trùng điệp (điệp 疊), tức là phúc thọ trùng điệp 福壽重疊.

3. Tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) ngụ ý tam đa 三多: đa phúc 多福 (nhiều phúc), đa thọ 多壽 (rất thọ), đa nam tử 多男子(nhiều con trai).

4. Tranh vẽ quả phật thủ, quả đào, quả lựu với 9 miếng ngọc như ý ngụ ý «tam đa cửu như» 三多九如 nghĩa là chúc cho phúc thọ, con cháu đầy đàn, bền vững.

5. Tranh vẽ quả lựu đã bóc vỏ một phần để lộ hạt ra ngụ ý «lựu khai bách tử» 榴開百子 (lựu mở ra sinh trăm con).

6. Tranh vẽ quả lựu với 5 cậu bé con ngụ ý mong cho con cái sau này đều hiển đạt như 5 con của ông Đậu Yên Sơn đời Tống.

7. Tranh vẽ quả lựu 榴 (ngụ ý lưu truyền 流) với cái mũ (ngụ ý tước quan 官), cái đai lưng (đái 帶), cái thuyền (thuyền , đọc giống truyền 傳 ) ngụ ý mong cho «Quan đái truyền lưu»官帶傳流 (đai lưng của quan được lưu truyền, tức là được phong quan tước nhiều thế hệ trong gia tộc).

8. Tranh vẽ hai quả thị (ngụ ý sự việc) với ngọc như ý là mong «Sự sự như ý» 事事如意 (vạn sự như ý).

9. Tranh vẽ cây ngô đồng 桐 (đồng âm với đồng 同 : cùng với) với con hươu (lộc 鹿 , đồng âm với lộc 禄: bổng lộc) và chim hạc 鶴 (trường thọ) là ngụ ý «Lộc thọ đồng lộc hạc» 禄壽同鹿鶴 (được bổng lộc và sống lâu như hươu, hạc).

10. Tranh vẽ chim hỉ thước 喜鵲 (vui vẻ) đậu cây ngô đồng 桐 (đồng âm với đồng 同 : cùng với) là ngụ ý «đồng hỉ» 同喜 (mọi người cùng vui vẻ).

11. Tranh vẽ đứa trẻ cỡi trên lưng con kỳ lân tay cầm bông sen (liên 蓮 ) và ống sáo (sinh 笙) là ngụ ý «Liên sinh quý tử» 連生貴子 (liên tiếp sinh quý tử).

12. Tranh vẽ 4 đứa trẻ: đứa cầm cành táo (tảo , đồng âm với tảo 早: sớm), đứa cầm ống sáo (sinh 笙 ), đứa cầm cái ấn quan văn, đứa cầm cái kích quan võ là ngụ ý mong: sớm sinh con cái sau này thành quan văn hay quan võ.

13. Tranh vẽ đứa trẻ ăn mặc sang trọng (phú 富), cổ đeo cái khánh (đồng âm với khánh 慶, hiểu là may mắn hạnh phúc) đang ngắm bầy cá vàng (ngư 魚, hiểu là dư thừa) là ngụ ý mong: giàu có, đông con, hạnh phúc có thừa.

14. Tranh vẽ chim hỉ thước 喜鵲 đậu cành mai 梅 (đồng âm với mỗi : mọi người) cành trúc (đồng âm với chúc 祝: chúc mừng) là ngụ ý mong cho mọi người đều vui vẻ.

15. Tranh vẽ trúc mai 竹梅 ngụ ý mọi người may mắn.

16. Tranh vẽ mai, trúc với con mèo và con bướm là ngụ ý mong mọi người sống lâu đến 70-80 tuổi.

17. Tranh vẽ mẫu đơn 牡丹 (phú quý) với con gà (雞 đồng âm với cát 吉: tốt lành) ngụ ý «phú quý cát tường» 富貴吉祥.

18. Tranh vẽ con khỉ (hầu 猴) trèo cây phong (phong 楓) có cái ấn cột vào cành cây ngụ ý «ấn phong hầu» 印封侯, tức là được thăng quan tiến chức nói chung.

v.v…

Trên đây là một số minh hoạ tiêu biểu. Tóm lại, ý nghĩa biểu tượng của loại tranh (cát tường) này cho thấy ba chủ ý của tác giả: 1- gởi gấm ý chí; 2- ước nguyện mọi tốt lành cho bản thân; 3- và cầu chúc hạnh phúc cho người khác. Với chủ ý thứ ba, các bức tranh này thường được người ta làm quà tặng nhau vào những dịp mừng thọ hay những dịp đặc biệt như ngày đầu năm, mà những lời chúc nguyện rồi sẽ như chồi non lộc mới nảy nở thành những đoá hoa rực rỡ tươi thắm trong tiết xuân sang.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Hình tượng ngựa trên gốm cổ Việt Nam

Xem hình
Ngựa trên gốm cổ tàu Hội An

Gốm cổ Việt Nam rất phong phú, đa dạng không chỉ bởi hình dáng, màu men mà còn bởi các đồ án hoạ văn trang trí. Những đồ gốm vẽ hình chim, cá, thú thường là những phẩm vật mang tính nghệ thuật, có giá trị kinh tế cao, và dường như nó được sản xuất phục vụ cho tầng lớp trên của xã hội đương thời hay là để xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.

Trong vô số đồ gốm hoa lam và đồ gốm vẽ màu của Việt Nam thế kỷ 15 được tìm thấy trên con tàu đắm dưới lòng đại dương ở gần đảo Cù Lao Chàm (Hội An) năm 1997-2000, có khá nhiều loại gốm trang trí vẽ hình chim, thú.
Trong đó đáng lưu ý nhất là những đồ gốm vẽ hình con ngựa. Ngựa được vẽ tưng bừng và sống động trên những chiếc Kendi (loạI bình rượu có vòi hình bầu vú), trên những vò rượu lớn hay trên bình tỳ bà và các loại đĩa lớn. Hình ngựa được diễn tả trong nhiều tư thế khác nhau: đang phi nước đại hay đang bay trong làn mây xanh hoặc đang rong ruổi trên chặng đường dài cùng những ông quan đội mũ cánh chuồn… Trên nhiều đồ gốm cao cấp khác, chúng ta cũng bắt gặp hình ảnh người cưỡi ngựa, phía sau có người hầu. Trên một vò rượu sành lớn, mà hiện nay đang được coi là phẩm vật cao quý của Thổ tù Đinh Công Kỷ, vị quan lang cai quản xứ Mường Động ở vào thời Lê (thế kỷ 17) cũng chạm khắc cảnh quan quân cưỡi ngựa rất sinh động.

Những đồ gốm trang trí, hình ngựa thường được xem là những đồ vật quý, vì hình dáng của nó thường rất đẹp. Hơn nữa trong thời kỳ cổ đại, con ngựa là đề tài rất được thị trường ưa chuộng. Người ta thích mua những đồ vật trang trí đẹp, nhưng mang tính văn hoá và hàm chứa những giá trị tư tưởng. Ngựa là con vật như vậy.

Con ngựa – Trung Quốc gọi là Mã, Nhật Bản gọi là Uma. Ấn Độ, tên Phạn của nó là Asu có nghĩa là “mau lẹ”, còn tên Ariăng của nó là Asuba có nghĩa là “chạy”. Trong cuộc sống đời thường, ngựa là con vật kéo xe hoặc cưỡi, dùng trong chiến trận; săn bắn và du hành, có nơi dùng trong lao động nông nghiệp. Trong quan niệm cổ xưa, ngựa là con vật có bản tính mau lẹ, hăng hái, được xếp dưới nguyên lý Dương của tự nhiên, và được coi là biểu trưng cho yếu tố Lửa. Tốc độ của ngựa được so sánh với sự di chuyển của Mặt Trời. Chính vì đặc trưng này mà người ta dùng biểu tượng ngựa để tượng trưng cho Mặt Trời. Có nơi, ngựa là vật hiến tế trong tín ngưỡng thờ thần Mặt Trời.

Trong các sử thi Ấn Độ đều thấy nói nhiều đến tín ngưỡng thờ cúng Mặt Trời, tục này sau đã lan truyền sang châu Âu và châu Á. Sự mau lẹ của con ngựa cùng với sức mạnh và năng lực có thể đi được chặng đường rất xa của nó khiến cho người ta gán cho nó những tên gọi như Gío Tây, Chân Mau, Tia Chớp, Thiên Lý Mã, Phi Mã…Phi Mã là con ngựa Ấn Độ tên là Assa Batanan, nó là con “ngựa quý, thân trắng tuyền và đầu màu đen, có sức mạnh kỳ lạ, bay trong không trung”. Vì đặc tính này, ở Ấn Độ và nhiều nước khác, người ta đã thể hiện hình ảnh ngựa trong nghệ thuật với những đôi cánh như thiên thần, chẳng hạn như hình chạm khắc Budda Gaya trong các điện thờ Hán ở bên Trung Quốc.

Người Phương Tây quan niệm rằng ngựa có cánh xuất phát từ con ngựa Pôgase có cánh của thần thoại Hy Lạp. Trên đồ gốm cổ Việt Nam cũng trang trí những hình ngựa có cánh. Những con ngựa này được diễn tả trong tư thế đang bay trong không trung. Như thế, con ngựa trong nghệ thuật gốm Việt Nam cũng hoá thân vào huyền thoại, và ít nhiều nó đã mang màu sắc tôn giáo như con ngựa trong văn hoá Ấn Độ hay văn hoá Trung Quốc.

Cư dân Hồi giáo ở Đông Nam Á cũng có tục thờ ngựa, họ coi ngựa là con vật linh thiêng. Có lẽ vì tín ngưỡng này mà đồ gốm vẽ ngựa của Việt Nam rất được cư dân Hồi ưa chộng. Theo một số tài liệu nước ngoài, đồ gốm Việt Nam thế kỷ 14 và 15 không những đã xâm nhập vào đời sống sinh hoạt cộng đồng cư dân HồI, mà còn được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ có tính cách linh thiêng. Những đồ gốm này được đánh giá cao, đến nỗi sở hữu gốm được coi như tiêu biểu cho cương vị xã hội, và được lưu truyền cho các đời sau như là những đồ gia bảo. Đối với hiện vật dùng trong nghi lễ, giá trị đồ gốm tuỳ thuộc vào những gì có liên quan đến yếu tố linh hồn và tổ tông hơn là sự hoàn hảo về mặt kỹ thuật. Đây cũng có thể là lời giải đáp cho sự hiện diện của nhiều đồ gốm vẽ ngựa trên con tàu đắm Hội An mà tôi đã nêu trên.

Theo quan niệm của Ấn Độ, ngựa là một trong những chòm sao của hoàng đạo phương Tây, nó được hình tượng hoá qua người bắn cung Sagittarius xuất hiện ở vòng cung thứ chín dưới dạng hình nhân mã, cũng tương tự như cung ngọ trong mười hai cung của phương Đông, mỗi cung tượng trưng cho một con vật (Tý, sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Mùi…), và mỗi con vật không chỉ biểu hiện cho một năm mà còn biểu hiện cho ngày và giờ.

Ở Phương Đông cũng như phương Tây, ngựa thường được gán cho những phẩm chất của sự thanh khiết, sự cao quý và sự khôn ngoan. Đặc biệt ở Trung Quốc người ta rất coi trọng ngựa, đánh giá nó rất cao vì nó liên quan đến việc thi cử. Các văn nhân chuẩn bị cho môn đồ của mình đi thi được gọi là “mã sư”, nơi giảng dạy gọi là “ốc mã”, còn bản thân các học trò được gọi là “mã sinh”. Dưới thời Lê Sơ ở Việt Nam, các học trò trường Quốc Tử Giám cũng được gọi là mã sinh, và khi họ đỗ tiến sĩ thì được vua ban thưởng và cho cuỡi ngựa về thăm quê (vinh quy bái tổ). Trên một số đồ gốm cổ Việt Nam cũng tái hiện đề tài “vinh quy bái tổ”, biểu đạt hình ảnh một tân quan ngồi trên lưng ngựa, xung quanh có người hầu cầm lọng hay cầm cờ xí. Trên tranh Đông Hồ cũng có bức tranh vinh quy bái tổ như trên đồ gốm.

Như vậy, từ quan niệm cổ xưa, qua hình tượng con ngựa trang trí trên đồ gốm cổ, ta có thể thấy ngựa bao giờ cũng giữ vị trí quan trọng trong đờI sống của con người. Nhạy cảm, nhanh nhẹn và thông minh-ngựa không chỉ là người bạn đường của con người mà là người bạn chí tình. Vì đức tính quý báu này, ngườ ta đã lấy hình ảnh con ngựa để ẩn dụ những ý tưởng mang tính nhân văn sâu sắc. Nhà tiên tri Môhamét đã diễn tả một cách khéo léo vị trí của ngựa trong đời sống của con người như sau: “Ngựa là nguồn hạnh phúc và nguồn an ủi giàu có đối với con người. Trên lưng Ngươi (ngựa) là chỗ ngồi của sự danh giá và thân Ngươi là sự giàu có. Và mỗi hạt thóc cho ngươi sẽ làm cho kẻ phạm tội được hưởng ân huệ khoan dung”.

Như thế, từ con vật đời thường, với bản tính tốt đẹp mà con người đã gán cho nó, thần thánh nó, huyền thoại nó – ngựa đã trở thành hình tượng nghệ thuật, trở thành con vật linh thiêng, hoá thân vào đời sống văn hoá tâm linh, và thăng hoa vào nền nghệ thuật của dân tộc Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.



(Theo Viện khảo cổ học Việt Nam)

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Tìm hiểu và vận dụng phong cách Nhật trong thiết kế nội thất

Nội thất Nhật Bản thiên về sử dụng các tông màu trung tính , tự nhiên để tạo một phông nền đơn giản mà trên đó ta có thể cảm giác về sự sắp xếp các hình dạng hình học có thứ tự của cấu trúc hoặc các chi tiết kiến trúc . Thêm vào đó , những sắc màu tự nhiên làm giảm thiểu những sự rối rắm vốn rất cần thiết trong việc tạo nên một phong cách Á Đông và những triết lý giản dị nhưng sâu sắc của nó về cuộc sống .
Màu sắc Nghệ thuật phương Đông thường trong trẻo . Không giống như phương Tây thường sử dụng các màu sắc hoà trộn và ứng dụng các cải tiến khác nhau , nghệ thuật phương Đông thường nguyên mẫu .. Nghệ thuật phương Tây thường phức tạp , trong khi đó phương Đông hướng đến cái đơn giản , mạnh mẽ và sinh động . Màu đen đối với phương Tây ko mang ý nghĩa là một màu , nhưng rất quan trọng trong thiết kế nội thất phương Đông . Xét về mặt thị giác , màu đen xác định hình thể và sắp xếp các cấu trúc hình học trong không gian một cách mạnh mẽ . Chẳng hạn trong trường hợp các khung gỗ đen kết hợp chung với nền giấy trắng trên tấm vách ngăn kiểu Nhật ( shoji ).Ý niệm đầu tiên về một không gian nội thất Nhật Bản thường là một sự sắp xếp các đường thẳng vuông góc giao cắt nhau . Trong sự tương phản đó ,các vật thể làm điểm nhấn đã xuất hiện và chặn ngang dòng chảy của thị giác . Khi có một vật trưng bày nào đó trong một không gian nội thất Nhật Bản , nó thường nổi bật lên trong sự thể hiện độc lập và mạnh mẽ về hình thể ,màu sắc hoặc là chất liệu đặc biệt .Một số chất liệu thường xuất hiện trong những thiết kế nội thất kiểu Nhật là gỗ tuyết tùng , giấy , gỗ thích , tre , đá và những vật dụng đan lát . Cũng có thể đi kèm một số vật trang trí khác như vải lụa , chiếu tatami và những bộ kimono và obi được may thêu rất công phu

Một góc sinh hoạt điển hình kiểu Nhật với bàn gỗ thấp và một hibachi ở giữa

Một góc sinh hoạt điển hình kiểu Nhật với bàn gỗ thấp và một hibachi ở giữa

Văn hoá Nhật tìm kiếm những sự tương phản cân bằng với nhau trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống , và nội thất cũng không ngoại lệ . Nội thất được hoàn thiện với sự tương phản cao độ và một sự cân bằng hoàn hảo . Ví dụ những mặt sàn đánh bóng đi cùng với các thảm trải thô dày , những khối hộp trơn nhẵn được trưng bày trên những bàn gỗ thô nhám , hoặc sỏi trắng nổi bật trên những gờ đá granite đen bóng quanh một chiếc chậu tròn . Những chiếc đèn treo hình tròn nổi bật lên giữa những đường ngang dọc góc cạnh của căn phòng .Trong những ngôi nhà Nhật Bản cũng thường xuất hiện các hốc tường trang trí gọi là tokonoma . Những vật thể được đặt ở đây thường chia làm hai loại : Những vật dụng có hình dạng nguyên mẫu , hoặc tự nhiên được sắp xếp tạo thành một nhóm . Cũng có thể là một không gian được sắp xếp có ý đồ bởi một số ít các vật dụng , ví dụ như những cây cọ thư pháp cắm trong ống , và những hòn sỏi trắng đựng trong một chiếc đĩa .Các trưng bày kiểu Nhật bản thường có thể thay đổi quanh năm . Một cái hốc tường có thể đặt một bình hoa phong cách ikebana , hoặc một chậu bonsai , hoặc một bức thư pháp , và cũng có thể là một bộ ấm trà . Chúng thường phản ánh các mùa trong năm , các dịp lễ hoặc tuỳ theo các đối tượng khách viếng . Và cách trưng bày tối giản này thể hiện được sự khéo léo và tinh tế cao độ . Theo quan niệm này , ít tức là nhiều , thứ tự sắp xếp là một sự hài hoà , có đủ không gian cho mọi thứ và mọi thứ đều ở đúng vị trí của nó.

Một kiểu tokonoma với các tác phẩm nghệ thuật như bình gốm , thư pháp

Một kiểu tokonoma với các tác phẩm nghệ thuật như bình gốm , thư pháp Các gợi ý cho những người yêu thích phong cách trang trí nội thất Nhật Bản :

Các gợi ý vận dụng cho những người yêu thích phong cách trang trí nội thất Nhật Bản :

– Hãy loại bỏ những vật dụng lặt vặt và các đồ nội thất kích cỡ lớn vì tính chất quan trọng nhất của không gian Nhật Bản là đơn giản . Hãy sử dụng những vật dụng thật cần thiết ,đơn giản và nhiều chức năng .

– Các vật trưng bày thường ít về số lượng , hình dạng đặc biệt và có tính tương phản cao được sắp xếp có thứ tự và mang tính bất đối xứng .

– Hãy tạo các view nhìn ra các khoảng mở với sân vườn hoặc atrium rộng thoáng cùng với các bàn gỗ thấp và nệm ngồi .

– Nếu bạn muốn chia nhỏ một không gian riêng tư hơn trong một căn phòng , bạn có thể sử dụng các vách ngăn shoji nhẹ khung gỗ dán giấy , khiến cho căn phòng của bạn trở nên tiện dụng hơn , chiếu sáng và thông thoáng tốt hơn . Đồng thời căn phòng cũng trở nên kịch tính và mang dáng dấp Á Đông hơn.

– Có thể sử dụng các màu : đen , đỏ son , màu chàm , màu xanh lá hoặc màu vàng để làm sống động các không gian khác nhau trong căn nhà của bạn .

Bạn có thể sử dụng một vài vật trang trí thuần Nhật như sau :

– Hibachi : Lò than thường được làm thủ công , có thể di chuyển được , thường sử dụng trong những ngôi nhà truyền thống để sưởi ấm , hâm rượu sake và nấu nước pha trà . Nó thường là trung tâm của các sinh hoạt gia đình bạn bè .

– Kimono : đôi khi được các hoạ sĩ phương Đông thể hiện như một bức tranh . Áo cưới kimono và quạt giấy được decor đặc biệt rất có giá trị nghệ thuật .

– Obi: những tấm thắt lưng đi kèm với kimono này có thể dùng để trang trí bàn , hoặc treo thành nhóm ở đầu giường .

– Thùng rượu sake có thể sử dụng như chân đèn , chậu cây , tuỳ vào kích thước .

– Những con diều Nhật nhiều màu sắc sống động có thể trang trí cho các vách ngăn phòng tắm hoặc trang trí trần , tường cho phòng trẻ em .

Một phòng ngủ Nhật Bản với màu sắc mạnh mẽ và hiện đại

Một phòng ngủ Nhật Bản với màu sắc mạnh mẽ và hiện đại

Phong cách Nhật Bản trong thiết kế nội thất vẫn phảng phất nét chậm rãi và điềm tĩnh như thế trong suốt nhiều thế kỷ qua . Đã có nhiều sự phát triển về vật liệu và kỹ thuật nhưng tinh thần của không gian Nhật Bản vẫn không thay đổi nhiều . Trong thời đại của quá nhiều thông tin và áp lực , một không gian sống như vậy sẽ khiến cho nhiều người có thể tìm thấy sự yên bình và nhàn nhã trong tâm hồn .

Theo rentaldecorating.com , Home-Decorating-Reviews.com

Hiện nay, đồ nội thất theo phong cách truyền thống Nhật Bản, có cải tiến cho phù hợp với cuộc sống hiện đại, đang được ưa chuộng, đặc biệt là với giới trẻ. Dù cải tiến, nhìn chung những sản phẩm này vẫn ít chi tiết, đơn giản, không cầu kỳ, nhưng luôn rất phong cách.

Tủ chè treo tường.

Tủ chè treo tường.

Giá để sách.

Giá để sách.

Bàn cho phòng khách.

Bàn cho phòng khách.

Tủ bếp.

Kệ TV.

Bàn làm việc.

Bàn làm việc.

tủ bếp

tủ bếp

Bàn ăn

Bàn ăn

MỤC LỤC – BÍ QUYẾT , Ý TƯỞNG & GỢI Ý TRONG  TTNT


Read Full Post »

3 Gợi ý trang trí ghế sofa bằng cách bài trí gối.

sofa-frames_301

Nếu bạn muốn thể hiện phong cách cổ điển truyền thống:

Cách sắp đặt và số lượng gối: 2 hoặc 4 gối lớn đặt ở hai bên thành ghế để tạo cảm giác cân đối và trật tự.

Hình dạng và kích cỡ: tùy theo độ lớn sofa mà chọn kích cỡ phù hợp, nhưng phải cân đối và vừa mắt. Thử sắp xếp theo cặp, gối vuông lớn với gối vuông nhỏ hơn hoặc gối tròn.

white-couch_302

Nếu bạn muốn thể hiện phong cách tân thời hiện đại:

Cách sắp đặt và số lượng gối: hãy chọn cách sắp xếp bằng số lượng gối lẻ. như 3 cái hoặc 5 cái, khác với sắp cặp đôi truyền thống. Một vài gối lớn nhìn vẫn gọn gàng hơn một rừng gối nhỏ, mà có thể bị cho là “ quá nhấn mạnh” (too much punctuation – như cách nói của các nhà trang trí nội thất).

Hình dạng và kích cỡ: Gối vuông phải đủ lớn để trình bày được hoa văn hoặc các dạng trang trí một màu trơn khác.

sofa-booklamp_300

Nếu bạn muốn thể hiện phong cách dung dị ( hòa hợp giữa 2 cách trên)

Cách sắp đặt và số lượng gối: số lượng gối chẳn sẽ đi ngược với tinh thần dung dị. Hãy chọn cách sắp xếp 3 hoặc 5 gối sao cho tạo được sự bất cân xứng nhưng vẫn vừa mắt và không gây cảm giác lộn xộn trên ghế. Bạn muốn gối của bạn được nhìn như thể “chúng tình cờ ở đó”. Thông thường để 2 gối ở một đầu ghế và cái thứ 3 ở vị trí đối diện.

Hình dạng và kích cỡ: thông thường chọn gối có cùng kích thước, như một bộ gối đa dạng trang trí. Các nhà trang trí nội thất thường chọn dàn xếp vài gối lớn và số lượng gối nhỏ nhiều hơn.

 

MỤC LỤC – BÍ QUYẾT , Ý TƯỞNG & GỢI Ý TRONG  TTNT


Read Full Post »

NGƯỜI MỸ VIẾT VỀ GỐM SỨ VIỆT NAM.

Dưới đây là bảng tin đăng tải trên Website của Washington Oriental Ceramic Group ngày 15/1/2009 để chuẩn bị cho cuộc hội thảo dự kiến tổ chức vào ngày 7/3/2009 tại tư dinh ngài Dan và phu nhân Magarett Sullivan vê đề tài “gốm sứ trong khu vực Đông nam Á và con đường tơ lụa hải hành”. Nôi dung như sau:

“ Truyền thống văn hóa và mỹ thuật của Viẹt Nam bắt đầu định hình từ cách đây 7000 năm có thể liệt kê như bằng chứng hiện diện của các trống đồng và đồ gốm sứ được phủ men và nung ở nhiệt độ cao có chất lượng tốt sản xuất kể từ Thế kỷ 11. Sau khi thoát khỏi sự đô hộ của Trung Hoa, những người thợ gốm ở miền bắc Việt Nam đã phát triển hàng hóa gốm sứ mang sắc thái dân tộc rõ nét. Đồ gốm cổ trong các triều đại Lý , Trần (1009 – 1400) được phát hiện trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 20 khi phá dỡ các lăng mộ tại tỉnh Thanh Hóa, đông nam Hà Nội để xây dựng đường hỏa xa. Những đồ gốm phủ men đơn sắctrong thời kỳ này có khuynh hướng tối thiểu hóa việc thiết kế trang trí ( ít họa tiết, chạm khắc) và hầu như tạo được dáng vẻ tân kỳ khi thưởng lãm. Hàng ngàn hiện vật thời Lý – Trần đang được lưu giữ tại các viện bảo tàng ở Bỉ (Belgium), cũng như tham gia vào nhiều bộ sưu tập trong thời kỳ thuộc địa Pháp trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Kể từ thế kỷ 13 – 14, khi đồ gốm Việt Nam bắt đầu cạnh tranh với hàng hóa xuất khẩu Trung Hoa trên thị trường quốc tế thì mới có ảnh hưởng từ việc du nhập thêm kỹ thuật và phong cách Trung Hoa. Sứ thanh lam (blue and white stoneware) Việt Nam cạnh tranh rất cao, đặc biệt trong khu vực bán đảo Đông nam Á. Đồ gốm miền bắc VN trong thời kỳ này, cũng như Trung Hoa, cũng thể hiện ảnh hưởng của Hồi giáo,điển hình như những mâm khay lớn của chúng.

Đồ sứ thanh lam đẹp có chất lượng ở thế kỷ 18 -19 được gọi là Bleu de Hue được sản xuất tại các lò gốm ở miền nam TQ để xuất khẩu cho thị trường cao cấp tại VN. Những trang trí tao nhã của chúng nguyên thủy là của các họa sĩ Việt Nam và được thợ gốm Trung Hoa sao vẽ lại trên gốm.”

Source: http://www.washingtonocg.org/news/

Hình minh họa Bleu de Hue – triều Nguyễn TK 19

picture1a

picture3a

picture7a

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Older Posts »