Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘chùa’

CHÙA TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM – PHẦN 2

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

*MỤC LỤC  – VIDEO – SLIDE SHOW

Read Full Post »

Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt nam , bắt đầu khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và chấm dứt khi vua Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 , tổng cộng là 143 năm . triều đại nhà Nguyễn được ghi nhớ với các giai đoạn chính :

Giai đoạn độc lập (1802-1858)

Giai đoạn bị người Pháp xâm lăng và đô hộ (1858-1945)

Từ thời Gia long có quốc hiệu Việt Nam , ban đầu Gia Long cho đổi quốc hiệu Đại Việt sang Nam Việt nhưng về sau ,vì vua Gia khánh nhà Thanh sợ lầm với nước nam Việtcua3 nhà Triêu mà lãnh thổ bao gồm cả Lưỡng Quảng nên đổi tên thành Việt Nam .

Triều Nguyễn đã để lại cho lịch sử Việt nam một di sản văn hóa khổng lồ . riêng số sách do triều Nguyễn viết ra trong 2/3 thế kỷ XIX còn nhiều hơn cả 300 năm trước đó gộp lại .

Các vua nhà Nguyễn

-Vua Gia Long sinh năm 1762 mất năm 1819 , là con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Luân , lên ngôi năm 1802 , có 13 con trai và 18 con gái . vua Gia Long cũng là người đặt tên nước là Việt Nam .

-Vua Minh mạng sinh năm 1791 , mất năm 1840 , là con trai thứ tư của vua Gia Long , lên ngôi năm 1820( ngày 1 tháng giêng âm lịch )vì người anh cả là hoàng tử Cảnh lúc đó đã chết ( các anh thứ hai , thứ ba chết lúc còn nhỏ ) có 78 con trai và 64 con gái

-Vua Thiệu Trị sinh năm 1807 , mất năm 1847 , là con trai lớn của vua Minh Mạng , lên ngôi năm 1841 ( ngày 1 tháng giêng âm lịch )có 29 con trai và 35 con gái .

-Vua Tự Đức sinh năm 1829 , mất năm 1883 , là con trai thứ hai của vua Thiệu Trị , lên ngôi năm 1847 , vì không có con nên nuôi ba người cháu , cả ba đều lên làm vua :Dục Đức , Đồng Khánh , Kiến Phúc .

-Vua Dục Đức sinh năm 1852 , mất năm 1883 , là con trai trưởng ( con nuôi ) của vua Tự Đức .lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1883 nhưng ba ngày sau bị Nguyễn văn Tường và tôn Thất Thuyết truất phế rồi giết chết , có 11con trai va 8 con gái . Dục Đức vì ở trên ngôi có 3 ngày , không có thời gian chọn niên hiệu , Dục Đức là tên dinh thự của vua này . Miếu hiệu và thụy hiệu về sau mới được tôn vinh .

-Vua Hiệp Hòa sinh năm 1847 , mất năm 1883 , là con trai thứ 29 của vua Thiệu trị ( tức là em của vua Tự Đức ). Lên ngôi ngày 30 tháng 7 năm 1883 nhưng 4 tháng sau bị Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết giết chết , không có con .

-Vua kiến Phúc sinh năm 1869 , mất năm 1884 , là con trai thứ ba ( con nươi ) của vua Tự Đức . lên ngôi ngày 2 tháng 2 năm 1883 nhưng 8 tháng sau thì bị bệnh rồi chết , mọi việc đe7u2 được lo bởi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết , không có con .

-Vua hàm Nghi sinh năm 1872 ,mất năm 1943 ,là cháu gọi vua Tự Đức là chú . Lên ngôi năm 1884 nhưng bị Pháp truất phế 1 năm sau đó vì mưu lược chống họ , có 1 con trai và 2 con gái . sau khi bị truất phế , vua Hàm Nghi tiếp tục việc chống Pháp nhưng bị bắt vào năm 1888 và bị Pháp đày sang Algerie .

-Vua Đồng Khánh sinh năm 1864 , mất năm 1889 , là con trai thứ hai ( con nuôi ) của vua Tự đức .Lên ngôi năm 1885 nhưng sau 3 năm thì bị bênh5 rồi chết , có 6 con trai và 3 con gái .

-Vua Thành Thái sinh năm 1879 , mất năm 1995 , là con trai thứ bảy của vua Dục Đức ( người làm vua chỉ trong ba ngày ). Lên ngôi năm 1889 nhưng bị truất phế vào năm 1907 vì chống lại họ , có 16 con trai và nhiều con gái . Vào năm 1916 Vua Thành Thái (cùng con là vua Duy tân ) bị Pháp đày sang đảo Reunion , nhưng được đón trở lại Việt Nam vào năm 1947.

-Vua Duy Tân sinh năm 1899, mất năm 1945 , là con trai thứ năm của Vua Thành Thái , lên ngôi năm 1907 nhưng chỉ lo việc chống người Pháp nên bị họ truất phế và bị đày sang đảo Reunion(cùng với cha là vua Thành Thái ). Vào năm 1916 , có 3 con trai và 1 con gái .

-Vua Khải Định sinh năm 1885 , mất năm 1925 , là con trai trưởng của vua Đồng Khánh . Lên ngôi năm 1916 với ý định hòa hoãn với Pháp , chỉ có 1 con trai .

-Vua Bảo Đại sinh năm 1913 , mất năm 1997 , là con trai độc nhất của vua Khải Định .Lên ngôi năm 1926 , trong khi đang du học tại Pháp nên về Việt nam 6 năm sau đó , có 2 con trai và 3 con gái .Ngày 11thang1 3 năm 1945 , triều đình Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hòa ước Patenotre ký với Pháp năm 1884 , khôi phục chủ quyền Việt Nam . Nhà sử học Trần Trọng Kim được bổ nhiệm làm Nội Các Tổng trưởng , giao nhiệm vụ thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4 và quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam .Vua Bảo Đại thoái vị vào ngày 30 tháng 8 năm 1945 và giao chức ‘’cố vấn tối cao’’cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mới thành lập , nhưng chẳng bao lâu lại từ chức đi sống tại các nước ngoài . Bảo Đại trở lại Việt nam , với chức vụ Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam vào năm 1948 nhưng lại bị mất quyền sau môt cuộc trưng cầu dân ý trong năm 1956.

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

HỆ THỐNG TƯỢNG Ở CHÙA TÂY PHƯƠNG

Bộ tượng tam thế Phật với ba pho tượng Phật : Quá Khứ , Hiện Tại , Vị Lai ( còn gọi là Tam Thân : Pháp Thân , Ứng Thân và Hóa Thân ) ngồi ở tư thế tọa thiền , y phục gập nếp đơn giản phủ kín cơ thể , được coi là có niên đại đầu thế kỷ 17 .


Bộ tượng Di Đà Tam Tôn : gồm tượng Đức Phật A Di Đà , đứng hai bên là Quan Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát


Tượng Tuyết Sơn miêu tả Đức Phật Thích Ca trong thời kỳ tu khổ hạnh : mỗi ngày ăn một hạt kê , một hạt vừng ,tự hành xác để vươn lên thế giới tinh thần sáng láng . Tượng màu đen thẫm khoác áo cà sa mỏng , tay chân gầy khẳng khiu , xương nổi lên trước ngực . Toàn bộ cơ thể chìm trong suy tưởng , mắt trũng sâu , hướng về nội tâm .

Hai bên tượng Tuyết Sơn có tượng A Nan và Ca Diếp đứng đầu .


Tượng Đức Phật Di lặc tương trưng cho vị Phật của thế giới cực lạc tương lai . Người mập mạp , ngồi hơi ngả về phía sau , toàn thân toát ra sự thỏa mãn , sung sướng .


Tượng Vă Thù Bồ Tát : Đứng chắp tay , chân đi đất , các ngón chân bấm móng xuống mặt bệ .

Tượng Phổ Hiền Bồ Tát : Chắp tay trước ngực , khuôn mặt sáng rộng nổi lên trên tấm thân phủ đầy y phục .


Tượng Bát Bộ Kim Cương , thể hiện trình độ rất cao về nghệ thuật lắp ghép gỗ và cách bố cục , chuyển động của một thân thể mang giáp trụ trong các thế võ .


Mười sáu pho tượng tổ với phong cách hiện thực : Đó là Ưu –Ba-Cầu-Đa ,Đê-Đa-Ca, Di-Trà-Ca ,Bà-Tu-Mật, Phật Đà Nan Đề ,Phục-Đa-Mật-Đa, Hiếp Tôn Giả,Thương Na Hòa Tu ,Mã Minh ,Ca-Tỳ-Ma-Na , Long –Thụ -Tôn-Giả , La-Hầu-La-Đa , Tăng Già nan Đề ,Già Gia Xá Đa ,Cưu Ma La Đa ,Chà Dạ Đa .Theo một danh sách tên các nhân vật được tạc tượng trong một tài liệu còn lưu truyền ở chùa thì đây là tượng các vị tổ Ấn Độ trong quan niệm của thiền tong Trung Quốc .

Mười sáu vị tổ người đứng kẻ ngồi , pho thì ngước mặt lên trời chỉ vào mây khói , pho thì hững hờ với ngoại vật , tì cằm trên đầu gối nhếch môi cười một mình nửa tinh nghịch nửa mỉa mai ,có pho vẻ mặt hân hoan tươi tắn , khổ người đầy đặn tròn trĩnh , pho khác có vẻ mặt đăm chiêu lạ thường , lại có pho như đang đắn đo phân bua hay đang thì thầm trò chuyện cùng ai .


Tượng La Hầu La đúng là chân dung cụ già Việt Nam , thân hình gầy gò , mặt dài nhỏ , gò má cao ,môi mỏng vừa phải . Chưa thấy pho tượng nào diễn tả y phục một cách hiện thực mà lại đẹp đến thế . Dáng điệu một tay cầm gậy , một tay để trên gối rất thoải mái , đôi bàn tay trông rõ từng đốt xương bên trong .Những nghệ nhân dân gian vô danh thời nhà hậu Lê , thời nhà Tây Sơn đã là tác giả của những kiệt tác tuyệt vời ấy của nền mỹ thuật Việt Nam .

Năm 1960, nhà thơ Huy Cận đến thăm chùa , đã làm những câu thơ rất sống động và gợi cảm về hình tượng những con người đắc đạo mà lòng vẫn trầm ngâm suy tưởng về những khổ đau quằn quại của chúng sinh .

…Các Vị ngồi đây trong lặng yên

Mà Nghe giông bão nổ trăm miền

Như từ vực thẳm đời nhân loại

Bóng tối đùn ra trận gió đen

…mặt cúi , mặt nghiêng , mặt ngoảnh sau

Quay theo tám hướng hỏi trời sâu

Một câu hỏi lớn . không lời đáp

Cho đến bây giờ mặt vẫn chau .


Chùa Kim Liên có từ thế kỷ 17 , được dựng trên dải đất của làng Nghi Tàm , bên bờ Hồ tây , nay thuộc phường Nghi Tàm , quận Tây Hồ .Tương truyền nơi dựng chùa là nền cũ của cung Từ Hoa có từ thời Lý . Từ Hoa là con gái vua Lý Thần Tông ( 1128-1138). Vua dựng cung Từ Hoa cho công chúa và các cung nữ ở đó để thấu hiểu thêm công việc đồng áng vất vả mà thấy rõ hơn giá trị ngôi tôn quí của mình .Đến đời Trần , trại Tằm Tang đổi thành phường Tích Liên . Dân làng dựng chùa Đống Long trẹn nền cung Từ Hoa cũ . Đến năm 1771, đời Lê Cảnh Hưng , chúa Trịnh sâm sai quan quân dỡ chùa Bảo Lâm ở phía tây Thăng Long đem về tu sửa thêm vào chùa , đặt tên mới là chùa Kim Liên .năm 1792 , đời vua Quang Trung , chùa được tu bổ lại , về diện mạo cơ bản giống như hiện nay .

Tam quan chùa Kim Liên là một công trình kiến trúc hết sức độc đáo , trông như bông sen đang độ nở trên mặt nước Tây Hồ bốn mùa phủ sóng .các chi tiết trên gỗ đều được chạm nổi , chạm lộng hình rồng , hình hoa lá tinh xảo , uyển chuyển .Đầu đao mái uốn cong , gắn hình tứ linh bằng gốm nung . ba chữ sơn son ‘’Kim Tự Liên ‘’nghĩa là ‘’Chùa Sen Vàng ‘’nằm ở chính giữa cửa chùa . Từ tam quan vào chùa , du khách phải đi qua một cái sân rộng . tại sân này , hiện còn lưu giũ tấm bia đá cỡ 0,8m x 1,2m có nhiều hình chạm nổi rất đẹp . theo các nhà nghiên cứu , đây là một trong những bia cổ còn lại ở Hà Nội , được dựng vào năm Thái Hòa thứ 1, đời vua Lê Nhân Tông năm 1443 .

Diện mạo chùa như hiện nay là do lần trùng tu vào năm 1792 với bố cúc theo kiểu chữ tam, gồm 3 nếp nhà chạy song song nhau . ba nếp nhà đều có hai tầng mái theo kiểu chồng diềm , ngói vảy , đầu đao bằng gỗ mềm mại , chạm khắc tinh xảo . Nhìn từ phía hông chùa , hai tầng mái tỏa ra bốn phía với 24 lá mái cao vút vươn lên không trung tạo ra 24 đầu đao , phô diễn sự tài tình trong kiến trúc của người xưa .

TAM QUAN CHÙA KIM LIÊN


CHùa hình chữ tam gồm 3 nếp nhà song song với nhau , tường gạch bao quanh tới tận rìa mái , Ở các đầu hồi nhà có cửa sổ tròn với những dấu hiệu sắc sắc không không mang đậm ý nghĩa triết lý Phật Giáo . nét kiến trúc của chùa Kim Liên gợi nhớ tới chùa tậy Phương( 1794) nổi tiếng .


Các pho tượng Phật được bày thành hai lớp , trên cùng là bộ Tam Thế , tiếp theo là tượng A Di Đà , tượng Quan Thế Âm và tượng Đại Thế Chí ở hai bên cùng Anam , Ca Diếp là hai đại đệ tử của Đức Phật . Lớp dưới là Quan Ậm Chuẩn Đề , tượng Ngọc Hoàng , dưới cùng là tòa Cửu Long . Đáng chú ý nhất là tượng Quan Âm Nam Hải 42 tay ,các bàn tay xếp so le trông rất tinh xảo , tượng cao 1,2m đặt trên tòa sen gỗ hình lục lăng . lại có cả tượng Tôn Ngộ Không phủ sơn cao 1,1m khá sinh động .

Chùa có tượng Trịnh Sâm ( đứng đội mũ miện , cầm hốt , mặc áo cổ tràng , râu mày như vẽ ,chân không mang giầy ) người đã cấp tiền hưng công tu tạo chùa năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771). Chùa kim liên còn lưu giữ một tấm bia cổ , nay dựng phía bên phải cổng chùa , trên bệ đá hình vuông ,dù năm tháng đã làm phai mờ nhiều nét chữ nhưng còn xem được niên hiệu : Thái Hòa Tam niên Ất Sửu –tức năm 1445 thời Lê Nhân Tông . Đây là tấm bia cổ nhất ở hà nội hiện nay . các pho tượng đều mang phong cách điêu khắc thế kỷ XVIII-XIX , mang tính hỗn hợp thàn Phật . Bức hoành ‘’hoằng uốn ‘’( đạo lý sâu rộng )làm năm 1870

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

MỸ THUẬT THỜI TÂY SƠN

Trong Thế kỷ 18 , nước Đại Việt nằm dưới quyền cai trị tượng trưng của vua Lê , có danh mà không có quyền hành chính trị . Quyền lực thực sự nằm trong tay hai gia đình phong kiến , các chúa Trịnh ở phía bắc ,kiểm soát nhà vua và điều khiển triều đình ở Thăng Long và các chúa Nguyễn ở phía nam , đóng đô tại thành Xuân Phú . Hai bên từng đánh lẫn nhau để giành quyền kiểm soát toàn bộ đất nước trong suốt 45 năm va đều tuyên bố trung thành với nhà Lê để củng cố quyền lực cho mình .

Cuộc chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kết thúc năm 1672 và cuộc sống của những người nông dân ở phía bắc của các chúa Trịnh khá yên bình .Trong khi đó ở phía nam , các chúa Nguyễn thường gây chiến với Đế Chế Khmer yếu ớt ở bên cạnh và sau đó là với cả một nước khá mạnh là nước Xiêm . các chúa Nguyễn thường thắng trận và mở mang thêm đất đai phía nam . Từ giữa thế kỷ , người nông dân bị bần cùng và họ đứng lên khởi nghĩa cả ở Đàng ngoài lẫn Đàng trong .

Năm 1771 Anh em nhà Nguyễn Nhạc , Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nổi lên lập đồn ải ở đất Tây Sơn tỉnh Bình Định . Thanh thế của anh em Tây Sơn ngày càng lớn ,họ được hưởng ứng không những của người nghèo mà còn có của người giàu có , các thổ hào nữa. Sự nghiệp oanh liệt mà chớp nhoáng của Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792)như kỳ công xóa bỏ nạn phân tranh Trịnh- Nguyễn , rồi võ công BÌnh Xiêm (1786)diệt Thanh (1789).

Kể từ năm 1787 , với sự giúp đỡ mạnh mẽ hơn của người Pháp thông qua giám Mục Pigneau de Béhaine (tức Bá Đa Lộc ), Nguyễn Ánh quay trở lại Gia Định . Trong lúc Nguyễn Huệ bận đối phó tình hình Bắc Hà , Nguyễn Lữ qua đời , Nguyễn Nhạc bất lực , Ánh nhanh chóng chiếm lại đất đai ở Nam bộ rồi đánh lấn ra Diên Khang ,Bình Thuận – đất của Nguyễn Nhạc .Nguyễn Nhạc già yếu không cứu được chỉ còn lo giữ Qui Nhơn , Quảng Ngãi , Phú Yên . Vua Quang Trung đang định chuẩn bị phối hợp với vua anh đem quân vào nam đánh Gia Định thì qua đời (1792), con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi , tức là vua Cảnh Thịnh . Nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu . Nội bộ xảy ra tranh chấp , giữa năm 1802 Nguyễn Ánh tiến ra chiếm được Thăng Long , Quang Toản không chống nổi , bỏ chạy và bị bắt . triều đình Tây Sơn bị sụp đổ .

BIÊN NIÊN CÁC SỰ KIỆN :

-1771 : Anh em Tây Sơn nổi dậy

-1776: Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương

-1777: Nguyễn Huệ tiêu diệt chúa Nguyễn tại Gia Định

-1778: Nguyễn Nhạc xưng đế , đặt tên hiệu là Thái Đức

-1780: Nguyễn Ánh xưng vương tại Gia Định

-1782: Nguyễn Ánh bị quân tây Sơn đuổi , chạy ra Phú Quốc

-1783: Nguyễn Ánh lánh nạn tại Côn Sơn

-1785 : Nguyễn Huệ đánh bại quân Xiêm tại Rạch Gầm –Xoài Mút , Nguyễn Ánh chạy sang Xiêm .

-1786:Nguyễn Huệ lật đổ chúa Trịnh

-1787: Nguyễn Huệ trở lại Long Xuyên

-1788:Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế

-1789: Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh , Nguyễn Ánh lấy thành Gia Định

-1792: Vua Quang Trung mất

-1793 :Nguyễn Nhạc mất

-1799: Nguyễn Ánh chiếm thành Qui Nhơn .

-1801: Nguyền Ánh lấy được Phú Xuân .

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

MỸ THUẬT THỜI TRẦN

Khi nhà Lý bắt đầu suy yếu , người đứng đầu dòng họ Trần ở đây là Trần Cảnh ( Trần Thái Tông ) nhưng người đặt nền móng cho sự ra đời chính thức của nhà Trần là trần Thủ Độ . Nhà Lý suy vi , quyền lực rơi hết vào tay Trần Thủ Độ .Sau khi ép Lý Chiêu Hoàng ( 8 tuổi ) nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh ( 7 tuổi ,1218-1227) thì thời đại của nhà Trần chính thức bắt đầu năm 1225 . Trong khoảng 175 năm trị vì , nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt ba lần kháng chiến chống quân Nguyên thành công vào các năm 1258 ,1285 và 1288 , nhưng trong những năm sau này ,kể từ thời Vua Dụ Tông thì triều đại nhà Trần đạ suy yếu đi vì nhiều lý do , chủ yếu là do sự mục nát và yếu kém của hệ thống quan lại . Cuối cùng vào năm 1400 , Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần , chấm dứt 175 năm trị vì của dòng họ này .

Nhà Trần thay thế nhà Lý suy tàn trong sự phát triển đi lên của phong kiến Việt Nam . Ba lần chống quân Nguyên – Mông thắng lợi , bảo tồn giang sơn đã tạo nên một hào khí oai hùng cho dân tộc và thấm đẫm trong văn học nghệ thuật , mặt khác chiến tranh nhiều lần tàn phá đất nước , hoạt động nghệ thuật bị hạn chế , cuối cùng chế độ điền trang thái ấp cũng tan vỡ trong cuộc cải cách của Hồ Quý Ly vào cuối thế kỷ 14 .

Mỹ thuật thồi Trần với đường nét phóng khoáng , khỏe khoắn hơn thời Lý . Bố cục có phần thưa thoáng đơn giản . Đề tài phong phú hơn thời Lý , đặc biệt là trên đồ gốm xuất hiện nhiều hình ảnh con thú . Có được điều này là nhờ sự giao lưu văn hóa rộng rãi và tinh thấn thượng võ thời Trần phát triển mạnh qua ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông .

KIẾN TRÚC

KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH :

Lăng Trần Thủ Độ ở Tam Đường ( Thái Bình ) có một số tượng thú

Tượng Hổ ở lăng Trần Thủ Độ ( Thái Bình ) .Trần Thủ Độ là thái sư triều Trấn , ơng là người uy dũng , quyết đoán , người góp phần dựng lên vương triều Trần , người có vai trò quan trọng trong chiến thắng chống quân xâm lược Mông Cổ (1258) .Khu lăng mộ của ông được xây dựng vào năm 1264 tại Thái Bình , ở lăng có tạc một con hổ . Tượng hổ có kích thước gần như thật (dài 1m43), thân hình thon , bộ ngực nở nang , bắp vế căng tròn . Tượng đã lột tả tính cách dũng mãnh của vị chúa sơn lâm ngay cả trong tư thế rát thư thái : nắm xoải chân , chân thu về phía trước , đầu ngẩng cao . Tượng hổ tạo khối đơn giản , dứt khoát , có chọn lọc và được sắp sếp một cách chặt chẽ , vững trãi . Sự trau chuốt nuột nà của hình khối và đường nét với những đường chải mượt của tóc hổ , những đường văn đều đặn trên ức tạo nên những hoa văn trang trí tôn thêm vẻ đẹp của hổ . Thông qua hình tượng con hổ , các nghệ sỹ điêu khăc thời xưa đã nắm bắt và lột tả được tính cách , vẻ đường bệ , lẫm liệt của thái sư Trần Thủ Độ . Bây giờ đến Vũ Thư , Thái Bình . Ta vẫn gặp một con hổ đá nằm im lìm giữa hoa hoang cỏ dại trong di tích hoang tàn lăng Trần Thủ Độ . Đây là một tác phẩm nghệ thuật dẹp trong nền nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam .


ĐỀN AN SINH VÀ LĂNG MỘ NHÀ TRẦN

Đền và lăng mộ nhà Trần thuộc xã An Sinh , huyện Đông Triều , tỉnh Quảng Ninh ,nắm rải rác trong một khu đất rộng có bán kính 20km để thờ “Bát Vị Hoàng Đế “ thời Trần .Đây là một trong những công trình tưởng niệm có giá trị lớn trong lịch sử Việt Nam và đã được bộ văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử . Được trùng tu vào thời Hậu Lê và thời Nguyễn , quần thể di tích gồm một đền và tám lăng mộ .

Khu đền Sinh thuộc thôn Nghĩa Hưng là nơi thờ chung tám vị vua nhà Trần và lăng mộ của Trần Thái Tông , Trần Thánh Tông và Giản Định Đế . Lăng mộ Trần Anh Tông ở khu trại lốc , lăng Trần Minh Tông ở khu Khe Gạch , lăng Trần Hiến Tông ở khu Ao Bèo , Lăng Trần Dụ Tông ở khu Đống Tròn ,lăng Trần Nghệ Tông ở khu Khe Nghệ .

Ngoài việc xây dựng điện miếu ở mỗi lăng làm nơi thồ cúng , triều đình còn cho xây dựng ở khu đền Sinh nhiều tòa điện miếu lớn để làm nôi tế lễ bái yết và cắt cử các quan về trông coi cẩn thận . toàn bộ khu vực này trở thành thánh địa tôn nghiêm qua các triều Trần , Lê , Nguyễn .

Đền Sinh gồm ba tòa nhà rộng , kết cấu hình chữ tam , tiền đường thờ Triều Trần , bái đường thờ anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo , hậu cung thờ tám vua Trần : Thái Tông , Chánh Tông ,Anh Tông , Minh Tông ,Hiến Tông , Dụ Tông , Nghệ Tông và hoàng đế hậu Trần là Giản Định Đế (Trần ngồi ).

Ở phía sau đền có 3 lăng các vua :Thái Tông , Thánh Tông và Giản Định Đế . rải rác ở suốt dãy núi còn có lăng các vua Anh Tông ( còn gọi là Đồng Thái hoặc Thái Lăng ), lăng vua Minh Tông ( lăng Đồng Mục ) , lăng vua Hiến Tông (Lăng Nghệ Sơn ), lăng vua Dụ Tông , vua Nghệ Tông .

Trải qua thời gian và thăng trầm của Lịch sử , khu vực này bị hư hỏng nặng . ngày nay với ý thức và lòng tự hào dân tộc nên khu đền Sinh và các lăng mộ nhà Trần đang dần được quan tâm khôi phục đúng tầm cỡ của nó để bảo tồn và phát huy một di sản văn hóa quý báu của dân tộc và góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau , tạo thành một khu di tích thu hút du khách bốn phương .


Tượng quan hầu trong lăng vua Trần Hiến Tông ở xã An Sinh huyện Đông Triều , tỉnh Quảng Ninh .Vua Trần Hiến Tông mất năm 1341 , tuy đã 13 năm làm vua , nhưng lúc ấy mới 23 tuổi . Có lẽ vì thế , trong sự thương tiếc của triều đình , đây là lăng mộ vua Trần duy nhất có các tượng “người đá , ngựa đá ,hổ đá , dê đá ,trâu đá “như các tác giả sách Đại Nam Nhất Thống Chí ở cuối thế kỷ XIX còn thấy > Sau nhiều biến thiên lịch sử , cho đến thập niên 70 của thế kỷ XX , khu lăng đã bụ hủy hoại , song vẫn còn hai tượng quan hầu , chó đá và trâu đá .

Rất tiếc cả hai tượng quan hầu đều bị gẫy mất đầu nhưng may tìm được một đầu tượng chắp lên rất khớp ., và như thế có thể nhận ra một tượng quan hầu khá nguyên . tượng cao 130 cm, đứng trên đế chữ nhật cạnh trước 39 cm cạnh bên 30 cm còn nổi trên đất 10cm . Tượng và bệ liền một khối đá dựng thẳng đứng , tất cả khuôn lại trong một trụ gọn gàng như kiểu tượng mồ tây nguyên , không có những chi tiết nhô ngang dễ gãy . Tượng được diễn tả một viên quan hầu cận đứng nghiêm , hai tay ép sát sườn rồi đưa ngang về trước bụng để nâng một vật như chiếc hộp trước ngực , nhưng bàn tay bị che khuất . Đầu tượng đội mũ bó sát thành băng ngang phía trên trán .Thân mặc áo dài quét đất , gấu áo hơi loe ra , phía trước để lộ hai bàn chân đi giầy , ống tay áo rộng thành khối vuông trước bụng , áo không có trang trí mà chỉ có nếp chảy xuôi , bốn cạnh thân nổi rõ . Như vậy toàn thân tượng cũng như các thành phần chính được quy về các khối hình học có góc cạnh rõ ràng , điều đó làm tăng tính khúc triết , khỏe khoắn , dứt khoát . Đầu tượng hơi dài , mặt thon thả ,mắt , nũi , miệng đều rát thực và ở trạng thái đăm chiêu , bình thản .Trong không gian lăng mộ , giữa lũng hoang cạnh sườn núi , tượng quan hầu trang nghiêm và tĩnh lặng đến tuyệt đối , phảng phất một nỗi ưu tư .


Di tích cung điện thời Trần ở làng Tức Mạc : làng Tức Mạc Ở phía bắc ngoại thành Nam Định , cách trung tâm thành phố 3km(1.9 dặm ) .Đây là quê hương của nhà Trần ,nơi sinh ra Trần Hưng Đạo , vị anh hùng dân tộc . Khu di tích rộng tới hang chục hecta , từ đền Thiên Trường , Cổ Trạch thờ các vua Trần và Trần Hưng Đạo đến chùa tháp Phổ Minh . Sử cũ cho biết , vào năm 1239 , nhà vua cho xây hành cung ở làng quê mình để lúc thư nhàn về thăm . Đến năm 1262 , Thượng Hoàng đến chơi hành cung ở Tức Mạc , ban yến tiệc cho dân và thăng làng Tức mạc lên phủ Thiên Trường , dựng tiếp cung Trần Quang để cho các vua đã nhường ngôi( Thái Thượng Hoàng ) về ở .Phía tây cung đình là chùa Phổ Minh , lại dựng một cung riêng cho các vua đương triều mỗi khi về thăm Thái Thượng Hoàng thì về nghỉ tại đó .

700 năm trôi qua , khu cung điện không còn nữa , nay có đền Thiên Trường để thờ 14 vị vua Trần , đền Cổ Trạch thờ Trần Hưng Đạo , và chùa Phổ Minh với cây tháp Phổ Minh nổi tiếng .


MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC

Kiến trúc phát triển mạnh dưới thời nhà Lý và chịu ảnh hưởng của Phật Giáo rất sâu đậm .cung điện , lâu đài ,thành quách và chùa tháp được xây dựng với quy mô lớn . Thành Thăng Long là một công trình xây dựng lớn trong các triều đại phong kiến .Thành gồm hai vòng dài khoảng 25km .Trong hoàng thành có những cung điện cao đến bốn tầng

Lý Công Uẩn lên ngôi vua , sáng lập vương triều Lý(1009-1225) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ngày 2-11 Kỷ Dậu(21-11-1009) .Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La đổi tên là Thăng Long. Ngay trong mùa thu năm đó , nhà Lý đã khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua , triều đình và hoàng gia .Trung tâm là điện Càn nguyên , nơi thiết triều của nhà vua, hai bên là điện Tập Hiền và Giảng Võ , phía sau là điện Long An , long Thụy làm nơi vua nghỉ . Đến cuối năm 1010 , 8 điện 3 cung đã hoàn thành .Những năm sau , một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm . Một vòng thành được bao quanh các cung điện cũng xây đắp trong năm đầu , gọi là Long Thành hay Phượng Thành .Đó chính là Hoàng Thành theo cách gọi phổ biến về sau này . Thành đắp bằng đất , phía ngoài có hào , mở 4 cửa : Tường Phù ở phía đông , Quảng Phúc ở phía tây , Đại hưng ở phía nam , Diệu Đức ở phía bắc .Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia . Trong đời Lý , các kiến trúc trong Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm .Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của kinh thành .Phía ngoài cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú , buôn bán , làm ăn của dân chúng gốm các bến chợ , phố phường và thôn trại nông nghiệp . Một vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp từ năm 1014, gọi là thành Đại la hay La Thành . Trong những biến loan cuối thời Lý , Hoàng Thành bị tàn phá nặng nề . sau khi thành lập , nhà Trần phải đắp lại thành , xây lại các cung điện , nhưng vị trí qui mô của Hoàng Thành , thường gọi là Long Phượng Thành không thay đổi .

Thời Lê sơ,Hoàng Thành nhiều lần được tu bổ và mở rộng thêm mà trung tâm điểm là điện Kính Thiên dựng năm 1428 xây dựng lại năm 1465 với lan can bằng đá chạm rồng năm 1467 nay vẫn còn trong thành Hà Nội . Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) , vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước gồm 13 thừa tuyên Và phủ Trung Đô tức thành Đông Kinh thời Lê sơ. Tập bản đồ thời Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông định bản đồ Hống Đức còn lại đến nay đã qua nhiều lấn sao chép lại về sau ,nhưng vẫn là tập bản đồ xưa nhất của nước Đại Việt sang thời Nguyễn , thành Hà Nội do vua Gia Long xây năm 1805 theo kiểu Vauban không những hạ thấp độ cao mà còn thu nhỏ qui mô so với Hoàng Thành của Thăng Long xưa . Tuy nhiên trục trung tâm Đoan Môn Kính Thiên của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê vẫn không thay đổi và trên trục này thêm cột cờ, Cửa bắc thời Nguyễn


Kiến trúc thời Lý phục vụ Phật Giáo , rất nhiều Quốc Tự được xây dựng .Phong cách thống soái là hoành tráng , đồ sộ.Chùa một cột ( Chùa Diên Hựu)được xây dựng ở Thăng Long với quy mô lớn hơn ngôi chùa đã có trước đó ở Hoa Lư và với sự cách điệu tuyệt diệu . Việc xây dựng các chùa tháp rất được coi trọng . Năm 1031 Lý Thái Tông cho xây dựng 950 ngôi chùa .Năm 1056 Lý Thánh Tông lập chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, phải dùng 11 ngàn cân đồng để đúc chuông chùa , năm sau lại dựng Tư Thiên Bảo Tháp trước chùa Báo Thiên ,cao vài chục trượng (khoảng 50-60 m)và có 30 tầng . Ngoài ra còn có nhiều chùa tháp khác cũng đồ sộ và huy hoàng không kém .

Chùa Báo Ân và tháp Báo Thiên cao khoảng 70m .Chùa Phật Tích- Bắc Ninh , chùa Long Đọi –Hà nam , Chùa Bà Tấm – hà Nội ,chùa Quảng Giáo –Quảng Ninh đều là những chùa lớn .

Kiến trúc chùa tháp thời Lý đều to lớn , cao . Các chùa thường nằm trên đỉnh núi cao .cấu trúc và bố cục chùa tháp đơn giản , chỉ gồm một ngôi chùa chính và một ngọn tháp lớn có đáy vuông .Điều này phản ánh tư tưởng giản dị , phóng khoáng của người thời Lý .Trang trí tháp chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm , với các hình chim thần ( Garuda ), nữ thần đầu người mình chim , có lẽ do việc bắt những tù binh Chăm sau cuộc nam chinh của Lý Thánh Tông. Vì thế ấn tượng của ngọi chùa Lý rất độc đáo : Vùa tôn nghiêm , hùng vĩ , đường bệ bởi không gian và đường sống kiến trúc , vùa phóng khoáng lãng mạn bởi gần thiên nhiên, vừa sinh động , lý thú với các trng trí mang hơi hướng Chăm .

Chùa Một Cột hay chùa Mật ( gọi theo Hán Việt là Nhất Trụ Tháp ) còn có tên khác là Diên Hựu hoặc Liên Hoa Đài ( Đài hoa sen ) , là môt ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội .Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam .

Chùa được khởi công xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm 1049 .Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa Hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen . Truyền thuyết kể lại rằng, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý thái Tông (1028-1054)và theo gợi ý của nhà sư Thiền Tuệ .vào năm 1049 vua đã mơ thấy được Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên tòa . Khi tỉnh dậy,nhà vua kể chuyện đó lại cho bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa , dựng cột đá như trong chiêm bao , làm tòa sen của Phật Bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ , vì thế chùa mang tên Diên Hựu .

Đến năm 1105 , vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng . Năm 1108 Nguyên Phi Ỷ lan sai bày tôi đúc một cái chuông rát to ,nặng đến môt vạn hai nghìn cân , đặt tên là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời ).Đây được xem là một trong tứ đại khí- bốn công trình lớn của Việt nam thời đól là : Tháp Báo Thiên ,chuông Qui Điền , vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm . Giác Thế Chung đúc xong nặng quá không treo lên được , để dưới mặt đất thì đánh không kêu .Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ , ruộng này có nhiều rùa , do đó có tên là La Quy Điền chuông (chuông ruộng rùa ).

Đến thế kỷ 15 , giặc Minh xâm lược , chiếm thành Đông Quan ( Hà Nội ).Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân lam Sơn ra đánh ,vây thành rất gấp .quân Minh thiếu thốn vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn sai người đem phá chuông Quy Điền lấy đồng .Quân Minh thua trận , nhưng chuông Quy Điền thì không còn nữa .

Đến thời nhà Trần , chùa đã không phải là ngôi chùa nhà Lý nữa vì sách cũ đã ghi : Năm 1249 :”…mùa xuân , tháng giêng , sửa lại chùa Diên Hưu ,xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ…” chùa đã qua nhiều đợt tu sửa .Đợt tu sửa chữa lớn vào năm Thiên Ứng Chính Bình 18 ( 1249 ) gần như phải làm lại toàn bộ. Thời Lê ,triều đình nhiều lần cho tu sửa , thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá . Năm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Văn Hòa tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường , hành lang tả hữu ,gác chuông và cửa tam quan . Năm 1852, bố chính Tôn Thất Giáo xin đúc chuông mới . Năm 1864 , tổng đốc Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu , làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ tòa sen , chạm trổ thêm công phu tráng lệ . năm 1954 ,trước khi rút khỏi Hà Nội , quân Pháp đã đặt mìn phá đổ chùa . Sau ngày tiếp quản thủ đô , Bộ văn hóa đã cho tu sửa chùa một cột theo đúng kiểu mẫu cũ để lại từ thời Nguyễn .

Cạnh chùa Một Cột ngày nay còn có một ngôi chùa có cổng tam quan , với ba chữ “:Diên Hựu Tự “ , là một ngôi chùa mới được xây dựng phụ vào với chùa Một Cột , xây khoảng đầu thế kỷ 18 .


 

Chùa Phật Tích ( Phật Tích Tự ) còn gọi là chùa Vạn Phúc ( Vạn Phúc Tự ) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía nam núi Phật Tích ( còn gọi núi Lạn Kha , non tiên ), xã Phật Tích , huyện Tiên Du , tỉnh Bắc Ninh . Trong chùa có tượng Đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam. Chùa Phật Tích được công nhận là di tích Lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia .

Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư ( 1057 ) với nhiều tòa ngang dãy dọc . Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý . Ngôi chùa vào thời nhà Lý hiện nay không còn nữa .

Năm 1066 , vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một ngôi tháo cao . sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó có bức tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng . để ghi nhận sự xuát hiện kỳ diệu của bức tượng này , xóm Hỏa Kê ( cạnh chùa ) đổi tên thành thôn Phật Tích .

Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy ( 1686 )ca ngợi vẻ đẹp của cạnh chùa :” Đoái trông danh thắng đất Tiên Du , danh sơn Phật Tích , ứng thế ở Càn Phương( hướng Nam ) có núi Phượng Lĩnh bao bọc , phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh . Phía Hữu Bạch Hổ núi ôm , trên đỉnh nhà khai bàn đá …”

Năm 1071 , vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ “Phật” dài tới 5m , sai khắc vào đá đặt trên sườn núi . Bà Nguyên Phi Ỷ lan có đóng góp quan trọng trong bưởi đầu xây dựng chùa Phật Tích .

Vào thời nhà Lê , năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông , năm 1686 , chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn , có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc Tự .

Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại su đó được gần 300 năm .kháng chiến thực dân Pháp bùng nổ và Chùa bị tàn phá nhiều . Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947 .

Khi hòa bình lập lại (1954)đến nay , Chùa Phật Tích được khôi phục dần . năm 1959 , bộ văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A Di Đà bằng đá quý giá .Tháng 4 năm 1962 , nhà nước công nhận chùa Phật tích là Di tích Lịch Sủ văn hóa .

Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc“ , sân chùa là cả một vườn hoa mẫu Đơn rực rỡ . Bên phải Chùa là miếu thờ Đức Chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này .

Cho tới nay , Chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách , 5 gian bảo thờ Phật , Đức A Di Đà cùng các vị Tam Thế Phật , 8 gian nhà tổ , và 7 gian nhà thồ Thánh Mẫu .

Ngôi Chùa có kiến trúc của thời Lý , thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi .các nền hình chữ nhật dài khoảng 60m rộng khoảng 33m , mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật .


 

 

Chùa Dạm căn cứ vào các thư tịch cổ , Chùa Dạm được Vua Lý Nhân Tông (1072-1127 ) cho xây dựng vào năm Quang Hựu thứ hai ( 1086 ).Để tiện vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ công trình , vua cho đào ngòi Con Tên từ chân núi Lãm Sơn chạy thẳng ra sôngĐuống .Năm 1087 , “Vua ngự đến chùa Lãm Sơn , đến đêm ban yến cho các quan .Vua làm 2 bài Lãm Sơn dạ yến” công trình làm trong 9 năm mới xong .Vua ban tên Chùa là Cảnh Long Đồng Khánh, lại thân đề biển bằng chữ triện .

Năm long phù nguyên hóa thứ 5 (1105) , Vua Lý Nhân Tông cho xây thêm ba tháp đá nữa .Chùa làm xong(1094), vua ban 300mẫu ruộng tự điền để nhà chùa có hoa lợi hương khói và 7 gia đình ở mé dưới núi được giao việc chuyên đóng mở cửa chùa.

Chùa đặt ở sườn núi phía nam của dãy Lãm Sơn , chính giữa ngọn cao nhất .Núi Rùa làm tiền án , ngòi Con Tên làm Minh Đường bên tả có thanh Long ,bên hữu có Bạch Hổ chầu về .Chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theo thuyết phong thủy . Chùa dựa hẳn vào sườn núi và 4 lớp nền đá trườn theo sườn núi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghi êm hài hòa với cảnh quan thiên nhiên chung quanh . hơn nữa tránh được nạn lụt lội ở vùng “rốn nước “ Quế Võ lắm đồng sâu ruộng trũng . chiều dài của lớp nền 120m , chiều rộng 70m ( Chùa Phật Tích là 100m và 60m ).Tổng cộng diện tích gần 8000m vuông ,Bốn lớp nền được bó ghép bằng đá tảng (mỗi viên có kích thước 50×60 cm) các lớp đá được cấu tạo choãi chân đế ,chếch khoảng 70 độ ,và có độ cao 5-6m .


 

Chùa Long Đọi Sơn còn có tên chữ là Diên Linh Tự do Vua lý Thánh Tông và Vương Phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 .Đến đời Lý Nhân Tông nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121.

Sau ba trăm đứng vững thì đến đầu thế kỷ XV , khi giặc Minh xâm lược nước ta , chùa và tháp bị phá hủy hoàn toàn .Riên bia thì không phá nổi , chúng đả lật đổ xuống bên cạnh núi , ngôi chùa đã trở nên hoang phế hoàn toàn . Mãi đến năm Tự Đức thứ 13 ( 1860 ) nghĩa là 170 năm sau khi giặc Minh tàn phá nhân dân trong vùng mới cho sửa sang lại Thượng Điện , Tiền Điện , gác chuông , nhà tổ …đến năm 1864 , chùa lại tiếp tục sửa hành lang , đúc tượng Di Lặc , đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh 125 gian , từ đó trở thành trường Bắc Kỳ Phật Giáo .Ngôi chùa này được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc . Tại tiền đường, thượng điện tượng Phật rất nhiều .hai bên Chùa là 18 gian hành lang thờ Thập bát La Hán .


Chùa Bà Tấm ( Dương Xá – Gia Lâm –Hà Nội )

 

Cụm di tích đền – Chùa Bà Tấm thuộc địa phận xã Dương Xá huyện Gia Lâm , ngoại thành Hà Nội . Di tích nằm ở phía đông và cách khu vực nội thành Hà Nội gần 20km .Từ trung tâm thành phố , qua cầu Chương Dương , theo quốc lộ 5 đi Hải Phòng khoảng 8km thì đến địa phận xã Dương Xá .Di tích nằm bên trái , liền kề đường quốc lộ . Theo sử sách và truyền thuyết dân gian , cụm di tích đền – chùa Bà tấm được xây dựng từ thời Lý , sự ra đời của di tích gắn liền với Nguyên Phi , Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – một nhân vật kiệt xuất của vương triều nhà Lý .Sử cũ cho biết Nguyên Phi Ỷ lan giỏi việc trị nước ( hai lần nhiếp chính ), khiến nhân tâm hòa hợp , đất nước thanh bình , dân gian sùng phật , tôn bà là Phật Bà Quan Âm .

Cụm di tích chùa – đền Bà Tấm vốn được xây dựng trên một gò đất cao, rộng, nằm bên hữu ngạn dòng sông Thiên Đức nổi tiếng(phía bên tả ngạn là chùa Báo Ân thời Trần ,gắn liền với cuộc đời tu hành của vua Trần Nhân Tông ) . Trải qua quá trình tồn tại , mặt bằng di tích có nhiều thay đổi , hiện nay còn có chùa , đền và nhà thờ Mẫu cùng một số đơn nguyên kiến trúc kề cận .

Còn tiếp

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


 

 

Read Full Post »

Kiến trúc xưa ở Cù lao Phố

Cù lao Phố là một cù lao nằm trên sông Đồng Nai, thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sông Đồng Nai chảy đến một khúc quanh thì đã tự chia ra làm hai nhánh ôm trọn một dải đất sa bồi. Dải đất đó chính là Cù lao Phố, nằm ở phía Đông – Nam của thành phố Biên Hòa, tên hành chính hiện nay là xã Hiệp Hòa, với tổng diện tích đất đai là 694,6495ha.

Cù lao Phố còn được gọi là Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Nông Nại Đại Phố. Tuy nằm cách biển nhưng là nơi sông sâu, nước chảy có thể đi đến mọi miền.rải qua nhiều thăng trầm lịch sử, Cù Lao Phố, thương cảng sầm uất của Nam Bộ một thời, nay vẫn còn lưu được nhiều nét xưa.

Trước thế kỷ thứ 6, Cù Lao Phố là vùng đất hoang vu thuộc vương quốc Phù Nam. Trong lịch sử mở rộng bờ cõi của cha ông, cuộc nam tiến đã thực sự thành công khi vùng đất Đồng Nai – Gia Định được tiền nhân khai phá.

Sự hình thành và phát triển của dải đất nằm giữa sông Đồng Nai này bắt đầu từ năm 1679, gắn với sự kiện hai trung thần nhà Minh (Trung Quốc) là Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch không quy phục triều đình Mãn Thanh, đã dẫn dắt hơn ba nghìn binh lính vượt biển xuôi về Nam trên 50 chiến thuyền. Họ vào cửa Tư Dung (địa phận Thuận Hóa) xin chúa Nguyễn Phúc Tần cho lánh nạn. Chúa Nguyễn đã thu nạp và cho họ đến khai khẩn đất miền Nam. Nhóm di dân này chia làm hai cánh, một do hai tướng Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình chỉ huy đã chọn vùng Đồng Nai – Gia Định để khai phá, một do Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến thống lĩnh tiến xa hơn, chọn vùng Mỹ Tho – Cao Lãnh làm chốn dung thân.

Cầu Ghềnh dẫn vào Cù Lao  Phố.

Trần Thượng Xuyên sau khi định cư đã chiêu mộ thương lái từ Trung Quốc sang mua bán và mở mang thương cảng. Từ đó, vùng Cù Lao Phố trở nên sầm uất, trên chợ, dưới thuyền, bán mua tấp nập. Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống có điều kiện phát triển như dệt chiếu, tơ lụa, đúc đồng, làm pháo, đồ gốm, đục đá… Các thương thuyền của người nước ngoài như Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ thường xuyên vào ra.

Là người có tầm nhìn xa, Trần Thượng Xuyên thấy vùng đất này có nhiều tiềm năng về nông nghiệp và thương nghiệp vì thuận lợi giao thông thủy, bộ. Do đó, ông đã huy động sức người sức của để xây dựng thương cảng Nông Nại Đại Phố thành trung tâm thương mại danh tiếng bậc nhất phương Nam thời bấy giờ. Năm 1720, Trần Thượng Xuyên qua đời, được chúa Nguyễn truy phong Thượng đẳng thần, thờ ở đình Tân Lân bên bờ sông Đồng Nai, cạnh chợ Biên Hòa.

Trong các công thần nhà Nguyễn có công khai khẩn, mở mang bờ cõi phương Nam, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là người đầu tiên được nhắc đến. Vào năm 1698, được chúa Nguyễn sai kinh lược phương Nam, viên thống soái này đã chọn Cù Lao Phố làm nơi đặt tổng hành dinh. Tại đây, ông  thiết lập bản doanh, tổ chức cơ sở hành chính, ổn định đời sống dân chúng bằng cách thiết lập phủ, huyện, tổng, xã, thôn của các vùng Phước Long, Biên Trấn. Việc quy định khai khẩn ruộng đất, lập sổ bộ đinh, điền, thuế má đã giúp chúa Nguyễn có thêm nguồn lợi. Ông cũng chính là người có sáng kiến khuyến khích dân chúng các dinh trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi vào khai khẩn ruộng đất, lập vườn tược, hình thành các làng mạc trù phú ở Đồng Nai.

Về sau, Cù Lao Phố bị tàn phá nặng nề do cuộc bạo loạn của thương nhân người Phúc Kiến (Trung Quốc) là Lý Văn Quang vào năm 1747 và cuộc giao tranh giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn, đặc biệt là năm 1776. Nhà cửa phố xá bị thiêu trụi, cư dân dần dần lưu tán, chấm dứt thời kỳ hưng thịnh của Cù Lao Phố sau gần 100 năm.

Tinh hoa còn đó

Chùa Ông ở Cù Lao Phố.

Cù Lao Phố hiện còn lưu nhiều dấu tích về thời hưng thịnh với những công trình mang đậm tín ngưỡng như chùa Đại Giác, đền thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, miếu Quan Đế, chùa Thủ Huồn… Những tinh hoa trong các làng nghề gốm sứ, điêu khắc hay những sự kiện lịch sử trong lao động và bảo vệ lãnh thổ, sự định hình thiết chế xã hội, các di tích văn hóa của vùng đất này… được Trịnh Hoài Đức biên khảo hết sức công phu trong bộ Gia Định Thành thông chí.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Với hệ thống những công trình tín ngưỡng tôn giáo trên mảnh đất ghi đậm dấu ấn lịch sử văn hóa, Cù Lao Phố là điểm du khảo lý thú cho những ai yêu thích thiên nhiên, nghệ thuật. Đứng bên bờ sông Đồng Nai, du khách có thể nhìn thấy Cù Lao Phố nổi bật giữa dòng sông, thấp thoáng mái đình, mái chùa cổ, tịnh xá…

Chùa Đại Giác

Chùa Đại Giác

Được xem là nơi địa linh nhân kiệt, Cù Lao Phố đang là đối tượng của các nhà nghiên cứu khảo cổ học về những giá trị văn hoá, lịch sử.

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Sự kiện lịch sử:

Sự thịnh vượng của vùng Cù lao Phố chỉ kéo dài được 97 năm (1679 -1776), bởi đã xảy ra hai sự kiện lớn:

* Năm 1747, một nhóm khách thương người Phúc Kiến qua lại buôn bán, thấy Cù lao Phố rất giàu có nên dậy lòng tham muốn chiếm lấy để làm chỗ dung thân lâu dài. Cuộc bạo loạn do Lý Văn Quang (tự xưng là Giản Phố Đại vương) cầm đầu, đánh úp dinh Trấn Biên (tiền thân của Biên Hòa sau này), giết chết Nguyễn Cư Cẩn (tước Cẩn Thành Hầu) là người cai quản dinh. Tin cấp báo về Thuận Hóa, chúa Vũ vương (Nguyễn Phúc Khoát) liền sai cai cơ Tống Phước Đại (tước Đại Thắng Hầu) đang đóng ở Mô Xoài đem binh vào cứu viện. Tống Phước Đại phá tan đạo quân của Lý Văn Quang, bắt được chúa đảng cùng đồng bọn 57 người. Tuy dẹp được cuộc bạo loạn, nhưng Cù lao Phố cũng đã chịu nhiều thiệt hại.

* Năm 1776, quân Tây Sơn đã đến đàn áp những người Hoa ở cù lao Phố vì họ đã ủng hộNguyễn Phúc Ánh  . Trịnh Hoài Đức mô tả: Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước (Gia Định thành thông chí). Sau khi chợ búa cùng phố xá bị tàn phá nặng nề, các thương gia người Hoa rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn (nay là Quận 5 và Quận 6, thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), sáp nhập với làng Minh Hương sinh sống và lập những cơ sở thương mãi khác cho đến nay…

Kể từ đó, vùng Cù lao Phố đánh mất vai trò là trung tâm thương mại của Đàng Trong mà thay vào đó là Chợ Lớn và Mỹ Tho.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Older Posts »