Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘tranh dân gian’

This slideshow requires JavaScript.

 

 

*MỤC LỤC  – VIDEO – SLIDE SHOW

Read Full Post »

Tranh dân gian mất khách, làng giấy dó cũng lụi tàn

Giấy dó Phong Khê (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) vốn nổi tiếng vì gắn liền với làng tranh Đông Hồ. Nay tranh Đông Hồ mất khách nên nghề làm giấy dó cũng theo đó lụi tàn. Cả làng 1.800 hộ gia đình thì 600 hộ sản xuất đủ loại giấy và chỉ 4 hộ còn làm giấy dó.

Ông Nguyễn Văn Chuyển, cán bộ UBND xã Phong Khê, giải thích nghề làm giấy dó ra đời từ đời Tiền Lê, khi nhu cầu sử dụng giấy xuất hiện, nhất là khi có khoa cử. Giấy dó của làng thực sự nổi tiếng khi gắn liền với tranh Đông Hồ. Hồn giấy là những bức tranh dân gian khắc gỗ làng Đông Hồ, một làng cổ Kinh Bắc khác, cách Phong Khê gần 20 km. Những Đám cưới chuột, Hứng dừa, Đánh ghen, Cá chép… chỉ nổi tiếng khi in trên giấy dó Phong Khê.

Cây dó nguyên liệu được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Nhưng người Phong Khê kén chọn, ít khi chọn thứ dó Yên Bái, Lào Cai mà phải là của Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang và cũng chỉ mua dó vào tháng 8 âm lịch. Dó mang về, lột tiếp lớp vỏ đen, lấy lượt vỏ trắng ngâm nước vôi 24 tiếng mùa hè, 36 tiếng mùa đông. Sau đó vớt ra, bó thành từng mớ, ngâm vào nước vôi tôi. Chuyển sang thùng nấu, cứ một thùng là 50 kg dó hết 20 kg than, than tàn dó cũng chín đúng độ. Một ngày sau, dỡ ra lại ngâm nước cho hết vôi, nhặt bỏ từng mấu nhỏ còn sót lại. Dó đem đi rửa tiếp, cho vào bể ngâm 15-20 ngày, rồi vớt ra, cho vào cối giã nhuyễn, đem đãi lấy nước trong, cho vào bể… Tính sơ sơ từ cây dó ra được tờ giấy phải qua 10 công đoạn, tức là gần một tháng.

Ông cụ Lưu, một lão nghệ nhân lôi ra xấp giấy chính hiệu Phong Khê khoe với khách: “Giấy dó xịn phải trong, mỏng, mịn, sờ vào mát tay như lụa tơ tằm thế này chứ!”. Cụ tự hào vì mấy hôm trước được Bảo tàng Dân tộc học mời về giới thiệu nghề làm giấy dó Phong Khê. Song đến khi trở về làng, cụ lại buồn. Đông Hồ giờ đã chuyển nghề làm hàng mã. Cả làng tranh dân gian nổi tiếng chỉ còn 2 người gắn bó với nghề: nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam. Nhưng cả hai giờ đã già, làm tranh khắc gỗ không phải để mưu sinh mà chỉ để chơi, để đỡ nhớ nghề. Giấy dó Phong Khê vì thế cũng lay lắt theo.

Để tồn tại, Phong Khê chuyển sang làm giấy bản, giấy in, bao bì và cả… giấy vệ sinh. Chị Ngô Thị Thu, một trong số 4 hộ gia đình còn giữ nghề, cho biết, giấy dó bây giờ có dăm bảy loại. Họa hoằn lắm có người đặt hàng, nhà chị mới làm thứ giấy cao cấp từ cây dó Cao Bằng, mỗi lần cũng chỉ dăm ba nghìn tờ. Mỗi tờ giá có 400 đồng, lãi lời chẳng thấm tháp vào đâu so với nhu cầu mưu sinh hằng ngày của hai vợ chồng và cậu con trai đang học ĐH Bách khoa năm cuối. Giấy dó nuôi sống gia đình chị là loại chất lượng kém, pha tạp nhiều.

Làng Phong Khê giờ rất giàu. Cụm công nghiệp làng tập hợp hơn 120 xí nghiệp sản xuất giấy, mỗi doanh nghiệp có vốn từ vài tỷ đến 50 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người gần 20 triệu đồng/năm. Anh Phúc, chủ doanh nghiệp sản xuất giấy Phúc Hân, tự hào rằng khu công nghiệp mỗi năm làm ra hơn 40.000 tấn giấy. Chất lượng chỉ kém giấy Bãi Bằng, còn cỡ giấy Tân Mai thì chẳng có gì phải ngại. Chuyển sang chuyện giấy dó, anh Phúc có vẻ bần thần: “Biết sao được, làng tôi không những phải sống mà còn lo chuyện làm giàu. Xã hội không dùng giấy dó thì sản xuất ra bán cho ai?”.

Theo dongho.bacninh.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Tranh Đông Hồ – một dòng tranh luôn bám theo thời cuộc

 Quả thật, cách “nhại” tranh Đông Hồ để “giễu” các vấn đề của cuộc sống đương đại của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông – đang diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Pháp, 24 Tràng Tiền, Hà Nội (kéo dài đến 15/7/2009) có thể để lại nhiều tiếng cười sảng khoái. Song cũng có những ý kiến khắt khe cho rằng, như thế có vẻ làm “tầm thường hóa” dòng tranh cổ kính của cha ông.

Vậy tranh Đông Hồ có thể phản ánh cuộc sống đương đại hay không? Để trả lời cho những thắc mắc này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết khám phá những điều thú vị về tranh Đông Hồ – một dòng tranh luôn bám theo thời cuộc.

Từ cảnh nhảy đầm đến… nhà chứa!

Ai cũng biết trong phong trào Âu hóa, cái món “nhảy đầm” đã được du nhập vào Việt Nam khiến các cụ đồ Nho phải lắc đầu lè lưỡi. Nhảy đầm đã đi vào tranh Đông Hồ với bức tranh cùng tên, và hiện nay vẫn còn ván khắc để in. Bức tranh mô tả một quầy bar, có ly, cốc, có bồi bàn, có rượu vang hoặc champagne, hình vẽ cũng thô mộc thôi, nhưng rất rõ một sinh hoạt thuộc địa, với hai cặp giai thanh gái lịch trong điệu valse uyển chuyển.

Từ cảnh nhảy đầm đến… nhà chứa!

Nhảy đầm (tranh Đông Hồ)

Bức tranh đôi Phong tục cải lương – văn minh tiến bộ vẽ ông Tây – bà đầm đi “picnic”, một bên chú thích là Phong tục cải lương moa tăng phú, còn bên kia: Văn minh tiến bộ, tọa (toa) tăng xương. Theo lý giải của họa sĩ Trần Hậu Yên Thế, thì đây là cách chửi kiểu bồi tiếng Tây của một ông đồ cũng thật hay, Toa tăng xương = Toi attention/ Mày liệu hồn, Moa tăng phú = Moi, je m’enfiche/ Tao mặc kệ. Cả hai câu có nghĩa đầy phẫn nộ: Phong tục thay đổi, thì mày liệu hồn; Văn minh tiến bộ, tao đếch cần.

Bức tranh đôi Phong tục cải lương - văn minh tiến bộ

Bức tranh đôi Phong tục cải lương - văn minh tiến bộ

Bộ tranh đôi Trai tứ khoái – gái bảy nghề, nghệ nhân đã rất khéo đổi câu vè quen thuộc trong dân gian chê các cô gái hư hỏng: “Ngồi lê là một, dựa cột (lười nhác) là hai/ theo giai là ba/ ăn quà là bốn/ trốn việc là năm/ hay nằm là sáu/ đánh cháu là bảy” thành “đăng sê (nhảy đầm) là một/ theo mốt là hai/ đánh bài là ba/ đàn ca là bốn/ trốn nhà là năm/ đi săm (nhà chứa) là sáu/ Mang cháu (chửa hoang) là bảy. Bộc lộ sự phê phán riết róng cái việc đánh mất thuần phong để đi vào bại tục.

Chỉ một góc nhỏ thôi trong tranh Đông Hồ đã cho ta thấy nghệ nhân với trách nhiệm xã hội đã đóng vai trò phê phán quyết liệt những thói xấu từ quan trường đến đời sống dân sự. Họ là nghệ nhân nhưng cũng là những nhà báo trứ danh đó chứ!

Tranh Đông Hồ: luôn bám theo thời cuộc

Chỉ từ đời sống dân gian, chẳng có ai định hướng mà tranh Đông Hồ cũng có đủ loại từ tranh giáo khoa, phong cảnh, phong tục, sinh hoạt, tín ngưỡng, tranh truyện (dựa theo cổ tích) tranh lịch sử, châm biếm và hài hước, chẳng thiếu thể loại gì.

Tranh Gái bảy nghề

Tranh Gái bảy nghề

Có thể nói, một đặc điểm rất đáng nể của tranh Đông Hồ là luôn bám theo thời cuộc. Ta để ý mảng tranh châm biếm, những bức tranh như Trê cóc, Đám cưới chuột, Đánh ghen, Hứng dừa cách nay vài trăm năm đến những tranh Trai tứ khoái, gái bảy nghề vẽ về thói sinh hoạt đàng điếm của đám trai gái thành thị thời thực dân Pháp đến các tranh vẽ người Pháp Văn minh tiến bộ, phong tục cải lương cách đây sáu bảy mươi năm tự nhiên đóng vai trò phản biện xã hội với con mắt phê phán khá sắc cạnh. Thế mới biết nghệ nhân quan sát cuộc sống và hiểu cuộc sống khá kỹ lưỡng. Có thể nói đó là loại tranh biếm xuất hiện rất sớm ở Việt Nam, ở tư thế độc lập, cao cấp in màu tử tế và được xã hội chấp nhận, giữ gìn.

Tranh Đám cưới chuột quá nổi tiếng, ai cũng biết nhà chuột trong buổi nghinh hôn phải lo lễ lạt cho bề trên là ông miêu để được vênh vang rước dâu. Nhưng vào thời mua quan bán tước, nghệ nhân ta chế lại hai chữ “nghinh hôn” thành “tiến sĩ”. Cảnh rước dâu thành cảnh rước tiến sĩ vinh quy, cũng lễ lạt cho mèo để được danh phận.

Đám cưới chuột (trái) được “chế” lại thành đám rước Tiến sĩ (dưới) với đầy tính thời cuộc

Đám cưới chuột (trái) được “chế” lại thành đám rước Tiến sĩ (dưới) với đầy tính thời cuộc

Ai cũng biết tranh đôi Đánh ghen chê cười cảnh lẽ mọn, ông chồng rụt rè can ngăn vợ cả: Thôi thôi bớt giận là lành… còn Hứng dừa thì “đấy trèo đây hứng” quả là ngoạn mục của sự phồn thực. Nhưng lại có một dị bản Đánh ghen, Hứng dừa nữa của thế hệ sau gần chúng ta hơn, khá đặc biệt với chú thích mới: Ở tranh Đánh ghen, cảnh ông già đang lộn xộn trong cảnh tranh chấp vợ cả vợ bé, ông tuyên bố gân guốc với bà cả “nhân lão tâm bất lão” (người già nhưng lòng chưa già!), quyết tâm giữ bà hai. Còn Hứng dừa thì đi xa hơn trong phồn thực với chú thích lẩy từ câu Kiều có sửa đi đôi chút: “trong như ngọc, trắng như ngà”, chẳng phải là anh chồng đang nói về cô vợ “nuy” sao?

Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (cũ)

Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (cũ)

Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (mới)

Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (mới)

Hs Đỗ Đức (TT&VH)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

 

Tranh lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ

Những bức tranh của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông lấy bố cục và cảm hứng từ tranh dân gian Đông Hồ đã khai mạc chiều ngày 16/6/2009 tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24 Tràng Tiền Hà Nội). Xem triển lãm mới thấy giá trị và sức sống bền lâu của nghệ thuật dân gian khi người nghệ sĩ biết cày xới trên mảnh ruộng của cha ông để lại…

1. Cách đây mấy năm, tôi đưa Gérald Gorridge, một họa sĩ Pháp, thầy giáo của Trường Đại học Angoulême ở Bordeau chuyên vẽ tranh truyện về thăm làng tranh Đông Hồ. Sau khi nghe giải thích về những bức tranh quê, ông đưa ra nhận xét: “Thì ra mỗi bức tranh đều được xuất phát từ một câu chuyện”.

Tranh Lợn đàn của Đông Hồ (trái) và tranh của Phạm Huy Thông

Tranh Lợn đàn của Đông Hồ (trái) và tranh của Phạm Huy Thông

Sau chuyến đi một ngày ấy, Gérald đã nảy ra ý tưởng sẽ lập một dự án vẽ truyện tranh lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ. Cuốn Kể mới ra đời vào năm 2004 là kết quả của dự án giữa trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và Alliance Francaise (Trung tâm Văn minh Pháp) do ông khởi xướng đã ra đời.

Phải nói ý tưởng đó thật tuyệt vời nhưng quá trình thực hiện, các họa sĩ trẻ trong đó có những sinh viên đang theo học tại trường đã không làm được theo ý tưởng của Gérald Gorridge. Cuốn sách giống tranh truyện hành động của Âu châu, tinh thần Đông Hồ bị khuất lấp vì các bạn trẻ chưa kịp đọc được cốt lõi tinh thần của người làng Hồ.

Xem các họa sĩ trẻ vẽ hiện đại, học theo tinh thần hội họa phương Tây tôi cứ thấy tiếc tinh thần phương Đông ẩn chứa sau các bức tranh dân gian, tranh thờ cúng khá đặc sắc nhưng không thấy ai tìm hiểu, hoặc tìm hiểu mà chưa thấm để tìm cảm hứng từ đó. Tôi đoán chắc rằng với tinh thần và sức trẻ, một khi đã ngộ ra việc đó thì sẽ có những bức tranh gây biến động đời sống sáng tác trong giới trẻ. Chắc chắn là vậy.

2. Tôi đã không phải chờ lâu. Triển lãm tranh của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông đã làm được điều đó. Lấy cảm hứng từ trong tranh của người xưa để áp vào cuộc sống hôm nay là cách mà Phạm Huy Thông đã khéo léo dùng để tạo ra những bức tranh của mình vừa hóm hỉnh vừa tức cười. Xem đây người ta mới thấy giá trị và sức sống bền lâu của nghệ thuật dân gian khi người nghệ sĩ biết cày xới trên mảnh ruộng của cha ông để lại.

Phạm Huy Thông đã nhìn tranh đôi Tiến tài tiến lộc thành một hình ảnh đối xứng cụ thể đầy chất trào lộng: tiến tài bê hộp bột giặt Tide, tiến lộc thì đang bê chiếc giày trên tay để quảng cáo hàng.

Tranh Rước trống là lũ trẻ vui nhộn đẩy xe kem, ồn ào như chợ vỡ, chơi đàn thả bóng bay trên đường phố.

Tranh nhà nông với con trâu thành ông nông dân ngán ngẩm vì mất đất rao bán trâu và bắn số điện thoại di động lên mình trâu để người mua tiện liên hệ.

Khoáy âm dương trên mình tranh Lợn đàn biến thành những chiếc băng cối đồ sộ, mõm lợn thành muôn vàn những chiếc loa loe xoe như đang muốn rống lên thống thiết. Tiến sĩ vinh quy thời nay ngồi trên xe tăng lao rầm rầm trên đường phố với loa phóng thanh giống các loa công cộng chĩa về mọi ngả, hai bên sườn xe là những trung nam bản xã áp sát tiền hô hậu ủng hết cỡ cho cái vẻ vang công thành danh toại.

Tranh Phú quý của Phạm Huy Thông

Tranh Phú quý của Phạm Huy Thông

Em bé trong tranh Phú quý thì tay cầm micro, tay ôm đài, xung quanh ngổn ngang các thiết bị âm nhạc với đám dây nhợ lằng nhằng cũng đang xả âm thanh chát chúa… Người xem không thể không mỉm cười cách phê phán thời hiện đại được dựng lên từ tinh thần trào lộng của người xưa, quyết liệt hơn người xưa, hài hước hơn người xưa, thật là một sự đồng hành đầy duyên nợ không thể không khiến người xem sau những trận cười vãi nước mắt lại ngậm ngùi về thế sự.

Không thể nói hết cái hay, cái dí dỏm hài hước mà họa sĩ đã khéo đắm mình vào cuộc sống dân gian và thế sự tạo dựng lên trong một bài viết ngắn. Các bạn hãy đến với phòng tranh, đắm mình vào đó để sống với hiện tại và nhớ về cha ông ta một thời, để cùng chia sẻ với họa sĩ và cảm nhận về tinh thần văn hóa một thời của người dân đồng quê Việt.

Hoạ sĩ Đỗ Đức (TT&VH)

Read Full Post »

Tranh làng Sình xưa và nay

Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà – một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh – một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng.

Vị trí: Làng Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Đặc điểm: Tranh Làng Sình chủ yếu phục vụ cho việc thờ cúng của người dân trong vùng.

Thời Trịnh – Nguyễn, cùng đoàn người vào đất Thuật Hoá định cư, ông Kỳ Hữu Hoà mang theo nghề làm tranh giấy mộc bản, tranh làng Sình ra đời từ đó. Ông Hoà được coi là ông tổ nghề tranh ở làng sình.

Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà – một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh – một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với những bản mộc 150 năm tuổi

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với những bản mộc 150 năm tuổi

Hồn của bức tranh nằm ở cái vuốt tay này!

Hồn của bức tranh nằm ở cái vuốt tay này!

Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng. Có thể phân làm ba loại:

1-  Tranh nhân vật chủ yếu là tranh tượng bà, vẽ một người phụ nữ xiêm y rực rỡ với hai nữ tì nhỏ hơn đứng hầu hai bên. Tượng bà còn chia thành ba loại: tượng đế, tượng chùa, và tượng ngang. Loại tranh này dán trên bàn thờ riêng thờ quanh năm.

2- Lại còn các loại tranh khác gọi là con ảnh, gồm hai loại: ảnh xiêm vẽ hình đàn ông đàn bà, và ảnh phền vẽ bé trai bé gái (phải chăng phền do chữ phồn thực của Ðông Hồ). Các loại nhân vật còn lại là tranh ông Ðiệu, ông Ðốc và Tờ bếp (có lẽ tranh vẽ Táo quân). Các loại tranh này sẽ đốt sau khi cúng xong.

3-  Tranh đồ vật vẽ các thứ áo, tiền và dụng cụ để đốt cho người cõi âm: áo ông, áo bà, áo binh, tiền, cung tên, dụng cụ gia đình… thường là tranh cỡ nhỏ. Tranh súc vật (gia súc, ngoài ra còn có voi, cọp và tranh 12 con giáp) để đốt cho người chết.

Tranh làng Sình có thể sánh với các dòng tranh miền Bắc (như Ðông Hồ, Kim Hoàng, Hàng Trống), một thời đã lưu hành khắp vùng Thuận Quảng. Sình là tên nôm của làng Lại Ân, cách Huế chừng 7km về phía đông bắc. Sách Ô Châu cận lục ra đời hồi thế kỷ 16 đã nói đến Lại Ân như một địa danh trù phú.

Xóm Lại Ân canh gà xào xạc

Giục khách thương mua một bán mười…

Vào khoảng tháng năm, tháng sáu, khi trời nắng to nước cạn, từng nhóm 57 chàng trai dong thuyền dọc theo đầm phá Tam Giang, đến Cầu Hai, Hà Trung, Lăng Cô để cào điệp, một loại trai sò có vỏ mỏng và phẳng. Có loại điệp chết đã lâu ngày vỏ lắng dưới bùn gọi là “điệp bùn”, khi nhặt chỉ còn là những mảnh màu trắng, mỏng, mềm dễ sử dụng hơn. Loại điệp mới chết gọi là “điệp bầy” nổi trên bùn, có vỏ cứng lẫn nhiều màu đen. Ðiệp đem về loại hết tạp chất, chỉ còn lại lớp vỏ trắng bên trong, được đem giã nhỏ. Mỗi cối giã có từ 26 người thay nhau giã, gần như suốt đêm tới sáng. Những câu hò giã điệp cũng vang lên như lúc giã gạo. Bột điệp lấp lánh trộn với bột nếp khuấy thành hồ, phết lên giấy sẽ cho ra một thứ giấy trắng lấp lánh ánh bạc. Bàn chải quét điệp làm bằng lá thông khô bó lại, gọi là cái “thét”. Khi chiếc thét quét qua mặt giấy sẽ để lại những vệt trắng song song lấp lánh.

Ðể kiếm các loại cây cỏ pha chế màu có khi họ phải lên tận rừng già phía tây Thừa Thiên – Huế. Hai thứ cây chỉ có ở đây là cây trâm, phải chặt từng đoạn mang về, sau đó mới chẻ nhỏ để nấu màu; còn cây đung thì hái lá và bẻ cành. Lá đung giã với búp hòe non sẽ cho màu vàng nhẹ. Các màu khác cũng được làm từ cây cỏ trong vườn như hạt mồng tơi cho màu xanh dương, hạt hòe cho màu vàng đỏ, muốn có màu đỏ sẫm thì lấy nước lá bàng. Ngoài ra người làng Sình còn dùng đá son để lấy màu đỏ, bột gạch để có màu đơn. Màu đen được dùng nhiều nhất, lại là màu dễ làm nhất. Người ta lấy rơm gạo nếp đốt cháy thành tro, sau đó hòa tan trong nước rồi lọc sạch để lấy một thứ nước đen, đem cô lại thành một thứ mực đen bóng. Những màu chủ yếu trên tranh làng Sình là các màu xanh dương, vàng, đơn, đỏ, đen, lục. Mỗi màu này có thể trộn với hồ điệp hoặc tô riêng, khi tô riêng phải trộn thêm keo nấu bằng da trâu tươi.

Tranh Sình có kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó thông dụng. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25×35), pha ba (25×23) hay pha tư (25×17). In tranh khổ lớn thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra. Với tranh nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên.

Bản in đen chờ cho khô thì đem tô màu. Tuy màu tô không tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng tranh. Công việc “điểm nhãn” ở một số tranh cũng do thợ chính làm nhằm tăng thêm vẻ sinh động của tranh.

Những mảng màu lớn thì dùng một thứ bút riêng làm bằng tre gọi là thanh kẻ để tô màu. Những chi tiết nhỏ thì dùng bút lông đầu nhọn. Việc tô màu được làm theo dây chuyền, mỗi người phụ trách một hai màu, tô xong lại chuyển cho người khác. Những bàn tay tô màu như múa thoăn thoắt trên tờ tranh, có người kẹp hai, ba cây bút ở đầu ngón tay để tô cùng một lúc hai, ba mảng màu. Ðiểm nỗi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo của nó là ở chỗ tô màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên. Cố họa sĩ Phạm Ðăng Trí, người họa sĩ tài hoa của đất thần kinh xưa, đã tìm thấy trong tranh Sình bảng màu “ngũ sắc Huế”, hơi khác với bảng “ngũ sắc phương Đông”. Và nếu ta so sánh những gam màu sử dụng trên tranh thờ sẽ thấy nó gần gũi với tranh pháp lam trang trí trên các kiến trúc của kinh thành xưa. Ðó là sự hòa sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hỏa hoàng, phí thủy với hổ phách…

Cái khác biệt của tranh làng Sình với các dòng tranh dân gian khác chính ở nét vẽ và bố cục còn rất thô sơ, hồn nhiên đậm chất mộc mạc làng quê. Khi sáng tác một bức tranh, bản mộc chỉ giữ vai trò làm khuôn và in màu chính ( thường là màu tím chàm). Những màu sắc còn lại được người nghệ nhân vẽ bằng tay. Chính vì thế không có bức nào giống bức nào. Mỗi bức đều mang trong mình tâm trạng của nghệ nhân lúc đó.

Khi nghiên cứu về tranh làng Sình, nhiều nhà nghiêu cứu cho rằng gam màu sử dụng trên tranh làng Sình gần giống với gam màu được sử dụng trên tranh pháp lam tại các kiến trúc kinh thành Huế: hoà sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hoả hoàng, phí thuỷ với hổ phách.

Bức tranh khi hoàn thành sẽ lấp lánh bởi vỏ điệp, nền nã bởi chất màu thô mộc, quyến rũ và quan trọng hơn cả là khi bức tranh đến tay người sử dụng đã ẩn chứa một cái gì đo thiêng liêng của cõi tâm linh.

Chấn hưng bằng phương pháp công nghiệp!

Nghề làm tranh giấy truyền thống làng Sình mai một dần từ sau 1945. Chiến tranh loạn lạc chẳng mấy ai để ý đến chuyệ thờ cúng cho đúng với truyền thống, lễ nghi.

Tranh giấy làng Sình làm ra bán không ai mua, người dân bỏ giấy, bỏ mực chuyển chuyển sang làm những nghề khác để mưu sinh. Sau năm 1975, cả làng chỉ còn vỏn ven 3 hộ dân bám đuổi với nghề làm tranh truyền thống.

Những khuôn bản mộc để in tranh lưu truyền hơn mấy năm cũng bị thất lạc dần theo sự mai một của làng nghề này. Thật hiếm để tìm lại những bản mộc xưa.

Ông Kỳ Hữu Phước kể rằng: Để giữ được những bản mộc của ông cha để lại, ông đã phải bọc nilon, chôn thật sâu dưới đất hàng chục năm. Bây giừo ông Kỳ Hữu Phước còn giữ lại vỏn vẹn có hai bộ mộc bản có tuổi trên 150 năm.

Năm 1999, trước nhu cầu của thị trường, nghề làm tranh giấy truyền thống Làng Sình đứng trước cơ hội được phục hưng. Những khuôn mộc thất truyền, người làm tranh bỏ công đi tìm lại nhưng số lượng không nhiều. Để có khuôn mộc in tranh truyền thống người làm tranh chỉ còn cách tìm lại những bức tranh được cất giữ rồi tự làm lấy bản mộc. Hiện tại, người làm tranh làng Sình phục hồi 25 bản mộc để in tranh truyền thống.

Giấy dó để làm tranh truyền thống được thay bằng loại giấy công nghiệp, màu cũng được thay bằng màu công nghiệp bán trên thị trường. Chính vì thế mà giá thành cho mỗi bức tranh cũng giảm đi đáng kể.

Từ việc đứng trước nguy cơ biến mất, đến vài ba hộ dân, tăng lên chục hộ rồi dần tăng lên con số vài chục hộ trở lại với nghề. Đến thời điểm này, làng Sình có 32 hộ làm nghề tranh truyền thống.

Tranh dân gian làng Sình thời hiện đại không còn giữ nguyên được bản chất truyền thống, bởi lẽ từ nguyên vật liệu đã được thay bằng những nguyên vật liệu công nghiệp, tiện lợi hơn gấp nhiều lần.

Có giấy, có màu công nghiệp, giờ đây người làm tranh truyền thống làng Sình mỗi ngày có thể in trên bản mộc 1.000 bức mỗi ngày. Các công đoạn in ấn, phối màu cũng được giảm thiểu, số lượng tranh cung cấp cho thị trường mỗi năm xấp xỉ 200 ngàn tờ.

Làm nhanh, số lượng nhiều, nhưng cái thần sắc của bức tranh làng Sình nổi tiếng một thời cứ mất dần đi.

Để bắt kịp với cơ chế thị trường, tăng số lượng tranh cung cấp cho thị trường những nghệ nhân chân đất gắn bó cả cuộc với nghiệp làm tranh truyền thống lại có ý tưởng công ngiệp hoá tranh truyền thống làng Sình!

Một dự án khuyến công của xã Phú Mậu, h.Phú Vang, TT-Huế đang được triển khai, theo dự án này, người dân làm tranh truyền thống sẽ được đầu tư mua máy xén, mua Rulô quay. Giấy sẽ không còn xén thủ công nữa, bản mộc được khắc hẳn lên bề mặt rulô, cách làm này không mục đích nào hơn là tăng năng suất làm tranh.

Lý giải cho cách làm này, nghệ nhân dân gian Kỳ Hữu Phước cho rằng: “ Với 30 triệu đồng đầu tư mua sắm máy xén, ru lô quay, rồi đây chúng tôi sẽ một mặt tăng năng suất, thu hút lao động để giữ vững làng nghề truyền thống cha ông”(?)

In bằng rulô thì nhanh thật, năng suất thật! Nhưng theo một nhà nghiên cứu nghệ thuật dân gian thì cái hồn của tranh làng Sình chính nằm ở cái vuốt tay trên mặt giấy khi in bảm mộc! Vậy thì làm kiểu “ công nghiệp” chắc rằng tranh làng Sinh sẽ mất cái hồn ấy!

Cách làm công nghiệp hoá tranh dân gian ở làng Sình, liệu rồi đây những bức tranh giấy được sản xuất tại đây có còn nguyên bản chất truyền thống dân gian?

Bảm mộc già tuổi nhất làng - 200 năm.

Bảm mộc già tuổi nhất làng - 200 năm.

tls

Trẻ con bây giờ là nhân lực chính trong công đoạn tô màu!

Theo Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam và Việt Báo

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Người vẽ tranh trên kính cuối cùng ở đất Bình Dương

Lái Thiêu là một thị trấn nhỏ thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Nơi đây nổi tiếng với những vườn cây ăn trái, lò gốm, xưởng mộc gia truyền… Nhưng, có lẽ còn ít người biết mảnh đất này trước đây cũng khá nổi tiếng với nghề vẽ tranh trên kính. Theo thời gian, những bức tranh trên kính vàng son cũng dần phai mờ trong trí nhớ.

Tiệm kính Mỹ Nga là một căn nhà nhỏ, nằm ở mặt tiền một con đường nhỏ của thị trấn Lái Thiêu. Khi chúng tôi bước vào tiệm kính thì người nghệ nhân ấy đang cặm cụi hoàn tất công đoạn cuối cùng của một bức tranh kính khảm ốc. Khi biết chúng tôi là nhà báo đến đây để tìm hiểu nghề vẽ tranh trên kính thì ông hết sức ngạc nhiên: “Hồi nào giờ, có ai hỏi ba cái vụ mần tranh kiếng (tức kính) này đâu!”.

Thong thả, vừa làm, vừa hút thuốc, trò chuyện, người nghệ nhân vẽ tranh kính ấy cho chúng tôi biết, tên khai sinh của ông là Trương Trung Thơ, gọi theo thứ bậc trong nhà là Sáu Thơ, năm nay đã 66 tuổi. Theo dòng hồi ức của một người… hay quên, ông Sáu Thơ cho biết, cha ông là một người gốc Hoa tên Trương Tường, còn mẹ ông là người Việt. Từ thời xa xưa, những người Hoa đến vùng Lái Thiêu để lập nghiệp, mưu sống, với chủ yếu là nghề gốm, mộc, thì cha ông đã có sẵn trong tay nghề vẽ tranh trên kính. Theo hình dung của ông thì cha ông chắc hẳn phải là một họa sĩ, có học trường lớp hẳn hoi ở bên Trung Hoa. Nhưng lúc ấy, nghề vẽ tranh trên kính của người Hoa chỉ là “vẽ chơi”, đủ thứ hoa văn chứ không theo một chủ đề nào.

người thợ vẽ cuối cùng và bức tranh trên kính

người thợ vẽ cuối cùng và bức tranh trên kính

Theo như những gì mà chúng tôi đọc được thì có lẽ người Trung Hoa lúc ấy đã lãnh hội kỹ thuật vẽ tranh trên kính của châu Âu. Còn ông Sáu Thơ thì đinh ninh rằng: cha ông là người đầu tiên “sáng lập” ra nghề vẽ tranh kính ở Lái Thiêu. Từ những thứ “vẽ chơi” của người Hoa, ông Trương Tường đã nghiên cứu vẽ theo chủ đề để phục vụ cho cuộc sống và phong tục của người Việt. Mà, điển hình nhất là tranh kính thờ và tranh kính sơn thủy dùng để trang trí.

Người Hoa có tục thờ linh vị, chỉ có chữ chứ không có hình. Còn người Việt thì có cả một ban thờ với đủ “chư vị”, lại thêm những bức liễn, trướng khá công phu, phong phú. Từ chỗ quan sát cuộc sống, ông Trương Tường bắt tay vào vẽ tranh thờ trên kính. Ngay lập tức, tranh thờ trên kính của ông nổi tiếng, tạo nên một thị trường tranh kính sôi động tại Lái Thiêu. Sau đó, có người đến xin làm “đệ tử”. Tranh kính phát triển lên Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh lân cận…

Nghệ nhân Sáu Thơ nhớ lại: “Hồi đó ở miệt Lái Thiêu này làm gì có kiếng. Để mua kiếng, cha tôi phải đánh xe bò lên tuốt… cái cảng gì đó ở Sài Gòn. Kiếng được nhập cảng chứ không phải của người mình làm. Mua kiếng xong lại đánh xe bò về. Tui đã từng theo cha ngồi vắt vẻo trên chiếc xe bò đó. Hồi nhỏ, thấy đường đi xa lắm. Mà cũng phải, hồi đó vùng này hoang vu, chỉ thấy toàn cây chuối với ao, mương…”.

Khoảng 13 tuổi, Sáu Thơ đã được cha truyền nghề. Vẽ tranh trên kính, tất nhiên không phải là món “dễ mần”, trái lại rất khó, bởi phải vẽ ngược. Dụng cụ dùng để vẽ là cọ, mà cọ phết trên kính thì dễ bị “trôi” hoặc nhòe đi. Do đó phải luyện cho bàn tay đạt đến mức: mạnh, nhanh mà uyển chuyển. Đấy là cách luyện của người vẽ thư pháp, chỉ chấm phá mà tạo đường nét, sắc sảo, có hồn. Chưa hết, do vẽ trên kính màu lâu khô, nên người vẽ phải vẽ liên tục, không được dừng, vẽ cho đến khi xong bức tranh thì thôi. Nếu vẽ đứt đoạn, nghỉ dừng tùy ý thì bức tranh cũng đậm nhạt, đứt đoạn lôi thôi.

Cặm cụi với cha vẽ tranh kính riết cũng chán. Năm 20 tuổi, Sáu Thơ rời Lái Thiêu lên Sài Gòn để vẽ tranh cho các gánh hát. “Tui vẽ tranh cho các gánh hát Thúy Nga, Trâm Vàng, Thống Nhất… gần cả chục năm. Vẽ tranh cho gánh hát nhưng tánh tui không thích theo gánh hát nên kêu họ dựng cho một cái trại ngay tại Sài Gòn. Tui vẽ cảnh tuồng, rồi vẽ luôn mẫu quần áo cho thợ may. Các gánh hát thỉnh thoảng về đó lấy phông cảnh tập tuồng, rồi mang phông cảnh, quần áo đi. Còn tui thì có cái xe hơi, rảnh rỗi là… đổ xăng đi chơi”.

Sau hơn 10 năm vẽ tranh cho các gánh hát, ông Sáu Thơ lại quay về Lái Thiêu để tiếp tục nghề vẽ tranh kính. Bởi, khi cha ông mất đi thì ông là người vẽ tranh kính cuối cùng của Lái Thiêu nói riêng, đất Bình Dương nói chung. “Ở Sài Gòn-Chợ Lớn bây giờ có còn người vẽ tranh kiếng?”- Chúng tôi đặt câu hỏi. Ông Sáu Thơ nheo nheo đôi mắt, giọng buồn buồn: “Có lẽ vẫn còn. Nhưng mà lớp “hậu sanh” không tận tâm về nghề đâu. Họ biết vẽ, nhưng làm biếng, chỉ làm tranh in hoặc dán đề-can…”

Nghề vẽ tranh kính trước nguy cơ thất truyền

“Giữa một bức tranh kiếng in, với một bức tranh kiếng vẽ, đâu là chỗ phân biệt?”- Chúng tôi hỏi. Không trả lời ngay, nghệ nhân Sáu Thơ lôi từ trong góc ra hai bức tranh kính thờ Mẹ Sanh (tức là thờ có trước, có sau, có ông bà cha mẹ mới có mình. Với hình Phật Bà Quan Âm ngồi giữa, hai nữ hầu cầm quạt hai bên) cho chúng tôi xem. Thoạt nhìn bức tranh kính thờ Mẹ Sanh dùng kỹ thuật in trông phẳng phiu và… dễ nhìn hơn. Nhưng nhìn kỹ, bức tranh vẽ lại chi tiết, có hồn.

Nghệ nhân Sáu Thơ giải thích: “Tranh in thì cũng từ tranh vẽ, nhưng tạo khuôn rồi cứ theo khuôn đó mà rập. Còn tranh vẽ thì cũng là tranh đó nhưng mỗi cái mỗi khác, vì đường nét linh động, sắc sảo, có hồn. Mà tranh có hồn hay không là do tay nghề và thần thái của người vẽ!…”.

Một bức tranh kính in rẻ hơn tranh kính vẽ từ 3-4 lần. Do đó mà ngày càng nhiều người chỉ mua tranh in. Dù vậy, công việc của nghệ nhân Sáu Thơ vẫn không ngớt, bởi những người yêu thích tranh kính vẽ vẫn còn, nhất là lớp người lớn tuổi hay sống trong hoài niệm, hoặc những người biết được giá trị của tranh kính vẽ đích thực.

Hiện nay, tranh kính thờ vẫn có mặt ở hầu khắp đất nước. Nhưng người vẽ tranh kính như ông Sáu Thơ chắc hẳn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Hơn thế nữa, ông Sáu Thơ là nghệ nhân còn lại duy nhất của dòng tranh kính Lái Thiêu, là cội nguồn, cái nôi của tranh kính Việt Nam. Thế mà cho đến bây giờ nghệ nhân Sáu Thơ vẫn chưa có một “đệ tử” nào cả. Nếu sau này ông mất đi, liệu nghệ thuật tranh kính Lái Thiêu có thất truyền?

Giải thích cho việc không có ai xin làm “đệ tử”, nghệ nhân Sáu Thơ lại nheo mắt, giọng trầm buồn: “Có lẽ vì nghề này khó học. Trường đại học Mỹ thuật cũng không có khoa nào dạy tranh kiếng. Trước đây, cậu tui là GS Nguyễn Văn Rô cũng là học trò của cha tui. Cậu tui dạy Cao đẳng Mỹ thuật (ĐH Mỹ thuật bây giờ), nhưng cũng không dạy vẽ tranh trên kiếng. Mà người chơi tranh kiếng bây giờ cũng hiếm. Chỉ thỉnh thoảng có “đại gia” hay một trí thức Việt kiều nào đó về đây đặt tui vẽ một bức theo đơn đặt hàng…”. Nói rồi, nghệ nhân Sáu Thơ mang ra khoe một bức tranh kính vừa hoàn tất. Đấy là bức tranh thờ “Cửu quyền thất tổ” (tức là thờ chín đời). Một bức tranh khá đẹp, phong cảnh sơn thủy hữu tình, ngoài màu vẽ còn được khảm ốc, xà cừ khá độc đáo, sắc sảo hiếm thấy. Lại mang ra một bức Phật Bà Quan Âm được khảm ốc, nghệ nhân Sáu Thơ tự hào: “Đẹp không? Tranh kiếng khảm ốc chỉ có ở Lái Thiêu này thôi. Mà tui cũng chỉ làm theo đơn đặt hàng, chứ không làm chơi, làm đại trà…”.

Nhìn những bức tranh kính khá đẹp của nghệ nhân Sáu Thơ và nghĩ đến nguy cơ thất truyền của nghề tranh kiếng Lái Thiêu, chúng tôi không khỏi chạnh buồn.

Đoạn kết

“Có một dạo, ông nhà văn già Sơn Nam có ghé tui chơi. Ổng nói nghề tranh kiếng có ở Lái Thiêu đâu chừng khoảng 100 năm. Ổng kêu nghề tranh kiếng này quí lắm, tui ráng giữ và truyền lại cho con cháu. Nhưng tui già rồi, nhà chỉ có một cháu gái lại theo nghề kinh doanh. Đó cái tiệm kiếng, tủ nhôm này là của nó đó. Còn tui cũng chỉ làm chơi chơi thôi…”.

Chúng tôi hỏi, có bao giờ ông nghĩ đến chuyện mở một cuộc triển lãm tranh kính không? Nghệ nhân Sáu Thơ tủm tỉm: “Hồi năm 1957 tui có mở một cuộc triển lãm: “Tranh kiếng Mỹ thuật” tại Sài Gòn. Cũng như cha tui, ngoài vẽ tranh sơn thủy, tranh thờ, tui cũng có tranh kiếng sáng tác. Cuộc triển lãm đó thú vị lắm. Sau đó, trên dưới chục năm, tui không nhớ, tui có làm một cái triển lãm nữa rồi thôi!”. Khi chúng tôi muốn tìm xem những tranh sáng tác trên kính của ông, cũng như tranh kính “di cảo” của cha ông thì ông buồn bã: “Đâu có giữ được cái nào. Bán hết rồi. Hồi đó phòng Văn hóa – Thông tin huyện có xuống chụp hình làm tài liệu, nhưng tui cũng không giữ. Còn tranh của cha tui thì làm đâu bán hết đó. Ông vẽ cho người ta biết bao nhiêu mà khi mất đi không có cái riêng cho mình. Cái hình thờ, phải lấy thẻ căn cước mà phóng ra. Tội lắm!…”.

Trước khi tìm đến nghệ nhân Sáu Thơ, chúng tôi được biết ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre có anh họa sĩ nghèo Đoàn Việt Tiến cũng là người vẽ tranh trên kính (tất nhiên là cũng vẽ ngược). Anh nổi tiếng vì dùng bàn tay (không cầm cọ) bôi màu và vẽ lên kính những chân dung rất đẹp, đặc biệt xuất thần nhất là chân dung Bác Hồ. Anh Đoàn Việt Tiến được mệnh danh là người duy nhất Việt Nam vẽ tranh bằng tay trên kính. Chúng tôi nghĩ vẽ tranh trên kính dù bằng tay không hay cầm cọ đều khó như nhau. Để có thể có được những bức tranh trên kính đẹp, mang tâm hồn Việt Nam, họ – những nghệ sĩ được nuôi dưỡng trong dân gian đã bỏ biết bao công sức và tâm huyết. Hành trình lao động nghệ thuật âm thầm, lặng lẽ ấy thật đáng trân trọng.

Trần Nhã Thuỵ

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Nghề thủ công vẽ tranh trên kính, tỉnh Bình Dương – Thực trạng hiện nay

* LÊ THỊ HÒE

Khi nói tới ngành nghề thủ công truyền thống của tỉnh Bình Dương, chúng thường nghe nhắc đến các nghề như điêu khắc gỗ, gốm sứ, sơn mài… nhưng có lẽ ít ai biết đến một nghề thủ công truyền thống vẽ tranh trên kính đã có từ lâu đời. Nghề vẽ tranh trên kính xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, vẽ tranh trên kính thật sự có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh Bình Dương xưa, nhưng hiện nay đang dần dần bị lãng quên, do nghề này không còn tồn tại nữa.

Tranh kiếng (tức là tranh vẽ trên kính) là một loại hình nghệ thuật dân gian được người dân Nam bộ ưa chuộng, trước đây vào bất cứ gia đình nào cũng đều thấy một vài bộ loại tranh này. Tranh kiếng trở thành sản phẩm không thể thiếu trong nghệ thuật trang trí ngôi nhà của người dân, việc treo tranh trong nhà đã tạo ra nét văn hóa riêng của người dân Nam bộ.

Khác với các loại tranh vẽ thông thường, tranh kiếng là một loại hình đặc biệt, nguyên tắc vẽ tranh kiếng là phải vẽ từ phía sau mặt kính, khi vẽ xong mới lật tấm kính lại và bề đó mới chính là bề mặt của tranh. Do nguyên tắc là vẽ phía sau mặt kính nên chi tiết nào đáng lẽ phải vẽ sau cùng, thì với tranh kính lại phải vẽ trước tiên. Chính với đặc điểm này đã tạo nên nét độc đáo trong tranh kiếng. Vẽ tranh kiếng rất khó, đòi hỏi người nghệ nhân phải thật sự khéo tay và có óc thẩm mỹ cao.

Trong những năm đầu thế kỷ XX, ở Nam bộ có 3 vùng sản xuất tranh kiếng nổi tiếng: Lái Thiêu (Thủ Dầu Một), Chợ Lớn (Sài Gòn) và Chợ Mới (An Giang). 3 vùng này dần dần phát triển trở thành 3 trung tâm sản xuất tranh kiếng và tạo ra 3 dòng tranh kiếng khác nhau, mỗi dòng tranh kiếng có những đặc điểm riêng.

Riêng Dòng tranh kiếng ở Lái Thiêu: Lái Thiêu là một địa phương sản xuất tranh kiếng nổi tiếng từ những năm đầu thế kỷ XX, phát triển mạnh vào những năm thập niên 20, có thể nói thời kỳ này là thời kỳ hưng thịnh nhất của nghề vẽ tranh trên kính của tỉnh Thủ Dầu Một. Sau năm 1945, nghề vẽ tranh trên kính của tỉnh bị suy tàn do rất nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ nguyên nhân chính là do sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh.

Vẽ tranh trên kính

Vẽ tranh trên kính

Sản phẩm tranh kiếng ở Nam bộ phong phú và đa dạng, nhiều loại hình, nhiều màu sắc. Tranh có nhiều đề tài khác nhau và phân theo từng loại hình treo ở những nơi nhất định:

Loại tranh thờ tổtiên thường được treo ở bàn thờ tổ tiên, thờ Phật… loại tranh này thường thể hiện các đề tài như: Các bức hoành phi, câu đối có chữ “Trần Phủ Đường” (ghi họ tên gia chủ), “Thiện Tối Lạc” (ca tụng tổtiên), xung quanh trang trí dây lá, hối văn hay là trang trí viền bằng cây trúc, cây tùng minh họa; tranh viết chữ “Phước”, “Lộc”, “Thọ” trên nền đỏ, xung quanh vẽ khung hình dây lá hoặc hồi văn, thỉnh thoảng có thêm con bướm hay con dơi ngậm trụ chỉ. Tất cả các chữ trên tranh đều được viết bằng chữ Hán.

Ngoài ra, loại tranh này còn vẽ một bụi mai già bên cạnh có cây trúc, bụi lan, cúc… Đề tài khác hấp dẫn người dân bình thường như tranh vẽ phong cảnh, vẽ núi non, bầu trời… Tranh cao cấp thì có tấm liễn vẽ một cành cây có 7 bông, xung quanh có lá, có nụ, phía trên có ghi chữ Hán, loại tranh này rất đắt tiền nên chỉ có những gia đình giàu có mới có tiên mua loại tranh này về trang trí.

Loại tranh treo cửa buồng: Kiến trúc nhà của người dân Nam bộ khác hẳn với miền Bắc và miền Trung.Trong gian nhà ngoài (phòng khách) của người Nam bộ, bàn thờ được đặt chính diện với cửa chính, phía trước bàn thờ đặt một cái tủ lớn và một bộ bàn ghế dùng để tiếp khách, hai bên bàn thờ có 2 lối đi vào nhà trong (buồng). Vì có 2 cửa buồng đi vào nhà trong, nên người ta thường treo một tấm rèm hay một tấm vải cóhoa văn đẹp để, che cửa, phía trên cửa treo tranh trang trí.Tranh cửa buồng có hình chữ nhật, kích thướcthường là 0,9m x 0,6m, mỗi bộ có 2 bức treo phía trên 2 cửa buồng. Tranh cửa buồn vẽ theo đề tài “Loan phượng hòa minh” (tượng trưng chồng vợ hòa hiệp), “Hoa mẫu đơn và chim phượng” (tượng trưng sự giàu có).

Loại tranh tứ bình: Một bộ tranh tứ bình gồm có 4 tấm, treo trên vách với mục đích trang trí. Tranh tứ bình Nam bộ phổ biến các đề tài “Mai Lan Liên Cúc” tượng trưng cho bốn mùa trong năm, “Bát tiên quá hải” (Bát tiên vượt biển), “Bát tiên kỳ thú” (Bát tiên cưỡi thú)”, “Tứ hùng” (vẽ bốn con thú mạnh nhất theo quan niệm dân gian là cọp, hổ, báo, sư tử…). Ngoài ra, còn có tranh vẽ về đề tài như: 4 bó hoa (loại hoa phương Tây), những đàn hạc lội ven sông… loại tranh này mô phỏng tranh phương Tây, xuất hiện muộn thích hợp với nhà thành phố.

Tranh thờ phật, trời, thánh, thần có khổ nhỏ, dùng để thờ phật, thánh, thần, trời… gồm có 2 loại: Tranh vẽ các vị Phật A Di Đà, Bồ Tát, Quan Âm, Quan Thánh Đế Quân, Mẹ Sanh – Mẹ Độ… và các bài vị (loại này chỉ có chữ, xung quanh trang trí hoa văn) thường được treo trong các chùa, đình, miếu…

Mặt hàng nổi tiếng nhất của Dòng tranh Lái Thiêu là tranh thờ tổ tiên và tranh cửa buồng. Tranh cửa buồng Lái Thiêu có loại vẽ nhiều màu sắc, nhưng cũng có loại chỉ vẽ một màu đen hoặc đỏ, các hoa văn đều dán ốc xà cừ. Đặc biệt, người sản xuất tranh ở Lái Thiêu còn biết tâm lý của người dân, nên họ chú ý đường nét vừa tỉ mỉ vừa cách điệu. Họ lại mạnh dạn dùng gam màu ngũ sắc Huế, gồm màu trắng, hường, đỏ, đen, xanh dương, xanh màu lông két… và tùy theo từng sản phẩm để họ dùng mực Tàu hay mực Tây, bột màu pha a dao… Họ cũng rất chú ý đến nội dung và hình thức chữ viết, có nhiều bộ tranh Lái Thiêu chữ đẹp, văn hay, phía sau cẩn ốc xà cừ rất đẹp, treo trong nhà tạo ra nét thanh tao và tôn lên vẻ sang trọng trong ngôi nhà.

"Một góc làng" - tranh kính sơn thủy của cụ Sáu Thơ

"Một góc làng" - tranh kính sơn thủy của cụ Sáu Thơ

So với Dòng tranh kiếng Chợ Mới (An Giang) và Dòng tranh kiếng Chợ Lớn (Sài Gòn), thì Dòng tranh kiếng Lái Thiêu đẹp hơn, tinh tế hơn. Người nghệ nhân Lái Thiêu chú đến thể loại tranh thờ tổ tiên, phù hợp với truyền thống người Việt Nam, nghệ nhân ở chợ Lớn chỉ chú trọng đến tranh Thánh, tranh bài vị và một số hoành phi, tranh dùng để chúc mừng (phù hợp với tâm lý người Hoa). Trong 3 dòng tranh kiếng ở Nam bộ, Dòng tranh Chợ Mới ra đời muộn hơn, sản phẩm không được đẹp như Dòng tranh Lái Thiêu và Chợ Lớn, nhưng sản phẩm của Dòng tranh Chợ Mới lại phong phú, đa dạng, giá thành lại rẻ hơn. Hiện nay, sản phẩm tranh kiếng của chợ Mới vẫn được bán rộng rãi trên thị trường miền tây Nam bộ.

Cách tổ chức sản xuất và tiêu thụ hàng hóa: người ta chỉ sản xuất theo kiểu gia đình chứ không tập hợp theo nhóm hay hợp tác xã, các gia đình tự làm và bán lại cho các lái buôn. Trong một xưởng vẽ tranh, thông thường có năm, bảy người, nhưng chỉ có một người phụ trách chỉ huy, phân công công việc, người này phải am tường mọi việc. Những người còn lại theo sự phân công của người thợ cả làm phần việc của mình. Tùy theo trình độ tay nghề của từng người mà thợ cả phân công công việc. Phần lớn, các thành viên trong xưởng đều là người trong gia đình, nhưng cũng có những xưởng còn thâu nạp học viên, những học viên này khi đã lành nghề có thể ở lại cùng làm việc hoặc ra mở xưởng riêng. Hàng hóa xuất xưởng đều được các lái buôn thu mua và bán lại cho người tiêu dùng. Trước kia, tranh Lái Thiêu được chuyển về miền Tây bằng con đường thủy. Thị trường tranh kiếng Lái Thiêu không những được phổ biến rộng rãi khắp miền Nam mà còn mở rộng ra các vùng lân cận như miền Trung, nước bạn Campuchia.

Tranh kiếng phổ biến rộng rãi trong các gia đình quý tộc cũng như thường dân ở nam bộ, đề tài phong phú nên các tác phẩm tranh trở thành những tác phẩm nghệ thuật, có sức hấp dẫn người dân. Do đó, tranh thường được treo trang trọng trong phòng khách, bàn thờ. Dân thôn dã Bình Dương nói riêng và dân Nam bộ nói chung rất ưa chuộng tranh kiếng. Đó chính là động lực thúc đẩy để tranh kiếng phát triển và hưng thịnh đến những năm thập niên 60 của thế kỷ XX.

Hiện nay, tranh kiếng rất ít chỉ còn tồn tại trong các đình, chùa, miếu và trong các nhà cổ do người dân còn giữ lại… Tuy nhiên, nếu được các ngành hữu quan quan tâm và khôi phục lại bằng cách: tập trung các nghệ nhân xưa lại, đào tạo các nghệ nhân mới, giúp vốn khuyến khích người dân khôi phục lại nghề cũ… chắc chắn rằng sản phẩm tranh kiếng không chỉ là bán ở khu vực Nam bộ mà còn có thể mở rộng thị trường ra cả nước và quốc tế. Nghề vẽ tranh trên kính không chỉ dừng lại ở ngành nghề thủ công truyền thống của một địa phương (Lái Thiêu) mà nó còn có thể sánh ngang hàng với các ngành nghề thủ công truyền thống khác như sơn mài, gốm sứ, điêu khắc gỗ… sẽ thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh nhà phát triển mạnh hơn. Khai thác và phát huy triệt để các ngành nghề thủ công mà ông cha ta để lại…

L.T.H

Tài liệu tham khảo:

1 – Tài liệu thuyết minh trưng bày Bảo tàng tỉnh Bình Dương

2 – Xóm nghề & nghề thủ công truyền thống Nam bộ, NXB Trẻ

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Older Posts »