Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘Giang Tây’

NHỮNG MÓN ĐỒ SỨ TÂN KÝ KIỂU

TRẦN ĐỨC ANH SƠN

1. Tôi đến với đồ sứ ký kiểu từ cuối năm 1988, khi thực hiện luận văn tốt nghiệp đại học về dòng đồ “cha Việt, mẹ Hoa” này. Sau khi ra trường, tôi được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế nhận vào làm việc và đến năm 1995 thì được bổ nhiệm làm phó giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, nơi lưu giữ hơn 2000 món đồ sứ ký kiểu của triều Nguyễn. Dạo ấy dòng đồ này còn khá nhiều trên thị trường cổ vật trong nước nên ít ai nghĩ đến chuyện có đồ sứ ký kiểu giả. Một hôm, có người mang đến bảo tàng mấy món đồ sứ hiệu đề Nội phủ thị trungNội phủ thị hữu, bảo đó là đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và nhờ tôi giám định. Vì chỉ chuyên về dòng đồ sứ do triều Nguyễn ký kiểu, chưa tiếp xúc nhiều với đồ thời Lê – Trịnh nên tôi phải “cầu cứu” các đồng nghiệp ở Sài Gòn và ở Pháp, bằng cách gửi hình ảnh kèm theo khảo tả chi tiết cho họ. Ít lâu sau tôi nhận được câu trả lời từ Sài Gòn: “Đó là đồ mới, do một người buôn bán đồ cổ ở phố Lê Công Kiều đặt làm tại lò Cảnh Đức Trấn bên Trung Quốc theo đúng cách thức ký kiểu thời xưa. Nhiều người không rành tưởng là đồ Lê – Trịnh thật”. Nhận được thông tin, rồi xem xét kỹ các món đồ sứ mà người ta đang nhờ tôi giám định, tôi chỉ có thể nói được hai chữ: “Bái phục”.

Cũng từ đó, tôi chú tâm tìm kiếm thông tin về nhân vật đang đi âm thầm đi “ký kiểu” đồ sứ này. Đến năm 2001, một hôm giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế gọi điện bảo tôi sang phòng ông bàn chút việc. Đến nơi, giám đốc giới thiệu với tôi một vị khách: “Đây là anh Trần Quốc Thái, người chuyên phục chế đồ sứ cổ. Trung tâm muốn hợp tác với anh Thái phục chế đồ sứ để đưa vào trưng bày trong Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, thay thế cho những hiện vật gốc, mà vì nhiều lý do nên không thể đưa ra trưng bày được. Anh là người chuyên nghiên cứu đồ sứ nên tôi mời anh sang bàn cách thức hợp tác với anh Thái để làm dự án này”. Tôi phản ứng tức thời: “Theo nguyên tắc, bảo tàng không trưng bày đồ giả, huống chi mình còn hơn 2000 món đồ sứ ký kiểu chưa mang ra trưng bày vì không có chỗ. Sao lại phải làm đồ giả cổ làm gì?”. Tôi vừa dứt lời thì vị khách lên tiếng: “Tôi đồng ý với anh là trong bảo tàng không nên bày đồ giả. Tuy nhiên, trong các cung điện, lăng tẩm ở Huế hiện đang trưng bày và thờ tự nhiều món đồ gốm Bát Tràng và đồ sứ rẻ tiền của Trung Quốc đấy thôi. Dự án mà tôi muốn hợp tác với các anh là nhằm tạo ra một dòng đồ sứ, phỏng theo đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, từ kiểu dáng, màu men đến hoa văn, họa tiết, để trưng bày trong các lăng tẩm và cung điện, cả nội thất lẫn ngoại thất, thay thế cho những cổ vật đã bị mất mát, hư hỏng hoặc vì lý do nào đó mà các anh không thể đưa hiện vật gốc ra trưng bày và thờ tự được. Đồng thời loại bỏ hoàn toàn những món đồ gốm rẻ tiền đang làm nhếch nhác cảnh quan di tích”. Nghe đến đây thì tôi chợt thấy mình hơi cạn nghĩ, nên kéo ghế ngồi xuống và bắt đầu bàn phương án hợp tác phỏng chế đồ sứ ký kiểu với vị khách nọ, cũng là bắt đầu mối giao hảo với anh Trần Quốc Thái.

2. Trần Quốc Thái có một cửa hàng đồ cổ ở phố Lê Công Kiều (Quận 1, TP Hồ Chí Minh). Cửa hàng của anh bán đủ thứ: đồ gốm sứ, đồ đồng, đồ đá…; cả đồ ta lẫn đồ Tàu, đồ Tây. Song món chủ lực của anh vẫn là dòng đồ sứ xanh trắng do vua chúa các triều Lê – Trịnh (ở Thăng Long) và triều Nguyễn (ở Huế) đặt làm ở Trung Hoa trong các thế kỷ XVII – XIX. Việc buôn bán trở nên khó khăn do cổ vật ngày càng khó kiếm, trong khi, những món đồ sứ ký kiểu quý hiếm thì cứ theo nhau ra nước ngoài. Tiếc vì không đủ tài lực để giữ lại cho mình những món đồ tâm đắc, Trần Quốc Thái chợt nghĩ ra một chiêu thức: phỏng chế đồ sứ theo đúng phương thức mà các sứ thần triều Lê – Trịnh và triều Nguyễn đã đi ký kiểu ở bên Tàu thuở trước, nhằm giữ lại cho mình những món đồ ưng ý.

Năm 1994, gom được một số tiền, lận theo mấy chiếc dĩa Nội phủ – Khánh xuân và mấy món đồ lam Huế, Trần Quốc Thái ra Móng Cái, rồi sang Đông Hưng, nhờ một người Hoa dắt đi Cảnh Đức Trấn để “ký kiểu” đồ sứ. Đó là một hành trình vô cùng gian nan và tiềm ẩn nhiều bất trắc. Ba tuần lang thang ở Cảnh Đức Trấn, thủ đô gốm sứ của Trung Quốc, Trần Quốc Thái tiếp xúc với hàng chục chủ lò nhưng không ai dám nhận lời phỏng chế đồ sứ theo yêu cầu của anh, chỉ vì một lý do: “Khó quá”. Đúng lúc thất vọng nhất thì Trần Quốc Thái gặp được Sào Hải Thanh, một “ông trùm” về dòng đồ thanh hoa (men trắng vẽ lam) của Cảnh Đức Trấn. Sau khi nghe yêu cầu của Trần Quốc Thái và ngắm nghía những món đồ mẫu mang từ Việt Nam sang, ông Sào cho hay phải mất hai tuần để phỏng chế những chiếc đĩa này và cam đoan sẽ làm giống đến 90%. Vậy là Trần Quốc Thái leo lên Lư Sơn ngắm cảnh suốt hai tuần để đợi kết quả. Hơn chục ngày sau, anh trở về Cảnh Đức Trấn, sung sướng đón nhận những món đồ phỏng chế do Sào nghệ nhân thực hiện.

Chuyến đi “phá băng” của anh đã mở ra cho anh một cơ hội kinh doanh dòng đồ sứ tân ký kiểu. Anh liên tục sang Cảnh Đức Trấn, hợp tác với Sào Hải Thanh phỏng chế  dòng đồ Nội phủ – Khánh xuân thời Lê – Trịnh đưa về bày bán trong cửa hàng của mình. Không chỉ đặt làm như nguyên mẫu, Trần Quốc Thái còn lựa chọn những hoa văn, họa tiết đẹp nhất và đặc trưng nhất của đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh, vẽ lên những tấm sứ kích thước lớn, dùng để làm mặt bàn hay lưng ghế tựa. Anh cũng đặt làm nhiều bức tranh sứ, vẽ các motif rồng phụng thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn. Những tác phẩm phỏng chế của anh được đưa ra trưng bày tại Đại Nội nhân dịp Festival Huế tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000. Và đó chính là cơ duyên đưa anh đến với dự án hợp tác phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn để trưng bày trong các lăng tẩm, cung điện, đền miếu của vương triều Nguyễn ở Huế.

3. Dự án phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn tiến hành trong các năm 2004 – 2006. Tôi được giao nhiệm vụ nghiên cứu hiện vật gốc đang bảo quản trong kho của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế và đang trưng bày, thờ tự trong các cung điện, lăng tẩm ở Huế, rồi “ra đề bài” cho Trần Quốc Thái tiến hành phục chế. Không yên tâm với những bản vẽ do họa sĩ của bảo tàng sao chép từ hiện vật gốc, Trần Quốc Thái mời nghệ nhân Sào Hải Thanh từ Cảnh Đức Trấn đến Huế, tự tay can họa lại tất cả các hoa văn trang trí và đo đạc kích thước, sao vẽ kiểu dáng, mang về Trung Quốc để thợ gốm tuân thủ phỏng chế. Trần Quốc Thái cũng mời tôi và các chuyên gia của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế sang tận Cảnh Đức Trấn để giám sát quy trình phục chế đồ sứ ký kiểu: từ khâu làm đất, tạo cốt đến khâu trang trí, viết chữ và nung đốt sản phẩm. Đến tháng 5.2006, hơn 700 món đồ sứ tân ký kiểu từ Cảnh Đức Trấn đã về đến Huế và được đưa vào bài trí trong hầu khắp các cung điện, lăng tẩm, đền miếu của triều Nguyễn ở Huế, góp phần đẩy lui không gian hoang phế trong các khu di tích và phục vụ đắc lực cho Festival Huế 2006.

Kết thúc dự án phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, Trần Quốc Thái vẫn tiếp tục gắn bó với niềm đam mê đồ sứ tân ký kiểu của mình. Anh tham khảo những kiểu thức và trang trí của hai dòng đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn, lựa chọn những dáng kiểu đẹp nhất và những họa tiết đặc sắc nhất, đặt cho Sào nghệ nhân chế tác thành những món đồ sứ tân ký kiểu, không thuần Lê – Trịnh, cũng chẳng là đồ Huế, mà tôi vẫn thích gọi là đồ Thái blue.

Anh mua một ngôi nhà cổ từ ngoài Bắc đưa về Sài Gòn dựng lại, rồi trưng bày hàng trăm món đồ Thái blue, vừa để chơi, vừa để kinh doanh. Anh tâm sự: “Nhiều người nói tôi đặt làm đồ giả cổ để kiếm lợi. Nhưng làm đồ giả cổ thì phải làm giống 100% hoa văn, họa tiết và kích thước; sản phẩm làm xong còn phải dùng các thủ pháp làm cho lạc tinh để cho giống với đồ xưa. Nhưng đồ tôi làm thì kết hợp tất cả hoa văn của các đời, từ Lê – Trịnh cho đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… Kích thước thì lớn hơn và kiểu dáng cũng phong phú hơn rất nhiều. Vì thế, không thể nói đó là đồ giả cổ, mà phải gọi là đồ sứ tân ký kiểu mới chính xác”.

Miệng lưỡi thế gian khó ai ngăn cấm. Với riêng tôi, những món đồ sứ tân ký kiểu của Thái blue là những tác phẩm nghệ thuật thực sự. Ở đó chứa đựng những tinh hoa của đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn. Đó cũng là nơi Trần Quốc Thái gửi gắm niềm đam mê của mình với dòng đồ xanh trắng. Đó cũng là những trang nhật ký bất thành văn ghi lại tân hành trình ký kiểu đồ sứ đầy gian truân của anh, mà tôi đã từng là một chứng nhân.

Trào lưu “chơi nhà cổ” đang thịnh hành khắp cả nước. Nhiều người bỏ tiền phục dựng những khu nhà rường tinh xảo và lộng lẫy ở Sài Gòn, Bình Dương, Hà Nội, Huế… Tuy nhiên, điều làm nên cái hồn của nhà rường xưa chính là những thứ bày biện trong ngôi nhà đó: hoành phi, đối liễn, bàn ghế, sập gụ, cổ vật, gốm sứ… Thị trường cổ vật trong nước ngày một khan hiếm, lấy đâu ra những bình, chóe, hũ, lọ… thời xưa để bài trí trong những ngôi nhà thênh thang ấy. Vì thế, đồ sứ tân ký kiểu của Thái blue có lẽ là một lựa chọn hợp lý mà chủ nhân các ngôi nhà rường tân tạo này nên nghĩ đến.

Click trên hình để xem phóng lớn.

T.Đ.A.S. (covathue)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

`
 

 

Read Full Post »

JinDeZhen FanJiaJing chợ mua bán hàng gốm sứ giả cổ lớn nhất thế giới

Đặc tính của đồ sứ (porcelain) Cảnh Đức Trấn có thể mô tả như sau: Trắng như ngọc, mỏng như giấy, tinh khiết như thủy tinh, và gỏ vào thì nghe trong như tiếng khánh (bell). Vậy khi đã du lịch đến Cảnh Đức Trấn – Giang Tây, thành phố của niềm tự hào có đến 800.000 người làm việc liên quan đến ngành gốm sứ, bạn có thể mua những đồ sứ có đặc tính như trên ở đâu:

“Phố đồ sứ” Cảnh Đức Trấn
“Phố đồ sứ” Cảnh Đức Trấn là nơi các thương nhân bán đồ sứ tụ hội. Ngay từ thời Minh, Thanh đã có một đường phố bán đồ sứ nổi tiếng có tên là Ma-shi-xia Long. Ngày nay có hai phố bán đồ sứ là : Lian-she Lu ở phía nam của khu trung tâm thành phố và phố San-he gần khu vực Cidu-Da-Dao.

Chợ gốm sứ giả cổ FanJiaJing
Khác với
chợ Laochang tập trung bán hàng gốm sứ với mức độ trang trí và chất lượng trung bình hoặc thấp, chợ gốm sứ FanJiaJing chuyên biệt hơn trong việc chỉ bán hàng phỏng cổ. Chợ gốm sứ FanJiaJing tọa lạc ở phía đông thành phố. Có một trạm xe lửa ở phía đông của chợ, và công viên thành phố ở về phía tây chợ ( Laochang nói ở trên là chợ gốm sứ lớn nhất thành phố nằm trong công viên này). Chợ gốm sứ giả cổ FanJiaJing bắt đầu hoạt động vào năm 1990. Vì địa điểm thuận lợi và giá phòng Hotel rẽ nên thương nhân tấp nập ra vào khu vực này. Có vào khoảng 400 thương nhân và nghệ nhân bán hàng phỏng cổ và đồ sứ trang trí vẽ tay với giá bình dân tại đây.

Mời các bạn du lịch qua hình ảnh để xem hàng hóa và sinh hoạt tại chợ FanJiaJing chợ mua bán hàng gốm sứ giả cổ với chất lượng tương đối lớn nhất thế giới:

click trên hình để xem ảnh lớn.

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

 


Read Full Post »

Cảnh Đức Trấn Ngự Diêu Xưởng – Jingdezhen imperial kiln


cdt110

Cảnh Đức Trấn là một thành phố nằm ở phía đông bắc tỉnh Giang Tây. Vùng đất này xưa có tên là Xương Nam Trấn, nơi có nhiều mỏ kaolin hảo hạng và những cánh rừng gỗ sài cung cấp loại củi tốt nhất để đốt lò nung gốm sứ. Vào đời Cảnh Đức (1004 – 1007), vua Thần Tông nhà Tống (960 – 1279) đã chọn Xương Nam Trấn để thiết lập ngự diêu (yuyao), chuyên chế tác các món đồ gốm dành cho nhà vua và hoàng gia triều Tống sử dụng. Tất cả những món gốm sứ chế tác tại ngự diêu ở Xương Nam Trấn đều có khắc bốn chữ Hán Cảnh Đức ngự chế (đồ ngự dụng của triều Cảnh Đức). Từ đó, người ta gọi tất cả những món gốm sứ chế tác tại ngự diêu Xương Nam Trấn là gốm Cảnh Đức. Lâu dần tên Cảnh Đức trở thành của vùng đất này – Cảnh Đức Trấn, thay cho tên gọi Xương Nam Trấn trước đây.

cdt210

Thời Minh (1368 – 1644), Cảnh Đức Trấn cùng với Châu Hiên Trấn (ở Hà Nam); Hán Khẩu Trấn (ở Hồ Bắc); Phúc Sơn Trấn (ở Quảng Đông) được liệt vào tứ trấn lớn nhất Trung Hoa. Tiếp sau triều Tống, các triều Nguyên (1271 – 1368), Minh (1368 – 1644) và Thanh (1644 – 1911) đều đặt ngự diêu xưởng ở Cảnh Đức Trấn, chuyên làm các mặt hàng gốm sứ cao cấp để hoàng gia và triều đình sử dụng. Ngoài ngự diêu chỉ làm gốm sứ cho riêng nhà vua, Cảnh Đức Trấn còn có hệ thống quan diêu (guanyao) và dân diêu (minyao) với hàng ngàn lò gốm sứ trải khắp trấn. Vào thế kỷ XVII, một sứ đoàn nước Pháp đến thăm Cảnh Đức Trấn, chứng kiến hoạt động sản xuất gốm sứ ở đây, đã kinh ngạc ghi vào nhật ký hành trình: “Ban ngày, khói đốt lò bốc lên tận chín tầng mây. Ban đêm, lửa đốt lò thắp sáng cả bầu trời”. cdt35Ngày nay, Cảnh Đức Trấn vẫn tiếp tục giữ vai trò là một trung tâm sản xuất gốm sứ lớn nhất Trung Quốc, nên được xưng tụng là thủ đô gốm sứ của Trung Hoa.

Hiện nay, Cảnh Đức Trấn còn lưu giữ được 133 công trình kiến trúc lịch sử và cảnh quan văn hóa, được Cục văn vật Trung Quốc công nhận là di chỉ quốc gia. Một trong những di chỉ nổi tiếng nhất của Cảnh Đức Trấn là ngự diêu xưởng Châu Sơn.

Châu Sơn là một quả đồi thấp, tọa lạc ở trung tâm Cảnh Đức Trấn. Vào đời Minh Tuyên Đức (1426 – 1620), nơi đây đã được chọn làm nơi thử nghiệm chế tác những món đồ gốm sứ cao cấp cho Minh triều. Xưởng chế tác này tiếp tục hoạt động và đạt được những thành tựu khả quan dưới các đời Thành Hóa (1465 – 1487), Vạn Lịch (1573 – 1620) của triều Minh. Năm 1639, Minh triều chính thức thiết lập ngự diêu xưởng ở Châu Sơn, chuyên làm đồ gốm cho vua dùng. Triều đình cử một viên quan cao cấp của bộ Công đến Châu Sơn làm quản thủ để điều hành ngự diêu xưởng này. cdt41Cũng trong năm đó, một tòa lầu bằng gỗ cao 4 tầng, tên là Long Châu Các, được dựng trên đỉnh của Châu Sơn và trở thành một biểu tượng lịch sử của Cảnh Đức Trấn, trải từ các triều Minh – Thanh cho đến ngày nay.

Xung quanh Long Châu Các, triều đình cho dựng nhiều nhà xưởng, dùng làm nơi nhào đất, tạo cốt, hong phơi gốm mộc, phun màu… và các lò nung chuyên biệt để nung những món đồ cao cấp. Gốm sứ làm cho nhà vua đòi hỏi phải tuân thủ những chuẩn mực nghiêm ngặt. Chỉ những món đồ hoàn hảo dáng kiểu, họa tiết, màu men… mới được tiến cung. Thông thường, cứ khoảng 100 món đồ gốm do ngự diêu làm ra, người ta mới chọn được 1 món toàn bích để cung tiến nhà vua. cdt51Phần còn lại phải bị đập vỡ và chôn vào lòng đất để bảm đảm bí kíp chế tác. Không ai có quyền tiếm dụng các món đồ này, dù chỉ giữ lại để làm kỷ niệm. Một truyền thuyết này kể rằng: có một vị hoàng đế Trung Hoa yêu cầu ngự diêu xưởng Châu Sơn phải làm một chiếc lọ hình con rồng, và truyền rằng nếu không làm được thì toàn bộ nhân công trong ngự diêu xưởng Châu Sơn đều bị xử trảm. Hàng chục cốt bình hình rồng được đưa vào lò nung nhưng sau khi nung thì đều bị gãy sụp. Sau cùng, một thợ gốm tên là Tong Bin, đã liều mình nhảy vào trong lò nung và nhờ thế mà chiếc bình cuối cùng đã không bị gãy sụp và được dâng lên cho hoàng đế. Kể từ đó, người ta tôn vinh ông thành vị thần tối cao và thường cầu nguyện sự giúp đỡ của ông trước khi đốt lò.

cdt61

Ngày nay, ngự diêu xưởng Châu Sơn là di tích thu hút du khách đến tham quan nhiều nhất Cảnh Đức Trấn, đặc biệt là những người quan tâm đến gốm sứ. Khi tôi đến thăm Châu Sơn vào năm 2005, trong khuôn viên di tích chỉ có tòa Long Châu Các, dùng làm nơi trưng bày các hiện vật gốm sứ thu được trong các cuộc khai quật ngự diêu xưởng này vào các năm 1984, 1993 và 1999. Cạnh Long Châu Các vẫn còn sót lại một vài phế tích trước đây từng là xưởng hong phơi gốm mộc và xưởng phun men. Dưới chân tòa lầu là những chiếc ‘bao nung’ (vật dùng để đựng các cốt gốm sứ khi nung, tránh bị lửa táp làm hỏng màu men), thu hồi từ các cuộc khai quật trước đây. Những hiện vật gốm sứ trưng bày trong Long Châu Các không có món nào nguyên vẹn. Nguyên do là vì người ta phải đập vỡ chúng trước khi chôn vào lòng đất để bảo toàn bí quyết chế tác. Rất nhiều món đồ trưng bày trong Long Châu Các có niên đại Tuyên Đức, Thành Hóa, Vạn Lịch (thời Minh); Khang Hi, Ung Chính, Càn Long (thời Thanh)… Tất cả đều là hàng “độc”, có giá trị kỹ thuật và giá trị kinh tế rất cao.

cdt71

Ông Sào Hải Thanh, một thợ gốm lão luyện của Cảnh Đức Trấn, người hướng dẫn tôi và các đồng nghiệp Việt Nam đi thăm ngự diêu xưởng Châu Sơn, cho hay: “Tất cả thợ gốm ở Cảnh Đức Trấn và ở Trung Hoa nói chung đều tìm cách kiếm được những mảnh gốm cổ vỡ nát thu hồi từ các cuộc khai quật ở Châu Sơn. Họ mua các mảnh vỡ này về để nghiên cứu và tìm cách phỏng chế màu sắc, nước men của chúng để làm đồ giả cổ kinh doanh kiếm lợi. cdt81Vì thế, người ta tìm cách đào trộm và mang bán chúng ở các con phố xung quanh Châu Sơn. Tuy nhiên, từ hai năm trở lại đây, chính quyền thành phố nghiêm cấm việc này. Ai đào trộm và bày bán mảnh gốm vỡ, nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý hình sự. Năm trước, có một người đến thuê một gian hàng ở con phố dưới chân Châu Sơn để mở tiệm may. Kỳ thực, đó là một tay đào trộm cổ vật. Anh ta đã đào một con đường hầm xuyên vào lòng Châu Sơn, lấy được nhiều cổ vật có giá trị, rồi phục dựng lại, mang bán sang thị trường nước ngoài thu lợi hàng triệu nhân dân tệ. Vụ việc bị phát giác. Chính quyền đã tuyên án tử hình người này”.

cdt92

Đầu tháng Ba năm nay, tôi trở lại thăm ngự diêu xưởng Châu Sơn và rất bất ngờ khi thấy bên trái ngọn đồi danh giá này xuất hiện một tổ hợp kiến trúc đặc sắc. Hỏi ra mới hay: do diện tích trưng bày gốm sứ trong Long Châu Các khá khiêm tốn và do tòa lầu này đã 370 tuổi, nên chính quyền thành phố Cảnh Đức Trấn vừa cho xây dựng một bảo tàng để trưng bày toàn bộ hiện vật gốm sứ khai quật được ở ngự diêu này từ trước đến nay. Chỉ những hiện vật đặc sắc nhất, độc đáo nhất mới được trưng bày trong Long Châu Các. Trước cửa bảo tàng, người ta dựng 5 pho tượng bằng đồng, tượng trưng cho năm vị quản thủ ngự diêu nổi tiếng nhất của 5 triều: Bắc Tống – Nam Tống – Nguyên – Minh – Thanh. Trong đó, vị thứ 5 chính là viên quản thủ Đường Anh lừng danh dưới triều Càn Long, một nhân vật mà những ai nghiên cứu gốm sứ Trung Hoa không thể không nghe danh. Đồng thời, chính quyền thành phố cũng mở thêm phòng trưng bày, gọi là Ngự Bửu Trai, làm nơi trưng bày tư liệu và hình ảnh về các thời kỳ lịch sử của ngự diêu xưởng Châu Sơn. Sau khi hoàn thiện tổ hợp kiến trúc để bảo tồn và phát huy giá trị của ngự diêu xưởng Châu Sơn, Cục văn vật Trung Quốc dựng bia công nhận nơi này là Toàn quốc trọng điểm văn vật bảo hộ đơn vị (Di tích văn hóa trọng điểm cấp quốc gia).

cdt101

Gần bốn thế kỷ trôi qua, kể từ khi Châu Sơn chính thức trở thành ngự diêu xưởng của Minh triều, tòa Long Châu Các đã trở thành chứng tích và là bảo vật vô giá của kỹ nghệ chế tác gốm sứ ở Cảnh Đức Trấn. Lửa đốt lò vẫn đỏ khắp trấn suốt 400 năm qua; gốm sứ Cảnh Đức Trấn vẫn không ngừng tỏa khắp năm châu bốn bể. Cho nên, dù chỉ còn là di tích, thì ngự diêu xưởng Châu Sơn vẫn xứng đáng với lời ca tụng như câu đối ghi ở trước lối vào Long Châu Các: Ngự khí thanh hoa phỉ vạn quốc. Diêu lô phong hỏa việt thiên niên (Đồ vua danh tiếng lan vạn xứ. Gió lửa lò nung trải ngàn năm).

T.Đ.A.S.

Chú thích ảnh:

Ảnh 01. Long Châu Các tọa lạc trên đỉnh Châu Sơn, nơi trưng bày các hiện vật gốm sứ khai quật tại ngự diêu xưởng Châu Sơn.

Ảnh 02. Cổng vào khu trưng bày ngự diêu xưởng, mới được xây dựng năm 2006.

Ảnh 03. Tổ hợp tượng quản thủ ngự diêu xưởng qua các thời kỳ: Bắc Tống – Nam Tống – Nguyên – Minh – Thanh dựng ở trước cửa khu trưng bày ngự diêu xưởng.

Ảnh 04. Ngự Bửu Trai, nơi trưng bày tư liệu và hình ảnh về các thời kỳ lịch sử của ngự diêu xưởng Châu Sơn.

Ảnh 05. Tước uống rượu ba chân và chân đế hình tam sơn, trang trí lưỡng long, đời Minh Vĩnh Lạc, cao 16,8cm, khai quật năm 1999.

Ảnh 06. Kendi, trang trí cúc dây, đời Minh Thành Hoá, cao 32cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 07. Hộp nuôi dế chọi, trang trí rồng mây, đời Minh Tuyên Đức, cao 9,5cm, đkm 13cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 08. Dĩa, trang trí trái lựu và hoa, đời Minh Tuyên Đức, đkm 45cm, khai quật năm 1984.

Ảnh 09. Mai bình, trang trí ám long trên nền men đỏ, thời mạt Minh – sơ Thanh, cao 34cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 10. Mai bình, trang trí tản vân, thời mạt Minh – sơ Thanh, cao 33,6cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 11. Nai đựng rượu, trang trí 9 chim phụng, cúc dây và tản vân, đời Thanh Khang Hi, cao 24cm, khai quật năm 1999.

 

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Kỹ thuật sản xuất gốm sứ xưa và nay tại Cảnh Đức Trấn – minh họa bằng hình ảnh:

Click trên porcelain-production-in-jingdezhen2 để download về và xem bằng microsoft word:

porcelain-production-in-jingdezhen2

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Viện bảo tàng lịch sử nghành gốm Cảnh Đức Trấn – hình ảnh – hiện vật trưng bày

jiangxi

Tọa lạc tại Panlongshan trong vùng ngoại ô phía tây của thành phố Cảnh Đức (Jingdezhen) – tỉnh Giang Tây, Viện bảo tàng lịch sử nghành gốm Cảnh Đức Trấn chiếm một khu vực 83 hecta và được xây dựng vào năm 1980.
Viện bảo tàng lưu giử một bộ sưu tập giàu có bao gồm hơn 5000 hiện vật . các hiên vật trưng bày bao gồm gốm sứ trong các triều đại quá khứ, tư liệu lịch sử về gốm sứ, các bộ sưu tập quý giá về tranh vẽ và thư họa, đa phần chất lượng còn tuyệt hảo.
Ngoài sự phong phú của hiện vật trưng bày , nét đẹp kiến trúc cổ kính cũng là điểm thu hút du khách. Kiến trúc cổ chia làm hai khu vực : Minh Viên (Ming garden) và Thanh Viên (Qing garden). Hai khuôn viên này bao gồm khu xưởng gốm cổ, lò nung cổ và các cấu trúc kiến trúc cổ khác trước đây rải rác ở khắp Cảnh Đức Trấn được chính quyền cho phép thu tập về đây.
Gần khu Thanh Viên là một nhóm các xưởng gốm mà gốm sứ đang được sản xuất tại đây. Du khách không chỉ được quan sát quy trình sản xuất và chiêm ngưỡng kỷ thuật chế tác điêu luyện, mà còn có thể tự trải nghiệm. Khách viếng thăm có thể mua bất kỳ sản phẩm gốm sứ nào mà họ thích.
Tháng 10 trong năm là tháng tốt nhất để thăm Viện Bảo Tàng, vì “Lể hội gốm quốc gia tại Cảnh Đức Trấn” hàng năm bắt đầu vào 12 tháng 10 và kéo dài khoảng một tháng.

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

 

Nghề làm đồ sứ tại Cảnh Đức Trấn – Hình ảnh

Sử sách ghi lại, vào đời vua Càn Long, tại Cảnh Đức trấn có 3000 lò chuyên về đồ gốm và đồ sứ. Thợ thầy trên mấy trăn ngàn người, mỗi người mỗi nghề riêng, không ai xâm phạm nghề ai, người lo vận tải đất và vật liệu, người chuyên nắn đúc, người thì trang trí vẽ vời, người khác coi về lò lửa…

I – Chọn và nhồi đất


Cao lanh và Bạch Đôn tử trong bảo tàng gốm sứ Cảnh Đức trấn

Việc chọn đất và nhồi đất là một khâu quan trọng trong nghề gốm sứ. Trung Quốc vốn hơn thiên hạ về đồ sứ là nhờ có sẵn hai nguyên liệu không thay thế được, đó là chất Bạch đôn tử (chinastone) và Cao lanh (đất sét trắng).

Cao lanh là đất sét trắng riêng biệt của vùng Giang Tây, các nước khác tuy có nhưng không tốt bằng và không thay thế được. Ngày nay, vùng Giang Tây vẫn lấy đất tại đây để làm đồ sành sứ nhưng không thể đẹp bằng đồ sứ cổ năm xưa. Bạch đôn tử cũng là đất nhưng rắn vô cùng. Khi lấy trong mỏ ra là một khối đá, có bọc một lớp đất đỏ ngoài da. Đem về, cho vào cối đá giã thành bột, xong phải dùng nước để lọc bỏ sạn và tạp chất. Đãi thêm vài lần rồi vớt phần mịn nhất, trộn cùng cao lanh, nhồi kỹ rồi dùng để nắn đồ.

Bạch đôn tử có bán sẵn đúc thành khuôn như viên gạch có đóng dấu nhà và nơi sản xuất. Nhưng loại này có trộn nhiều tạp chất, mua về phải ngâm nước và đãi cho thật kỹ để lấy ra những chất độn, phần tinh vi lọc được sẽ nhồi chung với cao lanh, tuỳ theo số lượng, tốt thì nửa phần thứ này, nửa phần thứ kia, hoặc nhồi theo “tứ lục”, tức 4/10 hoặc 6/10. Sành rẻ tiền thì ít bạch đôn tử hơn sứ ngự dụng.

Vật liệu đầy đủ rồi, còn một việc quan trọng là nhồi bã đất. Cần phải nhồi kỹ và đúng phương pháp. Trước, đảo bằng lưỡi cuốc lưỡi mai, vừa đảo vừa lắng nghe tiếng dội qua lưỡi thép của khí cụ quen tay từ nhiều năm. Khi thấy được thì chuyển sang nhồi bằng chân để dò lại một lần nữa những vật lạ có thể sót lại. Công việc này tuy xem tầm thường nhưng sự thành công sau này tuỳ thuộc vào khâu này rất nhiều. Sau khi nhồi đất công việc chuyển sang cho “e kíp” nắn đồ.

Ngày nay, hầu hết các lò gốm đều trộn đất bằng máy móc, tuy tiết kiệm được nhiều công sức của con người nhưng vì thế mà cũng làm giảm đi vẻ đẹp tinh tế của món đồ.

II – Tạo hình


Đào công Cảnh Đức trấn say mê tạo hình

Ngày nay, khi đến thăm các lò gốm như Lái Thiêu hay Biên Hoà…nơi các lò gốm người Tàu làm chủ, ít nhiều vẫn còn giữ cổ truyền, như lò đốt bằng củi, cách nhồi đất và nắn đồ vẫn còn na ná như xưa…Muốn làm một ống tròn, một cái hũ, hay một cái bình…trước tiên người thợ móc một cục đất đã nhồi kỹ, đặt lên bàn quây. Cái bàn này có từ xưa, gồm hai tầng, tầng dưới vừa với chân thợ, đạp vào thì bàn chạy vòng tròn và lôi theo cái mặt trên, làm vừa với hai tay người thợ, mặc tình uốn nắn cục đất tuỳ sở thích. Cục đất lướn bằng cái gối, mềm dẻo, khi bàn quây di chuyển từ cục đất vô hình đã biến thành món vật tuỳ ý người nặn. Khi tạo xong, muốn lấy ra phơi, người thợ dùng dao cắt – đó là chiếc dao làm riêng để cắt đất, gọi là dao cung, cần bằng tre và căng một sợi chỉ thép hoặc thép dùng cắt đất rất tài tình.

Thời Minh, khi món đồ phơi khô se se, tiếp tục đặt lên bàn quây để o bế lại và cạo gọt giồi mài cho thêm láng. Vì vậy ngày nay thường nhìn thấy nơi đáy món đồ khi gặp món nào đáy không tráng men, có dấu vòng cùng một trung tâm, thì đó là khu khoanh măng. Và nếu xung quanh chân bình có dấu nhu lằn dao thì ta có thể nói món đồ có triệu chứng thuộc về thời Minh. Vả lại, đáy vật cổ nào cũng giữ lại dấu vết khi nó ở trên bàn quây hay khi nó vào lò hầm, những dấu vết đó có khi còn quý hơn chữ ký hay chữ hiệu vì chữ ký còn giả được chứ những dấu ấy là dấu tự nhiên mỗi món, người nào có kinh nghiệm thấy một lần là biết liền.

Vào buổi sơ khai, những khuôn làm gốm đều được tạo từ tre trúc (khuôn giỏ tre), sau này chế ra khuôn bằng đá đất, bằng thạch cao hay gốm. Những bình nào có hình thù lạ, khi vuông, khi không đều góc thì làm bằng khúc rời rồi ráp lại, gắn bằng đất sét pha lỏng. Những chỗ ráp này cong thô sơ dễ nhìn thấy, đến thế kỷ XVII thì đã khéo léo hơn, ít người nhận biết được. Những choé thật lớn thì làm thành hai khúc rồi ráp lại, thoa men mất dấu. Những hình tượng nhân vật, cầm thú, các vật nhái trái cây, các quai bình, vòi ấm hay các hình đắp nổi thì được nắn rời bằng tay , cho vào khuôn dọn sẵn theo kiểu thức nhất định.

Khi làm xong xuôi, các món đồ đất sét đều để phơi se ngoài gió dịu cho đến khô thật khô. Các món quý như đồ ngự chế dâng vua, đồ đặt làm riêng cho sứ thần các nước chư hầu mang về đều để cho khô ngót một năm tròn. Sau khi phơi khô đúng thời gian quy định, các món ấy đều được sửa lại, vì bị cứng nên phải ra vóc  bằng cây đục sắt, dao thép. Các chỗ như miệng, hông của cái bình thì dồi lại cho trơn tru, cái chân phải khoét lại cho thật vững, thật sát mặt bàn, những chỗ nào đắp nổi thì đều o bế cho dễ coi.

Hoàn tất các việc ấy thì món đồ đã sẵn sàng cho vào lò nung. Nung lần một, hoặc được lót một nước men làm áo hoặc món ấy là một sứ trắng men lam hay sứ trắng men hồng thì để vậy chưa tráng men, để các hoạ công vẽ lên cốt thai những đồ án sơn thuỷ hay hoa điểu…

III – Lò nung


Mô hình lò gốm cổ – Bảo tàng cổ diêu Cảnh Đức trấn

Người Trung Hoa đã chế tạo ra nhiều loại lò nung, tuy nhiên có hai loại lò thông dụng: Kiểu lò miền Bắc Trung Hoa, là loại lò chỉ có một gian phòng và có mui nóc khum khum, chỉ có một lỗ thông hơi sau lò (Lò Màn thầu – NT). Còn có loại lò miền Nam gọn và tiện lợi hơn kiểu trên: Lò xây nằm dài theo chiều dốc và chia thành nhiều ngăn, vừa hẹp bề ngang vừa dài, một nửa nổi lên trên, một nửa lò chôn ngập phía dưới mặt đất, nhờ vậy khói theo chiều gió dễ thông (Lò Giai cấp – NT). Kiểu lò này sau được các nước Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam học theo.

Tại Cảnh Đức trấn, thủ đô ngành gốm sứ Trung Hoa, tạo lập từ đời Tống, người ta quen dùng loại lò một gian độc nhất, rộng lớn, giống hình chai rượu vang đặt nằm dài, nơi sau chót cái chai là lỗ thông khói. Củi thông dụng đốt lò cổ là củi tùng lấy ở các khu rừng lân cận. Trong lò, những món không quý lắm thì đặt nơi miệng lò và gần lỗ thông khói. Hai khoảng này có cái bất lợi là khi lửa quá già làm khét món đồ, khi lại không đủ sức nóng làm sống sượng món đồ cũng không tốt. Nơi trung tâm lò là nơi thuận lợi nhất dành cho những đồ vật quý, ngự dụng hoặc đồ do sứ thần chư hầu đặt làm. Tuỳ theo món lớn nhỏ để nung lâu hay ngày hay ít ngày.

Dưới triều Minh, những chiếc thống dùng nuôi cá lia thia hay chậu to để trồng cây cảnh thường nung trong lò liên tiếp 19 ngày ròng rã: bảy ngày lửa dịu dịu, hai ngày lửa hoả hào, mười ngày lửa đốt liên tiếp và giảm độ lần lần. Nếu nung chén trà và các vật nhỏ thì khoảng năm ngày là đủ.

Người thợ có kinh nghiệm là người biết sắp đặt các món đồ nung trong lò: vật nào chịu được hoả độ cao (gốm da đá, đồ sành, đồ nung hai lần; nơi kím lửa hơn thì đặt các món yếu chịu đựng, còn các loại sử dụng men (é mail é maux), men thường thì nung ở lò nhỏ hơn…

IV – Cách nung


Diêu thần

1 – Cách nung thu bớt thoáng khí (cuisson en réduction): Với phương pháp này thoáng khí (gió) lọt vào lò rất ít và làm cho củi cháy chậm đi. Hễ cháy chậm thì có nhiều khói, theo khoa học cắt nghĩa, chất hoá vật đơn chất (monoxyde de carbone) của thán khí sẽ hoà hợp với dưỡng khí (oxygene) do các dưỡng hoá vật (oxdes) tiết ra của đất sét và của chất màu vẽ. Tự nhiên, các da sành trắng “bạch chảng” vào lửa và gặp khói sẽ trở nên đậm đà và đổi màu duyên dáng hơn; chất bạch kim (cobalt) khắc lửa sẽ trở nên màu xanh biếc trong suốt tinh ba hơn (blue de Hue, blue de China); chất đồng, biến thể hoá màu đỏ (những biến thể này khó tốt tươi và rất tuỳ vào sự khéo léo và may rủi), vì dưỡng khí gặp đồng ưa biến chứng bất thường; chất sắt vào lò sẽ làm ra các loại gốm xanh nước biển celadon…

2 – Cách nung thứ hai là “nung thả cửa”, cứ để thoáng khí tha hồ chung vào lò (cuisson en oxydation) và tha hồ cho các chất đụng chạm nhau mặc tình biến hoá; biến hoá lúc còn trong lò lửa đỏ; biến hoá lúc “khai môn” là khi thợ lấy trong lò ra để các món đồ mau nguội, khi ấy mới là biến hoá một cách tự nhiên. Kết quả của phương pháp này hơi đột ngột: những da men trắng có thể biến ra ngà ngà, da kem, chất bạch kim có thể đổi ra sắc đen hơn (do đó có nhiều khi ta thấy trên đồ sứ Khánh Xuân, Nội Phủ, men xanh mịn màng bỗng có đôi chỗ lốm đốm thâm thâm). Đồng biến ra màu xanh lục. Sắt đổi sắc và biến màu khi vàng, khi vàng sậm, khi lại đen.

(Lược thuật theo “Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa” của Vương Hồng Sển)

Quang cảnh làm việc tại một xưởng gốm sứ phỏng cổ ngày nay ở Cảnh Đức Trấn – Giang Tây

click trên hình để xem full size


 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

ALBUM HÌNH TOÀN TẬP GỐM SỨ CỔ TQ –

Gốm sứ các đời Hoàng Đế cuối nhà Thanh

Đây là Album hình mô tả theo trình tự thời gian từ thời kỳ đồ đá mới đến hết triều đại nhà Thanh của các hiện vật gốm sứ  cổ Trung Hoa tiêu biểu nhất được trưng bày tại gallery gốm sứ – Viện bảo tàng Thượng Hải từ ngày 23 -24 tháng 8 năm 2008. Đây là bộ sưu tập xuyên suốt nhất của lịch sử nghệ thuật  gốm sứ Trung Hoa mà tác giả từng biết. (Được chụp bởi Gary L. Todd, tiến sĩ, giáo sư Sử Học tại trường đại học Sias International, Xinzheng, Henan, China.)

Click trên hình để xem ful size:

Các triều đại nhà Thanh:

Shunzhi

1644 – 1661

Kangxi

1662 – 1722

Yongzheng

1723 – 1735

Qianlong

1736 – 1795

Jiaqing

1796 – 1820

Daoguang

1821 – 1850

Xianfeng

1851 – 1861

Tongzhi

1862 – 1874

Guangxu

1875 – 1908

Xuantong

1908 – 1911

Read Full Post »

Older Posts »