Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘bát tràng’

Gốm sứ Cảnh Đức trấn và ưu Thế của việc sản xuất gốm truyền thống.

Trấn Cảnh Đức nổi tiếng với hơn 1700 năm làm đồ sứ. Vào những năm Bắc Tống Chân Tông Cảnh Đức (1004-1007 trước CN), những sản phẩm sứ của trấn này được Chân Tông yêu thích và tán thưởng, nên trên những đồ sứ này thường đề khoản: Chế tạo vào năm Cảnh Đức, thế là trấn Cảnh Đức cũng từ đó nổi danh khắp thiên hạ…

Bình vẽ đại bàng kiểu dáng và vẽ trang trí do nghệ nhân Cảnh Đức trấn thực hiện.

Bình vẽ đại bàng kiểu dáng và vẽ trang trí do nghệ nhân Cảnh Đức trấn thực hiện.

 

Trấn Cảnh Đức, nơi được mệnh danh là kinh đô đồ sứ, nằm ở phía đông bắc tỉnh Giang Tây, giáp Chiết Giang, An Huy (TQ) là một nơi có lịch sử văn hóa lâu đời. Trấn Cảnh Đức lại nằm ngay trung tâm khu thắng cảnh “ngũ sơn lưỡng hồ”: Hoàng sơn, Lư sơn, Long Hổ sơn, Tam Thanh sơn, Cửu Hoa sơn và hồ Thiên Đảo, hồ Bạc; là một trong những điểm du lịch hàng đầu của Trung Quốc. Nhưng, trấn Cảnh Đức lại nổi tiếng bởi đồ sứ với hơn 1700 năm. Tên trấn liên quan đến đồ sứ: vào những năm Bắc Tống Chân Tông Cảnh Đức (1004-1007 trước CN), do những sản phấm sứ của trấn này được Chân Tông yêu thích và tán thưởng, trên những đồ sứ này thường đề khoản: chế tạo vào năm Cảnh Đức, thế là mọi người đều gọi là trấn Cảnh Đức, trấn Cảnh Đức cũng từ đó nổi danh khắp thiên hạ. Ngàn năm nay, nghệ thuật gốm sứ trấn Cảnh Đức đã trở thành viên ngọc sáng trong kho báu nghệ thuật của Trung Quốc và cả thế giới.

Chất lượng sứ cao cấp , trang trí chăm chút tinh vi từng chi tiết.

Chất lượng sứ cao cấp , trang trí chăm chút tinh vi từng chi tiết.

Nghệ thuật gốm sứ Giang Tây và Cảnh Đức trấn nói riêng :

Thành phố Cảnh Đức Trấn là nôi sinh ra văn hoá gốm sứ và nghề chế tạo đồ gốm sứ của Giang Tây, có từ đời Hán. Đến đời Minh, Cảnh Đức Trấn đã chính thức trở thành “”nơi hội tụ của muôn lò nung trong thiên hạ””.

Ngày xưa, gốm sứ nghệ thuật của trấn Cảnh Đức đều dựa trên những mẫu hoa văn, những bức vẽ của các họa sĩ trong cung hoặc dựa trên những mẫu hoa văn truyền thống trong dân gian, sau đó các thợ vẽ vẽ những hoa văn này lên phôi sứ rồi đem nung thành sứ. Do chất lượng tốt, các thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, trấn Cảnh Đức là nơi chuyên sản xuất đồ sứ cho hoàng cung. Đồ sứ do đó rất phát triển, đặc biệt là vào thời Minh, trấn Cảnh Đức đã trở thành trung tâm sản xuất đồ sứ của cả nước, đồ sứ sản xuất ra không những được ưa chuộng trong nước, mà còn vượt cả đại dương, được các nước khác chào đón nhiệt liệt. Con đường gốm sứ trên biển cũng giống như con đường tơ lụa trên đất liền, trở thành cầu nối giao lưu văn hóa Đông Tây.

Khoảng năm 1616-1911 của đời Thanh, nghề chế tạo gốm sứ Cảnh Đức Trấn, cả về mặt tạo hình lẫn kỹ thuật trang trí đều trở nên chuẩn mực điêu luyện, xuất thần nhập hoá “”trộn lẫn giữa xưa và nay, sáng tạo những mẫu mới, trang trí sắp đặt khéo léo, vẽ nhân vật, phong cảnh, hoa, chim đều vô cùng đẹp””. Chính từ  sự hình thành phong cách luyện gốm sứ “”trắng như ngọc, sáng như gương, mỏng manh như giấy, vang như khánh”” mà các đồ này được tặng mỹ danh “”ngọc bội””

Men Crystalline công nghệ mới trên kiểu dáng Hồ Lô cổ xưa ( Minh, Thanh)

Men Crystalline công nghệ mới trên kiểu dáng Hồ Lô cổ xưa ( Minh, Thanh)

Ưu thế  của việc sản xuất gốm truyền thống tại Cảnh Đức Trấn:

Ai đã sang Giang Tây, và tận mắt thấy họ sản xuất gốm đều biết họ thực sự sản xuất gốm truyền thống. Ở Giang Tây, mỗi một gia đình sản xuất một loại sản phẩm đặc trưng, không bắt chước nhau, không sản xuất hàng loạt ồ ạt. Và đặc biệt trong mỗi một gia đình làm nghề họ rất quan tâm đến việc truyền nghề cho con cháu. Nên sản phẩm của gốm của Giang Tây thường giữ được nét truyền thống. Và cũng nhờ thế mà chi phí cho sản xuất thấp.

Đây chính là điểm khác biệt với cách làm của Bát Tràng. Để có được một sản phẩm mới người Bát Tràng thường phải thuê hoạ sĩ vẽ mẫu. Cách làm này không duy trì được tính truyền thống, khó tạo ra được nhiều sản phẩm đặc trưng và chi phí sản xuất cũng cao hơn. Một đôi lo lục bình cao 2,2 m chi phí sản xuất tại Giang Tây khoảng 1 triệu đồng VN, trong khi đó nếu Bát Tràng sản xuất thì riêng tiền thuê hoạ sĩ đã là 1 triệu đồng.

Gốm Bát Tràng từ lâu đã hiện hữu như một đặc trưng của Hà Nội, của VN. Thế nên việc hàng trăm cơ sở sản xuất gốm Bát Tràng đã phải đóng cửa ngừng sản xuất không chỉ đang đe doạ đến sự mất đi của một làng nghề truyền thống của Thủ đô mà nó còn đe doạ mất đi một nét văn hoá đặc trưng của VN, mặt khác đồng nghĩa với điều này còn là sự mất đi một địa điểm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.

Các ưu thế khác:

Ngày nay, gốm sứ càng phát triển, chẳng những được sử dụng như những vật dụng hằng ngày, mà còn dùng trong công nghiệp, kiến trúc và các loại gốm sứ đặc dụng. Gốm sứ chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của trấn Cảnh Đức. Bên cạnh đó, nó còn có ưu thế về các mặt như nguyên liệu, sản xuất, tiêu thụ, nghiên cứu khoa học, giáo dục… Hệ thống nghiên cứu gốm sứ ngày càng được hoàn thiện, đã hình thành cơ cấu nghiên cứu 3 tầng: Viện nghiên cứu gốm sứ thuộc tổng cục công nghiệp nhẹ quốc gia, Viện nghiên cứu gốm sứ tỉnh Giang Tây, Viện nghiên cứu gốm sứ trấn Cảnh Đức. Đồng thời thành lập trường cao đẳng duy nhất của Trung Quốc chuyên đào tạo nhân tài về gốm sứ cao cấp – Học viện gốm sứ trấn Cảnh Đức.

KhanhHoaThuyNga

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Phóng sự ảnh triển lãm giao lưu cổ vật tại Festival Huế 2009

Huế trở thành Thành phố Festival của cả nước kể từ sau Festival 2000 do Pháp tổ chức. Kể từ ấy, các năm chẵn là Festival quốc tê International Festival, và các năm lẻ là Festival các làng nghề truyền thống.

Năm 2007, BTC Festival quyết định đưa cổ vật vào trưng bầy tại lễ hội Festival làng nghề: tôn vinh nghề đúc đồng, chạm khảm, nghề gỗ

Có hơn 20 nhà sưu tập đã đến với Huế: Thanh Hóa(5), Ninh Bình(1), Nam Định(1), TP HCM (14 hội viên Hội CV Nam Bộ).

Năm nay 2009, Festival làng nghề tôn vinh các nghề Pháp Lam, sơn mài, gốm sứ. Có hơn 60 nhà sưu tập cả nước đã về dư cuộc trưng bầy hơn một ngàn hiện vật tại khu trung tâm trưng bầy vừa xây xong, 15 Lê Lợi, TP Huế.

Đêm khai mạc đã diễn ra hoành tráng bên Đập Đá, truyền hình trực tiếp lên VTV 1.

2009.06.16.05.12dem khai mac 1 rs

2009.06.16.05.11dem khai mac 2 rs

Pháp Lam trang trí khung cửa tại Thành Nội, phục chế

2009.06.21.09.59.52plam ngo mon rs

TRƯNG BÀY & TRIỂN LÃM

Pháp Lam trưng bầy trong Đại Nội

2009.06.21.10.01.01pl cung dinh rs

2009.06.21.10.02.44pl dia oval rs

Chóe Tự Đức trong Đại Nội, cao trên 60 cm

2009.06.21.10.03.44choe td 48 33 rs

Lọ Pháp Lam để chơi Cầu Hồ (ném que vào bình), một trò chơi du nhập từ Nhật, Trung Quóc vào VN mà các vua Nguyễn rất thích chơi

2009.06.21.10.05.21plam cau ho rs

Du khách thẫn thờ trước vẻ đẹp gốm Biên Hòa ( sưu tập của NST Bạch Liên )

2009.06.22.05.59.20yohan quan am rs

Lễ cắt băng khánh thành phòng trưng bầy pháp lam và đồ Huế ký kiểu tại trung tâm Phật giáo Liễu Quán.

2009.06.26.05.14.16CAT BANG

Anh Trần Đình Sơn, thứ 3, trái, hạnh phúc vì đã góp phần nhỏ bé của người con xứ Huế cho thành công của Festival, NST Bạch Liên ( Tú Anh) người đeo thẻ đứng ở ngoài cùng bên phải.

2009.06.26.05.17.49son tu anh rs

Bộ sưu tập sứ Ký kiều triều Nguyễn của nhà sưu tập Trần Đình Sơn

2009.06.22.06.01.50su tq tds rs

Bỗ sưu tập trà cụ ấm chén của NST Trần Đình Sơn

2009.06.22.06.02.50su tq tra tds rs

Bộ sưu tập Pháp Lam (fanglangcai) của NST Ngọc Lũ tại Festival

2009.06.21.09.24.18pl hinh kg kinh rs

2009.06.21.09.35.07pl hinh a rs

Bộ sưu tập Pháp Lam của NST Trần Đình Sơn tại Festival

2009.06.21.09.47.47pl tds royal rs

2009.06.21.09.48.43pl tds 1 rs

2009.06.21.09.49.22pl t d s rs

Bộ sưu tập Pháp Lam của NST Bạch Liên tại Festival

2009.06.21.09.52.07pl ta 2 rs

2009.06.21.09.52.31pl t a 1 rs

2009.06.26.12.10.32pl ang

2009.06.26.12.10.59IMG_0027

2009.06.26.12.11.19IMG_0010

2009.06.26.12.11.34IMG_0011

2009.06.26.12.11.47IMG_0015

2009.06.26.12.12.52pl lu

2009.06.26.12.13.04pl tiem

giới thiệu nguyên bộ 7 hiện vật gốm Cây Mai của NST Bạch Liên đi trưng bầy tại Festival (mặt sau cũng đắp nổi)

2009.06.25.11.22.16bl cay mai 2

2009.06.25.11.22.30bl cay mai 3

2009.06.24.09.33DSC04385

Đây là lần ra quân hoành tráng của các cụ bình vôi

1/Bộ sưu tập bình vôi của NST Đoàn Cần Thơ, NST Tường Tiền Giang, NST Kiệt HCM

2009.06.25.11.29.59bvoi can tho doan

2/03 Bình vôi của NST Trung HP (Thiên Trường-Nam Định)

2009.06.25.11.30.42BST TRUNG HP

3/Bộ sưu tập bình vôi của NST Bạch Liên

2009.06.25.11.31.08binh voi tu anh rs

2009.06.24.09.34DSC04390

Bộ sưu tập gốm Bát Tràng của các nhà sưu tập đến từ Sơn Tây

2009.06.26.02.45.30GOM BAT TRANG

Bộ sưu tập thạp hoa nâu Lý Trần của các nhà sưu tập phía Bắc

2009.06.26.02.46.23THAP GOM HOA NAU

Bộ sưu tập Chân đèn – Lư Lê, Mạc của NST Lê Quang Chức đến từ NAM ĐỊNH

2009.06.26.02.47.17CAP CHAN DEN LU LE MAC

BST điếu Bát Tràng Nguyễn và chân đèn LÊ-MẠC của NST Lê Quang Chức

2009.06.26.02.49.00BST DIEU CHAN DEN LQC

Bộ sưu tập Nghê của Bạch Liên tại Festival

2009.06.21.10.09.24nghê t a không kiếng rs

GIAO LƯU & TRAO ĐỔI CỔ VẬT

Hình ảnh các hiện vật mà các nhà sưu tập mang đến tại buổi giao lưu

2009.06.26.05.19.09hien vat a

Kha, TP HCM, người con của Huế, trái ngoài, Hoàng Huế, phải ngoài, đã nhiệt tình hết mình cho buổi giao lưu của các nhà sưu tập trên quê mình:

2009.06.26.05.20.19kha hoang hue

Ông Chức CT HCV Thiên Trường thay mặt các nhà sưu tập cả nước về dự giao lưu phát biểu cảm tưởng:

2009.06.26.05.22.34chu chuc

2009.06.24.09.33phatbiêu

2009.06.25.10.15FS DPT HAT

hình ảnh trong buổi giao lưu cổ vật:

Chiếc dầm trà lớn từ Quảng Ngãi đã về HCM, em Triều đã rất vui khi được sở hữu chiếc đĩa này từ cuộc giao lưu ( mở hàng):

2009.06.25.11.18.08MO HANG

Chiếc thạp đồng Đông Sơn niên đại 2500-2000 năm cách ngày nay đã được Chính Bắc Ninh mua giá 3.600.000 vnđ và tặng lại cho Bảo Tàng Huế ngay tại cuộc giao lưu:

2009.06.25.11.49thap chinh

Voi điếu Bát Tràng từ NB đã vào HCM

2009.06.25.10.41QN BL

xem xét hiện vật

2009.06.26.12.10.46XENH PLAM RS

Những hình ảnh lưu niệm:

2009.06.26.02.02anh quoc

2009.06.25.10.39chinh tot thuan

Hình ảnh và chú thích: NST Bạch Liên – Phó Chủ Tịch HCV Thiên Trường

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Đến Bát Tràng mua hàng Phù Lãng, về Hà Ðông vớ phải lụa… Tàu” ?!

Chợ gốm Bát Tràng những ngày đầu xuân khá sầm uất. Ngay lối ra vào là một quầy hàng lớn bán đồ gốm men da lươn. Vào sâu trong chợ, càng thấy loại men này được bày bán phổ biến. Hỏi một chủ quầy, tôi nhận được câu trả lời: “Của Bát Tràng đấy, người ta làm gốm da lươn bán được, tội gì mình không làm”.
Bát Tràng và Phù Lãng là hai dòng gốm có từ lâu đời. Ðặc trưng của Bát Tràng là làm xương gốm bằng đất sét trắng (xưa Bát Tràng có tên Bạch Thổ Phường, tức “phường Ðất Trắng” vì có mỏ đất sét trắng, nay đất sét trắng phải mua từ nơi khác), xương gốm đó được tráng men, với những màu men cơ bản như: men ngọc, men nâu, hoa lam… Trong khi đó, xương gốm Phù Lãng là đất sét có màu hồng nhạt, khi nung ở nhiệt độ cao, xương gốm chuyển màu gan gà, với hai màu men chủ đạo là nâu vàng và nâu đen (thường gọi là men da lươn). Nếu vẻ đẹp của Bát Tràng là sự đa dạng về nước men, những nét vẽ tinh tế, thì hồn cốt của Phù Lãng được tạo nên từ sự dân dã, mộc mạc của nước men da lươn.
Hơn chục năm trước, Phù Lãng suýt nữa mất nghề nếu không kịp thời chuyển từ sản xuất đồ gia dụng như chum, vại, ang, tiểu sành… sang đồ gốm mỹ nghệ. Nước men da lươn mộc mạc được người Phù Lãng kết hợp với những đường nét, những tạo hình mang đậm chất nông thôn Việt đã tạo nên sức hút kỳ lạ của gốm Phù Lãng. Theo những chủ cửa hàng ở chợ gốm Bát Tràng, khi thấy gốm mỹ nghệ Phù Lãng ăn khách, người ta nhập về bán kiếm lời. Thế rồi sẵn nghề trong tay, người ta làm phỏng theo phong cách Phù Lãng. Tôi liên lạc với Trần Mạnh Thiều – chủ nhân thương hiệu “Gốm Thiều” của Phù Lãng. Mạnh Thiều phàn nàn: “Ðiều ấy xảy ra vài năm rồi, những mẫu đẹp của Phù Lãng vừa ra lò thì chỉ vài hôm sau Bát Tràng đã sản xuất mẫu như thế. Bát Tràng giao thông thủy bộ thuận tiện, gần trung tâm, mạnh về vốn, đấy là khó khăn lớn cho gốm Phù Lãng “.
Ngoài những sản phẩm “nhái” Phù Lãng, thì những sản phẩm “nhái” Trung Quốc, thậm chí cả những sản phẩm phỏng theo gốm Chăm cũng xuất hiện khá nhiều. Trao đổi ý kiến với chúng tôi, anh Nguyễn Văn Ðạt, một nghệ nhân làng gốm Bát Tràng, không khỏi băn khoăn: “Ðây là điều đáng buồn với những nghệ nhân Bát Tràng. Những người làm nghề thật sự như chúng tôi luôn sáng tạo trên nền truyền thống của làng mình là chủ đạo. Tuy nhiên, cũng có những người vì lợi nhuận…”.
Nếu như Bát Tràng là làng nghề đặc trưng của Thủ đô thì đất Hà Tây cũ vốn được mệnh danh là “quê lụa”. Quê lụa ở đây là lụa Hà Ðông. Lụa Hà Ðông nổi tiếng là thế, nhưng ngay khi đến tận đất lụa Hà Ðông, thì người ta lại mua phải lụa không rõ nguồn gốc. Trong đó, có một số loại vải na ná như lụa Hà Ðông, mà nhiều người cho rằng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Càng buồn hơn cho du khách khi đi bao nhiêu cây số gió bụi đến tận gốc gác của nghề lụa nức tiếng gần xa vẫn mua phải lụa rởm, mà giá thì cao không khác gì lụa xịn. Vạn Phúc nằm trong tua của nhiều hãng du lịch lữ hành, nên các du khách đến từ nhiều vùng, miền đất nước cũng như khách quốc tế cùng chịu chung cảnh “mua nhầm”. Những sản phẩm này thường có chất lượng kém hơn so với lụa Vạn Phúc và giá cả ở trên thị trường cũng rẻ hơn rất nhiều.
Tìm đến nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc, ông Chỉnh thẳng thắn thừa nhận: “Ðúng là có hiện tượng trộn hàng không rõ nguồn gốc để bán lẫn với hàng lụa Vạn Phúc. Hiệp hội làng nghề không cấm bán hàng từ nơi khác, nhưng phải ghi rõ xuất xứ. Nhưng vẫn có một số người kém ý thức, “lập lờ đánh lận con đen”.
Nguy cơ đánh mất bản sắc
Hai làng nghề được coi là nức tiếng nhất của Thủ đô bây giờ, mỗi làng một vẻ, nhưng đều ít nhiều có dấu hiệu của một đoàn tàu đang có nguy cơ chệch hướng. Cả Bát Tràng lẫn Vạn Phúc đều là những làng nghề làm ra những sản phẩm có tính mỹ thuật, đòi hỏi sự sáng tạo cao. Nhưng thay vì tìm tòi để sáng tạo ra những mẫu mới với chất lượng cao trên nền truyền thống của làng nghề, không ít người tìm đến một con đường ngắn hơn. Những gì đang diễn ra cho thấy sự sáng tạo không được đặt ở vị trí xứng đáng.
Các sản phẩm gốm da lươn được bày bán tràn lan ở làng gốm
Bát Tràng.
Không chỉ làm phỏng theo những dòng gốm khác, mà những sáng tạo của các nghệ nhân chân chính ở Bát Tràng cũng bị nhiều người đánh cắp không thương tiếc. Một nghệ nhân giấu tên ở Bát Tràng cho biết, khi anh vừa nghiên cứu chế ra được một loại men mới, thì ngay lập tức nhiều hộ gia đình tìm cách bắt chước. Và sáng chế về loại men đó của anh, dù mất rất nhiều công sức và thời gian nghiên cứu, chỉ có giá trị trong vài lần đốt lò, vì sau đó, hàng loạt sản phẩm tương tự như thế được bắt chước và làm với giá rẻ hơn. Ở Vạn Phúc, ngoài thương hiệu thuộc sở hữu chung của cả làng, không có một thương hiệu nào bật lên với những sáng tạo riêng, cũng chỉ vì lý do một thời gian sau khi mẫu lụa ra đời, cả làng cùng dệt, và người sáng tạo cũng chỉ còn cách chấp nhận… hòa cả làng!
Trao đổi ý kiến với chúng tôi về việc làm thế nào để loại trừ những hiện tượng “phá” thương hiệu ra khỏi làng nghề, nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh cho biết: “Hiệp hội không có thẩm quyền đi phạt những người vi phạm. Nhưng hiện giờ chúng tôi đã có dự án xây dựng khu trung tâm giới thiệu và bán sản phẩm Vạn Phúc. Dự kiến trung tâm rộng chừng 1.000 m2, được xây ba tầng. Ngoài ra, có khu nhà cổ giới thiệu quy trình làm lụa. Chúng tôi sẽ gây dựng để trung tâm là địa chỉ tin cậy của khách hàng. Những người làm ăn theo kiểu “chụp giật” sẽ không được tham gia trung tâm. Không tham gia trung tâm, đồng nghĩa với việc không được Hiệp hội làng nghề bảo đảm về chất lượng. Từ đó, sẽ loại trừ những tiêu cực khỏi làng nghề”. Cách làm của Vạn Phúc, có lẽ là một gợi ý hay cho nhiều làng nghề của Hà Nội nói chung, trong cuộc “đấu tranh” để giữ gìn bản sắc trong cơ chế thị trường.
Sau khi hợp nhất Hà Tây với Hà Nội, Thủ đô hiện có hàng trăm làng nghề khác nhau. Tiếng tăm của những làng nghề kể trên có được, chính là bản sắc được dày công tích tụ qua nhiều đời. Nhưng cơ chế thị trường khiến bản sắc của không ít làng nghề phai nhạt mà hai làng nghề nổi tiếng nói trên là những thí dụ tiêu biểu. Hy vọng rằng, người ta sẽ sớm nhận ra, cái lợi trước mắt có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lâu dài, nếu những làng nghề đậm bản sắc văn hóa đánh mất những nét độc đáo riêng có của mình…
nguồn  ” Nhân Dân”

Read Full Post »

Ông tổ nghề một số làng nghề gốm

Ở Việt NamThờ tổ nghề là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện sự biết ơn những vị sáng lập, mở mang tri thức ngành nghề cho nhân dân, di dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ǎn quả nhớ kẻ trồng cây”…

1. Đôi điều về tín ngưỡng thờ tổ nghề

Tổ nghề (còn gọi là Tổ sư, Thánh sư, Nghệ sư – người phát minh, sáng lập, gây dựng nên một nghề (thường là nghề thủ công mỹ nghệ) hoặc là người thứ nhất đem nghề ở nơi khác truyền lại cho dân chúng trong một làng hay miền nào đó, được người đời sau tôn thờ như bậc thánh. Tổ nghề có thể là nam giới hoặc nữ giới.

Nghề thủ công mỹ nghệ ở nước ta rất phát triển, có truyền thống lâu đời, sản phẩm phong phú, đa dạng về chất liệu, kiểu loại. Có thể kể một số nghề như: Nghề dệt chiếu cói, dệt the, dệt lụa, dệt nhiễu, thêu, thợ may, thợ mộc, nghề kim hoàn, chạm bạc, khảm xà cừ, nghề giấy, nghề mây tre, làm nón, nghề sơn, chạm khắc đá, đúc đồng, nghề gốm… Những người làm nghề thường ở thành phường nhóm, làng (làng nghề). Biết ơn những vị sáng lập truyền nghề cho mình và di dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ǎn quả nhớ kẻ trồng cây”, họ thờ phụng các vị tổ của nghề mình đang làm. Có thể lập bàn thờ tổ nghề tại gia, và vào ngày tuần tiết, sóc, vọng, giỗ tết, đều có cúng cấp. Nhưng phổ biến hơn cả là các phường nghề, làng nghề lập miếu, đền riêng để thờ tổ nghề riêng của nghề mà phường, làng mình đang làm. Đặc biệt, nhiều vị tổ nghề còn được thờ làm thành hoàng làng.

Trong một nǎm, lễ cúng tổ nghề quan trọng nhất là nhằm vào ngày kỵ nhật của vị tổ nghề, đối với những vị mọi người đều biết hoặc là một ngày nhất định mà mọi người trong phường, trong làng cùng theo một nghề kể là ngày kỵ nhật của tổ nghề mình.

Thờ phụng tổ nghề, người ta cầu mong Ngài phù hộ cho công việc được suôn sẻ, buôn may bán đắt hoặc lúc đi xa tránh được mọi sự rủi ro. Sau khi công việc có kết quả, người ta làm lễ tạ ơn. Ngày kỵ nhật tổ nghề tại các phường còn gọi là ngày giỗ phường.

2. Ông tổ nghề một số làng nghề gốm ở Việt Nam

Gốm là một trong những phát minh quan trọng của tổ tiên ta từ ngàn đời nay, đồ gốm đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của nhân dân ta.

Gốm cổ truyền Việt Nam đã có cách đây sáu, bảy ngàn năm. Gốm xuất hiện trong những di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Hạ Long… Rồi ta thấy trong di chỉ thuộc hậu kỳ đồ đá mới Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậu, giai đoạn Gò Mun… Đồ gốm cổ truyền nước ta đã có những bước phát triển cao và hết sức phong phú.



Sản phẩm gốm men lam của Bát Tràng

Trong truyền thuyết, sự xuất hiện của đồ gốm, đồ sứ như một điều bí hiểm, linh thiêng “Đồ gốm, sứ là loại chất bột nằm sâu trong lòng đất, ở những nơi linh thiêng có ma quỷ canh giữ. Muốn khai thác được phải chọn ngày lành tháng tốt. Lên tới mặt đất, nhờ ánh sáng chói lọi của mặt trời soi dọi chất bột đó mới biến thành gốm, sứ…”

Thực ra đó chỉ là truyền thuyết ly kỳ để tăng cái phần quan trọng của kỹ nghệ gốm, sứ xa xưa. Thực chất hàng gốm, sứ ra đời nhờ đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ thủ công. Lịch sử Việt Nam, tập 1, trang 38 có ghi: “Trong giai đoạn Phùng Nguyên, kỹ thuật tạo chế đồ đá đã đạt đến trình độ cực thịnh. Những chiếc rìu, vồ đục… quy mô to nhỏ khác nhau, được chế tạo bằng cách mài, cưa khoan, rất hoàn thiện. Những vòng tay, hoa tai, hạt chuỗi… bằng đá được chau chuốt, tiện, gọt tinh vi. Những loại hình đồ gốm (nồi, bát, cốc, vò…) có hình dáng đẹp, chắc, khoẻ, phần nhiều đã được chế tạo từ bàn tay. Mặt ngoài đồ gốm phủ đầy hoa văn trang trí với những đường vạch sắc sảo, những nét cong uyển chuyển, mềm mại, được phối trí, đối xứng và hài hòa. Đó là một biểu hiện về óc thẩm mỹ khá cao của người Việt Nam lúc bấy giờ….”

Vậy là kỹ nghệ gốm giai đoạn Phùng Nguyên (cách ta gần 4.000 năm) ở nước ta đã phát triển mạnh. Con người buổi đó đã biết nghĩ ra bàn xoay và chế tạo ra thứ men để phủ ngoài, tăng thêm vẻ đẹp kỳ diệu của đồ gốm.

Đây là một thời kỳ của nước Văn Lang. Cho tới thời Âu Lạc, kỹ nghệ gốm đã phát triển mạnh lắm. Nghề nung gạch, làm ngói… cũng đã có từ ngày này.

Phải nói thời cực thịnh của gốm sứ là thời kỳ Lý – Trần (thế kỷ XI – XIV). Đó là những năm đất nước phồn thịnh, kinh tế mạnh mẽ, quân sự vững mạnh, văn hóa phát triển, đất nước an bình, mọi kỹ nghệ được khuyến khích phát đạt.

Nghề gốm, xem ra phát triển rải rác khắp đất nước. Ở tỉnh nào cũng có những vùng làm nghề gốm. Cứ ven các dòng sông, chúng ta gặp nhiều mảnh sành, mảnh gốm còn vương sót lại. Hoặc chúng ta gặp những dãy lò gốm đang ăn khói nghi ngút. Những trung tâm sứ gốm ở nước ta, xuất hiện từ thời Lý – Trần mà đến nay vẫn còn hưng thịnh nghề nghiệp, đó là Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Quế Quyển (Hà Nam Ninh), Chum Thanh (Thanh Hóa)… Mỗi vùng quê gốm lại giữ kỹ nghệ riêng biệt. Và mỗi nơi, lại có mặt hàng gốm đặc trưng riêng của mình, tạo thêm cái đa dạng và phong phú của công nghệ gốm Việt Nam. Nếu nói trung tâm gốm ở nước ta, phải nói tới Bát Tràng – Thổ Hà – Hương Canh. Một đặc điểm riêng biệt và rõ nét nhất của nghề gốm là đều phát triển dọc sát các triền sông. Bởi lẽ nó tiện đường chuyên chở, và đất sét dọc các triền sông là thứ nguyên liệu quý để sản xuất gốm, sứ.



Gốm Bát Tràng ngày nay

Theo tài liệu giới thiệu Lịch sử nghề gốm ở Thổ Hà của Ty Văn hóa Hà Bắc, và tài liệu Tìm hiểu nghề gốm ở Bát Tràng, tư liệu đánh máy của Viện Mỹ thuật, năm 1964, cho biết: Vào khoảng thời Lý – Trần có người đỗ Thái học sinh (đặc biệt chức Thái học sinh thì mới có từ thời Trần) được cử đi sứ nhà Tống (Trung Quốc) là: Hứa Vĩnh Kiều, người làng Bồ Bát (Thanh Hóa), Đào Trí Tiến, người làng Thổ Hà (Hà Bắc), Lưu Phong Tú, người làng Kẻ Sặt (Hải Dương). Cả ba ông này, khi đi sứ đã học được nghề sứ gốm. Khi về nước, ba ông chọn ngày lành tháng tốt lập đàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền nghề cho dân làng. Công nghệ có được phân như sau: Ông Kiều về Bồ Bát, ông Tiến về Thổ Hà, ông Tú về Phù Lãng, và:

– Làng Bồ Bát chuyên chế các hàng gốm sắc trắng.

– Làng Thổ Hà chuyên chế các hàng gốm sắc đỏ.

– Làng Phù Lãng chuyên chế các hàng gốm sắc vàng, thẫm.

Nửa năm sau nghiên cứu, chế tạo thành công, ba ông lấy các đồ gốm do tay mình chế được, dâng Vua xem. Nhà Vua thấy sản vật đẹp, liền khen thưởng các quan sứ thần bốn chữ “Trung ái Quán Thế” và phong cho ba ông danh “Khởi nghệ tiên triết”. Tục truyền, dịp này, dân làng ở ba nơi đều tế lễ sầm uất và linh đình. Sau dâng ba tuần rượu, dân chúng nhảy nhót hoan hô để biểu dương các ngài đem nghề về truyền cho dân. Sau khi ba ông mất, dân chúng ba nơi đều tôn ba ông là “Tổ sư”, tức “Tổ nghề”.

Phường gốm Bồ Bát sau có rời ra ngoài Bắc. Dọc theo con sông Hồng, tới một bãi sông có đất thó trắng, họ dừng lại lập lò gốm ở đó, với tên gọi Bạch Phường thổ, sau này đổi là Bát Tràng phường. Và ngày nay, ta quen gọi là Bát Tràng.

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Tản Mạn về Gốm Cổ Hội An

Cổ Vật và Nghệ Thuật

Những năm gần đây, sau cuộc khai quật một chiếc tàu buôn đồ gốm được thực hiện gần Cù Lao Chàm ngoài khơi của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam thuộc miền trung nước Việt Nam bị chìm vào khoảng giữa thế kỷ 15,ngoài một số được bảo tồn và trưng bày tại những bảo tàn viện trong nội địa, người ta bắt đầu thấy nhan nhản những cổ vật được mời mọc, rao bán từ những tiệm buôn bán đồ cổ ở các địa phương như Hà Nội, Hội An, Sài Gòn… hoặc trên những trang mạng internet với danh hiệu là đồ gốm Hội An.  Kết quả của những cuộc nghiên cứu về sau cho thấy những cổ vật này không phải được làm tại Hội An mà được sản xuất tại những lò gốm khác nhau, đa số được thành hình từ những lò ở phạm vi tỉnh Hải Dương mà lúc bấy giờ là một trong những nơi sản xuất đồ gốm rất mạnh mẽ.  Ở một nơi quá thuận lợi cho việc giao dịch với những xứ đàng ngoài.  Hội An, một thị trấn miền duyên hải miền Trung nước Việt vào thế kỷ thứ 15 đã là một thương cảng sầm uất nhất trong thời gian này, là một nơi tiếp nhận và trao đổi những hàng hoá qua các thương thuyền từ khắp nơi trong vùng Châu Á: Trung Hoa, Nhật Bổn đến từ miền Bắc,  cũng như các thương thuyền từ Âu Châu như Anh, Pháp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha dde^’n từ vùng biển miền Nam.

Bối cảnh lịch sử

Vào khoảng đầu thế kỷ thứ 15, nhà Minh bên Trung Quốc thời bấy giờ vì phải một mặt đối đầu với quân Mông Cổ từ phương Bắc, một mặt với nỗi đau còn ray rức về thất bại trong mộng chinh phục phương Nam trước đó bị đánh bại bỡi vua Lê Thái Tổ cộng với nội bộ lũng củng nên đã ra lệnh tuyệt đối cấm giao thương với những nước lân bang và ngoại quốc, nhất là theo hệ thống đường biển.  Thị trường đồ gốm vì lý do đó mà trở nên khan hiếm và không đủ số lượng để cung cấp cho đồ dụng trong nước và để trao đổi hàng hóa giữa các nước ngoại quốc.  Các lò gốm Việt Nam lúc bấy giờ đã lợi dụng cơ hội để tăng gia sản xuất hầu đáp ứng nhu cầu càng ngày càng tăng.  Những cuộc đào xới của giới khảo cỗ ở miền Bắc gần đây cho thấy trong thời gian từ thế kỷ thứ 15 và 16 những lò gốm xuất hiện rãi rác trải dài từ Hải Dương cho đến Hà Nội và đó cũng là thời gian cực thịnh nhất của ngành gốm của người Việt trong lịch sữ cận đại về phương diện số lượng xuất khẩu, phẩm chất và nhất là nghệ thuật.

Trong chuyến hải hành của một thương thuyền từ bến Vân Đồn (gần Hải Phòng) trực chỉ về phương Nam để giao hàng đến các nước vùng Đông Nam Á, sức nặng của những kiện hàng đã vượt qua khả Năng chịu đựng của chiếc tàu cho nên khi vừa qua vùng Cù Lao Chàm thì bị thêm ảnh hưởng sóng to gió lớn của một cơn bão. Chiếc thương thuyền với toàn bộ thuỷ thủ, thương gia và những kiện hàng bị chìm xuống lòng biển sâu mang theo sự bí ẩn của ngành đồ gốm Việt Nam trong khoảng thời gian hơn 5 thế kỷ.  Điều làm cho giới khảo cổ phấn khởi về khám phá ra chiếc tàu chìm là trong lòng tàu sau hơn 500 năm dưới lòng đại dương nay lại đươc khơi ra đã trả lời phần nào những nỗi suy tư mà họ đã có từ bao lâu naỵ  Trong số những cổ vật gốm được vớt lên vào năm 1997 gồm có những bình, dĩa, chén, tô, lọ mực, hoặc những chum rượu có tượng hình được gợi ý từ những dạng của thú vật (chim, két, gà, vịt..) hoặc hoa quả (bầu, bí..) với nhiều tranh ảnh dân gian và những hoa văn đầy Việt tính được bao bộc dưới lớp men qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử.


Hình 1: Những Cổ Vật Hội An / Butterfields Auction, 2000

Cổ Vật và Nghệ Thuật Hội Họa

Nhưng quan trọng nhất lại là phẩm chất của nhiều cổ vật sau khi được hoàn chỉnh với những phương tiện tối tân của công ty trúng thầu Saga (Mã Lai) liên hợp với công ty Visal của nhà nước Việt Nam cho việc khai quật đã được phục hồi đến mức gần như tuyệt hão.  Căn cứ theo hợp đồng thì nhà nước cộng sản giữ lại một phần những cổ vật được đánh giá cao cấp nhất để dùng vào việc trưng bày tại các cơ quan văn hoá (tủ kính của mấy ông lớn cũng có thể được gọi là cơ quan văn hoá?) và những bảo tàng viện rải rác trong nước.  Phần còn lại, công ty Saga được quyền xữ dụng vào việc thương mại rao bán trong giới tư nhân qua những cuộc đấu gía tại nhiều nơi trên thế giới.  Trong số gần 150,000 cổ vật được kiểm tra, ngoài một số bị hao mòn bởi sự phô trương quá lâu dưới độ sâu của nươc mặn, có một số gần như ở trạng thái nguyên vẹn như lúc mới đươc tạo hình. Sự khám phá chiếc tàu này đã làm đảo lộn sự suy nghĩ về nghệ thuật đồ gốm trải qua nhiều thế hệ và là một nguồn hào hứng vô tận của các nhà khảo cổ chuyên môn cũng như các nhà sưu tập đồ gốm từ mọi nơi trên thế giới.


Hình 2:  Con chim sẽ / Hội An (giữa t.k.15)  private collection


Hinh 3: Long Phụng / (Nhà Minh, t.k.15) private collection

(ảnh minh họa bị thất lạc)

Trong số những cổ vật được đem ra ánh sáng, đa số là đồ gốm loại men lam, men trắng, men nâu và một số ít là loại không men như đồ sành để làm những vật gia dụng hằng  ngày như lu, tô, chén, dĩa.  Nhưng điểm son của những kiện hàng này là những đồ dùng cao cấp về hình dạng, cách tráng men và hội họa mà tính đặc thù của chúng đã xác đinh rõ ràng vị trí độc lập về cách phát họa, ý tưởng và trình bày của những nghệ nhận Việt thời bấy giờ; cho thấy sự vượt thoát khỏi khuôn khổ, nề nếp mà đã từng bao nhiêu năm có nhiều quan niệm cho rằng trong thời gian này các sản phẫm của nước Việt chúng ta đều thuần túy chịu ảnh hưởng bỡi ông láng giềng to xác từ phương Bắc.  Hình 2 và 3 đưa ra thí dụ điển hình về sự khác biệt rõ rệt giữa nghệ thuật của người Việt và Hán tộc về khía cạnh hội họa trên những tác phẩm được sản xuất ở một thời điểm rất gần nhau. Qua nét bút lông của một nghệ nhân Việt, con chim sẻ bay lượn trên cánh đồng cỏ (hinh 2). Những nét vẽ đượm tính dân gian đơn sơ, mộc mạc nhưng lại biểu lộ được sự bay bướm đầy năng động chấm phá của từng nét cọ. Những đường nét đó đã tạo nên một sự rung động nơi người thưởng lãm cũng giống như sự rung động khi đối diện với những đường nét từ các hoạ sĩ thời danh như Bé Ký, Nguyễn thị Hợp.. ở thời điểm sau hơn 5 thế kỹ. Trong đó người ta không thấy sự gò bó, khuôn khổ, đồng đều, cầu kỳ, khách sáo, vương giả như được phát họa trên cái lọ được sản xuất từ phương Bắc (hình 3). Đối với giới thưởng ngoạn, thưởng thức nghệ thuật đồ gốm của Tàu thì mát con mắt; nhìn nét vẽ trên gốm của người Việt thì lại thấy mát con tim.


Hình 4: Những Con Nghê trên Cổ Vật / Butterfields Auction, 2000

Hình ảnh con nghê, một linh vật nhân gian thuần túy của người Việt được xữ dụng một cách quen thuộc trong nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc qua những triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần… ở đây được trình bày một cách trang trọng trên những dĩa gốm trắng men lam (hinh 4). Những chi tiết cho thấy sự sáng tạo của người họa sĩ với nguồn cảm hứng vô tận. Mỗi cỗ vật được vuốt ve, chăm sóc với một kiểu cách khác nhau. Người họa sĩ đã xữ dụng thiên khiếu của mình vào mỗi tác phẩm với một đam mê, hòa nhập tâm hồn của mình vào những đường nét lã lướt nhưng không quên chấm phá vài nét trào phúng cho đời thêm vui.  Ở một thời mà khái niệm về năng động (motion), ấn tượng (impression), trừu tượng (abstract), không gian 3 chiều với định nghĩa về chiều sâu được thễ hiện qua bóng nổi (shades and shadows) chưa có một thế đứng rõ rệt trong nghệ thuật cỗ điển trên thế giới mà tại một nơi nào đó ở vùng đất Việt nhỏ bé, những nghệ nhân bằng một cách khiêm nhường đã biết gạt bỏ những lề lối, truyền thống mà đưa ra những mô thức mà người đời mấy trăm năm sau phải suy gẫm và thán phục.

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

 

Read Full Post »

Đường Lê công Kiều – Nằm sau đại lộ Hàm Nghi thuộc phường Nguyễn Thái Bình, Q.1. Một con phố nhỏ chỉ dài hơn 200m nhưng đã nổi tiếng nổi tiếng trong và ngoài nước với nhiều du khách và những người yêu thích sưu tầm đồ cổ – phố Lê Công Kiều.

Phố đồ trưng bày đủ thứ từ những bức tượng đồng, cái điện thoại cổ, cái máy chụp ảnh cổ, bộ bàn ghế, …. Tuy nhiên ít ai biết trong số các đồ “cổ” đó chỉ có chừng 10-15% là đồ cổ thật còn lại la các sản phẩm giả cổ được cung cấp bởi các lò gốm Bát Tràng, Giang Tây (Trung Quốc); các cơ sở đồ đá ở Bình Định, Đà Nẵng; các xưởng mộc ở đường Cộng Hòa (TP.HCM), Đức Huệ (Long An)… Cũng chính vì lý do đó mà trừ những đồ cổ chính hiệu thì giá cả tùy thuộc vào sự quý hiếm, niên đại, sự am hiểu và yêu thích của khách hàng, còn lại đồ giả cổ đều đã có mức giá nhất định, cho nên người đi mua không phải lo âu về tình trạng “thách” giá.
Rất nhiều chủ các nhà hàng khách sạn đến phố này để tìm mua đồ trang trí cho khách sạn, nhà hàng của mình.
Năm 2000 trong chuyến thăm Việt Nam, bà Hillary Clinton- phu nhân Tổng thống Mỹ đã đến phố đồ cổ này và say sưa ngắm những chiếc độc bình Trung Quốc. Đến khi chủ tiệm cho biết đây chỉ là …đồ sứ Giang Tây giả cổ, bà mới “vỡ lẽ” và thích thú mua nó làm kỷ niệm.
Một số hình ảnh về Phố Lê Công Kiều

Dulichbui’s Blog

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

 

TƯ LIỆU ĐÁNG ĐỌC VỀ GỐM CỔ VIỆT NAM

ĐỒ GỐM CHU ĐẬU

Tựa là về đồ gốm Chu Đậu, nhưng thật ra bài viết bao quát liên quan đến đồ gốm cổ Việt Nam nói chung hiện diện trên các viện Bảo Tàng quốc tế. Dưới đây chỉ là khái quát lại của cả một công trình nghiên cứu về Lịch sử và nhân văn nước Việt Nam ta, tuy nhiên cũng đủ giúp người đọc chỉnh trang lại kiến thức và hướng về chân lý chưa được nhìn nhận đúng đắn về nhiều vấn đề liên quan đến gốm sứ  cồ Việt Nam cũng như về nghề gốm tại Việt Nam.

Bùi Ngọc Tuấn
Về đồ gốm Chu Đậu

Trước hết tôi xin cảm ơn ông Phong Uyên và các độc giả xa gần đã đọc và hưởng ứng loạt bài về đồ gốm cổ Việt Nam. Mỗi bài đúng ra là một chương sách trong 10 chương của quyển Đồ gốm cổ, một nền văn hóa thuần Việt mà chúng tôi đang chuẩn bị xuất bản, ngoài phần bài viết còn rất nhiều hình ảnh đồ gốm Việt Nam từ đời Hán thuộc cho đến đời nhà Nguyễn, mà chúng tôi đã may mắn sưu tập được từ trong nhiều năm qua. Thứ tự các chương sách này cũng khác với thứ tự thời gian xuất hiện trên talawas. Tôi phổ biến các chương sách này trên talawas vì đây là cơ hội để các bài viết này đến được với nhiều người đọc trong và ngoài Việt Nam hơn; dù rằng với khuôn khổ trên talawas thì phần hình ảnh đồ gốm phải lược bỏ rất nhiều.

Có một số vị đã tìm được địa chỉ email của riêng tôi để hỏi mua quyển sách này, tuy nhiên vì công việc ấn loát còn đang trong vòng chuẩn bị nên tôi xin hẹn đến ngày hoàn tất.

Tôi cũng xin lỗi ông Phong Uyên và tất cả các bạn đọc vì đã bê trễ trong việc trả lời. Thật ra thì trong vòng 12 tháng qua, chúng tôi đã dọn nhà 3 lần, đi xa hàng nghìn dặm, nên không những sinh hoạt bị xáo trộn mà sách vở, tài liệu và ngay cả bộ sưu tập đồ gốm cũng phải đóng gói kỹ lưỡng, cất trong kho. Khi cần đến thì không sao tham khảo được. Tuy thế cũng không thể trì hoãn lâu hơn nữa, nên hôm nay viết ít dòng này để đáp lại những chân tình của ông Phong Uyên, các độc giả và ban biên tập talawas. Bởi vì không có gì sung sướng hơn khi bài mình viết ra có người đọc, thưởng thức, hưởng ứng và đối thoại, góp ý như thế này.

Từ hơn ba chục năm qua, tôi không còn là người dân Việt Nam nữa, mà đã tự chọn làm một người gốc Việt. Tuy thế niềm cố quốc vẫn không nguôi, tuy thế vẫn là một người Việt Nam về phương diện văn hóa. Bởi vì cái gì rồi cũng sẽ qua đi, duy có văn hóa dân tộc thì vẫn còn mãi mãi khi vẫn còn người tìm hiểu, đọc và viết về văn hóa, vẫn còn người sống, duy trì, phổ biến và chuyển biến nền văn hóa ấy. Tự biết rằng những điều mình viết về đồ gốm cổ Việt Nam vẫn có nhiều thiếu sót nhưng ngặt một điều là ít người biết đến nền văn hóa phong phú, cá biệt và tuyệt mỹ ấy, số người viết về đề tài này lại càng lẻ tẻ, thưa thớt, nên tôi viết để cố gióng lên một tiếng chuông để những người Việt Nam và những người gốc Việt tìm hiểu và phổ biến nét đẹp riêng của dân tộc, không của một chính thể hay quyền lực nhất thời nào – bởi vì một vài chục năm, một trăm năm nào có nghĩa gì trong dòng lịch sử rất dài của dân Việt. (Người khác nói “bốn nghìn năm văn hiến”, tức là kể từ đời Hùng Vương thứ nhất năm 2789 trước Công nguyên, cho đến nay 2006 sau Công nguyên đã là 4795 năm. Tôi thích kể lịch sử Việt Nam từ thời văn hóa Hòa Bình, từ 10.000 năm nay). Tôi hy vọng rằng sẽ có nhiều người yêu thích đồ gốm Việt Nam, viết và ca ngợi văn hóa Việt Nam để đính chính lại những sai lầm mà trong rất nhiều năm qua, từ tầm nhìn hạn hẹp của một số nhà Nho cũ, từ những kiêu ngạo ngang ngược của người viết sử Tàu, từ những cố chấp, mù quáng của những nhà viết sách người Pháp, tạo ra. Rồi sau đó được chấp nhận do sự hời hợt của nhiều trí thức, nhà báo, nhà giáo Việt Nam.

Tôi không chê văn hóa Trung Hoa, hay chê đồ gốm Trung Hoa. Tôi đã từng viết đồ gốm Trung Hoa cực đẹp. Nhiều người chuộng đồ gốm Trung Hoa chỉ vì nó đẹp, người khác chuộng không những chỉ vì nó đẹp, nhưng lại thêm vì không biết rằng đồ gốm Việt Nam cũng rất đẹp, một cái đẹp rất Việt Nam, rất khác cái đẹp Trung Hoa. Như tôi thường viết, cái đẹp của đồ gốm Trung Hoa là cái đẹp của thơ Lý Bạch, cái đẹp của đồ gốm Việt Nam là thơ Nguyễn Khuyến. Tôi thích đồ gốm Trung Hoa, nhưng tôi yêu đồ gốm Việt Nam. Cũng chẳng khác gì việc tôi thích cái đẹp của nhiều cô gái mình từng gặp trên đời, nhưng tôi yêu cái đẹp của vợ tôi. Người khác nghĩ sao mặc lòng.

Cà kê dài dòng mà vẫn chưa trả lời các câu hỏi của ông Phong Uyên, vậy thì nay xin nói thẳng:

1. Để được rõ thêm, tôi đã gọi điện thoại về Hải Dương để tham khảo với ông Tăng Bá Hoành (nguyên là Giám đốc Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương), người có công lớn nhất trong việc khai quật, lưu trữ, nghiên cứu về đồ gốm Chu Đậu, thì được ông cho biết thêm là từ năm 1980, (khi nhận được thư của ông Makato Anabuki, và xác định được niên đại và nguồn gốc của bình Tokapi Saray) thì những khai quật và tìm hiểu ở Chu Đậu kế đó là do Viện bảo tàng Hải Dương tự làm, chứ chính quyền trung ương ở Hà Nội không góp phần. Vì thế mặc dù nhóm ông Tăng Bá Hoành ở Hải Dương rất muốn sang Istanbul để xem tận mắt chiếc bình Tokapi Saray này – và biết đâu lại chẳng nhận diện được nhiều món đồ Chu Đậu khác đang được lưu giữ tại đó – nhưng họ đã không có đủ ngân khoản để thực hiện. Vì thế mọi liên lạc, tìm hiểu với Tokapi Saray chỉ là qua thư từ. Cho nên, cho đến nay, không có một phái đoàn chính thức nào của Việt Nam đến Tokapi Saray.

Người Việt Nam nổi tiếng về đồ cổ đã đến viện bảo tàng Tokapi Saray là cụ Vương Hồng Sển. Trong sách Khảo về đồ sứ men lam Huế (tập hạ, trang 240-241) cụ viết về chuyến viếng thăm Viện bảo tàng Tokapi Saray năm 1963 như sau: “Viện Tokapi chứa đồ céladon đến số muôn số thiên gồm đồ đời Tống, đời Nguyên, đời Minh, luôn cả đồ đời Kiền Long nhà Thanh…”

Trên hơn một trang giấy, cụ Vương không hề nhắc đến trong “số muôn số thiên” ấy có cái bình do bà Bùi Thị Hý vẽ, mà cũng không nói là viện Tokapi Saray có trưng đồ Việt Nam hay không. Hoặc giả là cụ không nhìn thấy cái bình ấy, hoặïc giả là có thấy mà cho là đồ đời Minh, đời Thanh (Cụ Vương không đọc rành chữ Hán, mà có khi cụ cũng không biết châu Nam Sách là một nơi ở tỉnh Hải Dương, miền Bắc Việt Nam).

Ông Phong Uyên kể rằng đã đến Viện bảo tàng Tokapi Saray hơn mười năm trước đây, thấy mấy trăm món đồ đời Minh và có thấy cái bình đó, nhưng cũng là sau khi ông Makato Anabuki nhận ra rằng bình này làm ở Việt Nam, mà từ đó được ghi chú đúng là “nguyên gốc ở Việt Nam”. Tôi vẫn nghĩ rằng có nhiều đồ Chu Đậu ở nhiều nơi bị ghi chú lầm là đồ Trung Hoa, và tôi thường tự hỏi còn bao nhiêu món Chu Đậu đẹp ở Tokapi Saray, ở những việc bảo tàng và bộ sưu tập tư nhân khác vẫn mang nhãn đồ Tàu?

Ngoài chiếc bình ở Tokapi Saray, nhóm ông Tăng Bá Hoành còn tìm được rất nhiều món đồ làm ở làng Chu Đậu, ở Phủ Nam Sách ghi rõ tên người làm, người đặt làm, những năm tháng của thế kỷ XV, thời Hậu Lê, thời Trịnh-Mạc. (Xin nhắc ông Phong Uyên xem lại các chú thích số 7 đến số 10 dưới chương về đồ Chu Đậu). Mà chẳng gì Chu Đậu, nhiều món đồ Bát Tràng (lư hương, chân đèn…) cũng ghi rõ năm tháng, tên người làm, tên người đặt…). Những chân đèn cao, đẹp, những món đồ Lý-Trần đẹp chẳng những có trong các bộ sưu tập riêng (mà tôi cũng có may mắn dự phần – khi nào có dịp, xin mời ông Phong Uyên ghé thăm) mà còn có rất nhiều ở Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, Hải Dương…

Nhân đây cũng xin kể rằng, ông Tăng Bá Hoành đã tìm ra thêm nhiều điều thú vị về bà Bùi Thị Hý, người vẽ và viết hoa văn của chiếc bình tuyệt đẹp đó: Bà Bùi Thị Hý sinh năm 1420 mất năm 1499 ở Nam Sách là người hay chữ, có nét vẽ và nét viết rất đẹp. Bà đã giả trai để đi học và đi thi. Sau khi đậu tam trường thì việc giả trai của bà bà bị khám phá. Bà trở về Chu Đậu, lấy ông Đặng Sỹ, chủ một lò gốm rất lớn ở Chu Đậu. Lò này chuyên làm đồ xuất cảng. Tại đây với tài năng sẵn có, bà Bùi Thị Hý đã vẽ hoa văn cho rất nhiều món trong đó có bình Tokapi. (Những chi tiết này ông Tăng Bá Hoành đã viết trong một bài đăng trên báo Quân đội Nhân dân ở Hà Nội).

Về giá bán, đồ cổ thì vô giá. Ai thuận mua với giá nào là nó có giá đó. Chứ đâu phải như quần áo, bàn ghế thường dùng. Đồ gốm Việt Nam đẹp vốn đã hiếm, lại ít ai (kể cả người Việt) biết đến. Chính vì cái ít ai biết đến ấy, mà mấy anh Tàu anh Nhật cứ mua rồi cất trong nhà thôi, không bán chác gì cả.

Hồi tháng 10 năm 2000 nhà bán đấu giá Butterfields có tổ chức ở San Francisco và Los Angeles cuộc bán đấu giá đồ gốm Chu Đậu vớt được từ một tầu chìm ngoài khơi Cù Lao Chàm, Hội An (họ gọi là “Hoi An Hoard”, kho tàng Hội An). Trong 3 ngày 11, 12, 13 tháng 10 này tổng số tiền bán được là vào khoảng 3 triệu Mỹ kim. Mấy món đồ bán được cao giá nhất là 79.500 – 63.000 – 57.500 – 40.250 và một số món khác từ 28.750 đến 37.375 Mỹ kim và rất nhiều món khác được bán với giá trên mười nghìn Mỹ kim. Những người mua các món này là một nhà sưu tập hiện sống ở Á Châu, viện Bảo Tàng British Museum, Gallery of New South Wales, Seattle Art Museum, Phoenix Art Museum, Asian Art Museum of San Francisco, San Diego Museum of Art… (Trong đó người sưu tập gốc Việt mua khoảng 20% số món đồ – khi có dịp, tôi sẽ xin viết tường tận hơn về cuộc bán đấu giá này). Sau đó trên báo Nhân dân số ra ngày 20 tháng 3 năm 2006, dưới tựa bài “Gốm cổ Chu Đậu – thông điệp của thời gian” tác giả Khôi Nguyên viết rằng: “Một người Mỹ tên là G. Xpin-man đã mua được chiếc bình tỳ bà cao 28,5 cm qua một cuộc đấu giá, với giá kỷ lục 521.000 USD…”. Cuộc bán đấu giá này được tổ chức ở đâu, ngày nào? Không thấy ông Khôi Nguyên nói rõ. Nhưng với giá hơn nửa triệu Mỹ kim thì đồ Chu Đậu được lắm đó chứ?

Ít năm nữa, mấy cái bình này sẽ lại được bán với giá nào? Tôi tin là cứ từ từ, rồi người ta sẽ biết đến, rồi đồ gốm Việt Nam cũng sẽ được các nhà Butterfields, nhà Chrities, nhà Sotheby’s … bán với những giá tiền khổng lồ cho mà xem.

Các nơi bán đấu giá ở gần nhà ông Phong Uyên, bán đồ đời Minh 5 triệu Mỹ kim, đồ Thanh 100.000 Mỹ kim, và đồ Việt dưới 1.000. Nhưng tôi tự hỏi, ví thử cái bình Tokapi Saray được đem ra bán đấu giá thì mấy triệu? Những món đẹp nhất của “Hoi An Hoard” được giữ lại cho viện bảo tàng ở Việt Nam, nếu được bán ra thì thu về bao nhiêu? Tôi nghĩ là nhiều món trong số đó sẽ bán được hàng trăm nghìn. Có thể tiền triệu được chăng?

2. Về đồ gốm Chu Đậu (Nam Sách, Hải Dương) và Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) tôi đã viết rõ trên hai chương về hai loại đồ gốm nay, chỉ xin tóm tắt rằng: Chu Đậu và Bát Tràng hoạt động gần như cùng thời. Sử sách cổ viết về Bát Tràng mà không viết về Chu Đậu, như vậy là vì Bát Tràng làm đồ gốm từ lâu hơn chăng? Gốm Chu Đậu đẹp hơn Bát Tràng. Gốm Chu Đậu thường được xuất cảng, Bát Tràng để dùng trong nước. Cụ Vương Hồng Sển, trong sách Khảo về đồ sứ men lam Huế (tập hạ, trang 13), viết theo lời kể của bác sĩ Trần Lê Đôn, rằng Bát Tràng chỉ làm “đồ từ khí”. Điều này không đúng, Bát Tràng cũng làm chén đĩa, vì thế triều đình mới lấy để mang cống triều đình Trung Hoa (Xin xem lại chương tôi viết về Bát Tràng). Sau khi Chu Đậu tàn lụi thì Bát Tràng vẫn tiếp tục và được một số nghệ gia từ Chu Đậu tới cùng làm gia tăng mức độ sản xuất và giá trị của Bát Tràng.

Cụ Vương viết thêm là “theo ông Lê Thành Khôi, lò Bát Tràng do hai người thợ gốc gác ở Thanh Hóa đến đây xây dựng… và dẫn món cổ nhứt để làm vật dẫn chứng, ký niên hiệu Mậu dần (1578)…”. Chắc đây là cái bình có ghi “Diên Thành vạn vạn niên” (năm Diên Thành thứ nhất đời Mạc Mậu Hợp. Dựa vào đó cụ Vương viết rằng “gốm Bát Tràng thuộc vào đời nhà Mạc”. Thật ra Bát Tràng đã làm đồ gốm từ trước đó lâu rồi, năm 1435 Nguyễn Trãi đã viết trong Dư địa chí rằng Bát Tràng đã cung cấp đồ bát chén làm cống phẩm cho triều Minh. Làm bát chén được lựa làm cống phẩm thì đâu phải là tay mới ra nghề. Số người từ Chu Đậu dời đến Bát Tràng chỉ làm tăng thêm lượng và phẩm của gốm Bát Tràng, chứ người ở làng này vẫn làm đồ gốm lâu rồi.

Trong sách Gốm Bát Tràng’ các ông Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc có dẫn chuyện “Hứa Vĩnh Cảo (đời Lý Thái Tổ – đi sứ nhà Bắc Tống về) truyền cho Bát Tràng nước men trắng”. Như vậy tôi nói rằng Bát Tràng đã có nguồn gốc từ khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long cũng chẳng phải là chuyện xa sự thật. Gốm Chu Đậu thường ghi niên hiệu nhà Mạc, gốm Bát Tràng ghi niên hiệu nhà Lê, nhà Mạc, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn và ngày nay Bát Tràng vẫn còn tiếp tục làm đồ gốm, duy có khác ở chỗ dùng nhiều phương tiện tân kỳ hơn xưa, dùng nhiều hoa văn và dáng kiểu hơn xưa. Nhóm ông Phan Huy Lê cũng tìm được món cổ hơn, một chân đèn ký năm Sùng Khang thứ 7 (1572).

Ngoài chương về đồ gốm Bát Tràng, xin mời xem lại chú thích số 4 dưới chương về đồ Chu Đậu. Chu Đậu ngưng làm đồ gốm từ thế kỷ XVII, nay cũng đã bắt đầu làm lại và làm quy mô hơn xưa bội phần. Nếu có dịp đi Việt Nam chơi, đến thăm cả hai nơi này chắc sẽ rất thú vị.

3. Cụ Vương Hồng Sển nói rằng khi người Mông Cổ chiếm Trung Hoa lập ra nhà Nguyên (đây là lần thứ nhất Trung Hoa bị ngoại bang đô hộ), vì không muốn sống dưới triều đại nhà Nguyên, vì nhớ thương nhà Tống nên một số người Tàu đã sang Thanh Hóa lập lò gốm và làm những món đồ men ngọc mà sau này người ta gọi là đồ Thanh Hoá.

Tôi ngờ rằng cụ đã suy luận như thế là vì cụ nghĩ chỉ có người Trung Hoa mới làm được đồ men ngọc đẹp như vậy. Tôi ngờ rằng vì yêu thích những món đồ Tống, Minh, Thanh mà cụ Vương đã lầm. Tôi tra lại những bộ sử cổ, thì thấy trong An Nam chí lược của Lê Tắc, chỉ kể ra có 3 nhóm nhỏ người nhà Tống sang sống ở Việt Nam, khi người Mông Cổ chiếm Trung Hoa mà thôi. Nhóm 3 người đó (và gia đình, tùy tùng) là Trần Trọng Vy, Tăng Uyên Tử và Khả Văn Kiệt, và con trai 10 tuổi của Tô Lưu Nghĩa là Tô Cảnh Do.

Năm 1279, khi nhị vương nhà Nam Tống bại trận rồi mang tàn quân vượt biển chạy về Quảng Châu thì bị quân Nguyên truy đuổi, đánh bại. Ích Vương (9 tuổi) chết ở Nhai Sơn (Vùng Cửu Long – Hương Cảng bây giờ), Quảng Vương (7 tuổi) tự tử (quan Tham Chính – tên là Tú Phu – ôm Quảng Vương nhảy xuống chỗ cửa sông Châu Giang trầm mình), thì 3 ông quan này chạy sang Việt Nam và được nhà Trần hậu đãi. Được ít lâu thì Trần Trọng Vy qua đời. Khả Văn Kiệt, Tô Cảnh Do và Tăng Uyên Tử sống ở Thăng Long.

Năm năm sau, năm 1284, khi Thoát Hoan, thái tử nhà Nguyên, tước Trấn Nam Vương, mang đại quân sang đánh Việt Nam thì Tô Cảnh Do ra trình diện, tố cáo Khả Văn Kiệt đã giết oan cha mình (Tô Lưu Nghĩa), Thoát Hoan chém Khả Văn Kiệt, và cho Tô Cảnh Do trở về Tàu sống. Tăng Uyên Tử cũng ra quy phục quân Nguyên rồi sau đó không biết sống chết ra sao. Như thế ta thấy cái tinh thần yêu nước của mấy ông này thế nào rồi. Một ông chết già, một ông bị chém, còn ông thứ ba và đứa nhỏ 10 tuổi thì mang tiếng là chạy sang Việt Nam vì nhớ nhà Tống, ghét nhà Nguyên, thế mà Thoát Hoan sang đánh Việt Nam thì lại vội vã ra hàng. Họ đâu có ở Việt Nam cho đến lúc Chu Nguyên Chương đuổi được người Mông Cổ, lập ra nhà Minh.

Như thế ông Tàu nào làm đồ men ngọc ở Thanh Hoá? Hay là họ đợi đến khi An Nam chí lược viết xong (năm 1335) rồi mới qua Việt Nam để sống thêm 35 năm nữa (cho đến năm nhà Minh thay nhà Nguyên, 1368) mà làm đồ men ngọc?

Dưới đây tôi cũng sẽ dẫn tài liệu để chứng tỏ rằng người Việt đã làm đồ men ngọc đẹp dưới đời Lý, khi nhà Tống vẫn còn thịnh trị ở Trung Hoa.

Quả thật, đồ men ngọc Thanh Hóa đẹp không khác gì đồ men ngọc đời Tống. Một số đồ men ngọc Thanh Hóa có dấu vết đồ nhà Tống như hoa văn nổi hình lưỡng long, 2 hay 3 em bé trai chơi trong vườn hoa, nhưng có khi người ta lại Việt hóa đi mà vẽ 2 lực sĩ đấu vật trong vườn hoa… Những yếu tố kỹ thuật và mỹ thuật tương đồng này đưa ông Vương Hồng Sển đến kết luận rằng các món đồ ấy đều do người Tầu sang Thanh Hóa làm. Cụ Vương nói rằng sau năm 1368, người Tầu về xứ nên không ai làm đồ men ngọc ở đó nữa.

Tôi cho rằng trong thời sức khoẻ còn sung mãn, nếu cụ Vương có cơ hội sưu tầm và nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam thì nhận xét của cụ chắc cũng sẽ khác. Cụ Vương vốn là người miền Nam, thời đại và nơi chốn (đất nước phân chia, chiến tranh khốc liệt) đã giới hạn sự tìm hiểu và sưu tập của cụ rất nhiều. Theo những sách cụ viết thì tôi thấy cụ chỉ chú tâm đến đồ Trung Hoa, đời Tống, Minh Thanh, mà chú trọng hơn hết lại là đồ ngọc. Vì thế những điều cụ nói về đồ gốm Việt Nam cũng là sản phẩm tất nhiên của các yếu tố đó.

Thêm nữa, khi Trung Hoa bị ngoại bang đô hộ lần thứ hai (khi người Mãn Châu vào chiếm Trung Hoa lập ra nhà Thanh và phong trào “phản Thanh phục Minh” thất bại), nhóm Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch phải kéo hơn 5.000 người “di tản” sang Việt Nam sinh sống. Họ cũng làm đồ gốm ở Biên Hòa, Lái Thiêu. Nhưng khi nhà Thanh mất ngôi, Tôn Dật Tiên lên làm tổng thống, có thấy người Tàu dẹp tiệm, dời nhà trở về xứ đâu? (Sau năm 1975, chính quyền cộng sản Việt Nam đuổi người Việt gốc Tàu ra khỏi nước thì đó lại là một chuyện khác.)

Trong cuộc khai quật về đồ gốm Chu Đậu, nhóm ông Tăng Bá Hoành ở Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương đã tìm ra nhiều món Chu Đậu men ngọc rất đẹp. Như vậy sau năm 1368 người Việt chắc chắn vẫn làm đồ men ngọc và làm đồ men ngọc đẹp. Ví dụ trong sách Cổ vật Việt Nam do nhà Bộ Văn hóa Thông tin xuất bản ở Hà Nội năm 2003, có một số hình đồ men ngọc trong bộ sưu tập của ông Phan Công Thọ, Hà Nội làm vào thời cuối Trần, đầu Lê (thế kỷ XIV, XV). Còn trước đó? Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, Hải Phòng có nhiều món đồ men ngọc tuyệt đẹp làm vào thế kỷ XI, dưới đời Lý, đây là thời nhà Tống còn hưng thịnh bên Tàu, chẳng có lý gì để họ phải qua Thanh Hóa lập nghiệp cả. Tôi vững tin mà kết luận rằng người Việt vẫn làm đồ men ngọc đẹp từ trước đời Lý cho đến sau đời Lê-Mạc.

4. Dấu con kê. Dấu con kê của đồ gốm Việt Nam có rất nhiều loại, chứ không phải chỉ đơn thuần là vài ba cục đất sét nhỏ như ông Phong Uyên nghĩ. Có loại hình vành khăn, hình nón cụt, hình đĩa. Con kê thường có đường kính từ 4 đến 7 cm, cao từ 1 đến 4 cm. Có loại được nặn bằng đất sét hay cao lanh loại xấu, chỉ được dùng một lần, rồi bỏ, có loại làm bằng cao lanh tốt và được dùng đi dùng lại nhiều lần. Loại hình đĩa, theo lời ông Tăng Bá Hoành thì: “có chân được đúc bằng khuôn, lót vải, đúc xong gắn các chân nhỏ”. Ngoài con kê ra còn có đinh gốm (trông giống cái đinh, dài 6 đến 8cm, đường kính 1.2 đến 1.4 cm. Con kê có từ 3 đến 5 mấu. Cái đáng chú ý là kỹ thuật dùng con kê cũng tiến triển nhiều hơn trước. Với đồ Lý Trần, dấu con kê còn rõ ràng trong bát, đĩa, trong khi đó, khi khai quật một số lò gốm Chu Đậu cổ, nhóm ông Tăng Bá Hoành đã tìm được hàng ngàn con kê đủ các loại, vậy mà trong bát, đĩa Chu Đậu dấu con kê không còn lộ ra nữa.

5. Đồ men ngọc của Tàu pha bột đá nên cứng hơn. Điều này kiểm chứng được rất dễ dàng. Tuy nhiên không ứng dụng được cho những người chỉ được xem đồ gốm trong sách hay trong viện bảo tàng, vì phải dùng tay mà sờ, mà cảm, mà gõ lên tiếng kêu: Khi cầm món đồ Tầu, nếu ta búng ngón tay vào thành bát (hay đĩa) tiếng kêu phát ra cao, trong và thanh, ngân dài không ngớt như tiếng chuông, nhưng ở món đồ men ngọc Việt Nam, thì tiếng kêu ngắn và đục. Những món mỏng hay dầy đều thế cả.

6. Không biết là thật sự khi xuất cảng đồ sứ thì các lò gốm Việt Nam có quan tâm lắm về việc bán đi nước nào chăng? Tôi viết là họ đã bán sang các nước Ả Rập Hồi giáo là vì muốn dùng ngôn ngữ thời nay, chứ thật ra mình bán cho các tầu buôn, họ chở sang vùng Persia, Ottoman (Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ). Chính những nhà quý tộc ở vùng này cũng không bận tâm là đã mua đồ gốm Việt Nam. Có khi họ còn yên trí là đã làm chủ các món đồ gốm đẹp của Trung Hoa.

7. Tôi thành thật mời ông Phong Uyên so sánh đồ gốm Trung Hoa đời Minh đời Thanh với vài món Chu Đậu đẹp hiện được giữ ở các viện bảo tàng sau đây (bởi vì nếu trưng ra các món Chu Đậu thuộc bộ sưu tập tư nhân thì khó mà được chủ nhân cho xem):

Bình Tokapi Saray – với câu: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút” (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)

1. Bình do bà Bùi Thị Hý vẽ, hiện ở viện bảo tàng Tokapi Saray (mà ông Phong Uyên đã có dịp xem)

2. Bình của Prince Elector of Saxony do Duke of Florence tặng năm 1590, hiện được giữ ở Johannaun Museum, Dresden, Thụy Điển

3. Bình vẽ hoa mẫu đơn và hoa sen hiện ở Museum of Fine Arts, Bosto

4. Bình vẽ hoa mẫu đơn của Pacific Asia Museum, Pasadena
5. Bình Majorie Lewis Griffing của Honolulu Academy of Arts, Hawaii
6. Bình Betty & John R. Menke của Metropolitan Museum of Art, New York
7. Đĩa rồng, sen của Museum Nasional, Jakarta
8. Đĩa và bình của Museum of Oriental Ceramics, Osaka
9. Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương
10. Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội

Bình do Due of Florence tặng Prince Eletor of Saxony. Hình dưới: Bình Chu Đậu của Museum of Fine Arts, Boston (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
Thôi, chừng đó món đủ để thấy tại sao tôi cho là đồ Chu Đậu đẹp ăn đứt đồ Minh, Thanh rồi, kể thêm nữa cũng thế.

Tới đây tôi cũng xin thêm rằng biết đâu việc các viện bảo tàng, các nhà bán đấu giá ở nơi ông Phong Uyên cư ngụ (nước Pháp) không có đồ men ngọc hay đồ men lam Việt Nam, bởi vì mấy ông Tây đã lầm lẫn mà xếp các món đồ Việt Nam này vào đồ Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh rồi. Nội việc đồ gốm Việt Nam nào cũng bị gọi là đồ “Tanhoa” (Thanh Hoá) thì ta thấy ngay là sự hiểu biết về đồ gốm Việt Nam của mấy ông Tây này ra sao rồi!

8. Trà đạo: Trước hết tôi xin dẫn lại chú thích số 2 trong chương “Chu Đậu…”: “Từ thế kỷ 12, người Nhật bắt đầu uống mạt trà. Tràn tán nhỏ ra như bột, pha vào nước sôi. Mạt trà được nhập cảng từ bên Tầu qua, lúc đầu chỉ được coi là một thứ thuốc (tiên dược) có khả năng giải bệnh hơn là giải khát. Trà được dùng ở triều đình Nhật từ thời nhà Tống bên Tầu, nhưng đến thế kỷ 14, trà mới bắt đầu trở nên phổ thông, nhưng chén bát uống trà còn lộn xộn, hoàn toàn khác nhau, tùy theo ý người uống. Trà xanh được dùng khi “Trà đạo” (Chanoyu) được khởi xướng bởi Murata Juko (1452 – 1502). Sau đó Takkeno-Jo O (1502 – 1555) và rồi sau nữa là Thiền sư Sen Rikyo mới dọn xếp tất cả lại thành Trà đạo trong phong tục, văn hóa Nhật”. Trước tôi, cụ Vương Hồng Sển cũng viết trong Khảo về đồ sứ men lam Huế tập hạ, trang 39) như vậy. Trước đó, ở trang 13 cụ viết: “Gốm Bát Tràng vào thế kỷ XVI, danh tiếng đến lò bên Nhựt Bản nhái tạo và đặt tên riêng là gốm Kot-chi (Giao Chỉ)’”. Nhắc lại để thấy những điều tôi viết sơ lược về Trà đạo của người Nhật cũng chẳng xa gì với ông Phong Uyên đã viết.

Ông Phong Uyên lý luận rằng vì không thấy đồ Chu Đậu trong các viện bảo tàng ở Nhật mà ông đã đi qua, nên chắc đồ Chu Đậu chỉ được dùng trong dân gian thôi. Theo sách tôi đã đọc, xin kể sơ vài món:

* Trong số đồ gia bảo của gia đình Tokugawa (sứ quân Nhật từ 1615 đến 1867) là một bình Chu Đậu của sứ quân Yoshiharu Tokugawa (1737-1786). Bình này đã được chính phủ Nhật chính thức xếp vào loại “Trọng yếu văn hoá tài” (Important Cultural Property). Đây là thứ hạng chỉ dưới bậc “Quốc bảo” (National Treasure – vốn dành riêng cho những bảo vật có nguồn gốc Nhật Bản). Bình này được dùng trong nghi thức Trà đạo của gia đình sứ quân Tokugawa. Dòng họ Tokugawa còn vài báu vật nữa là các bát uống trà Chu Đậu.

* Gia bảo của dòng họ quan khâm sai vùng Nagasaki là Ozawa Shiroemon Mitsunaka có 8 món Chu Đậu, 1 món men trắng đời Lý. 4 trong số 9 món này hiện thuộc Kyoto National Museum.

* Cũng kể thêm là gia đình đại thương gia Konoike ở Osaka – sưu tập nhiều bộ bình, chén dùng trong Trà đạo – cũng có một bình đời Lý, một bình tương tự cũng là của gia bảo của gia đình Kanamori Sowa (1546-1656)…

Đồ gốm Việt Nam vào thời đó được người Nhật gọi là đồ Shimamono (đảo vật) hay Namban (An-Nam) không những chỉ được ưa chuộng bởi những nhà quyền quý, mà còn được người Nhật bắt chước làm theo. (Sở dĩ những món này được gọi là “đảo vật” vì lúc đầu, đồ gốm Việt Nam được tầu buôn từ Phi Luật Tân chở đến bán.)

Bà Louise Allison Court (trong Vietnamese Ceramics, a separate tradition – chương 4, Vietnamese Ceramics in Japanese context) nêu ra các điểm chính là:

1. Số đồ Chu Đậu ở Nhật ít hơn đồ Tàu, và chỉ được giữ trong những bộ Trà đạo gia bảo của giới quyền quý.(Bà Court còn viết thêm thế này: “… they have exerted significant influence on Japanaese connoisseurship and ceramics production in way that only now, with the intensification of interest in archaeology, are coming to be recognized”.

2. Không những chỉ có đồ tráng men mà cả những món đồ gốm không tráng men của Việt Nam cũng được giới Trà đạo yêu thích. Các lò gốm Nhật Bản cũng đã theo các mẫu đó mà làm theo. (“The many replicas and interpretations of unglazed Vietnamese ceramics made by Japanese potters further their attest to their cultural significance”).

3. Những món đồ men trắng chàm với hoa văn đơn giản của Việt Nam đã thúc đẩy những hoạt động của lò gốm Seto và Mino.

Nói rằng người Âu châu (ngay cả người Việt) thích đồ sứ Nhật vì đẹp là rất đúng. Nhưng đó là chuyện sau này, chuyện của thế kỷ XIX, XX. Sau khi họ đã học và phát triển kỹ thuật và mỹ thuật cao. Đây là một đặc tính quý giá của dân Nhật, “không biết sáng chế, chỉ bắt chước, nhưng sẽ làm hay hơn thầy”. (Cũng như người ta thích xe Lexus, Acura, Toyota, Honda… và cho rằng những xe này ăn đứt xe Mỹ. Nhưng đâu ai dám phủ nhận là người Mỹ dạy họ làm xe hơi – chính ông Lee Iacocca lúc còn làm ở hãng Ford Motor, đã phải sang Nhật để thuyết phục Honda nên đi vào kỹ nghệ xe hơi hồi mấy chục năm trước). Tất nhiên là tất cả mọi người đều biết làm đồ gốm từ thời thượng cổ, vì không biết làm thì lấy gì mà ăn uống. Nhưng sự khác biệt là biết làm những món thường thường và làm những món có tâm hồn, những món có nghệ thuật là chuyện khác. Người Nhật trước chỉ mua đồ của người Tàu, người Cao Ly, học nghề đồ gốm từ Cao Ly, gợi hứng từ đồ gốm Việt Nam. Sử chép rằng các phác họa đồ gốm dùng trong Trà đạo được gửi từ Cao Ly (và Việt Nam) qua Nhật để chuẩn duyệt rồi mới mang về lò gốm ở Cao Ly, Việt Nam để làm xuất cảng sang Nhật.

Sử chép rằng vào thế kỷ XVI, (năm 1592-1598) khi xâm chiếm Cao Ly, người Nhật đã bắt 3.000 thợ đồ gốm Cao Ly mang về Nhật. Nghề làm đồ gốm ở Cao Ly sa sút hẳn từ đó.

Cứ công tâm mà so sánh thì trong quyển Blue and White in the East Asia của Viện bảo tàng Osaka, với những hình chụp đồ đời Minh, đồ Nhật, đồ Cao Ly và đồ Chu Đậu, thì sẽ thấy tất cả đều đẹp, nhưng đồ Chu Đậu trội vượt hẳn lên. Nhưng bây giờ đi ra chợ mua chén đĩa đắt tiền thì không ai lại làm đẹp bằng đồ của người Nhật. (Nhưng lại có người – như vợ tôi chẳng hạn – lại chỉ thích chén đĩa men trắng làm ở Hải Dương thôi.)

9. Ông Phong Uyên đi nhiều, xem nhiều và ít thấy đồ gốm Việt Nam được trưng bày trong các viện bảo tàng. Theo ý riêng của tôi, điều này vừa đúng vừa sai. Sai vì rằng trong các viện bảo tàng lớn đều có những món đồ gốm Việt Nam và có đồ Chu Đậu rất đẹp được trưng bày. Tôi chỉ xin kể tên vài viện được nêu trong Vietnamese Ceramics, a separate tradition của John Guy và John Stevensen, như:

1. Metropolitan Museum of Art, New York
2. Museum of Fine Arts, Boston
3. Museum het Princesshof, Leewarden
4. Society of Acient Southeast Asian Ceramics, Nhật Bản
5. Kyoto National Museum, Nhật Bản
6. Machida Municipal Museum, Nhật Bản
7. Birmingham Art Museum, Alabama
8. Museum of East Asian, Bath (Úc)
9. Asian Art Museum of San Francisco
10. British Museum, London
11. Art Gallery of South Australia, Adelaide
12. Denver Museum of Art, Denver, Colorador
13. Seatle Art Museum, Seatle, Washington
14. …

Cứ nhìn vào hình chụp, những món đồ Chu Đậu này và rất nhiều món thuộc những bộ sưu tập tư nhân được in trong sách này, thì người khó tính cũng phải thấy rằng đồ Chu Đậu đẹp chẳng thua gì đồ đời Minh, đời Thanh. Vấn đề là người ta không biết đến mà thôi.
Ông Phong Uyên nói rằng đồ Việt Nam trong các viện bảo tàng ở Âu châu mà ông đã có dịp đến thăm “hiếm hoi” lắm. Điều này cũng đúng và cũng không làm giảm giá trị của đồ Việt. Đồ đẹp Việt Nam còn lại ít lắm, thêm nữa theo tôi thì lại còn nhiều món bị kể là đồ Tầu. Thế thì vào thăm các viện bảo tàng ta không thể nghĩ là sẽ được thấy hàng trăm món ở mỗi nơi. Đồ quý ở chỗ đẹp, chứ đâu phải ở chỗ nhiều. Dù rằng vừa nhiều vừa đẹp như đồ Tàu thì ai chả muốn. Bây giờ vì biết đến từ các món đồ vớt từ tầu chìm và khai quật từ các lò gốm cổ ở Hải Dương người ta sẽ bắt đầu chú ý đến đồ Việt hơn. Mươi, mười lăm năm trước đây, gọi điện thoại đến Butterfields, Christies, Sotheby’s người ta đâu có biết gì về đồ Việt Nam. Nhưng nay đã khác, họ đều có người sẵn sàng trả lời các câu hỏi về đồ gốm Việt.

Điều đáng mừng là hiện nay đã có nhiều người Việt ở trong nước sưu tập đồ gốm Việt Nam. Trong tương lai những người trẻ tuổi sẽ tìm hiểu và sẽ đính chính lại những hiểu biết thiếu sót và nhầm lẫn của người đi trước.

Xin nhắc lại lần nữa rằng cũng như những lầm lẫn trong quá khứ, biết đâu chừng còn nhiều món đồ Việt Nam đang bị các viện bảo tàng này nhầm lẫn mà xếp vào loại đồ Trung Hoa, Nhật Bản…? Ví dụ cái bát Chu Đậu dùng trong Trà đạo giữ ở viện Smithsonian, Washington D.C. trong nhiều năm bị ghi chú lầm là đồ gốm Nhật Bản, do tổ sư Hizen làm ra. Vốn đã coi thường văn hoá Việt Nam, tìm thấy món quá đẹp này từ Nhật Bản, người ta bèn kết luận chỉ có tổ sư Hizen của Nhật mới làm được thôi.

10. Về sách đọc, tôi thích những quyển:

1. Vietnamese Ceramics, a separate tradition – nxb. Art Media Resource xuất bản năm 1997, do John Guy và John Stevenson chủ biên với các bài đóng góp của:
i. John Guy – Curator of Indian and Southeast Asian Collection, Victoria and Albert Museum, London
ii. John Stevenson (Independent researcher; formerly Acting Associate Curator for Chinese Art, Seattle Art Museum)
iii. Louise Allison Cort – Curator of Ceramics, Freer Gallery of Art và Arthur Arthur M. Sackler Gallery, Smithsonian Institute, Washington D.C.
iv. Regina Krahl – Researcher Associate, Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels
v. Peter Lam – Senior Curator, Art Museum, Chinese University of Hong Kong
vi. Morimoto Asako, Research Fellow, Fukuoka City Archaeological Service
vii. Nguyen Đinh Chien – Chief Curator, National Museum of Vietnamese History, Ha Noi
viii. Trian Nguyen – Ittleson Fellow, National gallery of Art, Washington D.C.
ix. Phillip Truong – Independent Reseacher, Paris and Saigon

Quyển này dày hơn 400 trang khổ 8X10”, trong đó hơn 200 trang với rất nhiều hình ảnh rất đẹp, viết bằng tiếng Anh. Nếu ai chỉ muốn mua 1 quyển sách về đồ gốm Việt Nam, tôi khuyên nên mua quyển này.

2. Gốm Chu Đậu – của Tăng Bá Hoành, nxb. Kinh Books ở Hà Nội xuất bản năm 1999 (Đây là bản hiệu đính và có bổ túc thêm nhiều, bản đầu in năm 1993, in xấu và không đầy đủ bằng). Sách dày 160 trang khổ 8X11”, viết bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh và Nhật, trong đó có khoảng 120 trang hình ảnh và họa đồ, in rất đẹp. Nếu thích đồ gốm Chu Đậu, thì phải có quyển này.

3. Gốm Bát Tràng – nxb. Thế giới ở Hà Nội xuất bản năm 1995, do Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc chủ biên (thêm đóng góp của bà Kerry Nguyễn Long) viết bằng 2 thứ tiếng Việt và Anh, dày hơn 200 trang với hơn 100 trang hình ảnh, in rất đẹp.

4. Gốm hoa lam Việt Nam, Vietnamese Blue and White Ceramics – nxb Social Science Publisher (nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội) xuất bản năm 2001, của Bùi Minh Trí và Nguyễn Long Kerry dày 520 trang khổ 8X11”, với 320 trang hình ảnh, viết bằng hai thứ tiếng Việt và Anh. Đây là quyển sách của 2 tay cự phách trong những chuyên gia về đồ gốm Việt Nam.

5. Blue and White in the East Asia – do Museum of Oriental Ceramics, Osaka xuất bản năm 1997. Quyển sách này rất mỏng, chưa đến 30 trang khổ 8X11”, nhưng gần như toàn hình ảnh đồ men lam 4 nước Trung Hoa, Nhật bản, Cao Ly (Đại Hàn) và Việt Nam. Trong đó có hình 3 món Chu Đậu (của Museum of Oriental Ceramics, Osaka) mà trong dòng chú thích bằng tiếng Anh họ viết lầm đồ gốm Việt Nam thế kỷ XV, nhưng câu chú bằng chữ Hán thì lại ghi là đồ Thanh Hóa (sai).

6. Cổ vật Việt Nam, Vietnamese Antique – do Bộ Văn hoá Thông tin Việt Nam xuất bản năm 2003 ở Hà Nội. Sách dày gần 400 khổ 8X11”. In đẹp, với rất nhiều hình ảnh về đủ mọi thứ đồ cổ Việt (đa số là đồ gốm) thuộc đủ mọi thời kỳ. Một số lớn là bảo vật của Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, nhưng cũng có nhiều món thuộc các bộ sưu tập của tư nhân trong nước. Sách viết bằng hai thứ tiếng Việt và Anh.

7. Vietnamese Ceramics do Southeast Asian Ceramic Society xuất bản năm 1982 ở Singapore.

8. Tạp chí Art of Asia do bà Tuyết Nguyệt xuất bản ở Hương Cảng cũng có nhiều bài về đồ gốm Chu Đậu.

11. Riêng về sử Việt, những điều tôi nói về nguồn gốc và ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và Việt Nam trong chương “Bụt chùa nhà…” đã đầy đủ nên không nhắc lại đây nữa. Ngoài ra trong thời gian gần đây nhiều người đã đưa ra các luận cứ mới cho thấy rất rõ người Việt và văn hóa Việt ảnh hưởng đến văn hóa Trung Hoa. Ví dụ như mặc dù vẫn cứ nhận là phát minh của Tầu, nhưng sách sử Tầu cũng có nói rõ rằng người chế tạo ra giấy viết là Thái Luân đời nhà Hán, thật ra là người Việt. Chính súng thần công (đại bác) cũng do một người Việt là Hồ Nguyên Trừng (con trai trưởng của Hồ Quý Ly) chế ra (Xin xem Bách Việt tiên hiền chí – Lĩnh Nam di thư, của Âu Đại Nhậm, sử gia đời nhà Minh, mà Gs. Trần Lam Giang đã dịch và xuất bản (Ông Lê Thanh Hoa, có dẫn lại trên một bài viết ở báo Người Việt). Riêng về trống đồng, thì quan niệm của tôi như sau: trống đồng là một sản phẩm thuần tuý Việt Nam. Không có chứng cớ nào trong văn hóa Trung Hoa cho thấy người Tầu làm và dùng trống đồng. Dưới đời nhà Hán, khi Mã Viện thắng được Hai Bà Trưng rồi, bèn cấm làm trống đồng, tịch thu tất cả trống đống, nấu chảy ra để đúc ngựa đồng dâng vua nhà Hán, và đúc trụ đồng. Cũng hệt như thời bây giờ, chắc hẳn trong số tướng tá quan lại Tầu cũng có người giữ chiến lợi phẩm làm của riêng hay bán kiếm lời, rồi truyền lại cho con cháu, rồi chôn trong mộ các nhà quyền quý, đây là những trống đồng mà người ta tìm thấy ở Hoa Nam.

Tóm lại, như đã viết rằng: “Nói như thế không phải là chê đồ gốm Tàu không đẹp, đồ Tàu cực đẹp là đằng khác. Nhưng hai cái cách làm đẹp và hưởng đẹp rất khác nhau. Đồ gốm Tàu đẹp như một cô gái trang điểm lộng lẫy của dạ hội, đồ gốm Việt đẹp như cô gái hàng xóm thơ ngây, tươi mát. Cái đẹp của đồ Tàu là cái đẹp của thơ Lý Bạch: ‘Vân tưởng y thường hoa tưởng dung – Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng’, trong khi cái đẹp của đồ Việt là thơ Nguyễn Khuyến: ‘Sóng biếc theo làn hơi gợn tí – lá vàng trước gió sẽ đưa vèo’. Một bên đẽo gọt tinh xảo, một bên mộc mạc đơn sơ, một bên là cái đẹp của trí tuệ, một bên là cái đẹp của tâm hồn”. Riêng tôi, tôi rất thích đồ gốm Tàu, nhưng tôi lại rất yêu đồ gốm Việt. Ai dám nói rằng cây đàn tranh của người Việt không hay bằng cây đàn tam thập lục của người Tàu, mặc dù nhìn vào ai cũng biết nó thăng hóa từ cây đàn Tàu ra. Riêng tôi vẫn nghĩ rằng tiếng đàn tranh thanh mà nhẹ, tiếng đàn tam thập lục dù rắt réo, nhưng bận rộn, cũng hay nhưng mà tâm như chưa thoát; Dáng cây đàn tam thập lục nặng nề, dáng cây đàn tranh nhẹ nhàng, thanh tú. A ha! Ai dám nói rằng bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân hay hơn Đoạn trường tân thanh của cụ Nguyễn Du.

Văn hoá Đại Hàn cũng mang nhiều ảnh hưởng Trung Hoa; văn hoá Nhật Bản ngoài ảnh hưởng Trung Hoa lại còn mang thêm nhiều ảnh hưởng Đại Hàn. Tuy nhiên vì sự thấu hiểu văn hoá của ông cha một cách sâu đậm của họ, nhờ lòng tự hào dân tộc, dân hai nước này đã làm cho thế giới phải nhìn rằng văn hoá của họ là văn hoá đặc thù. Thế nhưng còn Việt Nam? Than ôi chính những người Việt lúc nào cũng coi mình là thua kém, là một thứ văn hoá Trung Hoa nối dài, thì mong gì ai coi trọng. Đồ gốm Việt Nam vốn đã ít về số lượng, lại bị coi là một bản copy kém của Trung Hoa, thì mấy ai sưu tập, thì làm sao được coi trọng? Ôi bao giờ chúng ta mới thức giấc? Bao giờ chúng ta mới công bằng với ông cha mà thẳng thắn tìm hiểu gia tài văn hoá của mình không với mặc cảm tự ti là anh Tàu ảnh hơn mình mọi chuyện.

Tôi viết quyển sách Đồ gốm cổ, một nền văn hoá thuần Việt này, như là cất một bước đầu tiên để mong rằng nhiều người trong và ngoài nước sẽ sưu tầm, sẽ tìm hiểu và sẽ nghiên cứu sâu rộng hơn nữa về đồ gốm Việt Nam, về văn hóa Việt Nam. Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ mãi mãi tự hào rằng văn hóa Việt Nam không phải là một nền văn hóa tràn đầy ảnh hưởng Trung Hoa, mà chính là một nền văn hóa thuần nhất, độc đáo và giá trị, như những câu thơ lục bát thuần Việt của ca dao, của Nguyễn Du…

Một lần nữa, xin cảm tạ các bạn đọc, ông Phong Uyên đã để ý đến những bài viết của tôi. Đồng ý hay không, không phải là điều đáng kể. Điều vui mừng là mục đích khởi xướng lên những tìm hiểu về đồ gốm Việt Nam của mình đang đạt đến.

Tôi đã quá dài lời, vậy xin ngưng thôi. Một lần nữa cám ơn talawas đã cho cơ hội này, cám ơn các bạn đọc đã theo dõi. Hãy đọc, hãy viết, hãy sưu tầm, hãy làm cho thế giới hiểu rõ giá trị của đồ gốm cổ Việt Nam.

30.9.2006 <!– td.attachrow { font: normal 11px Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif; color : #000000; border-color : #000000; } td.attachheader { font: normal 11px Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif; color : #000000; border-color : #000000; background-color: #D1D7DC; } table.attachtable { font: normal 12px Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif; color : #000000; border-color : #000000; border-collapse : collapse; } –>


Các loại con kê (Hình từ Gốm Chu Đậu của Tăng Bá Hoành)
conke.jpg

Đĩa Chu Đậu tam thái (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
dia.jpg

Bình Chu Đậu (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
binh.jpg

Bình men rạn đời Lý (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
binhmen.jpg

Chân đèn đời Trần cao 70cm (Bộ sưu tập Bùi Ngọc Tuấn)
chanden.jpg
Bình do Due of Florence tặng Prince Eletor of Saxony. Hình dưới: Bình Chu Đậu của Museum of Fine Arts, Boston (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
binhboston.jpg

Bình Tokapi Saray – với câu: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút” (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
binhtokapi.jpg

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »