Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘collection’

Vì yêu một người phụ nữ lớn tuổi hơn! Câu truyện về đồ sành sứ cung đình thời Thành Hóa

Vào tháng 04 năm 1999 một chiếc chén gốm triều đại Minh được đấu giá thành công ở mức 3,7 triệu USD. Nó đã phá vỡ mọi kỷ lục về giá cao nhất dành cho một món hàng đồng loại và đó chỉ là một cái chén nhỏ đường kính 8,1 cm và chiều cao 3,1 cm. Nó là chén gì vậy? Nó là một chiếc chén vẽ gà “chicken cup” của triều đại Minh , thời Hoàng Đế Thành Hóa.

Dragon_Meiping

Hoàng Đế Thành Hóa trị vì từ 1464 đến 1487. khi ông ta còn bé, Cung nữ Wan được Hoàng Thái Hậu chỉ định làm vú ( bảo mẫu) để chăm sóc ông. Cung nữ Wan đã chăm sóc ngài không chỉ với tính cách của một người mẹ mà còn là một tình nhân. Vào lúc Hoàng đế Thành Hóa lên ngôi năm ngài 17 tuổi, Wan đã sữ dụng quan hệ tình cảm của mình với Hoàng Đế để tranh đoạt địa vị quyền lực trong cung đình. Cô ta đã thuyết phục được ngài bỏ rơi chính cung hoàng hậu  để thay mình vào ngôi vị ấy. Sau khi Thành Hóa lên ngôi được 02 năm, Wan hạ sinh cho Hoàng Đế một hoàng tử. Hoàng Đế rất yêu đứa con trai này nên lập tức tấn phong Wan lên hàng cao nhất trong các cung tần.Vị hoàng tử này mất sớm khi lên 01 tuổi, nhưng điều này không ảnh hưởng đến Hoàng Đế vì ngài chẳng yêu ai ngoài Wan. Wan thích ăn vận như nam nhân, tin rằng việc này giúp nàng hạ sinh được một đứa con trai khác. Nàng cũng thường tổ chức tế lễ để cầu xin mau mang thai.

Những ghi chép lịch sử kể lại để thể hiện lòng thành Wan thường tổ chức đại lễ khấn vái 20 bàn ăn, thực phẫm chén đĩa cao đầy. vàng và bạc rải khắp sảnh nhằm gia tăng sức thuyết phục cho lời khấn nguyện. Đồng thời Wan cẩn thận để mắt đến những phi tần mà Hoàng Đế hay lai vãn. Nếu có ai trong số phi tần này mang thai, Wan sẽ ra lệnh phá thai. Nhưng mặc dù nỗ lực ngăn càn, một phi tần đã hạ sinh được một Hoàng nam. Vị phi tần này dấu Hoàng Đế và Wan và đã lặng lẽ nuôi dưỡng đứa con suốt 16 năm trong lãnh cung. Cuối cùng Wan mất năm 58 tuổi do đột quỵ và vị Hoàng Đế 40 tuổi sầu thương, trầm cảm và mất sau đó chỉ vài tháng.

Doucai_Jar

Hoàng Đế Thành Hóa si tình Wan đến mức mà người ta đồn rằng mổi ngày trong năm ông đều tặng để vui long nàng một món quà. Rất nhiều trong số những món quà tặng này là những món gốm sứ nhỏ và xinh sắn. Trong số các dòng gốm sứ khác nhau, có một loại được gọi là Đấu Thái ( Doucai), đã được sản xuất rất sớm từ đầu Minh nhưng chất lượng của những món Đấu Thái thời kỳ đầu không thể nào sánh bằng đồ Đấu Thái được sản xuất dưới triều đại Thành Hóa. Một vài món quà được đặt làm tặng Wan chính là những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà. Cũng có đồn đại rằng những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà đã được sử dụng trong các tiệc lễ cưới hỏi. Đồ án vẽ gà gồm một chú gà trống nghẫn đầu, một con gà mái cuối đầu bận rộn tìm sâu , và 03 con gà con. Ở trôn chén có một triện  hiệu đề  chữ Hán công bố chiếc chén được chế tạo dưới thời “ Đại Minh Thành Hóa”. Thư pháp làm triện là theo mẫu chữ viết của chính vị Hoàng Đế trẻ .

Để làm vừa long vị phi tần ưa thích của ông, Thành Hóa đã ra lệnh cho các nghệ nhân sản xuất đa số những món đẹp là đồ Đấu Thái. Để làm được một món đồ cung đình hoàn hảo, phải làm nhiều món  và hủy đi những món thiếu hoàn hảo. Nhiều mảnh vỡ từ những món bị hủy này đã được tìm thấy tại những di chỉ lò gốm. Theo nhiều ghi chép, để chắc chắn làm được một cái chén thật hoàn thiện, 72 người thợ được điều động liên quan đến việc sản xuất này. Việc sản xuất đồ Đấu Thái làm thành hai giai đoạn. Đầu tiên cái chén được vẽ viền cảnh vật bằng men lam cobalt, phủ lên một lớp men trong rồi nung cao độ. Rồi thì tô điểm men màu khác lên trên men và cái chén lại được nung một lần nữa ở một nhiệt độ thấp hơn mà cho phép men màu hòa lẫn vào men nhưng phải không ảnh hưởng đến men ở khu vực không tô men màu. Điều này có nghĩa là giá thành để sản xuất những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà là rất cao.  Vào cuối triều đại Minh, suốt thời Minh Vạn Lịch (1573 – 1620) nhiều nhà sưu tầm và học giả đã bắt đầu tường thuật lại giá thành cực kỳ cao của những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà.  Một học giả đầu thời nhà Thanh tên Chen Jia đề cập đến trong một biên khảo về thẫm định và thưởng ngoạn gốm sứ của mình rằng một cặp những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà trị giá khoảng 100.000 USD. Vào thời điểm  này , một huyện lỵ lớn chỉ thu vào khoảng 5000 USD tiền thuế mổi năm.

Tian_Dragon_Jar

Vào cuối thời Minh, việc làm nhái những chiếc chén Đấu Thái Thành Hóa vẽ gà đã được sản xuất vì giá trị cao của những món nguyên bản.  Nhưng chất lượng của những món làm nhái này chưa thật tốt. Dưới triều đại nhà Thanh của các vị Hoàng Đế Khang Hy, Càn Long, và Ung Chính tất cả đều có làm những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà. Một số mang hiệu đề riêng của triều đại, một số lại mang hiệu đề copy hiệu đề thời Thành Hóa. Ngay cả tại thời điểm này những nhà sưu tầm đã “rên rĩ” về giá mắc của những cái chén Thành Hóa và cả về số lượng lớn “hàng nhái” trôi nổi. Tất cả những bản copy chén Thành Hóa thời Thanh ngày nay đều bán ở giá cao tại các cuộc đầu giá. Năm ngoái một những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà hiệu đề Càn Long được bán với giá gần 15.000 USD.

Dragon_Bowl

Gốm sứ thời Thành Hóa có đặc tính và phong cách rất nổi bật sau đây:

  1. Tiếp tục ý niệm truyền thống thời Minh về cái đẹp mềm mại dịu dàng, hầu hết gốm sứ đều nhỏ, tinh xảo và sử dụng màu sắc dịu.
  1. Vì Hoàng Đế Thành Hóa lien tục cố gắng lấy lòng Wan, nên đồ án trang trí đầy màu sắc hầu hết miêu ta những chủ đề mà phụ nữ ưa thích ví dụ các em bé đang chơi đùa, hoa và bướm,…
  1. Tín ngưỡng chính là Phật Giáo thời ấy cũng mang lại những đồ án nhà Phật trang trí cho các đồ vật thiết kế cho việc thờ cúng.

Vào thời Thành Hóa, lượng phẩm men cobalt lam Lajiward nhập khẩu hầu như đã được sử dụng hết. Do đó triều đình bắt đầu cho khai thác các mỏ cobalt Po Tang nội địa để thay thế. Sắc màu cobalt blue dịu, sáng cho cảm nhận có độ trong. Những sản phẩm gốm sứ cuối thời Minh làm nhái đồ thời Thành Hóa được sử dụng màu lam cobalt Huei Ching có ánh sắc hơi tím và không thể sánh bằng với màu lam Po Tang sáng và thanh lịch thời Thành Hóa.

Sưu tập đồ gốm sứ cung đình Thành Hóa khắp thế giới chỉ có tổng cộng trên 600 món, Trong số đó chỉ có ¼ là đồ đấu thái (doucai). The Taiwan National Palace Museum – VBT Cung Đình Quốc Gia Đài Loan có bộ sưu tập hơn 400 món gốm sứ thời Thành Hóa có xuất xứ từ Cố Cung nhà Thanh. Một trong những căn phòng mà Hoàng Đế Càn Long tiêu khiển phần lớn thời gian có những chiếc chén nhỏ Thành Hóa chất lượng cao nhất, tổng cộng 67 món được giử trong một cái rương sơn mài Nhật Bản. Sứ Thành Hóa nằm trong những món ưa thích của Hoàng đế Càn Long.

So sánh sự khác biệt của chén con gà đúng thời Thành Hóa và những chiếc chén làm nhái qua các thời kỳ cuối Minh; Khang Hy-Càn Long, Thời cộng hòa dân quốc được minh họa qua hình dưới đây:

( nhấn trên hình để xem phóng lớn)

Khanhhoathuynga sưu tầm và dịch

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

ĐỒ SỨ BLEU DE HUE  TRONG SƯU TẬP VƯƠNG HỒNG SỂN

PHÍ NGỌC TUYẾN (*)

Vương Hồng Sển (1902 – 1996) là một nhà nghiên cứu văn hóa đồng thời là nhà sưu tập cổ vật nổi tiếng ở miền Nam. Suốt cuộc đời, ông đã say mê tìm hiểu và sưu tập được hàng trăm món cổ vật qúy giá gồm nhiều chất liệu khác nhau như gốm, đá, gỗ, đồng, sừng, ngà, sơn mài, vải, giấy… Trong đó, số lượng nhiều nhất, có giá trị hơn cả là đồ gốm của Trung quốc, Việt nam, Cam-pu-chia, Thái lan, Nhật, Pháp… Trong sưu tập gốm sứ của ông, chúng ta dễ dàng nhận ra các loại đồ gốm men trắng hoa lam thế kỷ XVIII được sản xuất tại Trung quốc hoặc do các nước đặt hàng Trung quốc làm với những kiểu dáng, hoa văn trang trí khác biệt, trong ấy có nhiều loại hình do các chúaViệt nam đặt hàng.

Trước khi giới thiệu về một số cổ vật gốm sứ men lam thế kỷ XVIII có ghi chữ: “Nội phủ…” và “Khánh xuân …” được làm tại Trung quốc theo Việt Nam đặt hàng trong sưu tập của Vương Hồng sển, chúng tôi xin được phép sơ lược qua vài nét về chủ nhân của nó với tấm lòng kính trọng và ngưỡng mộ về một con người đầy tài hoa, phóng túng.

Vương Hồng Sển sinh năm 1902 tại tỉnh Sóc trăng (miền tây Nam bộ) trong một gia đình làm nghề kim hoàn. Lớn lên, ông theo học tại trường Chsseloup Laubat Saigon (1919 – 1923) nay là trường Trung học phổ thông Lê Qúy Đôn. Sau khi thôi học, Oâng  làm nhiều công việc ở nhiều nơi khác nhau : Thư ký trường máy ; Ký lục – phát lương (Sa đéc) ; Thư ký Sở Điền địa (Sóc trăng) ; Tòa Bố chính (Cần thơ) ; Dinh Thống đốc Nam kỳ (sài Gòn) ; Quản thủ Viện bảo tàng Quốc gia tại Sài gòn (1948 – 1964).

Trong những năm làm việc cho Nhà nước thuộc địa Pháp và chính quyền Sài gòn trước đây, Vương Hồng Sển đã bỏ nhiều công sức, chuyên tâm chăm lo nghiên cứu, sưu tầm cổ vật, nghiên cứu văn hóa, phong tục tập quán của miền Nam, tham gia hướng dẫn và giảng dạy đại học. Khi về hưu, ông tập trung viết sách, hồi ký và nghiên cứu sưu tập cổ vật của mình. Oâng cũng góp phần đáng kể trong việc xác định niên đại của một số chủng loại gốm (đặc biệt các loại gốm do Trung quốc sản xuất) và hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho người thích sưu tập cổ vật. Nhờ sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình cùng những tác phẩm nghiên cứu của mình, lớp học trò của ông ngày nay có khá nhiều người thành đạt và nổi tiếng trên lĩnh vực sưu tầm và nghiên cứu cổ vật ở trong và ngoài nước. Nhiều công trình nghiên cứu của ông được các nhà chuyên môn đánh giá cao. Oâng đã xuất bản được 15 đầu sách có giá trị như : 50 năm mê hát (1968) ; Thú chơi cổ ngoạn (1971) ; Sài Gòn năm xưa (tái bản lần thứ 4 vào năm 1994) ; Khảo về đồ sứ cổ Trung hoa (1971,1972) ; Khảo về đồ sứ men lam Huế (1993,1994) …. Cuối đời, với lòng mong muốn sưu tập cổ vật của mình được bảo tồn lâu dài, trải qua những năm tháng gian khổ, đấu tranh với chính bản thân mình và gia đình,  với bệnh tật hiểm nghèo và vượt lên tất cả, ôâng đã quyết định lập di chúc hiến tặng toàn bộ cổ vật và nhiều sách qúy hiếm cho Nhà nước.

Sau khi ông qua đời, theo quyết định của Uûy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, toàn bộ 815 trong tổng số 849 cổ vật đã được đưa về bảo quản và nghiên  cứu tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh. Là một thành viên trong qúa trình tiếp nhận bộ sưu tập cổ vật trên từ gia đình cố học giả Vương Hồng Sển theo di chúc, chúng tôi đã có một số thời gian nhất định để phân loại, sắp xếp, thống kê, đo vẽ, chụp ảnh, đối chiếu với những công trình nghiên cứu và sổ tay ghi chép cổ vật của ông. Suốt qúa trình ấy, những cổ ngoạn trong bộ sưu tập này như có sức hút kỳ lạ chúng tôi. Mỗi chiếc đĩa, tô, chén, bát, chậu, bình, ấm trà… đều là một tác phẩm nghệ thuật, là thời khắc lịch sử…

Trong sưu tập gốm sứ của cố học giả Vương Hồng Sển, có một số hiện vật thuộc loại gốm men trắng hoa lam được sản xuất tại Trung quốc do Việt nam đặt làm vào thế kỷ XVIII. Những sản phẩm này có kiểu dáng, hoa văn trang trí độc đáo và thường ghi một số chữ Hán : “Nội phủ thị trung”, “Nội phủ thị đông”, Nội phủ thị nam”, “Nội phủ thị bắc”, “Nội phủ thị đoài”, “Nội phủ thị hữu” và “Khánh xuân thị tả” (trong bài viết, chúng tôi gọi tắt là:”Nội phủ…” và “Khánh xuân…”). Những hiện vật kể trên cùng với hơn 200 hiện vật khác thuộc sưu tập Vương Hồng Sển đã được trưng bày tại một số nơi như Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hà nội… thu hút đông đảo công chúng, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

Để người quan tâm đến bộ sưu tập Vương Hồng Sển có những thông tin cụ thể hơn, trong phạm vi bài này, chúng tôi xin giới thiệu về một sưu tập nhỏ trong bộ sưu tập của ông, đó là sưu tập đồ gốm hoa lam “Nội phủ…” và “Khánh xuân…”.

  1. 1. Hiện vật trong sưu tập gốm sứ :

Đồ gốm sứ Việt nam đặt Trung quốc sản xuất ở thế kỷ XVIII (thuộc bộ sưu tập Vương Hồng Sển) lưu tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh đều có ghi  “Nội phủ…” hoặc “Khánh xuân…”  tất cả có 19 món, phân loại như sau :

Nội phủ thị trung  : 2                                  Nội phủ thị bắc   : 2

Nội phủ thị nam   : 2                                   Nội phủ thị hữu  : 7

Nội phủ thị đông  : 2                                  Khánh Xuân            : 4

Để bạn đọc có một cái nhìn bao quát về loại gốm này, chúng tôi xin giới thiệu một số hiện vật cụ thể :

1.1 Đồ gốm sứ ghi “Nội phủ…”

– Tô “Nội phủ thị trung” (mang ký hiệu BTLS.15124) có đường kính miệng 19cm, cao 7cm. Chiếc tô này ông Vương Hồng Sển mua năm 1962 tại Sài Gòn. Bên trong lòng tô vẽ chữ “Thọ” hình tròn ; ngoài tô vẽ rồng 4 móng một con long mã, trên lưng con long mã có một cuốn thư và thanh bảo kiếm. Các nét vẽ trơn tru, khéo léo, chính xác ; men sáng trong ; xương gốm mỏng. Dưới đáy ghi 4 chữ Hán “ Nội phủ thị trung”.

– Tô “Nội phủ thị trung” (BTLS.15123) có đường kính miệng 17cm, cao 6,5cm, mua năm 1966. Da tô trơn, không rạn ; trong lòng vẽ chữ “Thọ” hình tròn; thành ngoài vẽ rồng 4 móng đạp chân lên đụn mây (tản vân) và một con long mã trên lưng chở cuốn thư  và kiếm, dưới chân có mây. Hai con vật linh chầu nhật. Dưới đáy tô ghi chữ Hán “Nội phủ thị trung”.

– Đĩa “Nội phủ thị trung” (BTLS.15177) có đường kính miệng 11cm, cao 2,7cm. Trong lòng đĩa vẽ đề tài “lưỡng long chầu nhật”, cảnh hai con rồng đang vờn quanh một qủa cầu lửa, cạnh đó là những đám mây. Bên ngoài đĩa cũng vẽ đề tài trên, nhưng hai con rồng uốn khúc quanh co, tạo thành một vòng xung quanh thành ngoài đĩa. Dưới đáy ghi 4 chữ Hán “Nội phủ thị Trung”.

– Bộ đĩa, chén “Nội phủ thị hữu” (BTLS.15158-15161) là một bộ đĩa chén uống trà có 4 món : đĩa đựng, chén tống, hai chén quân (1) : đĩa đường kính miệng 17,5cm ; chén tống đường kính miệng 7,5cm, cao 4,5cm ; chén quân đường kính miệng  6 cm, cao 3,5cm. Các họa tiết trang trí trong mỗi cái đều vẽ hình rồng và phượng chầu chữ “Thọ” hình tròn. Con rồng được thể hiện 5 móng rất rõ ràng. Nghiên cứu về bộ trà này, Vương Hồng Sển cho rằng, đây là bộ chén trà ngự dụng do Chúa và Tuyên phi sử dụng, về sau những bộ tương tự như vậy nhường lại cho vua Lê và Hoàng hậu. Bộ chén uống trà chỉ có 2 chén quân cho 2 người là đúng nghi lễ theo cách “đối ẩm”, “song ẩm”? (2).

– Tô lớn “Nội phủ thị hữu” (BTLS.15128)  là một chiếc tô khá lớn. Đường kính miệng 29,5cm, cao 8cm. Chiếc tô này ông Vương Hồng Sển mua ngày 1/1/1965 tại Sài Gòn. Tô đã bị rạn, nứt đôi chỗ. Cả hai mặt trong và ngoài vẽ rồng và phượng chầu nhật (mặt trời). Rồng 5 móng đang bay lượn ẩn  hiện trong những cụm mây. Dưới đáy tô ghi chữ Hán “ Nội phủ thị Hữu”. Kích thước của tô khá lớn. Do vậy, nhiều người không đồng ý với tên gọi là “tô”. Ông Vương Hồng Sển gọi nó là “Quán tẩy” (chậu rửa mặt).

– Đĩa “Nội phủ thị đông” (BTLS.15483) có đường kính miệng 19cm, cao 2,4cm mua ngày 30/6/1960. Chiếc đĩa vẽ cả mặt trong và thành ngoài. Đề tài trang trí được thể hiện là hình ảnh của hai con lân đang vờn nhau giữa đám mây sòi. Nét vẽ điêu luyện, giúp người xem cảm tưởng như từng đường gân, bắp thịt của con lân cuộn lên, cảnh sống động, vui tươi. Dưới đáy ghi chữ Hán “Nội phủ thị đông”. Nhiều người nghiên cứu loại hình này, hầu hết cho rằng những đồ dùng ghi “Nội phủ thị đông” được dùng trong Đông cung của phủ Chúa, mà Đông cung là nơi ở của Thái tử, người sẽ thay thế ngôi vị sau này.

– Đĩa “Nội phủ thị đông” (BTLS.15484) có đường kính miệng 10,5cm, cao 2,4cm được vẽ đề tài “Mai – điểu” (chim và hoa mai). Trên gốc mai già hoa nở kín, có con chim đang đậu và nhòm ngó bắt sâu. Hai câu thơ chữ Hán rõ nét, sắc sảo :

“Vị kinh tam bạch hậu

Tiên chiếm bách hoa khôi”

(ý thơ ca ngợi vẻ  đẹp của hoa mai trước trăm hoa)

– Chén “Nội phủ thị bắc” (BTLS.15119) có đường kính 9,5cm, cao 4,2cm. Ông Vương Hồng Sển mua ngày 5/10/1960. Trong lòng chén để men trắng, các đề tài trang trí được thể hiện ở thành ngoài chén : phong cảnh gồm 2 tòa lâu đài, phía trước có 2 cây tùng ;  hai người cưỡi ngựa, theo sau có 2 tiểu đồng, tất cả đều từ phía lâu đài đi ra. Phía trước đoàn người, ngựa có một cây cầu bắc qua sông, bên kia sông xa xa là một dãy núi. Bên bờ sông, cạnh chiếc lều nhỏ, một ông già đang cất vó. Câu thơ chữ Hán ghi :

“Hoa cảng quan ngư

Giang sơn trình tú lệ

Hương thấn mã đề khinh”

(ý thơ ca ngợi vẻ đẹp của non sông đất nước)

– Đĩa “Nội phủ thị nam” (BTLS.15129) có đường kính miệng 12cm, cao 2,8cm. Trong lòng đĩa vẽ 2 con cua, 2 bông sen, 2 lá sen và một nhánh cỏ lau vươn lên cao. Thành ngoài vẽ 1 con cua, 1 lá sen và 2 nhánh cỏ lau vươn cao hơn lá sen. Đáy ghi chữ Hán : “Nội phủ Thị Nam”. Trong lòng đĩa cũng có câu thơ :

“Thanh hương trần bất nhiễm

Hoạt động y vô cùng”

(ý thơ ca ngợi vẻ đẹp và hương thơm của hoa sen)

Những đồ sứ men lam có vẽ cua, sen  và đề hiệu “Nội phủ thị nam”, có phải  là những đồ vật dùng trong Nội phủ mà vị trí của nó là nhà bếp của Chúa?

1.2 Đồ gốm sứ ghi “Khánh Xuân…”

Đồ gốm sứ men trắng vẽ lam có hiệu “Khánh xuân…” đặt làm tại Trung quốc vào thế kỷ XVIII cũng tương đồng về thời gian với các loại hiệu “Nội phủ” nhưng muộn hơn một chút. Sản phẩm gốm hiệu Khánh Xuân xinh xắn hơn bởi dáng, hoa văn, nét vẽ do bàn tay các nghệ sĩ tài ba. Trong sưu tập gốm sứ Vương Hồng Sển đang bảo quản và gìn giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh có 4 món. Các đề tài trang trí thường là rồng, sư tử, lân, chữ thọ, khánh… Chúng tôi xin giới thiệu 2 hiện vật tiêu biểu sau :

– Đĩa “Khánh Xuân thị tả” (BTLS.15139) có đường kính miệng 26,5cm, cao 3,8cm. Ông Vương Hồng Sển mua ngày 3/6/1959 do một người mang từ Huế vào Sài Gòn bán . Chiếc đĩa này khá lớn, nguyên vẹn. Trong lòng đĩa vẽ hình rồng 5 móng ẩn hiện trong mây và chữ “Thọ” ỡ giữa. Mặt sau của đĩa vẽ đề tài thủy ba rợn sóng. Trên sóng nước cuồn cuộn có một con long mã lớn, đầu có gạc có sừng ; phía sau long mã lớn có hai long mã khác nhỏ hơn đang chạy theo con lớn. Dưới đáy ghi chữ Hán  “Khánh Xuân thị tả”.

Khi nghiên cứu hiện vật này, ông Vương Hồng Sển cho rằng, Trịnh Sâm khi đặt làm những sản phẩm này đều có dụng ý về chính trị, âm mưu thoán quyền Vua Lê. Trịnh Sâm coi mình có quyền thống soái (rồng 5 móng). Hàm ý của đề tài long mã lớn và 2 long mã nhỏ chỉ Chúa Trịnh Sâm và hai con trai, ngầm hiểu ý là Thái sư, Thiếu sư trong triều ? (4).

– Chén tống “Khánh Xuân thị ta”û (BTLS – 15118) có đường kính miệng 7cm, cao 5cm. Dáng của chén thanh thoát, vẽ màu lam hơi đậm. Đề tài trang trí là rồng, sóng nước, mây. Một con rồng lớn có 5 móng đang bay trên không trung có những làn mây. Một con rồng khác nhỏ hơn đang từ dưới biển vạch sóng trồi lên chào đón rồng lớn (không rõ mấy móng vì thân rồng còn ở dưới nước). Dưới đáy chén có chữ Hán “Khánh xuân Thị tả”.

  1. 2. Một vài nhận xét

– Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu một số hiện vật gốm sứ hiệu “Nội phủ…” và “Khánh xuân…” trong tổng số 19 món đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt nam – TP.HCM. So sánh, đối chiếu giữa số lượng hiện vật trên thực tế với số lượng mà ông Vương Hồng Sển đã viết trong sách “Khảo về đồ sứ men lam Huế” (tập thượng), chúng tôi thấy có sự chênh lệch : có 31 món(5). Để tiện theo dõi, chúng tôi lập bảng sau :

TT

HIỆU ĐỀ

SỐ LƯỢNG HIỆN VẬT TRONG SÁCH

SỐ LƯỢNG HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG

1

2

3

4

5

6

7

Nội phủ thị trung

Nội phủ thị hữu

Nội phủ thị đông

Nội phủ thị đoài

Nội phủ thị bắc

Nội phủ thị nam

Khánh Xuân thị tả

07

07

04

03

03

01

06

31 hiện vật

02

07

02

0

02

02

04

19 hiện vật

 

Sở dĩ có sự chênh lệch về số lượng trên đây, chúng tôi cho rằng, cuốn sách mà ông Vương Hồng Sển đã viết và hoàn thành vào năm 1972 theo lời tựa ghi ở đầu sách thì “…cuốn bản thảo cứ nằm trơ trên bàn”, do đó, qua mấy chục năm, số lượng hiện vật có sự thay đổi : đổi món này, lấy món kia của những người chơi cổ ngoạn ; bán món này, mua món khác thích hơn. Cuối đời, số cổ vật của ông thường bị con trai và con dâu lấy trộm đem bán như trong cuốn sổ tay của ông đã ghi rõ (5). Do vậy, chúng tôi thấy rằng, một số hiện vật có ghi chép, mô tả trong sách nhưng hiện tại không có, hoặc hiện vật có nhưng lại không ghi trong sách.

– Về niên đại của những loại đồ gốm này, Vương Hồng Sển và một số nhà nghiên cứu khác như : Trần Đình Sơn, Phạm Hy Tùng, Trần Đức Anh Sơn… đều cho rằng đã được làm vào thế kỷ XVIII tại Trung quốc. Niên đại này còn được khẳng định thêm bởi Hội đồng Giám định cấp Nhà nước vào đầu năm 1997 do Giáo sư Hà Văn Tấn làm Chủ tịch.

– Việc xác định chủ nhân của những đồ gốm kể trên là một việc làm khó khăn. Theo sử liệu về tình hình xã hội Việt nam thế kỷ XVIII, chúng tôi đồng ý với Vương Hồng Sển và một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là những sản phẩm do các chúa Nguyễn đặt làm tại Trung quốc để làm đồ dùng trong phủ chúa. Nhưng nói món này dùng ở chỗ này, món khác dùng ở chỗ kia… cũng cần cân nhắc thấu đáo thêm.

– Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt nam suốt hơn hai trăm năm, họ Trịnh đã mượn tiếng phò Lê để dần dần lấn lướt, tiếm quyền. Ban đầu, nhìn bên ngoài, có lẽ các chúa chưa dám đoạt ngôi vua nên đã lập ra “phủ” ; không dám xưng “cung”, xưng “điện” nhưng thực ra, mọi quyền hành hầu như đã thâu tóm hết về tay. Các chúa đã tước hết mọi thực quyền của vua Lê, quy định chế độ bổng lộc của nhà vua…Từ chỗ thành lập 3 phiên (Binh , Hộ, Thủy sư) đến chỗ thành lập 6 phiên ( Lại, Hộ, Lễ, Binh , Hình,  Công) và chịu trách nhiệm cai trị đất nước. Khi mọi quyền lực chính trị, kinh tế, quân sự ở xứ Đàng Ngoài đều tập trung vào phủ chúa, họ Trịnh đã ra sức tác oai, tác quái, sống xa xỉ trên mồ hôi nước mắt của nhân dân. “Ruộng đất rơi hết vào nhà hào phú, còn dân nghèo thì không có một miếng đất cắm dùi”(7). Nội chiến liên miên, thuế khóa nặng nề, quan lại nhũng nhiễu làm cho đời sống nhân dân ngày càng sa sút nghiêm trọng.

Sau 248 năm với 11 đời chúa trị vì, năm 1786 với việc vua Lê Chiêu Thống ra lệnh đốt hoàn toàn phủ chúa đã chấm dứt vai trò của thế lực họ Trịnh ở Đàng Ngoài. Từ đây, phủ chúa đã đi vào dĩ vãng. Ngày nay, tuy không còn biết phủ chúa hình dáng, kiến trúc, vị trí các khu vực trong phủ ra sao… nhưng qua những món đồ sứ ghi bằng chữ Hán và các biểu tượng hoa văn mà các chúa đã đặt làm ở Trung quốc như : “Nội phủ thị trung”, “Nội phủ thị đông”, “Nội phủ thị hữu”, “Nội phủ thị nam”, “Nội phủ thị bắc”, “Nội phủ thị đoài” và “Khánh xuân thị tả”û đã giúp chúng ta hình dung được một phần sơ đồ cùng lối sống xa hoa ở nơi phủ chúa.

Tuy chưa đồng ý với nhau nhiều vấn đề khi nghiên cứu loại gốm này, nhiều tác giả như Vương Hồng Sển, Trần Đình Sơn, Trần Đức Anh Sơn, Phạm Hy Tùng… (8), Phạm Hữu Công (9) đã có những phác họa một sơ đồ đơn giản về Nội phủ theo kiểu đăng đối như sau:

Nội phủ

thị bắc

Nội phủ         Nội phủ             Nội phủ      Khánh xuân                   Nội phủ

thị tây (Đoài)           thị hữu               thị trung           thị tả                thị đông

Nội phủ

thị nam

Theo sơ đồ trên, Vương Hồng Sển ; Trần Đình Sơn… cho rằng, những mô típ, hình thức trang trí, đồ dùng nơi phủ chúa có những nét riêng nhất định:

Nội phủ thị trung (tập trung chính điện) là nơi sinh hoạt của chúa, đề án trang trí là rồng 5 móng và mây.

Nội phủ thị hữu (điện bên phải) là nơi dành cho Chánh phi, các đề án trang trí thường là rồng và phượng.

Nội phủ thị đông (điện phía đông) là nơi ở của các Hoàng tử, các đề án trang trí thường là lân, chim, hoa, mây.

Nội phủ thị nam (điện phía Nam) là nơi trù viện (bếp), thường được trang trí các đề án có hoa sen, cua, vịt…

Nội phủ thị đoài (điện phía Tây) dùng để trang trí phong cảnh.

Nội phủ thị bắc (điện phía Bắc) là nơi ở của các phi tần, trang trí bằng các đề án hoa cúc.

Khánh xuân thị tả (điện mừng xuân) thường dùng các đề án trang trí như rồng và 2 con lân…

Việc đoán định và đặt vị trí cho từng loại kể trên, tôi cho là có cơ sở. Nhưng trên thực tế, trong một vài sưu tập tư nhân có những món đồ gốm với đặc diểm về dáng, men ,đề tài trang trí, nét vẽ… thuộc về những loại kể trên, nhưng chỉ ghi hai chữ “Nội phủ” hoặc không ghi chữ nào?

– Những sản phẩm gốm sứ mang hiệu “Nội phủ…” và “Khánh xuân…” được làm vào thế kỷ XVIII, lúc đó là những đồ dùng cao cấp xa xỉ nơi phủ chúa. Những vật dụng này đã được các chúa Đàng Ngoài đặt làm vào đúng thời kỳ thịnh đạt huy hoàng của các lò gốm sứ Trung quốc.  Mỗi sản phẩm là sự kết hợp tài tình của các nghệ nhân bởi những bộ óc sáng tạo và bàn tay khéo léo. Gần ba trăm năm qua đi, những sản phẩm độc đáo ấy hiện nay còn quá ít (kể cả trong hai bảo tàng lớn của Việt Nam là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà nội) và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh. Một phần (có lẽ không nhỏ), những cổ vật quý giá này hiện vẫn nằm rải rác trong dân và một số nhà sưu tập tư nhân ở trong và ngoài nước. Những cổ vật mà chúng tôi giới thiệu trong bài này cũng là một phần rất nhỏ (cả về số lượng và loại hình), nhưng đã góp phần quan trọng cho việc vẽ ra một mảng màu cho bức tranh gốm Việt Nam trong lịch sử.

– Cái đẹp của gốm “Nội phủ…” và “Khánh xuân…” trong sưu tập này, trước hết phải nói về dáng. Việc tạo dáng cho gốm loại này có xu hướng nhỏ, gọn, xinh xắn. 19 cổ vật kể trên không có cái nào to lớn, cồng kềnh. Hơn nữa, dáng của gốm không có những chi tiết phụ hay đắp nổi cầu kỳ, rườm rà. Gốm được tạo dáng đơn giản, các góc không gãy đột ngột mà mở rộng và lượn vòng, cung độ lớn. Nhìn phong cách tạo dáng của gốm sứ  trong sưu tập của Vương Hồng Sển, thoạt nhìn ta thấy cảm giác gần gũi với gốm hoa lam thời Lê. Tuy nhiên, có thể nói, gốm loại này về kiểu dáng có chứa đựng những nét tinh tế của dáng gốm Trung hoa và Việt : hài hòa, giản đơn…

– Sau yếu tố tạo dáng phải kể đến các hoạ tiết trang trí trên gốm “Nội phủ…” và “Khánh xuân…”. Các đề tài trang trí thường là rồng, phượng, lân, vịt, chim, mây, sóng nước, hoa mai, hoa sen… Đặc biệt, hình tượng rồng, phượng, lân… có nhiều trong các cổ vật trên đây. Con rồng có thân hình mềm mại, ẩn hiện trong mây trời. Hình dáng, râu tóc, mặt mũi, nanh vuốt và đuôi rồng rất giống với rồng trang trí ở triều Nguyễn sau này, khác hẳn với rồng Trung quốc. Rồng trong sưu tập gốm sứ này có 2 loại 4 móng và 5 móng – biểu tượng của vương quyền.

– Nghệ thuật trang trí được sử dụng bằng cách vẽ trực tiếp trên xương gốm. Đây là cách vẽ rất khó về bố cục, đường nét. Một nét vẽ xuống là vĩnh viễn không bao giờ thu lại được. Do vậy, đòi hỏi nghệ nhân phải có tay nghề cao, điêu luyện và tất nhiên sản phẩm ra đời không cái nào giống cái nào. Đó mới là điều độc đáo, có giá trị cao trong nghệ thuật. Các nét vẽ sau khi nung chảy, chỗ thì mờ nhạt, chỗ thì đậm nét… làm cho gốm cứ lung linh, huyền ảo.

– Sản phẩm gốm “Nội phủ…”û và “Khánh xuân…” trong sưu tập Vương Hồng Sển tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh cũng như ở các bảo tàng khác và các nhà sưu tập đều thuộc những cổ vật qúy giá bởi giá trị lịch sử,  văn hoá  và nghệ thuật của nó. Những sản phẩm này có lẽ chỉ được đặt hàng vài lần và có số lượng không nhiều, kể cả trong các sách nghiên cứu gốm của Trung quốc cũng không thấy đề cập đến gốm “Nội phủ…”û và “Khánh xuân…”(9)ï. Và có lẽ cũng vì thế mà các loại đồ gốm nói trên đến nay đã trở nên rất hiếm hoi. Trước thực tế đó, việc sưu tầm, giữ gìn, bảo quản các hiện vật thuộc loại gốm “Nội phủ…” và “Khánh Xuân…” lại càng cần thiết. Có được sưu tập hiếm hoi đồ gốm thuộc loại trên đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt nam – TP.HCM, chúng ta thêm trân trọng cố học giả Vương Hồng Sển – người đã dành nhiều thời gian và công sức cho việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc.

Chú thích:

(1) : Khi uống trà, trà được rót từ bình trà vào chén tống, sau đó từ chén tống lại rót vào các chén quân – chén quân nhỏ hơn chén tống.

(2) : Vương Hồng Sển – Khảo về đồ sứ men lam Huế – Quyển thượng – NXB TP. Hồ Chí Minh – TP. Hồ Chí Minh, 1993, trang  134.

(3) : Vương Hồng Sển – Đã dẫn, trang 142.

(4) : Vương Hồng Sển – Đã dẫn, trang 144,145.

(5) : Gồm có 14 cuốn sổ ghi chép cổ vật, hiện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP. Hồ Chí Minh đang lưu.

(6) : Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập I. NXB Giáo dục. H. 2000. Trang 395.

(7) Trong cuốn : “Đồ sứ men lam Huế” , những trao đổi học thuật, NXB Thuận hóa, Huế, 1997, tr. 181,182 ; 202,203 ; 232,233 ; 254,258.

(8) : Phạm Hữu Công – Thông báo khoa học số 2 – Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.137.

(9) Trong bài viết, cúng tôi có sử dụng “Đề cương trưng bày” và “Tóm tắt thuyết minh sưu tập Vương Hồng Sển” của Bảo tàng LSVN – TP. HCM.


(*) Nghiên cứu sinh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »


Sưu tập gốm Chu Đậu (cuối tk 15/ đầu tk 16) từ tàu đắm cổ Cù Lao Chàm

A selection of late 15th/Early 16th Century vietnamese ceramics from Hoi An Hoard

click trên hình để xem phóng lớn:


Xem file winword có chú thích (phải download về máy) :Sưu tập gốm Chu Đậu cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16

KhanhHoaThuyNga sưu tầm

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Văn hóa và cổ vật Óc Eo

Đầu thế kỷ 20, không ít người tin rằng đã tồn tại một đế quốc Phù Nam thịnh vượng, rộng lớn. Khi phồn thịnh nhất lãnh thổ của nó bao chiếm phần lớn khu vực hạ lưu sông Mê Kông.

Di vật Óc Eo - sưu tập tư nhân

Di vật Óc Eo - sưu tập tư nhân

VĂN HOÁ ÓC EO

văn hóa khảo cổ được đặt tên theo di tích Óc Eo thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Việt Nam. Di tích được phát hiện vào năm 1942 và được Malơrê (L. Malleret) khai quật lần đầu tiên vào năm 1944. Trước đó vào thế kỉ 19, những hiện vật trôi nổi của nền văn hoá này đã được giới nghiên cứu chú ý đến. Qua những cổ vật này, nhiều người đã liên hệ đến Vương quốc Phù Nam được ghi chép trong các thư tịch cổ, trong minh văn trên bi kí, trên các bệ thờ bằng đá.

covatoceo-1

Văn hóa Óc Eo (VHOE)

Từ 1977, các nhà khảo cổ Việt Nam đã nghiên cứu, thám sát và khai quật trên 90 di tích, làm rõ được phạm vi phân bố, các loại hình di tích, di vật của nền văn hoá này.

VHOE phân bố chủ yếu trong phạm vi các tỉnh Nam Bộ. Các di tích bao gồm: di chỉ cư trú có tầng văn hoá dày trên dưới 3 m, các công trình kiến trúc tôn giáo và các khu mộ táng. Hiện vật vô cùng phong phú. Nhóm tượng thờ có tượng Phật, tượng thần bằng các chất liệu gỗ, đá, đồng; tượng linh vật có yoni và linga, có hiện vật được làm bằng vàng. Nhóm phù điêu và con dấu khắc trên gốm, đá, thuỷ tinh, kim loại. Nhóm tiền kim khí đúc bằng vàng, đồng, chì thiếc, chì sắt. Nhiều hiện vật bằng vàng và vàng lá có hình chạm khắc, nhiều đồ trang sức bằng đá quý, đá màu, thuỷ tinh, kim loại, nhiều loại đồ gốm và những vật dụng bằng đất nung, đá, gỗ.

Những phát hiện mới đã làm rõ thêm vai trò của VHOE và cảng thị Óc Eo theo con đường tơ lụa trên biển đối với vùng Đông Nam Á hải đảo và sang tận Địa Trung Hải. Nhiều tư liệu phong phú của VHOE đã đóng góp vào nhận thức về một nền nghệ thuật Phật giáo và Hinđu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long vào thế kỉ 5. VHOE có sự kế thừa và phát triển lên từ các nền văn hoá tiền Óc Eo n_ trên mảnh đất Nam Bộ từ cuối thời đại đồ đồng. Hậu Óc Eo có liên quan đến nhà nước Chân Lạp và Thuỷ Chân Lạp.

Di chỉ Óc Eo:

Vào thập niên 1920, nhà khảo cổ học người Pháp đã dùng không ảnh chụp miền nam Việt Nam và phát hiện ra địa điểm này cùng với nhiều kênh đào và các thành phố cổ khác. Một trong những kênh đào này đã cắt tường thành của một khu vực rất rộng. Malleret thử tìm kiếm các cấu trúc này trên mặt đất và vào ngày 10 tháng 2 năm 1944, ông bắt đầu đào các hố khai quật. Malleret đã phát hiện được các di vật và nền móng các công trình chứng minh cho sự tồn tại của một địa điểm thương mại lớn mà các thư tịch của Trung Hoa đã từng miêu tả về vương quốc Phù Nam. Khu vực này rộng ước chừng 450 hécta.

Các kênh đào tách ra từ kênh đào chính tạo nên các hình chữ nhật đều đặn bên trong thành. Bên trong các khu vực hình chữ nhật này còn sót lại những dấu tích của các khu sản xuất đồ nữ trang, trong số các dấu tích tìm thấy các “hình khối” dùng để rót kim loại cùng với các đồ nữ trang. Các khu sản xuất thủ công mỹ nghệ khác cũng được tìm thấy tại đây. Malleret cũng khẳng định những di vật văn hóa ở đây thuộc hai giai đoạn. Cũng có các móng nhà bằng gỗ và các móng nhà bằng gạch của các toà nhà rộng hơn. Các viên gạch được trang trí bằng các hình sư tử, rắn mang bành, động vật một sừng và các động vật khác.  Những công bố sau đó của ông về bằng chứng của vương quốc Phù Nam cổ xưa, ước vào đầu công nguyên đến thế kỷ VII, đã gây chấn động trong giới cổ học thế giới.

Không cao niên về tuổi địa chất nhưng đồng bằng sông Cửu Long lại chứng kiến những bước chân văn minh đầu tiên của con người trên trái đất này. Những gì tìm được sơ bộ khi ấy cũng đã cho thấy dấu vết của thời đại đá mới bước sang thời đại kim khí, cư dân này cũng đã biết canh nông và đã có sự giao lưu với các nền văn hoá trong khu vực rộng lớn từ biển Đông thuộc Thái Bình Dương vươn dài về phía tây tới tận vịnh Bengan thuộc Ấn Độ.

Mất hơn 30 năm gián đoạn do chiến tranh, mãi sau 1975 những cuộc tìm kiếm dấu vết của vương quốc bị mất tích này mới được tiếp tục trở lại. Không chỉ có quanh vùng Óc Eo, dấu tích của vương quốc Phù Nam cổ xưa lần lượt hiện lên từ Cạnh Đền (Kiên Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), Gò Năm Tước, Gò Rộc Thanh (Long An) rồi ngày một lan toả ra các vùng Tiền Giang, TP.HCM, Đồng Nai, Vũng Tàu đến Nam Cát Tiên (miền Đông Nam Bộ).

Chắc chắn những vết lộ này còn chưa dừng lại ở đây nếu nó còn được tìm kiếm xa hơn về hướng Tây Nam trên lãnh thổ của hai quốc gia Campuchia và Thái Lan.

Sự phát hiện ngày một phong phú đã dẫn đến nhiều nhận định khác nhau về vai trò của khu di chỉ Óc Eo trong vương quốc cổ: “Là một đô thị rộng lớn, một thị cảng phồn vinh, một trung tâm kinh tế sống động với mối quan hệ giao thương Âu – Á khá rộng rãi.

Đồng thời, đô thị Óc Eo xưa cũng là một di tích tiêu biểu cho nền văn minh của một quốc gia cổ hình thành vào loại sớm nhất ở Đông Nam Á” (theo Louis Malleret); hay: “vùng di tích quanh núi Ba Thê với phạm vi rộng lớn tập trung nhiều di tích thờ cúng, lăng mộ, thật sự là một trung tâm lớn, đã quy tụ nhiều tinh hoa kỹ thuật – nghệ thuật các mặt của nền văn hoá này. Từ vị trí được xác định như vậy, chắc hẳn vùng này cũng là một trung tâm quyền lực” (nhận định của Lê Xuân Diệm).

Dù là trung tâm tập quyền hay kinh thương, cho đến thời điểm này, các nhà khảo cổ trong và ngoài nước vẫn thống nhất với nhau rằng, Óc Eo là trung tâm đô hội lớn nhất của toàn bộ nền văn hoá Phù Nam.

CỔ VẬT ÓC EO PHÁT HIỆN VÀ TRƯNG BÀY

covatoceo-3

năm 1944 ở VN, nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret khai quật cánh đồng óc Eo (xã Vọng Thê, Thoại Sơn, An Giang). Cuộc khai quật ấy khiến người ta củng cố lòng tin về vương quốc Phù Nam vốn đã láng máng biết trước đó qua thư tịch cổ Trung Quốc và minh văn trên bi ký.

TS Phạm Quốc Quân – Giám đốc Bảo tàng Lịch sử VN – cùng nhiều nhà sử học Đông – Tây nghiêng về phỏng đoán rằng Phù Nam không phải đế quốc cai trị và bóc lột mà chỉ là tập hợp của những tiểu quốc.

GS Lương Ninh, trong một chuyên khảo đã định vị một trong số nhiều tiểu vương quốc đó là Naravaranagara ở miền Tây sông Hậu, mà Óc Eo lại nằm trong đất của quốc gia cổ đại này. Tất nhiên, đây cũng chỉ là một giả thuyết.

Sau 1975, giới khảo cổ VN kế tục công cuộc nghiên cứu của L.Malleret, khai quật hàng loạt di chỉ từ Đồng Nai tới Kiên Giang, mang về cho các bảo tàng Nam Bộ hàng vạn hiện vật giá trị.

Hơn 300 cổ vật đặc sắc văn hoá óc Eo hiện  được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử VN cho thấy quyết tâm muốn chứng minh tính bản địa và sự phát triển của văn hoá óc Eo (TK 2 – TK 8) và vương quốc Phù Nam tại VN của các nhà sử học trong nước.

Từ di tích cư trú, di chỉ di vật kiến trúc, mộ táng, tượng thờ, đồ sinh hoạt và sản xuất…đều cho thấy cư dân óc Eo cách chúng ta 8 – 13 thế kỷ rất giàu có, tôn giáo tín ngưỡng phát triển và nghề buôn bán bằng đường biển thì… cực thịnh.

covatoceo-9

Đá quý, thiếc, thuỷ tinh, vàng, mã não, rồi đồ gốm, chì lưới, mộ táng ở nền Chùa, óc Eo, Đá Nổi, kiến trúc đền thờ Bà La Môn giáo ở Nền Chùa (Kiên Giang), óc Eo (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp)…, tất cả cho thấy một đời sống sinh động của cư dân Phù Nam. Độ tinh xảo trên một số đồ trang sức thể hiện rõ nét tài hoa của người thợ kim hoàn đương thời.

Sưu tập tiền với nhiều loại chất liệu bạc, đồng, kẽm, có những đồng tiền cắt tư, cắt tám để làm tiền lẻ tìm thấy ở óc Eo cũng khá phổ biến ở nhiều di tích ven Vịnh Thái Lan, bán đảo Mã Lai và Myanmar.

Như vậy, đã hình thành một dòng chảy thương mại nối liền óc Eo với Ấn Độ Dương bằng đường biển qua Vịnh Thái Lan và có thể bằng cả đường bộ theo đường nội địa. Những quả cân nhỏ bằng kẽm và những con dấu (kiểu bản địa, kiểu ấn Độ, kiểu La Mã, Hy Lạp) là bằng chứng của nền thương mại mang tính quốc tế.

Các nhà khảo cổ VN cũng tìm thấy hiện vật giai đoạn tiền Óc Eo, chứng tỏ sự phát triển theo quy trình tiếp biến của văn hoá Óc Eo. Hơi tiếc, ở cuộc trưng bày, dấu ấn bản địa, nội tại chưa hẳn đậm đặc.

TS Phạm Quốc Quân nói: “Trước đây người ta thường né tránh nhắc tới vương quốc Phù Nam và Champa, nhưng bây giờ chúng ta đã đưa chúng vào Lịch sử VN. Chúng tôi muốn phần nào chứng minh rằng dù có tiếp nhận, tiếp biến từ La Mã, Ba Tư, ấn Độ, thì Óc Eo vẫn là nền văn hóa phát triển nội tại, bản địa tiến tới đỉnh cao của nó là vương quốc Phù Nam”.

Tượng Óc Eo tìm thấy ở Gò Thành

Tượng Óc Eo tìm thấy ở Gò Thành

Cổ vật Óc Eo trưng bày tại Viện Bảo Tàng

Ngày 24.6.2004, lần đầu tiên sau giải phóng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh phối hợp với 11 bảo tàng ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ, cùng Bảo tàng Mỹ thuật và Bảo tàng Thành phố tổ chức trưng bày “Cổ vật văn hóa Óc Eo” quy mô lớn nhất từ năm 1944 đến nay. Hơn 400 hiện vật quý hiếm từ các vùng đất cực thịnh trước đây đã vén dần những màn sương từng bao phủ một nền văn hóa mang nhiều màu sắc bí ẩn để làm nên một diện mạo chung kể từ thời nhà khảo cổ người Pháp Louis Malleret có công phát hiện.

Hơn 400 cổ vật được trưng bày theo tiêu chí: chất liệu, lọai hình, niên đại; và chia thành bốn nhóm: cổ vật thuộc đồ gia dụng: khuôn đúc đồ trang sức, dụng cụ làm gốm, dụng cụ chế tác đồ kim hòan, nồi nấu kim lọai, bình có vòi, chì lưới, bàn nghiền… Đồ trang sức có các lọai nhẫn có chạm hình bò Nandin, bông tai hình lưỡi liềm, vòng đeo tay, chuỗi hạt, lá vàng hình hoa, chạm hình thú… Đồ trang trí đặc biệt ở cac cổ vật: đầu trụ, tượng đầu người, gạch kiến trúc, lá đề trang trí… Đồ thờ cúng gồm các cổ vật là tượng Phật, tượng thần, Linga, Yoni…

Tuy đây chỉ là một phần văn hóa Óc Eo (khu vực cư trú của nền văn hóa Óc Eo khá rộng, từ một phần đất Campuchia, Thái-lan, phía nam bán đảo Đông Dương, trừ Lào), song tính chất phong phú của bộ sưu tập này đã kích thích các nhà nghiên cứu và khảo cổ học đưa ra những giả thuyết mới. TS Phạm Hữu Công nhấn mạnh, một điều cơ bản mà khoa học chưa lý giải được tận bây giờ là nền văn hóa Óc Eo thuộc dân tộc nào, cho dù đã tìm thấy các bộ hài cốt. Theo nhiều nhà nghiên cứu về cổ nhân học, rất có thể đó là dân tộc đang sống dọc theo rìa Trường Sơn, hoặc ở vùng Bình Phước, Lộc Ninh (Mạ, Xtiêng, M’Nông…).

Tượng thần Visnu bằng đá, thế kỷ 7

Tượng thần Visnu bằng đá, thế kỷ 7

Nhưng cũng không phủ nhận được một điều rằng nền văn hóa Óc Eo trong quá khứ từng có mối giao du với những trung tâm văn hóa lớn đương thời như Trung Quốc (trong những di chỉ đào lên), đế quốc La Mã (phát hiện đồng tiền La Mã thế kỷ thứ 2 khắc tên hoàng đế) và Ba Tư qua một số bức phù điêu. Đặc biệt, ảnh hưởng từ Ấn Độ là lớn nhất. Tượng Phật rất nhiều ở các vùng trên đất nước ta (tượng gỗ, đá), tượng thần Rama, Visnu (nhưng điều khó hiểu là ít thấy tượng thần Siva), những mặt người thể hiện trong thần thoại Ấn Độ, những thuỷ quái… Đặc điểm của những tượng mặt người này là sống mũi cao, thẳng, mắt to tròn, rất hiếm tượng có gương mặt của người Đông Nam Á. Đó là một điều đáng chú ý cho các nhà nhân chủng học.

Tượng thần Brahma - niên đại 1500 năm - của BT An Giang

Tượng thần Brahma - niên đại 1500 năm - của BT An Giang

Điểm thứ hai, tuy không tìm thấy dấu vết tàu thuyền lớn đi các nước, nhưng có thể giải thích rằng đã có nhiều tàu thuyền từ các nước đến đây buôn bán giao dịch. Điểm thứ ba, không hề phát hiện ra vũ khí, nên có thể thấy đấy là một dân tộc sống hòa bình, và sự bình ổn của xã hội Óc Eo thời đó khá cao.

Các hiện vật tìm được gồm nhiều nhóm: đồ gốm, gỗ, đá, đồng, vàng. Nhóm đồ gốm khó có thể nhầm lẫn với đồ đương thời vì hình dáng đặc biệt và chất liệu đất nung do thời đó người ta còn chưa chế được men, như bình có vòi, phù điêu đậm chất Ấn Độ trang trí trên nền tháp, hình mặt người, đầu cột trụ, các viên gạch có hoa văn rất lạ, có in chữ vạn của nhà Phật.

Di vật Óc Eo, sưu tập tư nhân Long An

Di vật Óc Eo, sưu tập tư nhân Long An

Nhóm đồ gỗ gồm kiến trúc cột nhà sàn (hoặc biểu tượng linga), một vài vật dụng làm gốm, trục bánh xe và tượng Phật.

Nhóm kim loại có những vật tròn bằng thiếc bên trên có khắc hình mặt trời đang mọc, những đồng tiền cổ bị chặt làm bốn, làm tám, giá hai đầu thú bằng đồng, tượng thần Visnu, nữ thần Ấn Uma, tượng Phật Trung Quốc thời Bắc Nguỵ (thế kỷ thứ 3), gương đồng, các lá bùa bằng thiếc. Đồ vàng là những thành tựu lớn của cư dân Óc Eo: nhiều mảnh vàng được chế tác tinh vi, dát mỏng dính, có hình vẽ thần nhân của Bà La Môn, bò thần Nadin, nhẫn có bò Nadin (vật cưỡi của Siva). Theo TS Công, các cổ vật hiếm quý nhất là pho tượng Phật Thích Ca do chính cư dân Óc Eo chế tác, cao 1,2 m cách đây hơn 1.500 năm, tấm vàng dài ba, bốn tấc trên có khắc minh văn bằng chữ cổ Ấn Độ, đồng tiền La Mã…

Trong số các Bảo tàng tỉnh, Long An là nơi đóng góp nhiều hiện vật nhất: hơn 200. Riêng Đồng Tháp, một trong ba tỉnh giàu hiện vật văn hóa Óc Eo nhất ở Việt Nam (chỉ sau An Giang, trên Long An) lại từ chối mang hiện vật lên TP Hồ Chí Minh do tỉnh và Sở Văn hóa – Thông tin không cho phép. Như vậy, khiếm khuyết lần này là thiếu hụt các cổ vật khai quật ở Đồng Tháp.

Mặt người bằng đất nung.

Mặt người bằng đất nung.

Diện mạo văn hóa Óc Eo đã hiện khá rõ: một nền kinh tế phát triển về thủ công nghiệp, sớm mở mang buôn bán với nước ngoài, có quan hệ với một số trung tâm thương mại lớn trên thế giới và một trung tâm tôn giáo phát triển.

Tổng hợp từ Internet

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Sưu tập gốm Việt mười thế kỷ đầu Công nguyên

Đây là thời kỳ dân tộc Việt Nam chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong suốt gần mười thế kỷ đầu Công nguyên, mở đầu bằng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 sau công nguyên. Trong thời kỳ này các ngành nghề thủ công ngày càng hoàn thiện, trong đó, nghề sản xuất gốm tiếp tục phát triển trên cơ sở kế thừa truyền thống và tiếp thu ảnh hưởng Trung Hoa. Hiện nay, BTLSVN lưu giữ một sưu tập khá phong phú và một số sưu tập gốm thuộc thời kỳ này đang được trưng bày tại hệ thống chính. Đây là một bộ sưu tập có lịch sử sưu tầm khá lâu dài, mà đa số thuộc về công lao các học giả Trường viễn Đông bác cổ, thông qua những cuộc khai quật vào những thập niên đầu thế kỷ 20 và một số được sưu tầm trong những năm gần đây.

gt_thiennienky1

Sưu tập gốm men, tk 1 - 3

Loại hình đồ đất nung như: mô hình nhà, mô hình giếng nước, tháp nhỏ, các loại gạch xây tháp, xây thành cùng nhiều đồ đựng, đồ đun nấu như nồi, vò, bát, chén….

Đồ gốm men gồm: ấm, âu, bát, bình, chậu, chân đèn, chén hai tai, cốc đốt trầm, đĩa, đỉnh, lọ, nồi .v.v..

Những đồ gốm này có nguồn gốc thu được từ các ngôi mộ gạch xếp, mộ quan tài thân cây khoét rỗng hay mộ cũi. Dấu tích của loại hình mộ gạch xếp mang phong cách Hán, đã được biết đến từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, trong khu vực các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam xưa. Tập trung nhất là các địa điểm Mạo Khê (Quảng Ninh), Nghi Vệ (Bắc Ninh), Lạch Trường (Thanh Hoá). Nguồn thứ hai là đồ gốm thu được từ những cuộc khai quật di tích sản xuất ở Tam Thọ (Thanh Hoá), Bái Đinh, Đương Xá (Bắc Ninh)…

Sưu tập gốm men, tk 6 - 7

Sưu tập gốm men, tk 6 - 7

Đặc điểm chính của đồ gốm thời kỳ này là ít có hiện vật kích thước lớn, xương gốm dày, lớp men phủ thường không trùm hết, màu men vàng ngà, trắng nhạt hay xám. Các vò, hũ gốm kiểu Hán thường in nổi văn ô trám lồng, hình thoi, hình chữ S… Một số ấm, âu, hũ có trang trí cánh sen, chim nước, cá, đầu gà, đầu voi. Các loại gạch xếp mộ thường có hình chữ nhật và hình múi bưởi, hoa văn in nổi trên một rìa cạnh gồm: ô trám lồng, hình thoi, hình chữ S. Nhiều loại hình đồ gốm tạo dáng tương tự đồ đồng cùng thời như ấm đầu gà, chén hai tai, liễm hình trụ, bình con tiện, bình có quai…

 

Nguồn ảnh và chú thích: Bảo Tàng Lịch sử Việt Nam

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Hình ảnh hiện vật sưu tầm Bleu de Hue đẹp

Dưới đây là hình ảnh đồ sứ  Bleu de Hue được giới cổ ngoạn đánh giá đẹp không phải của một mà là của ba nhà sưu tập cổ vật tại Việt Nam.

Click trên hình để phóng lớn:

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

Catalogue ấm trà Nghi Hưng (Yixing) dành cho giới sưu tập (2)

Thuật ngữ “yixing clay” cùng với “zisha clay” thường được dùng như một thuật ngữ phổ quát để mô tả cả 3 loại đất nung có thể phân biệt được như sau:

* Zisha hay zini (紫砂 hoặc 紫泥 ; tử sa, “đất sét tím”): đất nung thành phẩm màu nâu đậm

* Zhuni (朱泥 hay 朱砂; pinyin: zhūshā – chu sa): đất nung thành phẩm màu nâu đỏ hoặc đôi khi có ánh đỏ tươi làm từ đất sét có hàm lượng sắt rất cao.  Không nên nhầm lẫn Đất sét Zhuni với hongni (红泥 Hán Việt là “hồng sa” cũng là một loại đất sét đỏ). Hiện tại tại TQ chỉ có 10 mỏ khai thác được chu sa, tuy nhiên vì nhu cầu ấm Nghi Hưng ngày một cao nên mặt hàng Zhuni Yixing cũng chỉ sản xuất với số lượng hạn chế.

* Duanni (鍛泥; hiểu nghĩa là “đất sét gia cường”): đồ đất nung với chất liệu tổng hợp bằng cách thêm nhiều loại đá khoáng khác nhau vào đất sét zini hay zhuni. Kết quả là thành phẩm có được nhiều loại màu sắc và kết cấu pha trộn màu khác nhau từ màu be (beige), lam, và xanh lá (绿泥 – lục nê) cho đến màu đen.

Nhấn trên hình để xem ảnh lớn:

 

KhanhHoaThuyNga


*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

Older Posts »