Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm 29th, 2009

Bộ sưu tập gốm sứ của Bảo Tàng Mỹ Thuật Cung Đình Huế

Với hơn 3700 hiện vật, bộ sưu tập gốm sứ của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (BTMTCĐ Huế) tương đối phong phú về thể loại và đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ đồ gốm sứ còn được bảo tồn tại Việt Nam. Sưu tập gốm sứ tại Bảo tàng này rất đa dạng, bao gồm các loại gốm mộc, gốm men ngọc và gốm hoa nâu thời Lý-Trần (thế kỷ XI- XIV), gốm hoa lam thời Lê (thế kỷ XVI-XVII), gốm thời Mạc (thế kỷ XVI), gốm trang trí thời Nguyễn (thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX), gốm sứ Trung Hoa thời Minh – Thanh ( thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XX ) và gốm sứ Pháp. Sự phong phú còn được thể hiện trên phương diện kiểu dáng và loại hình trong một tiến trình lịch sử gần 10 thế kỷ. Đặc biệt BTMTCĐ Huế có một sưu tập đồ sứ Trung Quốc đồ sộ, chủ yếu là đồ sứ men trắng vẽ lam thời Minh – Thanh (cuối thế kỷ XIV – đầu XX), mà người Trung Hoa vẫn gọi là Thanh Hoa . Nguồn cổ vật này phần lớn được sản xuất từ các địa phương Giang Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến (Trung Quốc). Sự hiện diện của chúng trong Bảo tàng này có lẽ từ con đường ngoại giao (vật ban tặng, ký kiểu) và thương mại (do vua chúa Việt Nam và quan lại trong nước mua về từ Trung Quốc để phục vụ cho các nhu cầu của cung đình).

Cặp lồng sứ men lam

Cặp lồng sứ men lam

Trước hết, đối với nhóm hiện vật gốm, BTMTCĐ Huế lưu giữ khoảng 700 hiện vật gồm các loại gốm mộc, gốm tráng men… từ thời Lý đến thời Nguyễn. Đối với gốm thời Lý-Trần, ở đây còn giữ được những chiếc ấm tích men ngọc, những chiếc vò bằng gốm nâu, đáng kể nhất là những chiếc dĩa men ngọc trang trí hoa lá theo lối vẽ ám họa, đế để mộc. Đặc biệt, trong sưu tập này còn có một chiếc thố hoa nâu trang trí hoa lá xen kẽ với các họa tiết tô màu nâu giới hạn trong các nét khắc chìm, một phong cách trang trí điển hình của thời Trần. Về gốm thời Mạc, Bảo tàng còn giữ được khoảng 10 hiện vật, trong đó loại hình chân đèn chiếm đa số. Đó là những chân đèn hình con tiện làm bằng gốm trắng có lớp men phủ màu trắng xám hay trắng ngà. Hoa văn được thể hiện theo hai phong cách : vẽ trực tiếp trên xương đất với lối vẽ phóng bút hoặc đắp nổi trên thân hiện vật những đồ án rồng mây, lá đề. Sự góp mặt của đồ sành trắng hoa lam thời Lê trong sưu tập này là không đáng kể, chủ yếu là một vài chiếc dĩa ăn và hai chiếc kandy, trang trí hoa lá cúc cách điệu trong những ô hình đầu cánh hoa.

Dĩa sứ

Dĩa sứ

Dưới thời Nguyễn, nền kỹ nghệ gốm sứ bị sa sút mặc dù các vua chúa nhà Nguyễn rất chú trọng phát triển nghề này. Từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần triều đình đã thiết lập chế độ tượng cục ( các công xưởng của nhà nước ) mà lúc đông nhất đã lên tới 70 tượng cục ( thời chúa Nguyễn Phúc Chu trị vì ), chiêu tập thợ thủ công vào làm việc với tư cách là những người lính thợ. Một trong những tượng cục rất phát triển thời ấy là Nề ngõa tượng cục còn duy trì cho đến thời vua Đồng Khánh. Nề ngõa tượng cục đã sản xuất nhiều loại gạch ngói xây dựng, gạch ngói trang trí phục vụ cho công cuôc kiến thiết thủ phủ Phú Xuân và kinh đô Huế sau này. Những sản phẩm này vẫn được lưu giữ trong BTMTCĐ Huế. Dưới thời Gia Long ( 1802-1820) nhà vua cho lập một xưởng chế tác đồ gốm tại LongThọ ( phía tây nam kinh đô Huế ) do nhà nước trực tiếp quản lý. Triều đình cho mời một người thợ Trung Quốc, tên là Hà Đạt quê ở Giang Tây và 3 người thợ khác từ Quảng Đông đến Long Thọ dạy nghề cho các lính thợ người Việt với kỳ vọng nâng cao kỹ nghệ gốm sứ ở Việt Nam lúc bấy giờ. Đất sét phục vụ cho công xưởng này lúc đầu được khai thác trực tiếp dưới chân đồi Long Thọ nhưng về sau do chất lượng không tốt nên phải lấy đất ở những vùng xa hơn như Triều Sơn, Vân Cù ( cách Huế 15-20km về phía Bắc ) Tuy nhiên, do điều kiện của lò nung, nguyên vật liệu, và trình độ kỹ thuật nên đồ gốm ở Long Thọ chỉ đạt đến trình độ gốm tráng men cao cấp mà thôi. Những sản phẩm này được sử dụng trong kiến trúc và trang trí cung điện thời Nguyễn trên đất Huế. Ngoài những đồ án trang trí thông thường còn có những đồ án tứ linh, hổ phù, những bức phù điêu với các đề tài dân dã trang trí ở các đầu đao, cổ diềm, lá mái, mà điện Ngưng Hy trong lăng Đồng Khánh là một điển hình. Về sau, nhờ sự sưu tập của Hội Đô Thành Hiếu Cổ ( Association des Amis du Vieux Hué) – cơ quan tiền thân của Museé Khải Định ( tức BTMTCĐ Huế sau này), những sản phẩm của lò gốm Long Thọ đã có mặt trong sưu tập này.

Đặc biệt, nơi đây còn giữ được nhiều tượng gốm như tượng chư vị đức Phật, tượng Hộ pháp, tượng Kim Cang, tượng Quan Công…từ các ngôi chùa ở Huế và phụ cận. Đáng chú ý là bộ tượng Thập điện Minh Vương sưu tập từ Khương Ninh Các – một di tích tôn giáo độc đáo tọa lạc bên trong Hoàng Thành Huế – là bộ tượng hoàn chỉnh nhất và đạt đến trình độ nghệ thuật cao nhất trong kỹ nghệ chế tác gốm sứ cũng như nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.

Phần quan trọng trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập những đồ sứ men trắng vẽ lam do các triều vua chúa Việt Nam thời Lê Trịnh và thời Nguyễn đặt mua từ các lò sứ Trung Quốc, mà chúng tôi sử dụng thuật ngữ Đồ sứ ký kiểu để định danh, thay cho thuật ngữ Đồ sứ men lam Huế (Bleus de Hué) vẫn được giới chuyên môn và những nhà sưu tập sử dụng, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng này.

Tô sứ

Tô sứ

Những cuộc tranh luận về đồ sứ ký kiểu trong vài năm gần đây của các nhà khảo cứu đã cho biết nguồn cổ vật đặc biệt này được các vua chúa Việt Nam thời Lê-Trịnh, Tây Sơn, thời tiền Nguyễn (tức thời các chúa Nguyễn thống lĩnh Đàng Trong) và thời Nguyễn đặt làm từ các lò sứ Ngự chế và Quan chế dưới triều Thanh (Trung Quốc) (1), và đã tạo ra những dòng đồ sứ ký kiểu nổi danh như đồ Nội Phủ – Khánh Xuân (thời Lê-Trịnh), đồ Tây Sơn, đồ chữ Nhật () (thời Nguyễn)… trừ đồ sứ ký kiểu thời Tây Sơn là hoàn toàn vắng mặt trong BTMTCĐH, những dòng đố sứ khác thuộc hệ Thanh Hoa Từ của hai triều: Lê – Trịnh và Nguyễn đều góp mặt nơi đây.

Về đồ sứ Nội Phủ-Khánh Xuân của triều Lê-Trịnh, gốc gác của chúng vốn ở Đàng Ngoài và được ký kiểu chủ yếu trong giai đoạn 1767 – 1786, tức là chủ yếu từ thời chúa Trịnh Sâm trở đi. Tại sao chúng có mặt tại Bảo tàng này?. Theo thiển ý có hai giả thuyết đáng lưu tâm: thứ nhất, sau khi tiến quân ra Bắc Hà lần thứ nhất vào mùa thu năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã thâu tóm một phần quan trọng của cải của vua Lê, chúa Trịnh đem về Phú Xuân rồi sau đó lại bị đoạt lấy bởi triều đại nhà Nguyễn. Các đoạn trích dưới đây có thể minh chứng cho điều ấy:..Về Cống Chỉnh, tôi cho là một người điển hình đi trước thời cuộc, một Tào Tháo cận kim thời đại, biết hết nơi nào có của báu xứ Bắc nhường cho vua Quang Trung lựa đồ sứ và báu vật lấy về (TĐAS), còn bao nhiêu vàng bạc, Chỉnh đều tóm thâu…(2). Suốt ngày 17/8 Bính Ngọ (1786) Huệ cố giữ Chỉnh trong dinh nói chuyện lan man. Đến canh ba đêm đó, một ám hiệu truyền ra, quân Tây Sơn nai nịt sẵn, cả thủy lục lặng lẽ kéo đi, bao nhiêu của cải trong kho đụn Bắc Hà đem đi theo cả (VHS) (3). Sau khi ở Bắc về, Nhạc về thẳng quốc thành (tức Quy Nhơn – TĐAS) Huệ đến Phú Xuân đóng binh lại, không tiến nữa, sửa đắp thành lũy, thân nghiêm hiệu lệnh, giữ lấy hết cả những quân khí và của báu mà khi bắc chinh chưa lấy được. Nhạc sai sứ đem ấn sắc phong Huệ làm Bắc Bình Vương và hỏi các hóa bảo lấy được ở phủ Trịnh. Bắc Bình Vương chống mệnh không chịu dâng (4). Với những dẫn chứng trên đây, việc cho rằng số đồ sứ ký kiểu thời Lê-Trịnh hiện có mặt tại BTMTCĐH là do nhà Nguyễn đoạt lại từ tay vương triều Tây Sơn không phải là không có căn cứ. Giả thuyết thứ hai cho rằng đồ sứ ký kiểu thời Lê-Trịnh có trong BTMTCĐ Huế là do công lao sưu tập của các thành viên A.A.V.H. (Association des Amis du Viuex Hué) trong giai đọan tiền thân của Musée Khải Định. Điều này xem ra có vẻ có lý hơn bởi các thành viên của A.A.V.H. đã làm thật tốt công việc sưu tập đó với nhiều loại hình cổ vật có trên dải đất Thuận Hóa và các vùng phụ cận, nhất là đối với các tượng Chàm. Chính điều này đã tạo tiền đề cho sự ra đời của Musée Khải Định vào năm 1923.

Tiềm chân cao (Thiệu Trị)

Tiềm chân cao (Thiệu Trị)

Đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh có ở BTMTCĐ Huế tuy không nhiều nhưng cũng góp mặt khá đầy đủ các hiệu đề: Nội phủ thị trung, Nội phủ thị hữu, Nội phủ thị nam, Nội phủ thị đông, Nội phủ thị đoài, Nội phủ thị bắc, Khánh Xuân và Khánh Xuân thị tả. Riêng đồ sứ có hiệu đề Khánh Xuân, hiện BTMTCĐ Huế chỉ có một hiện vật duy nhất. Đó là một cái dĩa vẽ rồng. Những hiệu đề khác, hiện vật tương đối phong phú, bao gồm các loại chậu hoa, ống phóng, đĩa, bát và khay trà. Phần lớn hiện vật đều nguyên vẹn.

Về đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, BTMTCĐ Huế hiện là nơi đứng đầu Việt Nam về số lượng hiện vật tàng trữ. Dưới triều Nguyễn, theo Đại Nam thực lục cho biết đã có 26 sứ đoàn (5) đi sứ Trung Quốc. Những sứ bộ này, ngoài nhiệm vụ chính làm cầu nối bang giao giữa hai triều Nguyễn-Thanh, còn đặt nhiều đồ sứ mang về nước. Những đồ sứ này có ghi niên hiệu các vua nhà Nguyễn hoặc các năm đi sứ lên đáy hiện vật, cũng như có lấy một số phong cảnh và địa danh Việt Nam làm đề tài trang trí. Theo sự tìm hiểu bước đầu của chúng tôi, dòng đồ sứ ký kiểu dưới triều Nguyễn trong khoảng thời gian từ 1804 – 1824, có tất cả là 46 loại hiệu đề (6), thì số hiện vật sứ ký kiểu tại BTMTCĐ Huế có đến 29 loại hiệu đề. Nhận diện toàn bộ hiện vật sứ ký kiểu ở đây, chúng tôi có mấy nhận xét:

– Thứ nhất, đồ sứ ký kiểu dưới triều Nguyễn rất phong phú về số lượng và loại hình. những hiện vật này được ký kiểu trải dài theo tiến trình ký kiểu dưới triều Nguyễn, từ lần ký kiểu đầu tiên với hiệu đề Giáp tý niên chế đến lần ký kiểu cuối cùng với loài đồ sứ có hiệu đề Khải Định giáp tý niên tạo và rải đều dưới tất cả các triều vua có ký kiểu đồ sứ chứ không tập trung vào một triều đại nào.

Tiềm quý giáp (Thiệu Trị)

Tiềm quý giáp (Thiệu Trị)

– Thứ hai, đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn ở Bảo tàng này đa dạng về tất cả các loại hình: đồ trang trí, đồ sinh hoạt; đồ nghi lễ; tế tự; cũng như phong phú đối tượng sử dụng: ngự dụng, quan dụng, dân dụng. Đặc biệt nhóm đồ sứ trang trí có rất nhiều hiện vật thuộc loại lớn như đôn, chậu, thống…vốn là vật trang trí ở các sân chầu, cung điện. Trong khi đó lại hiếm vắng tranh tượng trang trí. Đối với nhóm đồ sứ sinh họat, hiện vật trong BTMTCĐ Huế chủ yếu là đồ dùng cho nhu cầu ăn uống, rất hiếm đồ trà. Đây là điều trái ngược hoàn toàn với các sưu tập tư nhân và các bảo tàng khác trong nước. Các nhà sưu tập khi bắt đầu chơi cổ ngoạn thường sưu tầm các món đồ nhỏ, rẻ tiền rồi sau đó mới tiến tới sưu tầm các cổ vật lớn, quý hiếm và đắt tiền. Trong khi đó, nguồn đồ sứ ký kiểu tại BTMTCĐ Huế có nguồn gốc trực tiếp từ cung đình Huế, đặt biệt là do di chuyển, tiếp nhận từ các lăng tẩm, cung điện nên phong phú về chủng loại, nhất là các hiện vật có kích thước lớn. Trong lịch sử tồn tại của mình, một số cổ vật của BTMTCĐ Huế đã thất thoát do chiến tranh và mất cắp, cũng như do những nhân vật có thế lực trong chính quyền cũ lấy đi vào các thời điểm éo le của lịch sử như 1947, 1968, 1972… Họ đã chọn những cổ vật nhỏ nhưng quý hiếm để mang đi cho thuận tiện. Kết quả là nguồn cổ vật nhỏ ở đây không nhiều và quý bằng nguồn cổ vật có kích thước lớn. Đó cũng là cái may trong cái rủi của BTMTCĐ Huế vậy !

– Thứ ba, ngoài nguồn đồ sứ có gốc gác từ cung đình Huế với các món đồ ngự dụng đề rõ niên hiệu các vua Nguyễn như Minh Mạng niên chế, Thiệu Trị niên tạo,Thiệu Trị niên chế, Tự Đức niên tạo…với các mô típ trang trí đặc trưng cho sự quyền quý, cho ngôi vị đế vương như tứ linh, bát bửu, được sưu tập và tàng trữ một cách tất yếu, nơi đây còn có những đồ sứ quan dụng, vốn chỉ có ở các quan phủ, vương phủ, không hiểu sao lại góp mặt trong Bảo tàng này. Đó là các hiện vật có hiệu đề: Đặng Huy công từ, Tự Đức mậu thìn trung thu Đặng Qúy từ đường…hay các hiện vật vẽ tích Mai hạc với hai câu thơ chữ Nôm tương truyền là do thi hào Nguyễn Du ứng tác: Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen. Chính điều này đã khiến cho sưu tập đồ sứ ký kiểu nơi đây thêm đa dạng và hấp dẫn.

Chóe sứ thời Khang Hy , quà tặng của triều đình Thanh.

Chóe sứ thời Khang Hy , quà tặng của triều đình Thanh.

– Thứ tư, do có số lượng lớn nên sưu tập đồ sứ ở BTMTCĐ Huế có rất nhiều hiện vật độc đáo và qúy hiếm. Ở đây lưu giữ được hai hiện vật có hiệu đề Giáp tý niên chế – một chiếc tô do ông Hy Bách ở thành phố Hồ chí Minh hiến tặng và một chiếc đĩa có gốc gác từ thuở Bảo tàng mới khai sinh. Loại hiện vật ký kiểu có hiệu đề này, hiện nay giới sưu tập và giưới chuyên môn chỉ biết không quá đầu ngón tay. Ở đây còn có những hiện vật sứ được coi là độc nhất vô nhị, vô tiền khoáng hậu như chiếc đầu hồ bằng sứ vẽ rồng năm móng mang những đặc trưng rất Huế và rất Nguyễn, hay bộ đĩa ba cái trang trí các đồ án phượng hoàng, ngư tảo có hiệu đề: Tự Đức mậu thìn trung thu Đặng Qúy từ đường… do Đặng Huy Trứ mang về năm 1868. Đặc biệt, có những hiện vật như loại tô vẽ phong cảnh ngã ba Bằng Lãng (trước lăng Minh Mạng) có đề bài thơ chữ Nôm Một thức nước in trời…, đáy có chữ Nhật vốn được coi là quý hiếm, các bảo tàng khác và các sưu tập tư nhân chỉ có một chiếc thì đã lấy làm vinh hạnh. Vậy nhưng, loại tô này ở BTMTCĐ Huế lại có đến 282 chiếc (!).

Trên đây là những ý kiến cá nhân chúng tôi về sưu tập đồ gốm sứ trong BTMTCĐ Huế. Ngoài nguồn gốm sứ có nguồn gốc bản địa và Trung Quốc, BTMTCĐ Huế còn có hàng trăm hiện vật gốm sứ Nhật Bản và Pháp. Đó cũng là nguồn cổ vật quý rất đáng khảo cứu và trưng bày. Tiếc rằng do những khó khăn về điều kiện trưng bày nơi đây bởi diện tích trưng bày hạn chế, hệ thống tủ kệ và chiếu sáng chưa đáp ứng, nên phần lớn nguồn cổ vật này vẫn đóng kín trong kho, chỉ có một số rất ít được mang ra phục vụ du khách. Hy vọng rằng trong một tương lai không xa, khi BTMTCĐ Huế xây dựng được phòng trưng bày chuyên đề thì sưu tập gốm sứ nơi đây, trong đó có đồ sứ ký kiểu, sẽ trở thành một chuyên đề chính với đầy đủ chủng loại, dáng kiểu, niên đại và loại hình, sẽ được ưu tiên tuyển chọn và trưng bày để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước.

TS. Trần Đức Anh Sơn

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Advertisements

Read Full Post »

BÌNH PHONG TRONG KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG VIỆT

Ths. Phan Thanh Hải

Dientho.jpg
Bình phong ở cung Diên Thọ

Thật khó tưởng tượng được nếu trong không gian của một ngôi nhà truyền thống Việt lại thiếu vắng một chiếc bình phong. Cái vật duyên dáng ấy có khi được đặt ở ngoài sân với đủ kiểu đủ dáng vẻ; có khi được đặt ngay trong nhà với kích thước vừa phải, ngay sau cửa chính; hoặc có khi kết hợp cả hai. Nhưng cái bình phong tưởng thật thân thiết, thật gần gũi ấy hình như từ trước đến nay lại chưa được tìm hiểu thấu đáo. Bài viết dưới đây của tác giả Phan Thanh Hải sẽ là nỗ lực đầu tiên để khắc phục vấn đề này.

I. Từ một huyền thoại

ngubinhhue.jpg
Núi Ngự Bình một tâm bình phong thiên tạo cho cố đô Huế

Năm 1636, chúa Nguyễn Phước Lan đã vì sự nghiệp phát triển của Đàng Trong và cả vì mối tình với một cô gái yêu kiều ở đất làng Kim Long mà đã quyết định dời thủ phủ-kinh đô từ Phước Yên về vùng đất tươi đẹp bên bờ con sông Hương mang tên Kim Long. Hơn 50 năm tiếp đó, thủ phủ Kim Long đã được xây dựng thành một “đô thị lớn”, phồn hoa diễm lệ bậc nhất của Đàng Trong khiến không ít giáo sĩ phương Tây khi đến đây đã tỏ ra hết sức thán phục. Vậy mà đến năm 1687, ngay sau khi kế vị, chúa Nguyễn Phước Thái đã cho dời ngay thủ phủ về đất Phú Xuân, cách đó chỉ khoảng 3km. Nguyên nhân của sự dịch chuyển này là do đâu? Các nhà nghiên cứu khi phân tích sự kiện trên đã đưa ra nhiều nguyên nhân, nhưng trong huyền thoại dân gian Huế thì dường như chỉ có một: đó là vì ngọn núi Ngự Bình vốn xưa mang tên là Bình Sơn! Ngọn núi này được trời đất tạo ra dường như là để che chắn cho kinh đô của bậc đế vương. Chính chúa Nguyễn Phước Thái là người đầu tiên nhận ra điều này và ông đã không ngần ngại cho xây dựng lại cả một kinh đô chỉ vì một chiếc bình phong! Cũng từ đó Bình Sơn mới chính thức trở thành Ngự Bình và dần dần trở thành biểu tượng của đất Huế (miền Hương-Ngự)(1).

II. Nguồn gốc của bình phong

Bình phong có từ bao giờ? Thật khó trả lời chính xác câu hỏi này, chỉ biết rằng, ở phương Đông, từ khi con người biết xây dựng nhà cửa thì các quan niệm về phong thuỷ cũng dần dần xuất hiện và từng bước hoàn thiện, chiếc bình phong ra đời cũng từ các nguyên lý của phong thuỷ học.

Khiem%20tho.jpg
Bình phong trước lăng Khiêm Thọ

Theo các nhà nghiên cứu về phong thuỷ Trung Quốc, việc sử dụng bình phong cho gia trạch cũng như mộ phần bắt nguồn từ lý thuyết về Triều và án trong Phong thuỷ. Triều có nghĩa là “quay về, hướng về”, viết tắt của chữ Triều sơn, tức chỉ núi quay về, chầu về nhà cửa hay mộ phần – tựa như sự đối ứng giữa chủ và khách. Núi chầu về trong nghĩa triều sơn chỉ những ngọn núi ở phía xa và ở mặt trước. Triều sơn có nhiều loại, có loại đỉnh nhọn, đỉnh bằng, đỉnh tròn…. Trong Phong thuỷ thường chỉ chuộng loại núi tròn đều hay ngang bằng bởi cho rằng loại núi nhọn hay có góc cạnh thường phát ra khí chẳng lành.

Còn “Án” vốn nguyên có nghĩa gốc là cái bàn, bàn đương nhiên là đặt trước mặt của người ngồi. Án sơn là để chỉ ngọn núi nhỏ ở phía trước gia trạch hay mộ phần (2).

Nói chung, triều và án hết sức cần thiết cho gia trạch và mộ phần, tác dụng của chúng là ngăn cản những ảnh hưởng xấu (theo quan niệm dân gian) hay Hỏa khí (theo thuyết âm dương Ngũ hành) xâm nhập trực diện từ phía trước. Nhưng không phải lúc nào triều và án cũng mang lại những điều tốt lành mà đòi hỏi phải có sự lựa chọn phù hợp nhưng việc lựa chọn này lại hoàn toàn không dễ dàng.

Thường thì mộ phần đặt ở vùng núi non nên việc chọn triều án khá thuận tiện, nhưng nhà cửa gia trạch lại chủ yếu nằm ở miền đồng bằng nên rất khó tìm triều và án. Trừ trường hợp cung điện đồ sộ của nhà vua thì đương nhiên phải tìm ra triều và án, còn thì đa số quan lại, thường dân chỉ mong tìm được án đã là tốt lắm rồi. Nếu không có án, người ta thường tạo nên những vật thay thế như đắp non bộ, trồng hàng rào hay xây bức tường ngắn… Chiếc bình phong ra đời từ đây. Thuở ban đầu bình phong được làm rất đơn giản bằng các vật liệu dễ kiếm như tre nứa, gỗ, phiến đá, thậm chí bụi cây cũng được. Nhưng càng về sau, bình phong càng ngày càng được chú trọng làm bằng vật liệu bền vững như xây gạch, đắp đá; hình thức của bình phong cũng ngày càng cầu kỳ và phong phú.

Người Việt vốn chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của văn minh Trung Hoa và các học thuyết Phong thuỷ nên cũng từ rất sớm, chiếc bình phong đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong ngôi nhà của họ. Còn hơn cả người Hán, người Việt đã phát triển quan niệm về chiếc bình phong trở nên phong phú, đa dạng lên nhiều.

III. Các loại bình phong

Longma.jpg
Bình phong hình tượng long mã

Đối với đại đa số chúng ta, khái niệm bình phong hầu như không được phân biệt rõ ràng, dù là triều hay án, dù to hay nhỏ đều gọi chung là bình phong. Tuy nhiên trong Phong thuỷ thì không phải như vậy. Như trên đã nói, triều và án là hai khái niệm khác nhau và tác dụng của chúng cũng khác nhau khi áp dụng. Phong thuỷ rất chuộng triều sơn, nhưng trên thực tế thường chỉ áp dụng được cho các công trình có quy mô lớn hoặc cả một quần thể công trình như Kinh đô, lăng tẩm của vua chúa… Ngót ngàn năm trước, khi tìm ra đất Thăng Long, Lý Thái Tổ đã ca ngợi đây là mảnh đất “long bàn hổ cứ” có “sơn triều, thủy tụ”, địa thế tuyệt vời để xây dựng kinh đô. Lê Quý Đôn khi vào tiếp quản đô thành Phú Xuân năm 1775, cũng đã hết lời ca ngợi thế phong thủy của mảnh đất này, đặc biệt là vai trò của triều sơn: “Đất rộng bằng như bàn tay, độ hơn 10 dặm, ở trong là Chính dinh, đất cao, bốn bề đều thấp, tức là chỗ nổi bật giữa đất bằng, ngồi vị Càn trông hướng Tốn; đằng trước quần sơn chầu về la liệt, toàn thu nước về bên hữu, vật lực thịnh giàu”.(3)

Nhưng phần lớn đối với các cuộc đất, do không có triều sơn nên người ta chỉ chú trọng đến án. Đối với kinh đô Huế, núi Ngự Bình cũng không phải là triều sơn mà chính là án, cũng như với lăng Thiên Thọ (lăng Gia Long), án chính là ngọn Đại Thiên Thọ Sơn…

Thế nhưng án cũng có 2 loại: ngoại án và nội án; ngoại án hay tiền án là chiếc bình phong đặt ở phía bên ngoài, ở phía trước công trình; còn nội án là chiếc bình phong (cũng có khi gọi là trấn phong) đặt ngay trong công trình.

Nhìn chung, đối với các công trình lớn, ngoại án thường là các ngọn núi, có thể là núi tự nhiên để nguyên, có thể là núi tự nhiên nhưng được sửa sang lại cho phù hợp, cũng có thể là núi nhân tạo hoàn toàn như ngọn núi nhỏ đắp phía trước phần lăng vua Tự Đức (Khiêm Lăng). Đối với những công trình hoặc cụm công trình có quy mô nhỏ hơn thì ngoại án thường được xây dựng thành một bức bình phong bằng gạch đá, hoặc có thể là một bờ rào, hàng cây, một phiến đá…

Đối với các loại bình phong được xây dựng cẩn thận bằng gạch đá, thường ngoài ý nghĩa về phong thuỷ còn là những công trình mang ý nghĩa trang trí thật sự. Về đại thể, tuy chỉ là một bức tường xây ngang nhưng kỳ thực kiểu dáng và cách thức trang trí của bình phong thì thật vô cùng phong phú. Kiểu bình phong phổ biến nhất có lẽ là kiểu cuốn thư nhưng có rất nhiều biến thể. Các đề tài trang trí trên bình phong cũng đa dạng, nhưng phổ biến nhất vẫn là những con vật trong Tứ linh, gồm long(rồng)-lân-phượng-quy (rùa). Tại các đình làng, các am miếu dân gian, hình tượng long mã hay hổ cũng được sử dụng rất nhiều trên bình phong.

Nội án tức chiếc bình phong đặt bên trong công trình, ngay sau cửa chính. Dù có kiểu dáng, hình thức rất phong phú nhưng chúng đều là loại bình phong có thể di chuyển được. Chất liệu làm các loại bình phong này cũng rất đa dạng, bằng gỗ, bằng mây, bằng tre, bằng đá hoặc đá kết hợp với gỗ, thậm chí bằng đồng, bằng bạc, vàng… nhưng có thể nói, gỗ là loại chất liệu được sử dụng phổ biến hơn cả. Hầu hết các bức bình phong được sử dụng làm nội án đều được trang trí rất công phu và có giá trị nghệ thuật cao.

Căn cứ vào hình thức kiểu dáng có thể chia nội án thành 2 loại: loại bình phong một tấm cố định và loại bình phong nhiều tấm rời ghép thành.

Loại bình phong một tấm cố định phổ biến nhất là có kiểu cuốn thư, được làm chắc chắn, có chân cố định, khi di chuyển phải di chuyển nguyên tấm. Còn loại bình phong nhiều tấm rời ghép thành thường có hình chữ nhật hoặc vuông, do 6,8 hay10 tấm gỗ hình chữ nhật ghép lại với nhau bằng bản lề. Loại này có thể có chân hoặc không có chân, khi di chuyển có thể di chuyển cục bộ từng phần hoặc có thể tháo rời ra để tiện vận chuyển. Kiểu bình phong này hiện còn khá phổ biến tại Nhật Bản, Hàn Quốc (4).

IV. Sử dụng bình phong thế nào cho phù hợp

Đây thực sự là một bí ẩn của Phong thủy học. Sách vở về Phong thuỷ xưa rất hiếm khi đề cập đến điều này, các kiến thức về sử dụng bình phong chủ yếu được truyền thừa qua các thế hệ thầy Địa lý. Phỏng vấn một số thầy Địa lý có uy tín ở khu vực miền Trung thì được biết, kích thước triều sơn không quan trọng lắm, chủ yếu là do dáng vẻ, thần thái của chúng tạo nên; còn kích thước của án (kể cả ngoại án và nội án) thì rất quan trọng đối với chủ nhân công trình. Tuy nhiên, đối với phần đông dân chúng do không hiểu hết các nguyên lý uyên áo của Phong thủy nên thường cho rằng, bình phong cốt để che kín ngôi nhà (hoặc huyệt mộ) cho ấm cúng và ngăn chặn gió độc, hay để ngăn chặn những thứ khí chẳng lành phát ra từ những vật lạ phía trước nhà (cây cối, cột mốc, đường đi…), nên việc dựng bình phong không theo quy chuẩn và kích thước phù hợp, gây mất cân đối cho công trình, ảnh hưởng đến thẩm mỹ thậm chí gây trở ngại cho việc đi lại.

Thực ra, theo Phong thủy, nguyên do phải đặt bình phong (kể cả ngoại và nội án) đều nhằm cản bớt hỏa khí xâm nhập quá mạnh vào nhà gây hại cho chủ nhân. Phong thủy căn cứ vào thuyết Ngũ Hành cho rằng, phía trước công trình thuộc Hỏa(phía Nam); bên phải công trình là Kim (phía Tây), tượng cho chủ nhân; bên trái thuộc Mộc(phía Đông) tượng thê tài (vợ, tiền tài); phía sau thuộc Thủy(phía Bắc) tượng tử tôn (con cháu); còn trung ương thuộc Thổ. Quy định này cũng dễ hiểu vì vốn xưa nhà được đắp bằng đất (thổ); nhà sinh ra chủ (Kim), chủ sinh ra con cháu (Thủy) và điều khiển vợ, người làm (Mộc). Ngũ hành tương sinh hay tương khắc tùy thuộc khi ta đặt công trình vào các hướng cụ thể của thiên nhiên. Nếu đặt mặt trước công trình về hướng Nam (đây lại là hướng được người Việt yêu thích nhất khi làm nhà: “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”) thì Hỏa khí càng thêm vượng, dễ gây tổn hại cho chủ nhân nên mới đặt bình phong để ngăn chặn. Còn đối với các công trình xoay mặt về phía Bắc (nhất là các chùa) thì hầu như không sử dụng bình phong vì phía Bắc thuộc Thủy, mà Thủy lại khắc Hỏa. Chính vì những nguyên lý này mà khi làm nhà (hoặc lăng mộ) người ta phải mời thầy Địa lý để có sự nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp.

Kích thước bình phong thế nào là vừa phải? Theo Phong thủy, khí được dẫn vào công trình từ cổng hay cửa. Trường hợp cổng và cửa công trình cùng một hướng thì Hỏa khí được dẫn trực tiếp vào mặt trước công trình. Trong kiến trúc truyền thống, cửa giữa là cửa chính để chủ nhân ra vào nên bình phong phải làm sao che kín được cửa giữa. Kinh nghiệm của các thầy Địa lý cho biết, kích thước của bình phong thường lấy từ kích thước của cửa giữa công trình nhưng có gia giảm để làm sao đứng từ trung tâm công trình nhìn ra thì cảm thấy bình phong vừa che kín hết cửa giữa là được. Đó là bề ngang của bình phong, còn chiều cao thì lấy theo mái hiên công trình. Nhà cửa xưa mái hiên thường thấp, chiều cao của bình phong (nhất là nội án) làm sao nhìn ngang bằng mái hiên nếu ta đứng từ trung tâm công trình nhìn ra; còn đối với ngoại án, kích thước là phù hợp nếu ta ngồi trên ghế mà cảm thấy có thể gác hai tay vừa vặn trên đầu bình phong (tức như đặt hai tay trên bàn).

Khoảng cách đặt bình phong (ngoại án) đối với công trình cũng khá linh động nhưng đều có căn cứ vào kích thước công trình. Theo phần lớn các thầy Địa lý, khoảng cách giữa công trình và bình phong (Phong thủy gọi là Tiểu minh đường) thường lấy tương đương với kích thước bề ngang công trình. Tuy nhiên, nếu do hoàn cảnh, ngoại án phải đặt hơi xa thì cần có một lớp bình phong khác hoặc nội án hỗ trợ. Tiêu biểu là trường hợp Kinh thành Huế, do núi Ngự Bình cách Kinh thành đến 3km, Tiểu minh đường hơi rộng hơn bề ngang Kinh thành (chỉ khoảng 2,2km) nên trước mặt Hoàng Thành đã có thêm Kỳ Đài có vai trò như lớp án thứ hai che chắn cho nhà vua.

Ở Việt Nam, có lẽ Huế là nơi còn giữ lại được nhiều kiểu bình phong nhất. Điều này cũng dễ hiểu vì Huế là cố đô cuối cùng của Việt Nam, lại vẫn giữ được khá nguyên vẹn diện mạo của kinh đô thời quân chủ. Nhưng không chỉ trong kiến trúc cung đình mà ngay cả ở đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ… dường như nơi nào chúng ta cũng có thể nhìn thấy những bức bình phong được trang trí cầu kỳ, tinh xảo. Tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế hiện nay vẫn còn giữ được một số bức bình phong tuyệt đẹp, trong đó có cả bình phong bằng gỗ loại một tấm cố định, có cả loại ghép nhiều tấm hình chữ nhật đan bằng mây trên khung gỗ, lại có cả những bức bằng đá, bằng bạc, bằng ngà voi được chạm trổ cực kỳ tinh xảo. Đây thật sự là những kiệt phẩm của các nghệ nhân tiền bối mà mỗi khi đứng trước chúng ta thường có cảm giác như bị mê hoặc hút hồn. Chẳng biết do chúng quá đẹp hay do chúng đã hội tụ được phần nào những điều thần bí của Phong thuỷ.

V. Chú thích:

(1) Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, tập Kinh sư có phần nói rõ về núi Ngự Bình: “ở Tây bắc huyện Hương Thủy, nổi vọt lên ở quãng đất bằng như hình bức bình phong, làm lớp án thứ nhất trước Kinh thành..” ( Bản dịch của Viện Sử học. nxb KHXH, Hà Nội, tr 107). Vua Thiệu Trị đã từng xếp ngọn núi này là một trong 20 thắng cảnh của đất Thần kinh, có thơ vịnh lấy nhan đề là Bình lãnh đăng cao. Bài thơ được khắc vào bia đá, hiện vẫn còn ở chân núi.

(2) Phong thủy không giải thích thật chi tiết vì sao phải dùng triều và án, chỉ thấy truyền lại những câu phú như:
Nguyên văn: Tạm dịch:

Điện tiền hữu án trị thiên kim

Viễn hỉ tề mi cận ứng tâm

Án nhược bất lai vi khoáng đãng

Trung phòng phá hoại hoạ tương xâm.

Trước điện có án ngàn vàng

Xa hợp ngang mày, gần chính giữa.

Án nếu không được khoáng đãng,

Gia đình bị phá, hoạ tìm ngay.

Ngoại sơn tác án diệc kham cầu

Quan bão nguyên cầu khí bất lưu

Túng hữu huyệt tình vô cận án

Trung phòng điên bái tẩu tha châu

Núi xa làm án chẳng mong cầu

Ôm kín nguyên thần khí chẳng thông

Nếu ở gần huyệt không có án

Gia đình điên đáo tẩu phương xa

(3) Lê Qúy Đôn toàn tập, tập I: Phủ biên tạp lục. Bản dịch của Viện Sử học. Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr.112.

(4) Tháng 7 năm 2003, tại cuộc Hội thảo khoa học “Văn hoá dân gian Đông á với hoạt động bảo tồn và triển lãm” (The Preservation and Exhibition of East Asian Culture in Relation to Folk Craft Aesthetics), bà KATAYAMA Mariko (thuộc Bảo tàng Triều Tiên tại thành phố Kyoto, Nhật Bản) đã trình bày một tham luận rất thú vị về sự tương đồng và dị biệt giữa bình phong Hàn Quốc và bình phong Nhật Bản. Chính qua tham luận này tôi mới biết rằng, tại Nhật Bản và Hàn Quốc hiện nay chỉ còn tồn tại loại bình phong chữ nhật ghép từ nhiều tấm gỗ, còn loại bình phong nguyên tấm như kiểu Việt Nam và Trung Quốc đang sử dụng khá phổ biến thì hầu như không còn.

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »