Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm 28th, 2009

Các nội dung chuẩn bị của Festival làng nghề Huế


Pháp lam trang trí ở Đại cung môn
trong Đại nội, do Trung tâm BTDTCĐ
Huế phục chế.
NDĐT – Ông Nguyễn Duy Hiền – Giám đốc Trung tâm Festival Huế nói: “Việc thành phố Huế tổ chức festival (lễ hội) nghề vào các năm lẻ như lâu nay không phải là những cuộc trình diễn nghề. Cái mà chúng tôi đang hướng đến là tham vọng làm những cuộc tái trưng tập các nghệ nhân về Huế…”.
Gốm, sơn mài và pháp lam
Những ngày này, thành phố Huế đang hối hả chuẩn bị cho festival Nghề truyền thống lần thứ 3 năm 2009 (từ ngày 12 đến 14. 6.2009) với chủ đề “Nghề truyền thống – bản sắc và phát triển”, gồm 3 nghề: Gốm sứ, sơn mài, pháp lam.
Theo thông tin từ Ban tổ chức đến nay đã  khẳng định được các nghệ nhân và làng nghề gốm sứ, sơn mài, pháp lam ở Huế và trên cả nước đăng ký tham dự, gồm: (Chu Đậu – Hải Dương; Bát Tràng, Nhung – Hà Nội; Phù Lãng – Bắc Ninh; Hạ Thái – Hà Nội; Thổ Hà – Bắc Giang; Biên Hoà, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh; Bàu Trúc -Ninh Thuận; Gọ – Bình Thuận; Gò Sành – Bình Định; Thanh Hà – Hội An; Châu Ổ – Quảng Ngãi…).
Festival còn có mặt các nhà sưu tầm cổ vật trong cả nước từ Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Bình, TP Hồ Chí Minh, Tuy Hoà, Đà Nẵng, Bình Định, Huế…với các cổ vật gốm sứ, sơn mài, pháp lam độc đáo từ nhiều niên đại, trong đó có nhiều cổ vật quí hiếm được xem là bảo vật.
Lần đầu tiên các cổ vật quý hiếm sẽ được trưng bày và phô diễn bằng các triển lãm “Bộ sưu tập đồ sứ ký kiểu và bộ sưu tập pháp lam”; “Bộ sưu tập các cổ vật Cung đình”; “Chuyện kể từ kho báu dưới lòng sông”; “Dặm dài đất nước qua những cổ vật”. Triển lãm tranh sơn mài của cố hoạ sĩ Đỗ Kỳ Hoàng, các cuộc triển lãm sơn mài của các nghệ sĩ Huế, Hà Nội; Ảnh tư liệu và nghệ thuật “Cây cầu, dòng sông” của các tác giả Pháp và Huế.
Gốm trục vớt dưới dòng sông Hương.
Lễ hội còn có nhiều chương trình nghệ thuật và chương trình hỗ trợ với sự tham gia của các nghệ sĩ Huế, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Chương trình khai mạc đầy sắc màu và ấn tượng trong không gian lãng mạn của cầu Trường Tiền, Sông Hương. Chương trình bế mạc là đêm hội lung linh với lễ rước tôn vinh nghệ nhân và các làng nghề diễn ra trên đường phố Huế…
Đặc biệt năm nay, không gian tôn vinh nghệ nhân và làng nghề không tổ chức trong khuôn viên trường Hai Bà Trưng như mọi năm mà được trải dài dọc bờ sông Hương với những hoạt động nghề sống động, các nghệ nhân sẽ giới thiệu sản phẩm, giao lưu với khách tham quan và thao diễn sản xuất, sáng tạo.
Không phải chỉ là trình diễn nghề…
Festival nghề 2009 còn có hội thảo “Nghề và làng nghề truyền thống Huế, tiềm năng và những trở lực phát triển” với sự tham gia tâm huyết của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và các nghệ nhân nhằm đánh giá sâu tiềm năng, thực trạng, những trở lực và triển vọng cho sự phát triển của nghề và làng nghề truyền thống của một vùng đất vốn là xứ kinh kỳ.
Đặc biệt, lần đầu tiên Hội chợ Triển lãm Làng nghề Việt Nam được tổ chức tại Huế với các hoạt động trưng bày và bán sản phẩm làng nghề, trưng bày chuyên đề “Không gian văn hoá Tre Việt”, hội thảo xúc tiến thương mại và các hoạt động nghệ thuật dân gian 3 miền ở công viên Thương Bạc từ 10 đến 14-6-2009.
Festival nghề truyền thống Huế đã được tổ chức đến lần thứ 3, và đã xuất hiện không ít ý kiến nghi ngờ về tính hiệu quả của lễ hội, nhất là khía cạnh khôi phục các làng nghề đang mai một và thu hút khách du lịch đến Huế.
Theo ông Nguyễn Duy Hiền – Giám đốc Trung tâm festival Huế, đơn vị phối hợp với thành phố Huế tổ chức festival nghề năm 2009, quan điểm cho rằng việc tổ chức các festival nghề “không có tác động tích cực tới các làng nghề trên địa bàn tỉnh TT-Huế” là không chính xác. Bằng chứng là sau khi tổ chức festival nghề nón, thêu vào năm 2005, sau đó hai nghề này đã có những chuyển biến đáng kinh ngạc. Mới đây, Sở KHCN tỉnh TT-Huế đã làm một đề tài khoa học về nón Huế, cũng như lập dự án trồng lá nón để phát triển nghề nón và làm tour phục vụ du lịch.
Hay như trước đây, Huế chỉ còn tồn tại nghề bán vàng, còn nghề làm kim hoàn mỹ nghệ gần như biến mất, tuy nhiên, sau festival nghề kim hoàn và đúc đồng vào năm 2007, nghề kim hoàn ở Huế đã phát triển trở lại, tiêu biểu là nghề đậu của gia đình ông Nguyễn Hữu Nhơn, hay, khu “Tịnh Tâm Kim Cổ” của Duy Mong với các hoạt động du lịch trình diễn nghề.
Rồi nghề mộc Mỹ Xuyên ở xã Phong Hoà, huyện Phong Điền, cũng nhờ festival nghề 2007 mà từ chỗ suy tàn, ngắc ngoải đã hồi sinh, trở thành một trong những địa chỉ mộc nổi tiếng không chỉ ở trong nước như hiện nay…
Festival làng nghề truyền thống Huế được tổ chức vào các năm lẻ, bắt đầu từ năm 2005 với các nghề: Thêu, nón lá; năm 2007 với: Chạm khắc, đúc đồng, kim hoàn.
Festival nghề năm nay với các nghề: Gốm sứ, pháp lam, sớn mài, còn gắn với sự kiện 110 năm cầu Trường Tiền và Chợ Đông Ba được xây dựng ở địa điểm hiện nay.
Ông Nguyễn Duy Hiền khẳng định: “Chúng tôi tổ chức festival nghề không phải để trình diễn, mà nhằm tôn vinh và thúc đẩy nghề phát triển. Trước đây trong lịch sử, triều Nguyễn đã không ít lần trưng tập tất cả những nghệ nhân giỏi nhất của toàn quốc về Huế để xây dựng làng nghề và phục vụ cho vương triều. Bây giờ, chúng tôi lại có tham vọng làm những cuộc tái trưng tập các nghệ nhân về Huế thông qua việc tổ chức festival nghề vào các năm lẻ để góp phần, làm nên sức sống mới cho quần thể di tích Huế đồng thời thu hút khách du lịch”.
Theo ông Hiền, đó mới là mục tiêu sâu xa nhất của việc tổ chức festival nghề. Trên thực tế, việc “tái trưng tập nghệ nhân” về Huế đã được thực hiện trong nhiều năm qua, và đã thu được những kết quả rất khả quan. Điển hình là việc nghệ nhân Trịnh Bách phục dựng trang phục vua chúa thời Nguyễn; Trung tâm BTDTCĐ Huế phục chế, sản xuất thành công ngói lưu ly và pháp lam…
Tường Minh
Advertisements

Read Full Post »

Một nghề không có làng nghề tại Festival làng nghề truyền thống Huế 6/2009.


Pháp lam tấm phẳng, trang trí cổ diềm
Điện Sùng Ân – Lăng Minh Mạn
Pháp lam, một trong ba nghề được tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009 (cùng với Gốm và Sơn mài) là một trong những nghề độc đáo bởi chỉ có ở Huế. Lạ hơn, đây là nghề duy nhất không có làng nghề.
Hơn 200 năm vắng bóng
Pháp lam là những tác phẩm mỹ thuật hay các chi tiết trang trí trong kiến trúc Huế, cốt làm bằng đồng đỏ, bên ngoài phủ các lớp men nhiều màu tạo nên các họa tiết rực rỡ màu sắc.
Pháp lam có một lịch sử rất lâu đời với việc những sản phẩm pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước công nguyên khi những người thợ kim hoàn Mycenaean tráng men thuỷ tinh trên những đôi khuyên tai bằng vàng. Kể từ đó các nền văn minh trên toàn thế giới đã du nhập kỹ thuật pháp lam vào các hình thức nghệ thuật riêng biệt của họ.
Nghệ thuật chế tác pháp lam được du nhập Việt Nam vào năm Minh Mạng  thứ 8 (1827). Bấy giờ, có một nhóm thợ vẽ ở Nội Tạo, cơ quan chuyên việc trang trí trong cung Nguyễn, học được nghề làm pháp lam từ Trung Hoa. Nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục, gồm 15 người, do Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Xưởng chế tác pháp lam được đặt ở khu Canh Nông trong Thành nội. Ngoài ra, triều đình còn mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình) để sản xuất pháp lam, đáp ứng các nhu cầu của triều đình.
Một số mẫu pháp lam mỹ nghệ mới do Trung tâm BTDTCĐ Huế sản xuất
Pháp lam Huế có nhiều loại hình sản phẩm, tập trung thành ba nhóm chính: pháp lam trang trí ngoại thất các cung điện Huế; pháp lam trang trí nội thất và các đồ tự khí, đồ gia dụng làm bằng pháp lam.
Trong đó, được chú ý nhiều nhất là loại hình pháp lam trang trí ngoại thất: những chi tiết trang trí hình rồng, mây… gắn ở các bờ nóc, bờ quyết của cung điện và các cửa tam quan trong lăng tẩm các vua Nguyễn; các ô hộc trang trí theo lối “nhất thi, nhất họa” ở cổ diềm, đầu hồi, bờ mái… các ngôi điện lớn như điện Thái Hòa, điện Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh); những bức hoành trước mộ vua Minh Mạng và trước điện Thái Hòa; các đồ án mây ngũ sắc, bầu thái cực các ô hộc trang trí bát bửu, tứ quý… chính giữa bờ nóc Minh Lâu, điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng), điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức) hay ở bờ nóc bờ quyết của điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị)…
Pháp lam Huế khởi nguyên từ triều Minh Mạng, phát triển rực rỡ dưới triều Thiệu Trị sang đến triều Tự Đức thì phôi pha dần rồi mất hẳn. Sau đó do chiến tranh và những biến động của lịch sử, kỹ nghệ này đã thất truyền gần 200 năm nay. Do thời gian thất truyền quá lâu nên người dân Việt Nam và ngay cả người Huế đều cảm thấy xa lạ với thuật ngữ “Pháp lam”.
Hồi sinh Pháp lam
Cách đây hơn 10 năm, một số nhà khoa học ở Huế như TS Nguyễn Nhân Đức (Đại học Y Dược Huế); Trần Đình Hiệp (Công ty Xây lắp Huế); Đỗ Hữu Triết (Trung tâm BTDTCĐ Huế)…đã tiến hành nghiên cứu phục hồi Pháp lam Huế và đã thu được những kết quả khả quan đến ngỡ ngàng.
Những sản phẩm pháp lam mới đã bắt đầu xuất hiện sau một thời gian dài vắng bóng gần hai thế kỷ, và đã được Trung tâm BTDTCĐ Huế ứng dụng trong việc phục hồi các trang trí pháp lam ngoại thất ở các công trình di tích Huế và đã có được những thành công bước đầu như phục hồi pháp lam của tháp Phước Duyên di tích chùa Thiên Mụ, các phường môn trong Đại Nội, lăng vua Minh Mạng, trang trí ô hộc và bờ nóc của công trình Điện Biểu Đức lăng vua Thiệu Trị…
Pháp lam trang trí bên ngoài điện Thái Hoà
Song song với việc trùng tu di tích, năm 2004, ông Đỗ Hữu Triết đã đứng ra thành lập công ty cổ phần kỹ nghệ pháp lam Sao Khuê để “phục hồi lại được kỹ nghệ sản xuất pháp lam, phục hồi lại những di sản văn hoá độc đáo đã bị thất truyền qua những sản phẩm pháp lam mỹ nghệ của công ty”.
Sản phẩm mỹ nghệ pháp lam của Sao Khuê khá đa dạng. Tất cả đều được làm trên chất liệu đồng đỏ, gồm các bức tranh dân gian, các hoạ tiết trang trí truyền thống. Các đồ vật trang trí phục chế dựa theo các mẫu pháp lam cổ, và các đồ vật trang trí theo thiết kế mới.
Đặc biệt, các hoạ sỹ của Sao Khuê còn còn cho ra đời những sản phẩm mang tính nghệ thuật cao, bao gồm cả hội hoạ truyền thống và hội hoa đương đại, mở ra một xu hướng mới cho việc ứng dụng men màu pháp lam.
Pháp lam sẽ là một nghề thủ công
Theo ông Đỗ Hữu Triết thì mặc dù đã đạt được những thành quả ngoài mong đợi, tuy nhiên xét về góc độ kỹ thuật, mỹ thuật và về góc độ phổ quát rộng rãi để Pháp lam thực sự là một nghề thủ công thì chúng tôi vẫn (và nhiều người khác) chưa làm được như tầm vóc đáng có của nghề thủ công này.
Hiện tại, ông Triết cùng các cộng sự của Trung tâm BTDTCĐ Huế đang thực hiện đề tài “nghiên cứu, ứng dụng và phát huy nghề thủ công truyền thống Pháp lam”.
Theo ông Đỗ Hữu Triết thì thế giới có tất cả 17 loại hình kỹ thuật Pháp lam, tuy nhiên đến thời điểm này, Trung tâm BTDTCĐ Huế mới chỉ làm được có 3 loại. Mục tiêu mà ông Triết cùng đội ngũ làm Pháp lam của Trung tâm hướng tới là đạt trình độ của thế giới.
Đề tài gần như là một cuốn cẩm nang dạy nghề làm Pháp lam rất tỷ mỉ gồm: Một số chú giải trong kỹ nghệ và lịch sử Pháp lam; Dụng cụ và nguyên vật liệu để chế tạo sản phẩm Pháp lam (Lò nung – cách chế tạo, Chế tạo men và men màu); Khái quát kỹ thuật cơ bản chế tác Pháp lam (Chế tác và xử lý nguyên liệu kim loại, kỹ thuật tráng và nung men); Kỹ thuật hoạ pháp lam phục chế; Kỹ thuật hoạ pháp lam bảo quản phục hồi; các kỹ thuật làm pháp lam như: hoạ pháp lam hiện đại, pháp lam ô hộc (Champleve), thấu minh pháp lam (Basse taille)….
Ngoài ra còn có các kỹ thuật hỗ trợ khác như:  Kỹ thuật đúc đồng (áp dụng kỹ thuật đúc đồng truyền thống, cải tiến công đoạn làm khuôn và hỗ trợ hút chân không trong công đoạn đúc rót). Kỹ thuật chạm khảm kim loại (áp dụng kỹ thuật chạm truyền thống làng nghề Chạm bạc Đồng Xâm-Thái Bình, cải tiến công đoạn làm khuôn dập cho các sản phẩm nhỏ). Kỹ thuật ăn mòn kim loại. Kỹ thuật làm khuôn in bằng lụa….
Theo ông Đỗ Hữu Triết thì đây việc giới thiệu rộng rãi các kỹ thuật sản xuất pháp lam, lịch sử phát triển của kỹ nghệ pháp lam ra công chúng là một bước để giới thiệu và tạo điều kiện hỗ trợ cho ngành thủ công  truyền thống phát triển (Pháp lam kết hợp với đồ gỗ, Sơn mài…).
Sự kết hợp phong phú và đa dạng các ngành nghề thủ công truyền thống trong  sản phẩm pháp lam vừa tạo sự hấp dẫn riêng biệt mang đậm nét văn hóa truyền thống cho sản phẩm vừa là một cầu nối cho các ngành truyền thống có thể kết hợp lại với nhau.
Cũng theo ông Triết, đây là đề tài mới và tính hữu ích cao bởi các đề tài Pháp lam đã được thực hiện trước đây chủ yếu là nhằm phục vụ việc phục chế với hình thức Họa pháp lam, chưa có đề tài mang tính kỹ thuật tổng quát cho nhiều loại pháp lam trong đó kết hợp và phát huy cùng các ngành thủ công truyền thống khác.
Trong Festival làng nghề truyền thống Huế vào đầu tháng 6 tới, Trung tâm BTDTCĐ Huế sẽ đại diện cho “làng nghề” Pháp lam để tham gia với các hoạt động: Trưng bày các sản phẩm Pháp lam nguyên gốc, phục chế và phát triển thành các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Giới thiệu về lịch sử Pháp lam. Đặc biệt, Trung tâm sẽ mở một quy trình sản xuất Pháp lam nhỏ để hỗ trợ cho du khách trực tiếp sản xuất các mặt hàng lưu niệm.
TƯỜNG MINH – Baomoi

Read Full Post »

Gốm cổ Quảng Đức – Hình ảnh tham khảo

1. TỪ MỘT Ý TƯỞNG…

Cuối năm 2007, nhân dịp tổng kết hoạt động trong năm đầu tiên của CLB UNESCO Nghiên cứu-Sưu tầm cổ vật Phú Yên, chúng tôi đề xuất nhiều ý tưởng cho các hoạt động liên quan đến công tác bảo tồn, quảng bá 400 năm Phú Yên qua gốm cổ Quảng Đức với ông Đào Tấn Lộc, Bí thư Tỉnh uỷ Phú Yên, Hội viên danh dự CLB UNESCO Nghiên cứu-Sưu tầm cổ vật Phú Yên. Một trong những ý tưởng đó là cuộc hội ngộ giữa gốm cổ Gò Sành Bình Định và gốm cổ Quảng Đức nhân một dịp nào đó.

DSC1-080908.jpg
Khách xem một chóe cổ Quảng Đức.


Festival Tây Sơn-Bình Định 2008 là sự kiện văn hóa lớn lần đầu tiên tỉnh Bình Định muốn quảng bá những giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc của quê hương mình và những tiềm năng đang được đánh thức của một vùng đất đang trở mình vươn lên trong xu thế hội nhập với bè bạn gần xa. Thế là chủ nhân Bảo tàng Gốm cổ Gò Sành Vijaya Chămpa- ông Nguyễn Vĩnh Hảo-quyết tâm phối hợp với Phú Yên tổ chức cuộc triển lãm này.  Triển lãm khai mạc vào chiều 24/7/2008 và kéo dài đến 30/8/2008 tại 173 Lê Hồng Phong, TP Quy Nhơn, Bình Định. Không ngờ, giữa hàng loạt hoạt động văn hoá thể thao trong những ngày diễn ra festival trên vùng đất võ trời văn, những hiện vật trong bộ sưu tập gốm cổ Quảng Đức Phú Yên  cùng với hiện vật gốm Gò Sành của ông Nguyễn Vĩnh Hảo, đã hợp thành một triển lãm bề thế, sống động…

2. ĐẾN MỘT KHÔNG GIAN VĂN HOÁ ĐẬM ĐẶC…

Hàng trăm bình vôi gốm cổ Quảng Đức được trưng bày trên một tấm phản xưa, lớp lang, không theo một chủ ý gì, nhưng thoạt trông đã thấy ấn tượng. Sự phong phú của hiện vật gốm cổ Quảng Đức với nhiều loại hình như bình vôi, nậm rượu, hũ đựng rượu, choé-vò các loại, các kích cỡ với màu sắc đa dạng đã tạo nên những sắc thái rất riêng của dòng gốm này. Đa số hiện vật gốm cổ Quảng Đức được sưu tập từ các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên và cả vùng Đông Nam bộ, Tây Nam bộ khi nạo vét các kênh rạch ở đây, trong đó có một số bình vôi có đề chữ nôm trên thân gốm. Trong đó, có một số hiện vật cùng hiện diện với gốm Gò Sành được tìm thấy trong con tàu đắm ở Bình Thuận. Đáng chú ý nhất trong bộ sưu tập gốm cổ Quảng Đức là hai chiếc bình vôi từng nằm trong bộ sưu tập của Ngô Đình Cẩn (em trai của Ngô Đình Diệm), đã sang tay một nhà sưu tập khác trước khi về với Phú Yên.

DSC-080908.jpg

100 chiếc bình vôi cổ Quảng Đức

 


Bên những hiện vật gốm Gò Sành, với kiểu dáng lịch lãm của những món đồ ngự dụng, sự tinh tế đến nao lòng của tượng gốm, là vẻ thô mộc, kín đáo của dòng gốm Quảng Đức. Ông Phan Đình Phùng, Phó Giám đốc Sở Văn hoá – Thể thao-Du lịch  Phú Yên, sau khi cắt băng khai mạc triển lãm đã trò chuyện với người xem. Rằng, “ …Sự giản dị, mộc mạc, có phần xù xì, thô ráp của gốm cổ Quảng Đức với màu men giản dị, khiêm nhường nhưng rất bí ẩn đã tạo nên sự hấp dẫn, ấn tượng đối với các nhà nghiên cứu cũng như những người sưu tầm. Gốm cổ Quảng Đức không chỉ phổ biến, đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân Phú Yên, người dân các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên, Nam Bộ mà còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Gốm cổ Quảng Đức là một trong những di sản văn hoá tiêu biểu của tỉnh Phú Yên…”

Cả hai dòng gốm như cùng nhau toát lên, sau dáng vẻ thân thương của gốm, là những câu chuyện về lịch sử-văn hoá dài lâu của một vùng đất vốn một thời, từng là 2 trung tâm sản xuất gốm trên bản đồ gốm cổ Việt Nam. Tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có một bản đồ đánh dấu hai trung tâm sản xuất gốm Gò Sành, Bình Định và Quảng Đức, Phú Yên, một của vùng đất Champa xưa, một của vùng biên viễn Phú Yên, nằm trong thừa tuyên Quảng Nam đạo của Đại Việt thời Lê Thánh Tông.

Nếu như gốm Gò Sành là dấu ấn vàng son dưới vương triều Vijaya  Champa xưa, thì gốm cổ Quảng Đức là một câu chuyện về sự lan tỏa, chuyển dời và phát triển từ trung tâm gốm cổ Gò Sành đến trung tâm gốm cổ Quảng Đức. Tất nhiên cũng như những dòng gốm khác, gốm Quảng Đức cũng kế thừa kỹ thuật chế tác, việc tạo men màu từ gốm sứ Trung Hoa hay các dòng gốm bản địa của người Chăm có trước khi dòng gốm Quảng Đức ra đời. Cách đây gần 400 năm, một dòng họ Nguyễn ở Bình Định mang nghề vào vùng đất Ngân Sơn (nay thuộc xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên). Có ý kiến cho rằng: gốm cổ Quảng Đức chính là sự tiếp nối dòng gốm Gò Sành Bình Định. Nhưng khi dòng họ Nguyễn đến vùng đất Ngân Sơn với những thuận lợi cho nghề, nhất là về nguyên liệu, nhiên liệu đốt lò và đặc biệt là giao thông thủy để vận chuyển tiêu thụ gốm, chính trên vùng đất mới này, những nghệ nhân xưa đã cho ra đời một dòng gốm mới Quảng Đức không lẫn vào đâu được với những đặc trưng riêng của nó.

DSC2-080908.jpg

Hai bình vôi cổ Quảng Đức từng nằm trong bộ sưu tập của Ngô Đình Cẩn.

 


Qua tìm hiểu bước đầu chúng tôi nhận thấy: gốm Quảng Đức cũng là sự kết tinh của đất và lửa nhưng được làm bằng những nguyên liệu và kỹ thuật nung độc đáo. Đất sét lấy ở vùng An Định, tạo men màu nhờ hỏa biến sò huyết ở đầm Ô Loan nổi tiếng trong quá trình nung, nhiên liệu đốt lò dùng toàn cây chành rành và củi bằng lăng, một loại cây đặc trưng của vùng An Thạch. Lúc thịnh hành, gốm Quảng Đức được bán đi nhiều nơi trong nước. Trong hàng ngàn cổ vật trên con tàu đắm Bình Thuận, bên cạnh gốm sứ thuộc các lò nổi tiếng Cảnh Đức Trấn, Đức Hóa (Trung Hoa), còn có cả gốm Gò Sành Bình Định và gốm Quảng Đức Phú Yên. Điều này cho thấy, gốm Gò Sành và Quảng Đức đã có vị thế nhất định trên hải trình giao lưu văn hóa, không chỉ trong nước…

3. VÀ CHÚT TÌNH CHO QUÊ HƯƠNG…

Sự hiện diện của hai dòng gốm trong không khí náo nức của những ngày Festival Tây Sơn-Bình Định 2008 cho thấy, đã có một sự lan tỏa rồi  trở về, hội tụ, thể hiện từ gốm và qua gốm. Điều này nhắc nhở những người yêu gốm cổ nhiều điều, nhất là chúng ta phải làm gì để tiếp tục tôn vinh những giá trị về nhiều mặt của gốm cổ Gò Sành và Quảng Đức? Phải làm gì để tôn vinh hai dòng gốm độc đáo, nơi hội tụ những giá trị phản ánh diện mạo văn hóa của hai vùng đất Bình Định và Phú Yên?

Không phải ngẫu nhiên mà trong gần một tháng trưng bày, cuộc triển lãm chuyên đề gốm cổ từ Gò Sành đến Quảng Đức đã thu hút khá đông du khách trong và ngoài nước. Đặc biệt, việc đến xem triển lãm của các đồng chí Nguyễn Văn An, Nguyên Chủ tịch Quốc hội, Trương Mỹ Hoa, nguyên Phó Chủ tịch nước, Lãnh đạo tỉnh, Lãnh đạo ngành Văn hoá Thể thao Du lịch hai tỉnh Bình Định, Phú Yên đã giúp những người yêu gốm cổ Gò Sành và Quảng Đức có thêm nhiều ý tưởng để cùng với ngành văn hoá Phú Yên chuẩn bị các hoạt động hướng đến 400 năm Phú Yên.

DSC3-080908.jpg

Lãnh đạo ngành VHTTDL Bình Định & Phú Yên cắt băng khai trương triển lãm.

 


Điều mà giới sưu tầm và các nhà nghiên cứu quan tâm là vì sao tất cả gốm cổ Quảng Đức đều có dấu vỏ sò dính trên thân và màu men khá đặc trưng. Trên thế giới, việc sử dụng vỏ sò để đo nhiệt độ lò đã xuất hiện khá sớm, song, việc dùng sò huyết tạo nên hiện tượng hoả biến trong quá trình nung để làm nên nhiều sắc màu cho sản phẩm thì chỉ thấy nhiều ở gốm cổ Quảng Đức. Đây cũng chính là vấn đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu và những người yêu gốm tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu thấu đáo. Để từ đó, có những thông tin mang tính khoa học, những công bố không chỉ cho Việt Nam mà cả cho thế giới biết rằng, vùng đất Aryaru Phú Yên đang tiến dần đến cột mốc 400 năm hình thành và phát triển có một di sản văn hoá độc đáo như thế. Ấy cũng chính là chút tình dành cho quê hương đã sản sinh ra dòng gốm này của những ai yêu gốm cổ Quảng Đức, một sản phẩm của làng nghề bên dòng Ngân Giang đã đi vào quá vãng…

Dưới đây là một số hình ảnh chúng tôi sưu tầm để giúp nhận diện gốm Quảng Đức khi gặp. Click trên hình để phóng lớn.

 


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Hơn 100 bức tranh và thư họa của Tề Bạch Thạch.

MP

Tề Bạch Thạch (Qi BaiShi) 齊白石 tên thực là Tề Thuần Chi, tự là Vị Thanh, biệt hiệu Lan Đình. Năm 27 tuổi học vẽ, được thầy là Hồ Thâm Viên đặt tên cho là Hoàng (nghĩa là ngọc hình bán nguyệt), tự là Tần Sinh, hiệu là Bạch Thạch.

Ông còn vô số tên hiệu khác, chẳng kém gì hai đại danh họa Nghê Vân Lâm (đời Nguyên) và Thạch Đào Hòa Thượng (đầu đời Thanh.) Đại khái có thể kể như: Tề Đại, A Chi, A Trường, Mộc Nhân, Lão Mộc, Lão Mộc Nhất, Mộc Cư Sĩ, Ký Viên, Ký Bình, Lão Bình, Bình Ông, Ký Bình Đường Lão Nhân, Bạch Thạch Sơn Ông, Bạch Thạch Lão Nhân, Tá Sơn Ngâm Quán Chủ Giả, Tinh Đường Lão Ốc Hậu Nhân, Hạnh Tử Ô Lão Dân, Tam Bách Thạch Ấn Phú Ông…

Sinh ra và lớn lên ở nông thôn, một thời gian dài Tề Bạch Thạch tắm mình trong cuộc sống của nhân dân lao động. Vì vậy, đề tài trong tranh ông luôn gắn bó với cuộc sống đời thường của người lao động.

Tề Bạch Thạch sinh năm 1863 (có sách ghi 1861) trong một gia đình nông dân rất nghèo. Thuở nhỏ cậu chỉ được học nửa năm rồi phải nghỉ để chăn trâu, đốn củi giúp gia đình. Hơn 10 tuổi cậu trọ học nghề thợ mộc và tỏ ra rất có năng khiếu trong kỹ xảo chạm trổ hoa văn trên gỗ. Cho đến gần 30 tuổi Tề Bạch Thạch đã kiếm sống được bằng nghề vẽ tranh.

Chuyên tâm nghiên cứu, miệt mài khổ luyện, cuối cùng Tề Bạch Thạch đã nắm bắt được bí quyết của tranh quốc họa. Từ đó, tranh ông là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, mang đậm dấu ấn của một phong cách tài hoa.

Sinh ra và lớn lên ở nông thôn, một thời gian dài Tề Bạch Thạch tắm mình trong cuộc sống của nhân dân lao động. Vì vậy, đề tài trong tranh ông luôn gắn bó với cuộc sống đời thường của người lao động. Cải bẹ trắng, củ cải dưới đất, các loài chim nhỏ trên trời, tôm cua dưới nước và hoa cỏ trên đồng… hiện lên trong tranh Tề Bạch Thạch vô cùng sinh động, được đông đảo nhân dân ưa thích.

Vừa khiêm tốn học tập các nhà nghệ thuật tiền bối vừa không ngừng tìm tòi sáng tạo nghiên cứu tỉ mỉ đối tượng miêu tả trước khi đặt bút vẽ, tranh của Tề Bạch Thạch càng ngày càng nổi tiếng. Từ nhỏ Tề Bạch Thạch đã rất yêu thích loài tôm và đề tài này luôn trở đi trở lại trong tranh ông. Ông thường đến bên bờ nước để quan sát chúng. Năm 57 tuổi Tề Bạch Thạch đã vẽ tôm hết sức thành công. Tuy nhiên, ông cho rằng những con tôm ấy chỉ mới giống về bề ngoài còn “đặc điểm tinh thần” của chúng thì vẫn chưa được thể hiện đầy đủ. Thế là, Tề Bạch Thạch mua tôm sống về nuôi. Ông quan sát rất kỹ và phát hiện ra rằng khi tôm bơi trong nước, hai mắt nó đưa ngang ra, lại nữa, thân tôm sống thường trong suốt. Vì vậy, Tề Bạch Thạch đã dùng mực có độ đậm nhạt khác nhau để vẽ thân tôm. 23 năm sau, khi Tề Bạch Thạch 80 tuổi, tôm trong tranh ông đạt đến đỉnh điểm tuyệt vời của nghệ thuật hội họa. Năm 1953, khi Tề Bạch Thạch tròn 90 tuổi, ông được Bộ Văn hóa Trung Quốc phong tặng danh hiệu “Nhà nghệ thuật kiệt xuất của nhân dân Trung Quốc”. Năm 1956 ông được vinh dự nhận “Giải thưởng Hòa bình quốc tế”. Tề Bạch Thạch mất năm 1957.

Dưới đây là hơn 100 bức tranh của Tề Bạch Thạch. Click trên hình để phóng lớn tranh thích xem.

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Rồng phương Đông và Rồng phương Tây

Rồng, ra đời ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người, là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của con người, nhằm nhận thức và khám phá thế giới. Cả phương Đông và phương Tây đều có biểu tượng rồng, song do đặc điểm của mỗi nền văn hóa mà rồng phương Đông có những nét khác rồng phương Tây.

Nguồn gốc và các truyền thuyết về rồng; ý nghĩa tượng trưng của biểu tượng rồng; Việc tìm hiểu những nét khác biệt của biểu tượng này ở phương Đông và phương Tây tuy có được nhắc đến trong một số nghiên cứu, nhưng chưa được làm rõ một cách hệ thống và toàn diện. Chính vì truyền thuyết cũng như hình tượng rồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, nên có thể sử dụng nó như một cứ liệu để tìm hiểu về truyền thống văn hóa phương Đông và phương Tây; cũng như sự khác biệt giữa hai nền văn hóa. Phương pháp sử dụng là so sánh type, motip của truyền thuyết; tính chất biểu tượng rồng; hình tượng rồng trong nghệ thuật tạo hình.

orientaldragon

1. Sự nhìn nhận của phương Đông về rồng

Rồng, một biểu tượng văn hóa, ra đời từ sự nỗ lực của con người trong việc tìm hiểu và nhận thức thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, ở hai nền văn hóa Đông và Tây, sự nhìn nhận về rồng lại được quyết định bởi bản chất và đặc thù của mỗi nền văn hóa. Nếu phương Tây coi rồng là biểu tượng cho sự xấu xa, độc ác, là đối tượng mà con người cần phải chinh phục; thì ngược lại phương Đông lại xem rồng là biểu tượng cho sự tốt đẹp, may mắn và thịnh vượng. Rồng trong truyền thuyết, huyền thoại phương Đông thường được mô tả khác với rồng của phương Tây cả về dáng dấp và tính khí.

Ở phương Đông, rồng là biểu tượng của bản nguyên tích cực và sáng tạo, là sức mạnh của sự sống. Nguồn gốc sâu xa của biểu tượng này là do điều kiện tự nhiên (địa lý – khí hậu) và xã hội (lịch sử – kinh tế) qui định. Môi trường sống của các cộng đồng cư dân ở phương Đông là xứ nóng, mưa nhiều, tạo nên những vùng đồng bằng nằm trong các lưu vực các con sông lớn. Yếu tố sông nước quan trọng với người phương Đông, vì vậy họ đã sáng tạo rồng với ý nghĩa đầu tiên là biểu tượng cho nước – sự phong đăng, mùa màng bội thu. Cả hai mặt hoạt động có lợi cũng như phá hoại của nước đều được xem là do rồng thúc đẩy. Cũng chẳng có gì là lạ khi những vị thần đầu tiên trong tín ngưỡng xa xưa của phương Đông là những vị thần có liên quan đến nước. Mùa màng bội thu hay không là phụ thuộc vào yếu tố nước. Do đấy, thần nước cũng chính là thần Rồng. Quan niệm của phương Đông về rồng trong buổi đầu là: Đấng tối cao của không khí/ Hơi thở mầu nhiệm của người toả khắp/ Điều khiển mây/ Chứa đựng khí ẩm ướt/ Làm mưa dịu mát trái đất (1). Theo Ernest Ingersoll: “Khái niệm nằm trong chữ “rồng” có từ lúc bắt đầu những suy nghĩ được ghi lại của con người về những điều bí ẩn của nhà tư tưởng và thế giới của anh ta. Nó gắn liền với những quyền lực và hành động của các vị thần đầu tiên, và giống như những quyền lực cùng hành động đó, nó mơ hồ, dễ thay đổi và mâu thuẫn trong các thuộc tính của nó, chỉ duy trì từ đầu đến cuối một đặc điểm có thể xác định – kết hợp với nước và kiểm soát nước”(2).

Sau này, trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc phương Đông, rồng dần được gán thêm các ý nghĩa mới phù hợp với tính chất của thời đại như biểu tượng nguồn gốc dân tộc, vương quyền, cao sang, may mắn, thịnh vượng,…

Ở Trung Hoa xưa, người ta xem rồng là tinh linh núi, là thần linh bảo hộ năm vùng, nghĩa là bốn phương và vùng trung tâm; là kẻ bảo vệ năm hồ bốn biển (có nghĩa là mọi hồ, mọi biển). Về khả năng của rồng, trong dân gian Trung Hoa có rất nhiều truyền thuyết cho rằng rồng có khả năng hô gió gọi mưa, có thể đội sông lật bể, gọi mây che mặt trời. Đối với người Nhật, con rồng là chủ yếu trong những vật lý tưởng ở Nhật Bản. Đối với người Triều Tiên, rồng là một trong bốn con vật siêu tự nhiên có phép lạ. Nó là hiện thân của mọi sức di động, thay đổi và năng lực để tiến công. Về mùa xuân, nó bay lên trời, và về mùa thu nó náu mình dưới đáy nước sâu. Ngày xưa người Triều Tiên tin là các sông suối cũng như các đại dương bao quanh Triều Tiên là nơi ở của một con rồng, và người dân thường cứ đúng kỳ lại thờ cúng quyền lực này. Sự quan trọng của việc biểu lộ niềm tôn kính hình thức lớn đến thế với rồng là do rồng kiểm soát mưa và cần được người ta làm cho vui vẻ để cho mùa màng khỏi bị nguy hiểm vì mưa không đủ, hơn nữa nó có khả năng làm phiền nhiễu nhiều cho những người chèo thuyền và những thủy thủ ở biển khơi trừ khi nó được người ta làm cho dịu lòng một cách thích đáng. Do đó, không những các người dân nông thôn và người làm ruộng ở nông trại, mà cả chủ tàu bè muốn có thời tiết thuận lợi để đi xa, đều làm lễ cầu an; không những các chiến thuyền lớn, mà cả các thuyền chở hàng hóa, thuyền đánh cá, đò, phà,… đều mỗi loại làm một thứ lễ riêng để đảm bảo an toàn. Lễ đó được coi như một thứ cống nộp cho thần nước. Đối với người Việt Nam, trong ký ức dân gian thần mưa và thần nước mang hình hài một con rồng to thường xuyên ra biển Đông hút nước mang vào đất liền tưới tắm cho đất đai.Rồng là nguồn nước tưới cho ruộng đồng tốt tươi và giúp nhà nông hình thành kinh nghiệm dân gian: Rồng đen lấy nước thì nắng/ Rồng trắng lấy nước thì mưa…

Được xem là vua của tạo sinh động vật, nên dễ hiểu rồng là biểu tượng của điềm lành, sự may mắn và tốt đẹp đối với phương Đông. Trong truyền thuyết, thần thoại của phương Đông, dù cốt truyện có khác nhau nhưng rồng bao giờ cũng ẩn chứa ý nghĩa là một biểu tượng cho sự cao quý tốt đẹp. Đối với một số quốc gia phương Đông, rồng là biểu tượng cho nguồn gốc dân tộc. Người Việt xưa tự hào mình là “Con Rồng cháu Tiên”. Tộc Hạ có tô tem rồng và cũng xưng là “Tộc rồng”(3). Bà mẹ thủy tổ của dân tộc Khơme là con gái vua huyền thoại Naga, một động vật huyền thoại có tính cách như rồng. Nữ thần Pônaga (còn gọi là Pô Nưga) là bà tổ của người dân Chămpa. Các vị thần nói trên vừa mang ý nghĩa biểu tượng của sông nước, vừa mang ý nghĩa phong đăng gắn với các nghi lễ nông nghiệp, vừa mang ý nghĩa về nguồn gốc dân tộc. Rồng hiện lên là điềm báo đất nước sẽ có vị minh quân hay hiền nhân, hoặc tôn phong những triều đại tốt đẹp. Thế kỷ XI, vua Lý Công Uẩn dời kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La và đã đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long để thể hiện khát vọng và tư thế vươn lên của một dân tộc. “Thế kỷ XV, vua Xêthathilat cho dời kinh đô từ Luông Pha băng ra Viêng Chăn và đặt tên thủ đô là Xỉ Xattanahutta, có nghĩa là kinh đô của hàng triệu con rồng nhằm biểu dương sức mạnh của vương quốc (4).

Đối với phương Đông, rồng được xem là con vật nằm trong cung hoàng đạo, trong số 12 con vật. Rồng hiện diện trong nhiều loại hình nghệ thuật như trong múa, kịch; trang trí trên điêu khắc, kiến trúc… Múa rồng là một sinh hoạt văn hóa truyền thống của phương Đông, nhất là ở các vùng nông nghiệp trồng lúa nước. Hầu hết các quốc gia phương Đông đều có điệu múa rồng vào các ngày lễ Tết cổ truyền. Rồng mang màu sắc rực rỡ, uốn lượn theo nhịp trống rộn rã tạo không khí hội hè, biểu thị niềm vui sướng, hạnh phúc cho tất cả mọi người, cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu… Ngày đầu năm mới ở Inđônêxia, một đoàn người trẻ tuổi đội lốt rồng bằng giấy nhảy múa trên đường, trong khi những người dân đổ dồn ra ở các cửa sổ dâng lên rồng những mớ rau cải xanh mà nó nhai ngốn trong niềm vui lớn của mọi người. Bộ phận người Inđônêxia ở Hà Lan vẫn duy trì nghi lễ hàng năm này trên các đường phố Amsterdam.

Quan niệm rồng là cao quý, tốt đẹp đã dẫn đến ở phương Đông thời kỳ xa xưa có nơi người ta coi những xương hóa thạch từ lâu là bộ xương cũ kỹ của những con rồng và đã sử dụng chúng như một dược liệu để chữa bệnh.

Cho đến ngày nay, theo thói quen khi nói về các quốc gia phát triển với ý nghĩa khen ngợi người ta vẫn sử dụng chữ “rồng”, chẳng hạn: Nhật Bản, Singapo, Đài Loan… được gọi là những con rồng châu á, hàm ý chỉ về khả năng tiềm ẩn, sự vượt trội…

Nhìn chung, rồng mang ý nghĩa tốt lành ở phương Đông, tuy nhiên đôi khi cũng có những trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn với người Nhật, rồng bên cạnh ý nghĩa nguồn nước, mùa màng phong đăng, thì còn là biểu hiện của cái xấu. Thần Fudô khuất phục một con rồng chính là đã thắng sự ngu dốt và tối tăm. Đó là biểu hiện về sự pha trộn, ảnh hưởng của biểu tượng rồng phương Tây với biểu tượng rồng phương Đông.

Về hình dạng, rồng phương Đông là sự hỗn hợp của nhiều loài động vật khác nhau: đầu lạc đà, sừng của hươu, tai của bò, mắt của thỏ, mình rắn phủ đầy vẩy cá, vẩy theo hàng xương rồng cho tới quanh mồm, đuôi rắn tận cùng bằng vây sắc nhọn, chân phối hợp giữa chân hổ và gót móng chim ưng, phần phụ ở vai và háng như những tia lửa, hơi thở của rồng bao gồm mây và nước. Số móng của rồng bình thường có bốn hàng, riêng rồng của nhà vua thì có năm hàng (5). Tuy nhiên, mỗi dân tộc lại có sự sáng tạo riêng của mình trong đề tài rồng. Chẳng hạn, mô típ Cửu long của Trung Hoa là dựa theo truyền thuyết Chín rồng giỡn nước. Tương truyền, thời xa xưa việc làm mưa gió là do một con rồng điều khiển. Nhưng nó không có cách nào để làm cho nơi nơi đều mưa thuận gió hòa. Rồng tâu với Ngọc Hoàng cử thêm mấy con rồng nữa để cùng nó điều khiển gió mưa. Ngọc Hoàng chuẩn tấu, sai tám con rồng nữa xuống hạ giới và phong cho con rồng ấy làm đầu đàn. Nhân dân khắp nơi vui mừng đón tiếp. Chín con rồng ăn uống thoả thích, say túy lúy, hăng hái làm gió mưa khiến khắp nơi lụt lội, nhấn chìm làng mạc. Rồi chín con rồng rủ nhau bay lên núi cao, rừng sâu ngủ một giấc dài. Khi nạn lụt qua đi, vào vụ mùa, người dân cầu có mưa thì chẳng được, kéo dài triền miên mấy tháng đại hạn không một giọt nước. Khi con rồng đầu đàn tỉnh giấc, nó cố sức gọi gió kêu mưa, còn tám con kia không con nào chịu hành động. Lụt lội, hạn hán làm cho nhân dân khắp nơi đau khổ, họ đồng thanh ta oán trời. Tiếng kêu của họ làm náo động cả Thiên đình. Ngọc Hoàng sai triệu chín con rồng về Thiên Đình, nhưng vẫn còn những con rồng đang chìm đắm trong giấc ngủ. Ngọc Hoàng tức giận truyền chỉ sai tám con rồng bay tám hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc và cử con rồng đầu đàn ở chính giữa, kiểm soát tám hướng. Từ đó, trần gian tuần hoàn theo bốn mùa xuân hạ thu đông.

Người Nhật Bản khi tạo hình rồng lại dựa theo quan niệm dân gian về các loại rồng. Họ cho rằng mỗi kỳ sinh nở con rồng cái đẻ ra chín con. Rồng thứ nhất ưa ca hát và thích mọi âm thanh êm ái, do đó đỉnh các chuông Nhật Bản được đúc hình con vật này. Rồng thứ hai thích âm thanh của nhạc cụ nên đàn koto hoặc đàn thụ cầm nằm ngang (horizontal harp) và trống suzumi – một thứ trống con gái đánh bằng ngón tay, được trang trí bằng hình con rồng này. Rồng thứ ba ưa uống và thích mọi thứ rượu, vì thế nó được dùng tô điểm cho cốc chén. Rồng thứ tư thích những chỗ cheo leo nguy hiểm, nên đầu hồi nhà, ngọn tháp, cùng các dầm mái chìa ra của đền chùa chạm hình tượng của nó. Rồng thứ năm hay giết hại các sinh vật nên được dùng trang trí cho các thanh gươm. Rồng thứ sáu ham học thích văn chương, hình nó dùng trang trí cho bìa sách. Rồng thứ bảy nổi tiếng về thính tai, nghe được những âm thanh êm đềm của lá cây, nên tất cả những lá cây dùng để chữa bệnh được bỏ vào chai ngoài vỏ có vẽ hình rồng. Rồng thứ tám ưa ngồi nên ghế thường chạm hình nó. Rồng thứ chín ham mang vật nặng, vì thế thường được tạo hình ở chân bàn. Như vậy, vị trí tạo hình của các con rồng là do quan niệm của người Nhật Bản quy định.

Đối với người Hàn Quốc, rồng là biểu tượng của sức mạnh tâm linh, của may mắn, phước báu và kiết tường. Trong ngôi chùa ngoài chức năng bảo vệ ngôi tam bảo, nó còn đem lại sự bình yên, giàu có và thịnh vượng cho con người. Biểu hiện riêng của rồng Hàn Quốc là thường cắp ngọc đỏ trong miệng hay trong lòng bàn chân tượng trưng cho trí tuệ và chân lý.

Hình tượng rồng của Phương Đông thường được thể hiện kết hợp với một vật hình cầu, mà người ta thường gọi nó là viên ngọc quý của rồng, có khả năng điều khiển được nước triều, chứa đựng thực chất tinh thần hoặc nguyên lý của vũ trụ. Do đấy rồng luôn tìm kiếm viên ngọc đó. Người ta cho rằng, viên ngọc phát triển từ trạng thái hơi qua trạng thái nước kết tinh thành ngọc sáng chói vô cùng. Viên ngọc là đặc trưng của thần thánh, có thể thâu lượm được nhưng phải trải qua quá trình khổ hạnh hàng thế kỷ. Thông thường trong nghệ thuật tạo hình, viên ngọc được trình bày như một vật hình cầu lơ lửng ngay gần miệng rồng để diễn tả ý rồng nhả ngọc, rồng chầu ngọc, hay rồng tranh ngọc… Cũng có ý kiến nêu lên giả thiết đó là hình mặt trăng. Bởi, “Trăng và nước thường gắn chặt nhau trong các thần thoại, do đó trăng có quan hệ chặt chẽ với những tác động gây màu mỡ nói chung”(6).

Nguyên nhân cơ bản khiến hình ảnh của rồng xuất hiện rộng rãi trong nghệ thuật tạo hình của nhiều dân tộc phương Đông, đó là: sự diễn tả ý nghĩa của rồng đã mang lại lý do tinh thần cho người nghệ sĩ và sự khao khát được thể hiện vẻ đẹp của rồng. Tất cả các khả năng hoàn hảo đều được gán cho rồng. Người ta tin rằng nó có thể sống và vận động trong cả ba môi trường: nước, không khí và đất. Hơi thở của rồng bao gồm lửa và nước, nhưng thường được cải biến thành mây xoáy trôn ốc. Sự khôn ngoan của rồng và quyền lực của nó vượt trội tất cả những con vật khác. Do đó, trong trí tưởng tượng của con người phương Đông rồng có thể biến hóa vô cùng, nó có thể thu mình nhỏ lại như con tằm hoặc trải rộng che kín cả mặt đất. Đấy chính là cơ sở để người nghệ sĩ tạo hình cho rồng. Những đặc điểm như thân dài lượn sóng, cuộn theo hình mây xoáy trôn ốc, nửa hiện hình, nửa không đã khiến cho người nghệ sĩ phương Đông xưa khi xử lý hình tượng rồng luôn có ý thức về vẻ đẹp của đường nét và giá trị của mảng đặc – rỗng. Đây là cơ hội đặc biệt để tạo ra những hình tượng nghệ thuật đẹp. Do đấy, trong mỹ thuật truyền thống phương Đông, rồng được sử dụng như một họa tiết trang trí phổ biến, mang tính chủ đạo trên công trình điêu khắc, kiến trúc hay các đồ dùng sinh hoạt…

Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, hình rồng có những sáng tạo riêng tùy theo tâm lý và văn hóa của dân tộc. Các dị biệt về hình tượng rồng tạo thành 2 cấu trúc chính: rồng có thân bò sát như cá sấu, hay rắn…; rồng có thân thú như hổ, sói…

Sự phân loại như vậy dựa theo cách thức xây dựng hình tượng rồng. Còn cách thức xây dựng hình tượng lại phụ thuộc vào yếu tố văn hóa. Khi dấu ấn văn hóa nông nghiệp mạnh mẽ thì phổ biến hình tượng rồng trong nghệ thuật tạo hình thường gắn với kiểu 1 rồng có thân bò sát, khi tính chất giai cấp phân hóa mạnh thì gắn với kiểu 2 rồng có thân thú. Điều này có nguyên do là yếu tố nước gắn với văn hóa nông nghiệp, nên rồng thân bò sát phù hợp để diễn tả độ mềm mại, tính chất lượn sóng của nước, còn rồng thân thú lại biểu đạt được tính chất áp chế để đề cao uy quyền của giai cấp thống trị.

Từ đầu thế kỷ XX, các dân tộc phương Đông không còn quá chú trọng vào việc xây dựng hình tượng rồng trong nghệ thuật tạo hình. Nhưng dù vậy biểu tượng rồng vẫn nằm sâu trong tiềm thức người phương Đông. Rồng vẫn là đề tài nghiên cứu thú vị. Ở khía cạnh nào đó, rồng vẫn là sự kích thích trí tưởng tượng đem lại tinh thần và cảm hứng cho con người.

2. Sự nhìn nhận của phương Tây về rồng

Trong khi phương Đông do tính chất văn hóa nông nghiệp mà xem rồng là chủ nguồn nước, canh giữ các suối, sông, biển, hồ; rồi sau này trở thành ý nghĩa nguồn gốc dân tộc, ý nghĩa vương quyền, ý nghĩa tượng trưng cho những gì cao quý tốt đẹp nhất trong đời sống con người; thì ở phương Tây, nơi mà người ta không quan tâm lắm tới việc có đủ nước mưa hay không cho vườn tược và đồng cỏ của mình, rồng lại mang ý nghĩa ngược lại, đó là sự phá hủy, độc ác và xấu xa. Trong văn hóa phương Tây, rồng được trình bày như thần linh của độc ác và phản Chúa trong đạo cơ đốc giáo.

occidentaldragon1

Vết tích cổ xưa nhất về rồng ở phương Tây nằm trong truyền thuyết Hy Lạp nói về Cadmus. Khi di dân đi khai khẩn, Cadmus được một con bò thần dẫn tới một địa điểm ở Boeotia. Khi ông ta phái người của mình đi lấy nước ở một con suối, tất cả mọi người bị một con rồng canh giữ ngọn suối giết chết. Sau đó, Cadmus đã giết chết con rồng, nhổ răng của rồng và gieo xuống mảnh đất. Một toán người có vũ trang mọc ra từ mỗi chiếc răng được gieo. Họ đánh và giết lẫn nhau cho đến khi chỉ còn năm người sống sót. Những người này giúp Cadmus xây dựng một tòa thành. Cuối cùng, tòa thành đó phát triển thành thị trấn Thebes. Năm người kia trở thành tổ tiên của tầng lớp quí tộc thành Thebes. Trong số đó có một người, mệnh danh là “con trai của rắn”, tên là Echion, cưới con gái của Cadmus làm vợ. Sau nhiều vụ rối loạn, vua Cadmus rút về Illyria, ở đó ông cùng vợ là Barmonia biến thành rắn, về sau chết đã được các thần đem lên cõi cực lạc.

Nhìn chung, huyền thoại về rồng của Hy Lạp là mẫu hình chung cho các câu chuyện về rồng của phương Tây. Thần thoại Hy Lạp mô tả rồng dưới nhiều dạng: có con rồng bảy đầu, có con rồng chín đầu chuyên ăn thịt con gái đẹp, có con trăm đầu mắt trợn trừng… Các chuyện kể về rồng hòa lẫn với những chuyện về người khổng lồ và quái vật. Các tích truyện về rồng phương Tây đều có một mô típ như sau: rồng có nhiều đầu, chuyên gieo giắc tai họa, chỗ ở trong hang, rồng bị chặt đầu, người anh hùng giết rồng để cứu cả một dân tộc hay nàng công chúa. Nhiều dân tộc châu Âu đều có tích truyện tương tự. Cổ nhất là tích tế sinh rồng có nội dung na ná như ở Hy Lạp. Trung tâm của tích truyện là: một tráng sĩ phát hiện có một cô gái đẹp (hay một nàng công chúa) sắp bị tế sinh cho rồng, chàng trai bèn giết con quái vật, chặt đầu nó, cắt lấy lưỡi rồi ra đi sau khi đã nói cho cô gái biết rằng chàng còn phải đi chu du khắp thiên hạ trước khi cưới nàng làm vợ. Qua nhiều năm xa cách, người tráng sĩ này trở về giữa lúc nàng công chúa này sắp bị gả cho một kẻ xấu, bởi lẽ tên này đã nhận rằng chính hắn là người đã giết được rồng. Người anh hùng đã chứng tỏ cho mọi người biết mình là ai bằng cách đưa lưỡi rồng ra và lắp từng lưỡi khớp với đầu rồng rồi kết hôn với công chúa. Từ truyền thuyết này đã tạo nên một tâm lý đối với người đàn ông phương Tây: tất cả các điều khủng khiếp trong cuộc đời được xem là những con rồng cần phải chiến thắng, nàng công chúa đang chờ mong thấy anh ta đẹp đẽ và quả cảm.

Trong truyền thuyết và thần thoại Hy Lạp, rồng còn là kẻ canh giữ Bộ lông Cừu Vàng và Khu vườn của các nàng Hespesride. Mô típ truyện này cũng rất phổ biến ở phương Tây và ngày nay vẫn được nhắc lại trong các bộ phim thần thoại về chủ đề đi tìm kho báu. Sự chiến thắng rồng mang ý nghĩa chinh phục một thế lực đen tối để mang lại nguồn của cải dồi dào.

Như vậy, nét nổi bật của rồng trong thần thoại phương Tây không phải là biểu tượng của điềm lành, chẳng dính dáng gì đến mưa cũng như sự sinh sản của đất đai. Song các câu chuyện về rồng vẫn thực sự hấp dẫn qua các cuộc phiêu lưu của những vị anh hùng để chinh phục con quái vật. Ý nghĩa ẩn đằng sau tích các truyện về rồng của phương Tây là coi rồng như hiện thân của sự xấu xa, độc ác, cần bị trừng phạt…; đối lập với rồng là nhân vật chính: các anh hùng địa phương, những người đã lừng danh trong nhiều huyền tích và thần thoại khác. Chuyện tiêu diệt rồng đã thêm vào kho công tích của các nhân vật này nhằm đẩy tầm thước anh hùng của họ lên cao nữa. “Nổi tiếng nhất trong những nhân vật hạ sát rồng có Persée, Mardouk, Hercule, Apollon, Sieg Fried, Saint Michel, Beowulf, Arthur và Tristan (7).

Trong tư duy người phương Tây, rồng mang dáng dấp kinh sợ, dọa nạt con người. Nó có thể phun ra lửa và phá hủy tất cả. Sức mạnh của rồng ở trong miệng và đuôi của nó. Các câu chuyện về rồng bay trên không lúc đêm và có khả năng khạc ra lửa rất phổ biến ở Na Uy, Đan Mạch, cũng như vương quốc Anh. Công trình của Ernest Ingersoll cung cấp cho ta một ví dụ về hình ảnh và quan niệm của người phương Tây về rồng với ý nghĩa lửa – sự hủy diệt qua câu chuyện thượng đế huấn thị anh chàng Job buồn phiền (8).

Khi đạo Kitô ra đời, trong huyền thoại cơ đốc giáo, rồng phương Tây trở thành hiện thân của quỷ dữ hoặc là đầy tớ của quỷ dữ. Các đầu rồng bị đập vỡ, các con rắn bị tiêu diệt là hình ảnh vĩnh cửu về cuộc chiến giữa cái thiện với cái ác trong quan niệm phương Tây. M.Drake nêu lên trong cuốn sách Các thánh và các biểu hiện của họ: “các con rồng xuất hiện ba mươi lăm lần gắn liền với ba mươi vị tử vì đạo và những người khác (9). Ngoài các tranh hình rất nổi tiếng về thánh Misen hay thánh Georges diệt rồng, chính Đức Kitô đôi lúc cũng thường được biểu hiện chân dẫm xéo xác con rồng. Sự khuất phục rồng của các vị thánh trở thành biểu tượng chiến thắng của cái thiện.

Hình tượng rồng phương Tây trong nghệ thuật tạo hình thời Trung cổ được thể hiện có cánh hoặc không có cánh, thân phủ đầy vẩy, trên lưng có gai nhọn, dáng tựa như một con cá sấu. Đến thời kỳ Phục hưng, trong một bức họa của Léonard de Vinci, rồng lại được mô tả như một con thú có thân hình của sói, miệng nhe nanh đe dọa, các lông trên thân khá dài hướng về phía sau.

Đối với họa sĩ phương Tây, rồng được vẽ ra trên tinh thần tạo một hình tượng mang dáng vẻ hung dữ và ác độc, là mối đe dọa đối với con người. Cách tạo hình rồng phương Tây đối lập với hình rồng phương Đông, một bên là hình ảnh tượng trưng cho sự xấu xa, ác độc, một bên là hình ảnh tượng trưng cho sự cao quý tốt đẹp.

Từ những điều đã trình bày, ta có thể nhận thấy những khác biệt về quan niệm và cách tạo hình rồng của phương Đông và phương Tây.

Các dân tộc phương Đông gắn bó với nền văn hóa nông nghiệp, thì thường tạo hình rồng trông hiền hòa bởi tâm lý ứng xử với tự nhiên là tiếp nhận và mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó; còn các dân tộc phương Tây gắn bó với nền văn hóa du mục lại tạo hình rồng hung dữ do tâm lý ứng xử độc tôn trong tiếp nhận và cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó.

occidentaldragon

Trong thái độ ứng xử với tự nhiên, người dân nông nghiệp phương Đông do phải phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, dẫn đến coi trọng rồng, đề cao rồng; còn người dân du mục phương Tây do cuộc sống nay đây mai đó, không cố định, có tham vọng chinh phục và chế ngự thiên nhiên đã dẫn đến tâm lý xem rồng là một biểu tượng cho những thế lực xấu xa cần được khuất phục.

Cũng cần phải thấy rằng đó là những nét khu biệt mang tính chất chung. Bởi lẽ, sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, khu vực, giữa phương Đông và phương Tây không thể không dẫn đến những ảnh hưởng về quan niệm cũng như cách tạo hình về hình tượng con rồng.

Biểu tượng rồng là vật thay thế, là chiếc cầu nối để con người có thể nhận thức và khám phá thế giới. Để diễn đạt biểu tượng, con người đã chọn lọc các bộ phận của nhiều loại động vật xây dựng nên hình tượng rồng – một động vật huyền thoại bí ẩn, hay nói cách khác là con người thông qua nghệ thuật tạo hình để nói lên những ước muốn và khát vọng của mình.

Với các dân tộc phương Đông, rồng là biểu tượng của sự cao quý tốt đẹp, thăng hoa và thịnh vượng, rồng xuất hiện là để thể hiện sự vươn tới cái đẹp chân – thiện – mỹ. Với các dân tộc phương Tây, rồng là biểu tượng của sự xấu xa, phá hoại,… tiêu diệt rồng có nghĩa là chiến thắng cái xấu, cái ác, cái tối tăm… qua đó biểu hiện một cách khác về vẻ đẹp của con người.

Cả hai cách nhìn nhận về rồng của phương Đông cũng như phương Tây đều góp phần thúc đẩy xã hội, giúp con người nhận thức và khám phá thế giới.

Bùi Thị Thanh Mai

_______________

1, 5. Katherine Ball, Những mô típ trang trí trong nền nghệ thuật Đông Phương, tập 1, tư liệu dịch của Viện Bảo tàng Mỹ thuật, 1974, tr.2.

2, 6, 8, 9. Ernest Ingersoll, Rồng và những hiểu biết về rồng, Đỗ Trọng Quang dịch, tư liệu của Viện Bảo tàng Mỹ thuật, 1928, tr.2, 54, 66, 87.

3. Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, Tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002, tr.1061.

4. Võ Quang Nhơn, Thần thoại rồng trong cộng đồng Đông Nam Á, Tạp chí Văn hóa dân gian, 1982, tr.22-25.

7. E.T.C. Werner, Rồng (a dictionary of Chinese mythology), Nguyễn Từ Chi dịch, Tư liệu của Viện Mỹ thuật, 1980, tr.4.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »