Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm 1st, 2009

Loạt phóng sự 5 bài về gốm cổ tàu đắm

Dưới đây là loạt bài phóng sự về gốm cổ trên các con tàu buôn đắm trong vùng biển Việt Nam đăng trên báo Thanh Niên vào tháng 2 năm 2005, bây giờ không còn lưu trong Archieve. Thời điểm đó lượng thông tin của ngành khảo cổ VN công bố về vấn đề này cũng chưa nhiều lắm và lai lịch của những con tàu đắm này vẫn còn mơ hồ, lẫn lộn. Thực ra hoạt động mua bán gốm cổ loại “vớt” này đã được mua bán sôi động nhiều năm, trước khi các bài này được đăng.

Tìm kiếm báu vật dưới đáy biển Việt Nam: Đằng sau những tin đồn ven biển B

Sau ngày phát hiện mảnh sành của đồ cổ nằm trong bụng cá mú được 4 năm, dư luận vùng ven biển tỉnh Bình Thuận lại một lần nữa “nổi sóng gió” trước những tin đồn loan đi sau Tết Tân Tỵ 2001 về “một con tàu nằm lù lù” dưới đáy biển, áng chừng thuộc huyện Tân Phong, dài tới hơn 20 sải tay, vừa tìm thấy. Những xầm xì ban đầu dĩ nhiên chỉ thu gọn trong nhóm chủ tàu có quan hệ họ hàng xa gần với người thợ lặn đầu tiên đã chạm tay vào kho tàng. Về sau nhanh chóng lan ra giới ngư phủ vốn rất dày dạn và nhạy cảm với việc lặn vớt cũng như dò la tin tức tàu đắm dưới đáy biển.

Họ chuẩn bị ra đi. Một nhóm chủ chốt đã tập hợp nhau lại và cử người có kinh nghiệm giao tiếp rộng đến gõ cửa một ông thầy bói người Hoa. Ông thầy tìm ngày tốt, hợp với chuyến xuất phát ra khơi lặn vớt đồ cổ của họ, mà theo ông phải nằm trong tháng Tỵ, năm Tỵ. Tức tốt nhất vào đầu tháng tư âm lịch như ông nói: “Đầu tháng rắn, ra biển yên ổn. Tháng này có sao Liễu chiếu, mặt thủy sáng hơn tháng con Rồng, tức tháng Thìn trước đó, nếu đi xa ra khơi có phần thuận lợi. Như để qua tháng 5, tức tháng Ngọ, con ngựa, đi biển không được cát tường lắm. Hậy…”.

Theo lời đó, những con tàu đầu tiên rời đất liền tiến về phía tọa độ đã dự tính, chỗ có tàu cổ đắm, mà sau này người ta biết đúng là thuộc vùng biển Tân Phong, tỉnh Bình Thuận, nằm cách Phan Thiết gần 40 dặm về phía đông nam. Độ dài cũng suýt soát với lời đồn: 23,4m bề dài và gần 8m bề rộng. Không ngờ trên đường đi, và khi tới nơi, không chỉ độc quyền “một Ali Baba” “sấn” tới kho báu, trái lại cả chục con tàu nổ máy rẽ sóng, quần thảo trên mặt di tích. Để tránh “đụng” nhau trong cuộc săn lùng sắp diễn ra dưới nước, một quy ước bằng miệng giữa họ được thỏa thuận với sự chứng minh của thủy thần. Theo đó, không độc chiếm mặt biển, nhảy xuống để rà tìm đồ cổ một mình và tùy ý; mà phải thay nhau từng nhóm một. Cuộc trục vớt bắt đầu. Tuy đông đúc, vội vàng, nhưng mọi việc diễn tiến theo một trật tự bất thành văn. Hễ thợ lặn lành nghề của tàu này lặn hụp vớt đĩa bát cổ lên xong, tới người của tàu khác “ùm xuống”… Họ lấy lên từ độ sâu gần 40 mét nước hàng lô hàng lốc cổ vật để lổn ngổn dưới nắng.

Tất cả xếp lại sơ sài theo từng loại một. Đĩa thì tạm úp riêng thành chồng trong sọt tre. Bát để trong các giỏ cần xé. Những cổ vật lớn hơn để trong góc khoang, hoặc chuyển xuống hầm, xuống thùng tôn lớn vốn dùng để ướp lạnh tôm cá trước đây. Bấy giờ, khi một số tàu đã “no” chuẩn bị quay vào bờ, bỗng xuất hiện các tàu của lực lượng bảo vệ an ninh biên phòng Việt Nam. Một “cuộc tháo chạy tán loạn” cố thoát khỏi rượt bắt đã bỏ lại một số thợ lặn mới ngoi lên khỏi con tàu đắm, tay còn cầm mớ đĩa Chương Châu men hoa lam và giơ lên cầu cứu.

Độ vài ngày sau, một người đàn ông trạc tứ tuần bận quần jeans và áo polo màu đỏ tạt vào một quán nhỏ ở thị trấn Lagi, huyện Hàm Tân. Ông ta gỡ chiếc kính mát sau khi ngồi xuống bàn và gọi ly cà phê sữa, nhìn ra trời. Dường như quen mặt trước, hai người đàn ông khác tựa dân đi biển ngồi bàn bên cạnh đi lại phía ông. Ông khách cười, hỏi: “Thời tiết tốt đấy, khởi hành được chớ?”. Hai người kia trả lời: “Được”. Sau đó, không thấy mặt người lạ ở thị trấn Lagi nữa.

Chẳng biết ông là ai: người của an ninh bận thường phục hay dân mua bán đồ cổ Sài Gòn ra? Chỉ biết khi ông đi rồi, vài giờ sau, cách quán uống nước không xa, nơi một ngôi nhà dân, hơn 10 giỏ cần xé đồ cổ các loại bị cơ quan chức năng phát hiện và thu giữ. Đêm trước đó, số cổ vật này nêu giá cao gần nửa tỉ đồng…

(Thanhnien)

Tìm kiếm báu vật dưới dáy biển Việt Nam – Kỳ 1: Từ một mẻ lưới mảnh sành

Kho tàng di sản văn hóa Việt Nam gần đây đã tiếp nhận thêm nguồn cổ vật phong phú từ đáy biển vớt lên. Số lượng trục vớt trong vòng 10 năm qua (1995-2005) đạt tới con số hàng trăm nghìn, bao gồm các loại bát, đĩa, ấm, chén, bình, hũ, chậu, chóe, lư hương, tượng thờ, tiền xưa, những con dấu và cả bùa hộ mệnh nữa.

Chúng nằm im lìm nhiều thế kỷ dưới những con tàu đắm ngoài khơi nước ta và bị đánh thức tình cờ bởi các ngư dân đánh cá, hoặc một cách cố ý bởi những người săn lùng đồ cổ dưới nước…

Không hiểu bằng cách nào một số đĩa gốm và bát ăn cơm từ một con tàu bị đắm ngoài vùng biển của phố cổ Hội An lại “chắp cánh” bay về hiện diện trong một tiệm bán đồ lưu niệm cho khách du lịch trên đường Trần Phú – cách chùa Quảng Triệu khoảng vài trăm thước về phía “ngã tư quốc tế”. Hỏi ra thì chủ tiệm cho hay đã mua của một thanh niên lạ mặt, ăn bận xuềnh xoàng, mang đến tận tiệm để bán với giá không đắt mấy so với đồ bát đĩa mới sản xuất thời nay. Cụ thể một cái đĩa tròn có đường kính khoảng hơn gang tay, quanh miệng lỗ chỗ những vết hàu ốc bám chặt, những vết hàu này không quá nhiều, mà chỉ điểm trăng trắng, tròn tròn “hạt ngọc”, như chừng để ấn chứng “dấu xưa” cho món đồ, hòm hòm 100.000 đồng mỗi cái. Bát ăn cơm, hoặc đựng canh cũng có giá tương tự.

Lạ là sau khi mua vài hôm, chủ tiệm lên chơi ở một quán bán tranh của bạn mình nằm sát chùa Cầu thì thấy anh bạn – là Đỗ Văn Hưng – cũng có một số bát đĩa giông giống với loại đã mua. Liền tìm hiểu nguồn gốc, được Hưng cho biết có một người đàn bà tới chào bán đĩa cổ với giá 700.000 đồng mỗi chục (12 cái), nghĩa là mỗi cái giá chưa đầy 60.000 đồng, rẻ hơn chỗ mua trước tới 40.000 đồng một cái. Chưa hết, Hưng nói rằng giá đó còn mắc, trả thử chơi chơi 500.000 đồng mỗi chục được

Theo tài liệu của các nhà chuyên môn, quả thực có một tàu cổ bị chìm cách đây 500 năm tại vùng biển Hội An, cách Cù lao Chàm 14 hải lý về phía đông bắc. Tàu này đang trên đường chở hàng do Việt Nam chế tác đưa ra nước ngoài. Cuộc khai quật đem lên khỏi đáy biển 150.000 đồ gốm hoa lam Việt Nam. Đây là một khối lượng khổng lồ về loại hàng này tới nỗi nó khiến các nhà khoa học, giới khảo cổ có uy tín ở châu Á và trên toàn thế giới phải choáng váng, kinh ngạc.

không, người đàn bà cũng không tỏ ra ngần ngừ lâu lắm, đã nhanh nhẩu gật đầu cái rẹt, đòi lấy tiền rồi đi. Khoan đã, giá rẻ rồi đó, mà tiền thì đợi mai tới lấy, được không ? Xem chừng tới đây không ưng bụng lắm, nên người bán quảy thúng đi mất. Bữa sau, chừng chạng vạng quay lại, Hưng mua 250.000 đồng nửa chục (6 cái), để chưng ra tiệm cho oai.

Cái tin hai vợ chồng chủ một tàu đánh cá dong ra cách bờ biển Hội An chưa xa, khoảng chừng 10 hải lý, bung lưới; kéo lên không được vì lưới mắc phải “xương người” bên dưới người ta tin chắc bẩm. Ồ, không phải “xương người” mà là thân của một con tàu cổ bằng gỗ bị chìm, lâu ngày nứt bể nhiều mảnh, có mảnh tàu bị sóng cát và dòng hải lưu chảy ngầm bên dưới xô dạt lần lần xa nơi tàu đắm, tới chỗ cạn hơn nơi vợ chồng chủ tàu đánh cá và mắc phải lưới. Đây là một tin được nhanh chóng loan đi trong giới chủ tàu và thợ lặn. Nó có giá trị cao đối với họ, nhất là khi được khẳng định bằng một mẻ lưới “đánh thử”, rà đi rà lại quanh khu vực đó, và đã vớt lên một mẻ… mảnh sành vụn nát. Dù nát vụn song rõ ràng nó là dấu vết của một kho tàng nằm im đâu đó trong con tàu bị chìm. Không tránh khỏi những đợt lặn hụp âm thầm, tự phát, ngoài vòng kiểm soát của các cơ quan chức năng. Cuộc săn lùng đồ cổ nhích dần ngày càng chính xác đến vị trí tàu chìm. Đó là con tàu nào? Của ai? Chìm khi nào? Vì sao? Chứa gì trong đó?

Trước khi đề cập đến giá trị có tính cách “cách mạng” của những đồ cổ Cù lao Chàm mới đây đối với cái nhìn truyền thống về gốm mỹ thuật Việt Nam trước kia, chúng ta hãy trở lại với câu chuyện những món đồ lưu lạc trên hè phố. Khi đánh lên mẻ lưới chỉ toàn những mảnh sành, người vợ chủ tàu tin dị đoan bảo rằng: những mảnh chén đĩa cũ nát này là do binh ma của hà bá trêu chọc, bỏ vào. Vì vậy khuyên chồng nên cúng kiếng, sơn sửa lại thuyền cho mới, để đánh lạc hướng tìm kiếm khuấy phá của những người cõi âm trên biển. Nhưng người chồng và một số thợ lặn lành nghề lại nghĩ khác. Họ đoán dưới đáy biển nhất định phải có những món đồ cổ. Vì vậy, không chỉ riêng đôi vợ chồng này, mà thực sự đã có nhiều người khác vào cuộc. Không bao lâu con tàu cổ thế kỷ 15 bị chìm vương vãi hàng hóa dưới đáy biển đã được họ tiếp cận và dần dà vớt lên bằng nhiều cách. Sau đó đem đi bán lẻ như các trường hợp đã kể trên. Ban đầu chỉ lác đác vài món, nhưng về sau do “quà tặng của đại dương” nhiều đến bất ngờ nên người ta đã mang ra để ngoài tiệm chạp phô, thậm chí dưới chân du khách đang lang thang trên vỉa hè phố cổ Hội An. Thế là dấu vết của kho tàng đã xuất lộ dưới ánh nắng mặt trời mà con mắt của nhà du lịch David sớm nhìn ra giá trị của nó và tìm cách thu gom ra sao?

(Thanhnien)

Tìm Kiếm Báu Vật Dưới Đáy Biển Việt Nam – Kỳ 2: Khóc lên đi, hỡi quê hương

David đến Hội An giữa năm Ất Hợi 1995. Theo lời thuật lại, thời điểm đó có quá nhiều lễ cúng ngoài trời của dân chúng, chắc nhằm rằm tháng bảy âm lịch, ngày xá tội vong nhân? Một số nhà vẫn tiếp tục bày mâm mặn cúng cô hồn tới cuối tháng. Có lẽ vì thế, mùi hương khói đặc trưng đã lôi cuốn David trên đường ra bờ biển, rồi vào thăm ngôi làng nhỏ nằm cách trung tâm phố cổ 3-4 cây số.

Ở đó người hướng dẫn viên du lịch dẫn David qua con đường ngắn rợp bóng tre, đến trước hàng chè tàu bọc quanh một căn nhà lợp ngói. Đi ngang cửa, David đã thấy bày ra phía đường một mâm đồ cúng, với cái đèn dầu trứng vịt leo lét, ngọn lửa ở tim đèn đang chao qua chao lại vì gió. Ông ta vô tình hướng mắt tới một cái bát khá to mà chủ nhà đang dùng cắm hương. Cái bát đặt chính giữa một bàn gỗ có trải khăn nhựa in hình hoa mẫu đơn màu hồng. Chung quanh bát cắm hương đặt hai dĩa cá chiên có rắc ớt chín đỏ, một dĩa thịt heo ba chỉ xắt dày, sắp lớp theo cách dân dã, một tô canh gì đó nấu với cà chua. Gần bát hương là một dĩa cơm trắng mới xới ra khỏi nồi, còn bốc khói, bên dưới chặn một xấp giấy vàng bạc và xấp hình nhân màu xanh, đỏ, vàng, tím để cúng người chết. Những thứ đó gợi lên một không khí u trầm, xa xăm, ngoài cõi sống, song không khiến David để tâm lắm, vì ông ta đang bị thu hút bởi cái… bát hương. Bát này không phải dùng chuyên cho việc cắm hương mà để đựng thức ăn, nước uống. Nó to tròn, kiểu cách và màu sắc dường như thuộc về một dòng gốm lâu đời, khó tìm thấy. Để tiện dùng, chủ nhà đã bỏ gạo sống vào đầy bát, cắm hương lên, thay cho bình hương, lư hương thường thấy.

Không cầm được lòng yêu thích món đồ, David nhờ người thông ngôn hỏi mua cái bát đang còn trên bàn cúng. Trong trường hợp này, đối với chủ nhà thì lời dạm hỏi mua lại của David là khiếm nhã, thiếu tôn trọng nhau. Nhưng người thông ngôn nhanh trí tìm cách diễn đạt, giải thích cho hai bên thông cảm nhau. Dĩ nhiên: cho David về tín ngưỡng tập tục thờ cúng của người phố cổ; cho chủ nhà về lòng ngưỡng mộ của David đối với “cái bát sành” cũ kỹ kia. Dường như không muốn bán, nên chủ nhà ra một cái giá mà theo ông ta là quá đắt so với “cái bát sành” chỉ đáng vài chục bạc cho qua chuyện, là: “100 đô la!”. Không do dự, David đồng ý ngay và chực rút tiền ra trả, gây không ít ngạc nhiên cho người chung quanh. Nhưng chủ nhà bảo đang cúng, đang dùng cắm hương, hẹn ngày mai, ngày mốt quay lại hãy hay. Không biết kết cuộc cái bát đó có thuận buồm xuôi gió “tìm cách” theo chân David ra khỏi Việt Nam trong đợt “hành trình du lịch văn hóa” của ông ta hay không vì người kể tới đó đã đứng dậy ra khỏi quán…

Đó là chuyện nghe được cách đây gần 10 năm, vào dịp Tết Đinh Sửu 1997. Cho tới nay, người ta vẫn không thể biết đích xác có bao nhiêu món đồ cổ đáng giá trong số các cổ vật do dân chúng săn lùng, vớt lên tại vùng biển Hội An, rồi sau đó đem đi phát tán khắp nơi. Một số tuồn ra nước ngoài, thuộc sở hữu của những “David”, hoặc thuộc sưu tập của những nhà nghiên cứu mua lại từ nhiều nguồn…

Tất cả vớt lên từ con tàu chìm cách Cù lao Chàm 7 hải lý. Tàu đo được 95 bộ chiều dài và 33 bộ chiều ngang, đóng bằng một loại gỗ teak, có lẽ xuất xứ từ các thân cây cao lớn mọc ở Ấn Độ, hoặc trong vùng rừng Thái Lan, cũng có thể tại miền Nam Trung Quốc. Các cuộc trục vớt này cung cấp nhiều bằng chứng hiển nhiên về mối liên hệ giữa con đường hàng hải ngang qua Hội An với các di tích lò gốm cổ, nằm bên tả ngạn sông Thái Bình (tỉnh Hải Dương), như Chu Đậu chẳng hạn. Chu Đậu, xưa là nơi hoạt động sản xuất đồ gốm mỹ thuật phồn thịnh của Việt Nam, nay là khu di tích rộng 40.000m2 nằm cách thị xã Hải Dương 6 cây số.

Nghề gốm sứ của Chu Đậu thất truyền cách đây đã 300 năm, nhưng những sản phẩm làm ra ở đó cách đây 400 – 500 năm vừa tìm lại được ở Cù lao Chàm. Khi trục vớt chúng, tờ Việt Mercury tháng 6/2000 đã đăng lời của bà Dessa Goddard – Giám đốc ngành nghệ thuật Á châu của nhà bán đấu giá Butterfields tại San Francisco: “Phát hiện này đang trả lại cho Việt Nam một chương của di sản nghệ thuật mà người ta từng nghĩ là đã hoàn toàn biến mất”, và bà xúc động: “Tôi đã khóc”. Khóc vì con tàu đắm nối kết được những yếu tố để khẳng định về một nền mỹ thuật gốm sứ sống động của Việt Nam mà các học giả trước đây, trong đó có bà, vẫn còn bối rối tranh luận vì chưa đủ tài liệu chứng minh. Nay con cháu trên quê hương gốm sứ Chu Đậu cũng có thể khóc mừng trước những bằng chứng mới về tài nghệ, tài hoa của cha ông.

Phần lớn các cổ vật trục vớt ở Cù lao Chàm sản xuất từ Chu Đậu, từ tỉnh Hải Dương, điều đó theo Tiến sĩ Bùi Minh Trí đã “cho thấy con tàu mua gốm từ một thương cảng nào đó ở Bắc Bộ và đang trên đường đi xuống phía Nam đến các nước Đông Nam Á hải đảo để tiêu thụ”. Chứng cứ được bổ sung bởi các cuộc khai quật khác ở nước ngoài với những con tàu đắm có niên đại thế kỷ 14 và 15 tại vùng vịnh Thái Lan và Nam Philippines chở theo gốm hoa lam Việt Nam, phản ánh con đường giao lưu buôn bán gốm sứ trên biển giữa Việt Nam và các nước trong khu vực. Nghĩa là, kết quả khai quật khảo cổ học tàu đắm Cù lao Chàm và các nơi khác, vẫn đang gợi mở những đề tài nghiên cứu về con đường gốm sứ trên biển Đông ngang qua hải phận nước ta bao gồm vùng Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam từ xa xưa trong lịch sử hàng hải quốc tế.

(Thanhnien)

Tìm kiếm báu vật dưới đáy biển Việt Nam – Kỳ 3:Những chuyến hải trình

Anh bạn rót loại rượu màu nâu sẫm, hơi sóng sánh và thơm vị thuốc bắc ra mấy cái chén kiểu nhỏ tí. Uống đi. Đây là rượu Bảo Sanh Tường. Nó giông giống màu rượu Đại Thành dưới chợ, nhưng đậm đà hơn, uống xong còn lưu lại mùi dược thảo.

Dòm xuống mâm thấy cái bánh tráng mè nướng giòn bẻ sẵn làm bốn, năm miếng, đặt bên dĩa hến xào trộn hành xanh ngắt, mới múc trong chảo ra, còn nóng. Lấy bánh xúc ăn, gần hết hến, lòi ra cái đáy dĩa vẽ nguệch ngoạc hình con chim lìa bầy, xoải cánh giữa chiều hôm. Nì, dĩa ni coi giống đồ cổ. Cổ cái con khỉ, bạn nói. Muốn dĩa cổ hả, chờ đó. Bèn đem ra tặng 2 cái. Ngại bạn say, lỡ tặng đồ quý đắt tiền cho mình, nên không dám nhận. Biết ý, bạn nói chỉ vài chục đồng một cái, còn dính hàu ốc hẳn hoi, tin không? Nếu hàng cao cấp giá tới một cây vàng một cái đĩa, hoặc hơn. Về sau hạ chỉ còn một chỉ. Bạn lại nói: Muốn cổ nữa hả, lên Cù lao Chàm mà đào. Ô hô, đời thuở nay nghe nói lặn mò bát đĩa đời Ung Chính, Khang Hy dưới biển Hội An, chứ ai đời đào bới trên núi cao mà được?

Nhớ tới ngôi chùa trên Cù lao Chàm: chùa Hải Tạng, lập đã lâu đời. Khoảng 30 năm trước, một số người lạ mặt di tản đến cù lao này, vào khuôn viên chùa. Nhà chùa lúc đó cũng gần như bỏ trống, nên họ lấy chuông đồng xuống để làm… nồi nấu cơm. Dùi trống vứt qua một bên. Có người trong bọn thử ra sau chùa đào một cái hố, xem có gì bên dưới. Thấy họ lấy lên rất nhiều mảnh gốm lạ mắt. Không biết dạo đó họ có lấy đồ cổ dưới đất chùa Hải Tạng mang đi không. Mãi sau này, có một thiền sư ghé, lượm một số mảnh, xem xét, nói là chúng vỡ ra từ những bát, đĩa và ấm trà cổ. Cái hố đào thử quanh chùa hồi năm 1975 lấp lại, chẳng ai biết dấu tích. Hồi Tết rồi có người ở cù lao vào Nam chơi, chúng tôi hỏi thăm Hải Tạng. Đáp là chùa đã phục hồi sinh hoạt tín ngưỡng, nhưng tiếc quá, nếu đống mảnh vỡ kia còn, biết đâu sẽ đem đối chiếu với đồ gốm vớt lên ở vùng biển gần đó, biết đâu và biết đâu… Cái gần nhất thì mịt mù. Còn cách xa, xa lắc, tận Philippines lại rõ chuyện. Thật vậy, một số đồ cổ vớt tại vùng biển Philippines được các nhà khoa học gần đây đối chiếu với cổ vật vớt ở Cù lao Chàm, kết quả thấy nhiều loại có kiểu dáng và dòng gốm giống nhau.

Nêu lên một cách có hệ thống về khái niệm, nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng gốm trên, là hai tác giả không xa lạ với giới khảo cổ trong nước: Tiến sĩ Bùi Minh Trí, mà chúng tôi nhắc tới trong kỳ trước và Kerry Nguyễn Long, một nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật châu Á, người Australia. Hai vị đứng tên chung

trong công trình biên soạn Gốm hoa lam Việt Nam dày hơn 500 trang khổ lớn do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành sau ngày có báo cáo tổng kết các đợt trục vớt cổ vật Cù lao Chàm. Một số tài liệu về những con tàu đắm khác chứa đồ gốm cổ của Việt Nam khai quật ở vùng biển nước ngoài được hai tác giả nhắc đến và chúng tôi tóm lược dưới đây, có tham khảo thêm những nguồn tài liệu khác trong các trình bày chi tiết. Trước hết, để thấy phần nào quá trình chuyển động của “dòng gốm Việt Nam” trên mặt biển Đông từ nhiều thế kỷ trước, hãy thử nhìn qua biển Philippines. Ở đó những đồ gốm Chu Đậu nằm sâu dưới vùng nước mặn đảo Pandanan trên một con tàu đắm, khai quật vào năm 1995, đem lên bờ hơn 4.000 đồ gốm của ba nước: Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan. Trong đó gốm Việt Nam chiếm số lượng nhiều nhất với tỷ lệ 70%, ngoài nguồn gốc Chu Đậu, còn có đồ men ngọc, men nâu mang kiểu dáng Gò Sành và Trường Cửu ở Bình Định nữa. Như vậy, đồ gốm xuất khẩu của nước ta đưa ra các cảng cổ từ một số trung tâm sản xuất ở cả hai miền đất nước thế kỷ 14 – 15.

Thái Lan công bố khai quật một số tàu đắm tại vùng biển Rang Kwian cách đây 8 năm (1997). Kết quả cho thấy nhiều đồ gốm sứ như các loại bát, đĩa, chén, âu do Việt Nam chế tác, trang trí hoa văn cành cúc và các chi tiết mỹ thuật tương tự như đào được ở Nhật, tại Dazaifu. Có khoảng 32 địa điểm khác tại Đông Nam Á có mặt gốm cổ Việt Nam. Chúng đã theo con đường nào để được chất lên các con tàu trong “những chuyến hải trình không cập bến” ? Nhà khảo cổ học Tăng Bá Hoành giải đáp: “Để xuất cảng, từ Chu Đậu ngược sông Thái Bình đến Nấu Khê, xuôi theo sông Kinh Thầy ra cảng Vân Đồn – một cảng giao lưu quốc tế lâu đời của Việt Nam. Cũng từ Chu Đậu xuôi sông Thái Bình, sang sông Luộc đến Phố Hiến – một thương cảng lớn, mang tính chất quốc tế thế kỷ 17. Từ Phố Hiến có thể đi thẳng đến các nước qua tàu buôn của Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, hay Anh, Pháp”… Một vài con tàu xấu số trong số đó không về tới đích. Chúng bị những cơn bão bất ngờ, hoặc sóng thần xô dạt, nhấn chìm, giữ lại vĩnh viễn dưới thềm lục địa, cho đến lúc một chú cá mú nào đó ở thế kỷ 20 – 21 đến “ăn hàng”. Dưới độ sâu hàng chục thước, một con tàu như thế ở vùng biển Cà Mau đã trồi lên mặt nước…

(Thanhnien)

Tìm kiếm báu vật dưới đáy biển Việt Nam – Kỳ 4: Nắp bình cổ trong bụng cá

Nói một con tàu cổ ở Cà Mau “trồi lên mặt nước” là theo kiểu nói bóng gió của dân chúng về những “con tàu ma” bất thần xuất hiện trên mặt biển vào giữa trưa đứng bóng, đúng ngọ, hoặc vào những đêm khuya khoắt, sáng trăng. Nó từa tựa chuyện kể về các chuyến hải trình xa xăm với những thủy thủ nhìn thấy thành quách lâu đài nguy nga hiện ra trên mặt nước, có kẻ buôn người bán khuân vác đi lại trong đó, nhưng tàu của họ không bao giờ cập vào bờ các thành phố ấy được. Vì đó toàn là những “thành tầm hương” kết đọng bằng khói sương, ánh nắng và ảo ảnh thị giác, tương tự như bóng nước gợn sóng liên hồi đập vào mắt những lữ hành khát khô trên sa mạc vậy.

Ở đây chuyện những con tàu ma có lẽ xuất phát từ một thực tế chưa được người ta biết đến tường tận sau ngày có tin đồn ở một số thị trấn miền duyên hải Quảng Ngãi, Bình Thuận, Phú Yên, Khánh Hòa về các khoen vàng chuỗi ngọc, đồ trang sức khác mổ từ bụng cá ra. Nếu thật, thì đó cũng không mới mẻ lắm đối với dân chúng vùng biển. Người ta còn nhớ người dân vùng sông Hàn (Đà Nẵng), sông Hoài (Hội An), những mùa biển động trước kia có nhiều đồn đại về người này mua cá ngừ dài 3-4 gang tay, mổ ruột thấy có lọn tóc quấn trong đó, người kia ăn cá thu thấy có chiếc nhẫn trong bộ lòng… Nhưng tin đồn về những mảnh sành sứ tìm thấy tình cờ trong bụng một con cá mú câu được tại vùng biển Cà Mau là có thật:

Họ là hai ngư dân ở thị trấn La Gi, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Những chuyến ra khơi dài ngày đối với họ là chuyện bình thường, nhất là khi họ nắm trong tay phương tiện đánh bắt riêng, làm chủ 2 tàu đánh cá BTH 1365 và BTH 1891, đủ sức vượt sóng đánh bắt các loài thủy tộc đắt giá ngoài biển xa. Đến tháng 6/1997, Nguyễn Ngọc Hưng và Nguyễn Ngọc Linh – tên hai người – trong chuyến ra biển giữa năm, trời lặng sóng yên, đã câu được một con cá mú khá to và khác thường.

Loại cá mú này ở biển cân nặng trung bình vài ký lô, con nào sống lâu từ 5 – 7 năm trở lên có thể dài gần nửa thước và nặng 19 – 20kg. Chúng thuộc loài cá quý mà dân đi biển chuyên nghiệp đều ao ước chài bắt. Một con cá mú loại đó do Hưng và Linh câu được mang lại cho họ sự ngạc nhiên lớn, không phải do trọng lượng thịt của nó mà là khi mổ bụng xẻ ruột cá, thấy lẫn lộn trong mớ thức ăn bắt đầu mềm nhuyễn là các mảnh cứng của gốm sứ, không tiêu hóa được. Tin đồn loan đi, những người thân cận bảo trong bụng các con cá mú khác có cả dây chuyền, chuỗi hạt, và cả nắp bình cổ còn nguyên nữa!

Chi tiết có thể khác, không đúng hẳn, nhưng cái lõi đã thông tin về sự có mặt của một con tàu đắm đâu đó trong vùng đánh cá của họ. Hưng và Linh cùng một số bạn chài khác ghi nhớ chỗ câu “con cá vàng” kia, quay lại tọa độ đó nhiều lần, định bụng sẽ thám sát dưới sâu. Nhưng mấy tháng cuối năm ấy biển động kéo dài suốt mùa đông. Phải chờ ăn Tết Mậu Dần (1998) xong, họ tập hợp một số thợ lặn rành rõi, tin cậy, lặn sâu xuống vùng nghi ngờ.

Rà đi rà lại, họ phát hiện nơi có con tàu cổ bị đắm. Tiếp đó bằng nhiều cách rà tìm, họ vớt lên nhiều món đồ gốm cổ. Ban đầu còn kín chuyện song không lâu sau một số ngư dân khác trong vùng nghi ngờ, dò dẫm và vào cuộc. Thế là đợt khai thác tự phát của một số ngư dân Bình Thuận bắt đầu từ tháng 4/1998. Và hai tháng sau, họ vớt đem vào bờ hơn 30.000 cổ vật. Bấy giờ ngoài họ ra, những người tò mò chưa biết đích xác có tàu đắm dưới biển đã bàn tán thêm thắt đủ điều. Nào là có “bóng ma” vật vờ chỗ nước sâu ngoài khơi. Nào là chủ tàu nọ vớt lên cả xâu vàng dài ngót sải tay. Nhưng có một điều đa số họ ngộ nhận là vùng biển có tàu đắm mà họ cho là thuộc Bình Thuận thật ra thuộc tỉnh Cà Mau (thuộc huyện Trần Văn Thời). Một điều nữa, những hoạt động rà chài, lặn hụp, khai thác và bán hàng trục vớt được như thế đã bị phát hiện, báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận cho Bộ Văn hóa – Thông tin và các bộ ngành khác phối hợp khẩn trương tiến hành khảo sát, khai quật tàu cổ bị đắm dưới độ sâu 36m.

(Thanhnien)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Gốm Chu Đậu sau 400 năm thất truyền

Bấy lâu nay người ta chỉ biết đến gốm Bát Tràng, Quảng Ninh, Thổ Hà… kể cả những nhà nghiên cứu và giảng dạy về gốm sứ. Bởi lẽ họ chưa thấy có một trung tâm gốm nào thời Lê, nên khi thấy sản phẩm gốm hoa lam, gốm tam thái (3 màu – thực là 5 màu) thì nghĩ ngay là của Bát Tràng.

Gốm Chu Đậu thời Mạc

Gốm Chu Đậu thời Mạc

Sự thật không phải. Bởi đến nay, Bát Tràng vẫn chưa đưa ra được sưu tập gốm hoa lam thế kỷ 14 – 15. Trong khi đó gốm hoa lam, gốm tam thái là mặt mạnh của Chu Đậu từ thế kỷ 14, cực thịnh ở thế kỷ 15 – 16, bị lụi tàn đi ở thế kỷ 17. Điều này do nhiều nguyên nhân: Nội chiến Lê Mạc kéo dài từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17 rất khốc liệt. Nhà Mạc thất thủ phải lên ngàn. Nơi đây là vùng chiêm trũng của huyện Nam Sách. Mãi những năm cuối thập niên 20 thế kỷ trước Nam Sách mới có đê. Có nghĩa trước đó nước sông vào ra tự nhiên, tránh sao khỏi hư hại đến lò nung, sản xuất gặp nhiều khó khăn. Giặc Minh xâm lược nước ta, bắt đi nhiều nghệ nhân giỏi. Một số khác tìm đường đi làm ăn ở Nhật, Nam, Bắc Triều Tiên. Nghệ nhân Vương Quốc Doanh đem thợ đến Bát Tràng, góp một phần làm cho gốm sứ Bát Tràng hưng thịnh như ngày nay.

Tạo hình hiện đại của chiếc bình rượu cổ gốm Chu Đậu

Tạo hình hiện đại của chiếc bình rượu cổ gốm Chu Đậu

gốm chu đậu-1a

Chu Đậu là một vùng quê yên ả nằm bên tả ngạn sông Thái Bình thuộc trấn Thương Triệt, huyện Thanh Lâm, Nam Sách châu, nay là làng Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Theo các cụ già của làng kể lại thì xưa kia Chu Đậu là vùng Trần triều Hải khấu (cảng nhà Trần). Chữ Hán Chu là thuyền, Đậu là bến (bến thuyền đỗ). Nơi đây, thuyền bề ra vào tấp nập. Từ Chu Đậu, xuôi sông Thái Bình đến Nấu Khê, sang sông Kinh Thày ra cảng Vân Đồn – một cảng giao lưu với các nước của người Việt xưa. Cũng từ Chu Đậu xuôi sông Thái Bình sang sông Luộc đến Phố Hiến về Thăng Long – cũng là một thương cảng lớn từ thế kỷ XVII.

Từ lâu, người dân đồng bằng Bắc Bộ chỉ biết đến các làng gốm truyền thống Bát Tràng (Hà Nội), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Thổ Hà, Phù Lãng (Hà Bắc)… còn gốm Chu Đậu, căn cứ vào những di vật có ghi rõ niên hiệu thì đã hơn 400 năm thất truyền. Đến khi ông Makoto Anabuki nguyên Bí thư Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội, năm 1980 trong chuyến công tác tại Istambul, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ, khi đến thăm bảo tàng Topkapi Saray đã nhìn thấy chiếc bình hoa lam quý giá có ghi dòng chữ Hán: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị hý bút” (nghĩa là: Năm Thái Hoà thứ tám (đời vua Lê Thánh Tông 1450), thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách, vẽ chơi). Ông Makoto Anabuki đã viết thư cho Bí thư tỉnh ủy Hải Hưng là ông Ngô Duy Đông, nhờ các khảo cổ học chỉ cho chiếc bình gốm đó có xuất sứ từ làng gốm nào.

Sau một thời gian điền dã, khảo sát những dấu vết từ làng gốm cổ, từ năm 1986 đến 1997, các nhà khảo cổ học tỉnh Hải Dương đã xác định được phạm vi di tích sản xuất gốm rộng 4 vạn mét vuông tập trung nhất tại khu vực giáp đê sông Thái Bình thuộc địa bàn xã Thái Tân và Minh Tân huyện Nam Sách. Sau 7 lần khai quật, kết quả thu được thật bất ngờ đối với giới chuyên môn, còn đối với người dân địa phương thì họ đã khám phá được quá khứ lẫy lừng của tổ tiên mình: Hơn 100 đáy lò dưới lòng đất, hơn một vạn hiện vật chủ yếu là bát, đĩa, hộp, lọ, bình… Biện pháp bắn cacbon đã xác định được những sản phẩm này có niên đại cách đây khoảng 500 đến 600 năm.

Theo các nhà nghiên cứu thì Chu Đậu xưa là một trung tâm gốm cao cấp, xuất hiện vào cuối thế kỷ XIV, cực thịnh vào thế kỷ XV – XVI và tàn lụi vào thế kỷ XVII do nhiều nguyên nhân. Nội chiến giữa nhà Lê và nhà Mạc, vùng Nam Sách trong đó có làng gốm Chu Đậu đã bị tàn phá, các nghệ nhân làng gốm phải phiêu bạt đến vùng khác và lập nên các làng nghề gốm mới. Giặc Minh xâm lược nước ta đã bắt đi nhiều nghệ nhân giỏi, một số khác di cư sang Nhật, Triều Tiên hoặc đi tìm đường làm ăn ở các làng gốm trong nước như nghệ nhân Vương Quốc Doanh đã dẫn cả một đoàn thợ lên làng gốm Bát Tràng, góp phần làm cho gốm Bát Tràng hưng thịnh như ngày nay… Một nguyên nhân nữa là trấn Thương Triệt xưa là vùng chiêm trũng gần sông, dễ bị ngập lụt, khó tránh khỏi ảnh hưởng đến việc sản xuất gốm.

Cũng theo các nhà nghiên cứu, gốm Chu Đậu là sự kế thừa của gốm Vạn yên (Kiếp Bạc) thế kỷ XIII, gốm Lý – Trần về lớp men ngọc và tạo khắc hoa văn chìm nổi, kiểu dáng thanh thoát. Bởi vậy gốm Chu Đậu thời đó đã đạt được 4 tiêu chuẩn: Mỏng như giấy, trong như ngọc, trắng như ngà, kêu như chuông. Một điều nữa là gốm Chu Đậu đã thể hiện được tâm hồn Việt qua hoa văn trang trí gắn với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân vùng châu thổ sông Hồng như cảnh mục đồng chăn trâu, cô gái lái đò, người đội nón, mặc áo tứ thân, kết tóc đuôi sam, những mái nhà tranh ven sông, hoa sen dây, hoa cúc quấn, cỏ cây chim cá… Giữa các sản phẩm thường có chữ Phúc, Chính, Sĩ, Hoa, Trung, Kim, Ngọc, Tàm, Quỳ, Trù…, có thể là tên hiệu của các chủ lò. Phương pháp chế tạo cũng đạt trình độ cao, đó là chuốt, tạo dáng trên bàn xoay, ngắt sản phẩm thành nhiều công đoạn rồi lắp ghép lại và gia công. Xương gốm phần lớn có màu xám nhạt, cứng rắn, có loại trắng đục, trắng trong. Phương pháp trang trí rất đa dạng, phóng khoáng, trữ tình, hài hòa, tinh xảo như vẽ, khắc, họa, đắp… sản phẩm được phủ và vẽ chất liệu men trắng hoa lam, men ngọc, men màu tam thái hoặc rạn đục…

Dáng ấm phụng thanh thoát của gốm cổ Chu Đậu

Dáng ấm phụng thanh thoát của gốm cổ Chu Đậu

Người có công lớn với nghề gốm cổ truyền Chu Đậu là nghệ nhân Đặng Mậu Nghiệp tự là Huyền Thông, quê ở Hùng Thắng châu Nam Sách. Cũng tại bảo tàng Topkapi Saray ở thủ đô Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ) còn lưu giữ chiếc lư hương gốm mầu xanh xám của ông làm từ năm Hưng Trị thứ 2 (1589), một trong hai cổ vật gốm quý giá nhất của Chu Đậu. Người làng Chu Đâu xưa đã tôn ông là ông tổ nghề gốm Chu Đậu.

Đầu năm 1994, tại vùng biển Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam, ngư dân Duy Xuyên và Hội An đã phát hiện và lặn vớt được rất nhiều hiện vật gốm. Các nhà khảo cổ học Hội An, qua giám định khoa học, đã bất ngờ thấy rằng toàn bộ hiện vật gốm này đều có nguồn gốc từ làng gốm Chu Đậu, được sản xuất vào khảng thế kỷ XIV – XVI. Hơn 340 nghìn hiện vật gốm, trong đó khoảng trên 250 nghìn hiện vật còn lành, chứng tỏ từ xa xưa, gốm Chu Đậu đã được xuất cảng rộng rãi với số lượng lớn bằng con đường hàng hải. Như vậy Chu Đậu xưa là nơi hoạt động, sản xuất đồ gốm dân dụng và mỹ thuật phồn thình của cư dân Việt.

Đến nay, những sản phẩm gốm Chu Đậu đã được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên thế giới. Từ Ai Cập đến Trung Cận Đông và toàn bộ các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Nhật Bản là nước có sản phẩm gốm Chu Đậu nhiều nhất. Đến nay đã có 46 bảo tàng của các nước trên thế giới có trưng bày các hiện vật gốm Chu Đậu.

Giá trị của gốm Chu Đậu, sau khi được tìm thấy ở Cù Lao Chàm, đã làm sửng sốt trong giới học giả và mọi người. Tờ Việt Mercury số ra tháng 6/2000 đã đăng lời bà Dessa Goddard – Giám đốc ngành nghệ thuật Á Châu của nhà bán đấu giá Butterfields tại San Francisco: “Phát hiện này đang trả lại cho Việt Nam một chương của di sản nghệ thuật mà người ta từng nghĩ là đã hoàn toàn biến mất”.

Người dân ở làng gốm Chu Đậu hầu như không ai hiểu, thậm chí nhiều người còn không hay biết ở làng có nghề gốm truyền thống nổi tiếng mà chỉ biết đến nghề dệt chiếu truyền thống có từ đầu thế kỷ XIX nếu không có cổ vật gốm Chu Đậu tại bảo tàng Topkapi Saray, thủ đô Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ), hoặc hiện vật được trục vớt ở vùng biển Cù Lao Chàm và hiện vật khai quật được tại chính quê hương của họ. Sống trên mảnh đất đã sản sinh ra dòng gốm quý giá nhưng chẳng có người dân Chu Đậu nào ngày nay còn biết đến nghề này. Họ chỉ quẩn quanh với đồng ruộng và nghề dệt chiếu nên cuộc sống rất khó khăn.

Một sự kiện mang tính lịch sử đối với làng gốm cổ truyền Chu Đậu. Năm 2000, ông Nguyễn Hữu Thắng, giám đốc Công ty Sản xuất, Dịch vụ và Xuất nhập khẩu Hà Nội (HAPRO), người quê Nam Sách đã về Chu Đậu để thực hiện một dự án đầu tư sản xuất mặt hàng gốm xuất khẩu theo phương pháp phục chế gốm cổ và tạo mẫu sản phẩm mới theo phong cách gốm cổ Chu Đậu, nhằm khôi phục thương hiệu nổi tiếng của quê hương mình.


Nguồn ảnh minh họa gốm Chu Đậu sản xuất ngày nay: VânChi’s page, click trên hình để xem bigger size

Được sự ủng hộ của chính quyền và nhân dân địa phương, tháng 10-2001, Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã ra đời và bắt đầu đi vào hoạt động với tổng số vốn đầu tư giai đoạn một là 24 tỷ đồng. Cơ sở rộng 33.250m2 được xây dựng bên dòng sông cổ chảy qua làng. Ông Nguyễn Hữu Thắng, giám đốc Công ty cho biết: Giai đoạn đầu của xí nghiệp là mở cuộc săn lùng, sưu tầm những mẫu gốm cổ độc đáo, chiêu hiền đãi sĩ nhằm tập hợp những chuyên gia, nghệ nhân tài danh nhất trong các làng gốm cổ truyền đến xí nghiệp, cộng tác nghiên cứu để tìm ra từng loại gam màu của gốm cổ. Hơn 20 nghệ nhân từ Hà Nội, Bình Dương, Biên Hòa, Hải Dương… đã hợp tác với xí nghiệp, vừa nghiên cứu những nét đặc sắc của gốm cổ Chu Đậu, vừa thiết kế những mẫu sản phẩm mới để chuẩn bị đưa vào sản xuất. Gần 200 thanh niên, chủ yếu là người của làng Chu Đậu được tuyển chọn và đào tạo, truyền dạy kỹ thuật cơ bản và bí quyết trong từng công đoạn chế tác, nhằm tạo họ thành những tay thợ đầu đàn trong các lò gốm gia đình trong tương lai. Tiến tới, xí nghiệp mời các nghệ nhân đến dạy nghề cho con em địa phương trong những vùng lân cận.

Bắt đầu từ tháng 5 – 2003 Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã xuất khẩu lô hàng đầu tiên với 8490 sản phẩm trị giá 20.000USD sang thị trường Tây Ban Nha. Thế là sau gần 400 năm, Chu Đậu lại có hàng xuất sang Tây Ban Nha, nơi nhập chuyến hàng cuối cùng của Chu Đậu vào thế kỷ XVII.

Theo ông Nguyễn Văn Lưu giám đốc xí nghiệp thì: “Từ đó đến nay, xí nghiệp đã xuất khẩu nhiều lô hàng đến nhiều nước trên thế giới và sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng trong nước, gốm Chu Đậu đã thực sự hồi sinh và được đón nhận. Hơn 200 cán bộ và công nhân của xí nghiệp luôn có việc làm, thu nhập bình quân hàng tháng đạt 800 nghìn đồng mỗi người”.

Để giới thiệu sản phẩm gốm Chu Đậu của xí nghiệp với khách hàng trong nước, nước ngoài và với khách du lịch, mới đây xí nghiệp đã khánh thành nhà trưng bày và giới thiệu sản phẩm rộng trên 1000m2. Đồng thời với việc phát triển thương mại, UBND tỉnh Hải Dương cũng đầu tư để thôn Chu Đậu có cơ hội phát triển du lịch làng nghề. Đường từ thành phố về làng và đường nội bộ trong làng được nâng cấp. Đền thờ ông tổ nghề gốm Chu Đậu là Đặng Mậu Nghiệp được tu sửa khang trang. Các di tích lò gốm cổ được gìn giữ, nhà trưng bày gốm Chu Đậu, nơi lưu giữ nhiều hiện vật gốm cổ cũng được sửa sang đón khách. Cuộc sống của một làng nghề truyền thống đã từng bước cải thiện.

Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã làm thức dậy một làng nghề có một giấc ngủ dài 400 năm. Sản phẩm của xí nghiệp bắt đầu có tiếng trong nước và một số nước trên thế giới. Tuy nhiên đến làng Chu Đậu, cái không khí của một làng nghề truyền thống không có, bởi duy nhất chỉ có một Xí nghiệp gốm Chu Đậu nằm đơn độc ngoài bìa làng, trông giống như một liên doanh sản xuất công nghiệp.

Nhận thấy tầm quan trọng của việc khôi phục và phát triển một làng nghề gốm danh tiếng. Bộ Công nghiệp đồng ý và giao cho Viện Nghiên cứu Sành sứ Thủy tinh cùng Sở Công nghiệp Hải Dương phối hợp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học nhằm khôi phục và phát triển làng gốm cổ Chu Đậu.

Như vậy, dự án khôi phục, phát triển sản xuất và du lịch làng nghề gốm cổ Chu Đậu sẽ làm sống lại một làng nghề sau nhiều năm bị thất truyền. Bộ mặt vùng quê thuần nông bên sông Thái Bình sẽ được thay đổi toàn diện. Hàng ngàn lao động sẽ có việc làm, đời sống của bà con làng nghề sẽ được cải thiện. Không khí làng nghề sẽ trở lại, thương hiệu gốm Chu Đậu Việt Nam sẽ hồi sinh, phát triển sau hơn 400 năm bị quên lãng.

Theo Hội Dân Tộc Học Việt Nam (VAE)

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Hoa văn trên gốm tàu cổ Cù Lao Chàm


Đĩa sứ men trắng vẽ lam. Ảnh: Xuân Hoàng

Gốm trên tàu cổ Cù Lao Chàm phong phú, với số lượng thống kê từ khai quật khoa học là 240.000 tiêu bản, đó là chưa kể suốt từ năm 1994 (1) đến năm 1997, ngư dân đã vớt được từ những cuộc lặn ngụp, cào quét với số lượng không thể thống kê và gần chục xe tải cỡ lớn những mảnh vỡ, hiện đang được bảo quản, lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Quảng Nam.

Gần đây, bộ đội biên phòng, công an tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định còn bắt được nhiều vụ buôn bán trái phép đồ gốm Cù Lao Chàm, khiến cho số lượng khó tin, đó là hàng hoá chỉ của một con tàu. Điều này còn được minh chứng qua lời kể của ông Nigel Kerr, chuyên gia lặn và là trưởng ban khảo sát của Công ty Saga Horizon  (Malaysia) khi phát hiện ở khu vực nhỏ hẹp, với toạ độ 16000 – 16008 vĩ tuyến và 108027’ – 108032’ kinh tuyến có tới hai ụ đất, giống với ụ đất đã vùi chiếc tàu cổ Cù Lao Chàm. Phải chăng, biển Cù Lao Chàm có nhiều tàu đắm và ít nhất có hai chiếc tàu chở gốm Việt Nam. Nhiều tàu đắm ở đây đã được sáng tỏ qua sưu tập gốm mà chúng tôi được xem của Bảo tàng Quảng Nam, do bộ đội biên phòng tỉnh thu giữ, cùng những thông tin thấy được từ phòng trưng bày gốm thương mại ở Hội An(2). Hai con tàu cùng đắm một lúc rất có thể xảy ra, khi chính sử Trung Quốc có ghi những đoàn tàu buôn của Trịnh Hoà đương thời, đi tới 62 chiếc**. Nguy hiểm và tai biến dọc đường cho những con tày xấu số rất dễ xảy ra. Nói như thế, để có  phần thanh minh cho bài viết này, nếu có nhận xét gì chưa bao quát thì âu cũng là sự tiếp nhận tư liệu, mới chỉ một con tàu đã khai quật, kết thúc năm 2000.Cũng phải nói ngay rằng, tư liệu được sử dụng ở bài viết về hoa văn gốm trong con tàu Cù Lao Chàm này, chỉ dừng lại ở gốm hàng hoá của Việt Nam, trong khi, cùng với chúng còn có gốm Trung Quốc, Thái Lan, mà theo tôi, đó là những vật dụng của thủy thủ đoàn, sẽ không là đối tượng khảo sát. Thiết tưởng như thế là chưa đủ, nhưng cũng không quá bận tâm, khi phần lớn chúng là gốm độc sắc, chỉ có một hai tiêu bản gốm men trắng vẽ lam thời Minh.

Khoanh đối tượng tư liệu khảo sát là như thế, song bài viết này cũng không có tham vọng thống kê được toàn bộ hoa văn trang trí gốm trong tàu, bởi chúng phong phú đến mức, cả Tống Trung Tín và tôi, trong báo cáo của mình, đã từng nhận xét: “hoa văn trên sưu tập gốm Cù Lao Chàm là phong phú nhất, đa dạng nhất, với nhiều đề tài mới lạ và vô cùng đẹp mắt”(3).

Nói như thế, xin được một dịp khác, với độc giả, quay lại đề tài này kỹ lưỡng và chu đáo hơn. Ở đây, tôi chỉ dám lướt nhìn các loại đề tài, theo đó, phân tích bút pháp trang trí, may chăng có đôi điều đóng góp vào cách nhận nhìn gốm Việt Nam thời Lê Sơ mà bao lâu nay, chưa mấy ai đề cập.

I- Điểm đôi nét về hoa văn trên gốm Cù Lao Chàm.

Gốm hàng hoá trên tàu cổ Cù Lao Chàm được đa số thống nhất là sản phẩm của các lò gốm thuộc các trung tâm gốm Hải Dương. Nói một cách cụ thể, đó là gốm của lò Chu Đậu, Mỹ Xá, Thăng Long.

Cho đến nay, còn có hai loại ý kiến về niên đại đồ gốm trên tàu. Học giả người Anh, Joh Guy, cho niên đại sưu tập này là nửa cuối thế kỷ XV(4). Tống Trung Tín, Vaxiliep, tôi và một số nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng, chúng có niên đại vào nửa đầu của thế kỷ ấy(5). Lý do thì có nhiều, kể cả từ hai phía, nhưng, bài viết này, chỉ gợi mở, để độc giả cùng suy nghĩ và cũng là sự bắc nối cho những nhận định dưới đây về hoa văn trang trí, nên niên đại tàu chỉ là một tiêu chí tham khảo mà thôi.

Gốm tàu cổ Cù Lao Chàm không chỉ có hoa lam, dù gốm hoa lam là chủ yếu, bên cạnh đó còn có gốm độc sắc (men lam xám, men trắng, men nâu, men caladon) và gốm men nhiều màu. Kể cả men nhiều màu cũng như men độc sắc, đều có hoa văn trang trí, tuy kỹ thuật có khác nhau. Chi tiết của từng loại hoa văn được thể hiện trên từng loại men sẽ không được đề cập cụ thể, cho dù, có sự khác biệt đáng quan tâm. Dẫu vậy, ở đây, tôi xin được bàn nhiều tới hoa văn trên gốm men nhiều màu và gốm men trắng vẽ lam.
Có thể nói khái quát rằng, hoa văn trên hai loại gốm này của tàu cổ Cù Lao Chàm bao gồm hai kỹ thuật, vẽ lam dưới men trắng, nung nặng lửa và vẽ màu trên men trắng, nung nhẹ lửa. Đề tài thể hiện trên hai loại gốm này khá đa dạng, có thể tóm tắt như sau:
– Đề tài con người được coi là khá hiếm hoi trong phổ hệ gốm Việt Nam nói chung, gốm men trắng vẽ lam thời Lê nói riêng, thì với sưu tập này, lại khá phong phú. Có thể khẳng định được rằng, đây là sưu tập giàu có nhất từ trước tới nay về đề tài con người ta được biết. Đó là các vị nam thần, nữ thần, tiên ông, tiên bà, những quý tộc trong lầu son gác tía, các cụ già thả câu, chèo thuyền, các trai tráng quản tượng, những chiến binh, những trẻ em nô đùa, cưỡi trâu thổi sáo…

– Đề tài động vật được thể hiện dưới hai dạng thức, đó là những con vật linh: rồng, lân, rùa, phượng và những con vật có thật trong đời thường như sư tử, voi, hổ, ngựa, trâu, bò, khỉ, hươu, chim đại bàng, vẹt, chích choè, chào mào, sáo, bói cá, vịt, thiên nga, chim sâu, dơi…

– Ở đây, chúng ta cũng còn gặp các loại côn trùng được tả thực rất sinh động: ong, bướm, chuồn chuồn…

– Rồi, cũng ở đây, còn có sự hội tụ của các loài thủy sinh được miêu tả, theo tôi là ấn tượng nhất, qua những nét vẽ cực kỳ phóng khoáng, nhưng chi tiết đến lạ lùng. Rắn, cá chép, cá măng, cá trê, tôm, cua, ếch… đều được đặt trong bối cảnh sinh thái, nên sống động và hấp dẫn.

– Đề tài phong cảnh sơn thuỷ cũng được thể hiện khá đa dạng: nhà cửa, chùa tháp, cung điện, cầu cống, sông nước, mây trời… Rất nhiều trong số đó như những trường cảnh của một cuốn phim: Một người phụ nữ đang tắm, khuất lấp sau một bụi cây, xa xa là một chú nhóc trèo lên cây ngó nhìn trộm và một người đàn ông ngoảnh mặt, đưa quần áo cho người phụ nữ đang tắm với thái độ và cử chỉ quá vụng về. Rồi một “đám cưới trên sông” với một nam, một nữ ngồi trên thuyền. Chiếc ô rộng xoè chở che cho đôi uyên ương quá giang. Còn rất nhiều, rất nhiều những cảnh tương tự mà tôi chỉ đưa ra đôi ba dẫn dụ để làm cơ sở cho những nhận xét ở phần sau.

– Đề tài hoa lá, cây cối chiếm số lượng nhiều hơn cả. Đó là hoa sen, hoa cúc, hoa mẫu đơn, tùng, mai, cúc, trúc và các loại cây cổ thụ, được thể hiện khi thì phóng khoáng kể cả trên bố cục cũng như nét vẽ, khi thì khuôn cứng trong các băng hẹp, khi thì tỉa tót đến chi tiết. Những loại cây hoa lá ấy, không có nhiều sự lạ lẫm trong đồ án, mà rất phổ biến trên gốm vẽ lam Việt Nam.

Điểm đặc biệt đáng lưu ý ở sưu tập gốm Cù Lao Chàm là, chúng ta chỉ thấy hoa văn men lam vẽ dưới men nung nặng lửa được thể hiện sinh động trong đề tài cũng như nét vẽ. Những màu vàng, màu xanh lục, màu đỏ nâu vẽ trên men dường như không tham gia vào bố cục và đề tài như một thành  phần chủ yếu, mà đó chỉ là những đường viền điểm xuyết để tạo nên sự sang trọng, nhưng lại càng làm cho đề tài thêm khuôn cứng vào những đường viền ấy. Đây là một đặc điểm của gốm men nhiều màu Việt Nam, so với Trung Quốc, ít nhất nhìn từ sưu tập gốm Cù Lao Chàm. Đặc biệt, cũng ở sưu tập này, men màu còn có sự tham gia của vàng kim, được vẽ thành những mảng khối, để tạo nên những cánh sen, chủ yếu cũng chỉ là những đường viền trang trí cho hoạ tiết chính yếu là men lam. Cách thể hiện này một mặt làm cho gốm đa sắc Việt có thêm sự cao sang, quyền quý, nhưng một mặt khác, lại làm cho tính phóng khoáng, bay bướm vốn thường thấy trên hoa văn gốm Việt, bị khô cứng vì phong toả từ những đường viền. Đây lại là một đặc điểm phổ biến của trang trí gốm men vẽ vàng kim, bởi một lẽ, vàng là một nguyên liệu quý hiếm, không thể sử dụng như một màu sắc chủ đạo của các loại hoa văn.
Có thể chắc chắn rằng, tôi chưa nhìn thấy men màu nung nặng lửa trong sưu tập gốm Cù Lao Chàm. Đây cũng là một hiện tượng mà gốm men Trung Quốc đồng thời ít thấy. Ở Việt Nam, thời Mạc, và đặc biệt là thời Nguyễn, gốm men nhiều màu nung nặng lửa mới xuất hiện nhiều.

Như vậy, hoa văn trên gốm men nhiều màu tôi đã có đôi dòng phân tích, cũng chỉ là một sự lướt qua, để độc giả có một khái niệm đầy đủ hơn về kỹ thuật thể hiện hoa văn trên sưu tập gốm này và vài lời miêu tả để thấy đôi nét đặc biệt về kỹ thuật cùng sự phổ quát của đồ án không có mấy sự lạ lẫm, để phần viết dưới đây sẽ dành chủ yếu cho sự phân tích phong cách trên gốm men trắng vẽ lam.

II- Phong cách trang trí hoa văn trên gốm Cù Lao Chàm.

Hà Văn Cẩn, trong luận án tiến sĩ của mình, khi nói về gốm Việt Nam trong giai đoạn này, anh có đưa ra một khái niệm mới lạ, thuần Việt, đó là phong cách thoáng và phong cách chặt (6). Sự thoáng và chặt ở đây có lẽ bao hàm cả hoạ tiết và bố cục. Chắc cũng chẳng có gì sai. Thế nhưng, thuật ngữ hội hoạ truyền thống Đông Phương nói chung và trên gốm nói riêng, cũng tương tự khái niệm này, người ta dùng công bút và phóng bút. Dường như với hai thuật ngữ ấy, người ta quan tâm nhiều tới nét vẽ, tới phong cách vẽ. Có thể bố cục của một đồ án hoa văn rất chặt, thậm chí, khuôn cứng là đằng khác, nhưng trong đó, người ta vẫn dùng lối vẽ phóng bút, hoặc ngược lại, đồ án có thoáng rộng, hoạ sĩ vẫn có thể dùng lối công bút để biểu đạt. Nói như thế, tôi vẫn thích và ưa dùng khái niệm truyền thống xưa nay.

Trong sưu tập gốm cổ Cù Lao Chàm thể hiện khá rõ hai phong cách này. Có những đồ án vẽ cảnh người phụ nữ tắm, như tôi đã trích dẫn trên đây, và nhiều đồ án vẽ sơn thuỷ, tùng đình, tam hữu, cá chim, với những nét tỉ mỉ, li ti như sợi tóc được biểu đạt trên những hiện vật rất nhỏ, khuôn trong những hình tròn, ô vuông chữ nhật… Song, cũng là vẽ cảnh, vẽ người, mà hội hoạ truyền thống Trung Quốc ưa dùng lối công bút, thì nhiều hiện vật của gốm Cù Lao Chàm, dùng lối vẽ phóng bút để diễn tả. “Đám cưới trên sông”, đạo sĩ hay chim chích choè, thiên nga…, chỉ bằng đôi ba nét, đã tạo nên một bức tranh sinh động. Tôi ưa nhìn và xúc động trước những tác phẩm ấy hơn. Dường như công bút không thích hợp với người Việt và đó cũng là một nhược điểm bởi kỹ thuật nung, chất liệu men quy định.

Khảo sát men lam trên sưu tập gốm cổ Cù Lao Chàm, tôi thấy có hai loại, một là lam Hồi, có màu xanh như mực Cửu Long, được nghệ nhân sử dụng phổ biến cho lối vẽ công bút, bởi lam Hồi có ưu Việt là không bị nhoè, không bị chảy khi nung ở nhiệt độ cao. Trong khi ấy, một loại men lam xanh đen, mà người Trung Quốc coi đó là nội địa, hay bị nhoè, bị chảy, nên không thích hợp với lối vẽ này, do đó, sử dụng chủ yếu để vẽ phóng bút.

Có thể đây chỉ là nhận xét mang tính phổ biến, nhưng với thợ thủ công Việt, lam Hồi vẫn được sử dụng để phóng bút, mà rất nhiều tác phẩm trong sưu tập Cù Lao Chàm tôi đã thấy. Tuy nhiên, màu lam xanh đen được sử dụng triệt để hơn trong lối vẽ này.

Với hai lối vẽ trên đây, đã có không ít nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước bảo rằng, đó là hai truyền thống riêng biệt giữa gốm Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam ưa phóng bút. Trung Quốc có truyền thống công bút. Và, cũng bởi thế, họ cho rằng, rất nhiều những sản  phẩm gốm Việt Nam xuất khẩu hoặc cung đình, hoàng tộc có lối vẽ công bút, do thợ gốm Trung Quốc làm. Lý do lịch sử được viện dẫn, bởi nhà Minh bế quan toả cảng (“Thốn bản bất hạ hải”), nên rất nhiều thợ từ Trung quốc sang Việt Nam làm thuê hoặc mở lò sản xuất, tạo điều kiện cho ngành nghề thủ công làm gốm của Việt Nam phát triển và hàng hoá gốm chiếm lĩnh thị trường thế giới ở thế kỷ XV – một thế kỷ hoàng kim của gốm sứ Đại Việt. Lý do hiện vật, họ lấy chiếc bình gốm Việt Nam nổi tiếng ở Thổ Nhĩ Kỳ, có niên đại Thái Hoà (1450), có minh văn nói về người phụ nữ họ Bùi vẽ chơi, mà chính bà là thợ gốm Trung Quốc di cư xuống Việt Nam, đến vùng Hải Dương để biểu diễn tài vẽ của mình.

Tương tự ý kiến này, các nhà nghiên cứu gốm Úc Châu, khi đến làm việc ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, có xem chiếc bình gốm mà Nguyễn Đình Chiến và Diệp Đình Hoa (7) cho là của thời Nguyên, còn tôi thì cho là của Việt Nam sản xuất, có niên đại và hoa văn trang trí giống như bình Istambun(8), thì họ đã đồng ý về niên đại và xuất xứ chiếc bình, song cho đó là sản phẩm của thợ gốm Trung Quốc.

Có lẽ trong chúng ta, không mấy ai phủ nhận mối quan hệ, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa các trung tâm sản xuất gốm đương thời và trong mối giao lưu ấy, tần số phát sóng của các trung tâm gốm Trung quốc có thể mạnh hơn, khiến cho cả gốm Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Thái Lan… chịu ảnh hưởng. Nhưng, đó ắt không phải là sản phẩm trực tiếp của người thợ gốm Trung Quốc. Nhìn sưu tập gốm cổ Cù Lao Chàm, lối vẽ rất Việt dường như được thể hiện rất đậm trên từng tiêu bản tôi đã nhận ra, kể cả phong cách lẫn thể tài trang trí.

Trước hết, nói về phong cách, tôi có thể đưa ra hàng loạt ví dụ, để thấy rằng, ngay cả trên những sản phẩm vẽ công bút, nếu được coi là truyền thống vẽ Trung Quốc, thì tính quy chuẩn trong các đồ án hoa văn không cao. Đây lại dường như là một đặc điểm rất nổi trội trên gốm cổ Việt Nam. Cũng có người bảo rằng, sự thiếu quy chuẩn ấy, không thể lấy các sản phẩm lò quan Cảnh Đức Trấn để so sánh, mà gốm Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng từ gốm Quảng Đông (Trung Quốc) và những sản phẩm ấy là của thợ gốm Quảng Đông vẽ. Tôi chưa có mấy sự so sánh với gốm Quảng Đông đồng thời với sưu tập này, nhưng muộn hơn đó chút ít, cách vẽ của gốm Quảng Đông hoàn toàn khác. Tính bảo lưu và truyền thống sao dễ thay đổi được!

Cũng thuộc về phong cách, tôi thấy gốm sứ Trung Quốc tuân thủ chặt chẽ luật viễn cận (xa gần), bởi thế, mỗi tác phẩm của họ như một bức tranh của một hoạ sĩ. Trên những bức tranh ấy, các nhân vật được thể hiện khá chi tiết, mang tính giải phẫu của hội hoạ hiện đại. Thế nhưng, trên rất nhiều đồ gốm Cù Lao Chàm, cũng là những bức tranh, yếu tố ước lệ dường như vẫn là nét hằng xuyên của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Ở đây, ta còn gặp những tác phẩm không hề tuân thủ luật xa gần, không có không gian ba chiều, khiến cho chúng ta ngờ ngợ đó là những bức tranh dân gian của Đông Hồ, Kinh Bắc. Thật khó có một tư liệu để chứng minh nguồn gốc của những bức tranh dân gian kia là từ đây hoặc sớm hơn thế, nhưng phong cách thể hiện ấy, không thể phủ nhận sự giống nhau giữa chúng. Tuy nhiên, không phải tất cả gốm cổ Cù Lao Chàm được thể hiện như thế, cũng có nhiều bức tranh vẽ theo nguyên tắc của luật viễn cận, song nội dung đề tài lại hoàn toàn mang tính dân gian.

Có thể đưa ra một ví dụ rất điển hình, đã được giới thiệu, đó là cảnh người phụ nữ đang tắm. Đây là một loại đề tài ta chỉ thấy trong nghệ thuật dân gian. Và, trên không ít những mảng điêu khắc gỗ đình làng Việt đương thời, cũng thể hiện nhiều cảnh sinh hoạt dân gian, mà một trong những tác phẩm tiêu biểu là cảnh phụ nữ tắm trong đầm sen, được giới nghệ thuật cho đó như là một sự hoà quyện giữa nghệ thuật tôn giáo với nghệ thuật dân gian, để tạo nên một truyền thống nghệ thuật Việt, khó phân biệt đâu là cung đình, đâu là dân gian, đâu là tôn giáo.

Dân gian thì ở đâu mà chẳng có. Nghệ thuật gốm sứ ngoài cung đình của Trung Quốc cũng rất nhiều. Thế nhưng, những cảnh như thế này trên gốm sứ xuất khẩu, có lẽ chỉ thấy ở Việt Nam.

Dường như trong sưu tập gốm Cù Lao Chàm, mặc dù có rất nhiều tiêu bản vẽ sơn thuỷ, phong cảnh, tùng đài, song không hề thấy một nguyên mẫu nào của tích cổ Trung Hoa, trong khi ấy, ở Trung Quốc đương thời, tích Tam Quốc diễn nghĩa, Thuỷ Hử… là những đề tài thường được khai thác tối đa. Cũng vậy, trên gốm Cù Lao Chàm có “tam hữu”, “tứ quý”, “tứ linh”, nhưng cách diễn tả, bố cục không hề giống chút nào với gốm Trung Hoa cũng thể hiện những đề tài tương tự.

Tôi có thể trích dẫn ra đây rất nhiều tiêu bản để độc giả thấy được những yếu tố đặc trưng gốm Việt bên cạnh những thành tố ảnh hưởng Trung Hoa. Nhưng, những ảnh hưởng ấy không thể biến chúng như là những sản phẩm của người thợ gốm Hoa làm trên đất Việt. Đó chính là mục đích tôi muốn gửi gắm đến người đọc, những người quan tâm, để cùng chiêm nghiệm thêm, nếu như được tiếp xúc với gốm Việt Nam nói chung và gốm Cù Lao Chàm nói riêng.

Tôi không phải là người quá cực đoan để tôn vinh những giá trị văn hoá truyền thống Việt, mà trong đó, di sản gốm được xem như một địa hạt nổi trội. Hãy đặt mình chỉ là một người quan tâm, chứ chưa phải đã là yêu văn hoá Việt, sẽ thấy được giá trị ấy. Bài viết này chỉ là một gợi ý rất nhỏ để định thêm giá trị riêng biệt của gốm cổ Việt, một di sản đã được một số học giả thế giới thừa nhận, đang và sẽ được tôn vinh trong giới sưu tập cổ ngoạn thế giới cũng như trong nước. Đó là điểm đáng tự hào của gốm sứ Việt Nam mà chúng ta cần phát huy cho nghề gốm hôm nay.

TS.Phạm Quốc Quân

______________

Chú thích:
1- Trịnh Cao Tưởng: Báo cáo sơ bộ về tàu thuyền cổ bị đắm chìm trong vùng cửa biển Hội An, Quảng Nam-Đà Nẵng – trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1994.
– Trịnh Cao Tưởng và Seichi Ki-ku-chi: Thêm thông tin về con tàu chở gốm Chu Đậu ở thế kỷ XVI bị đắm ở ngoài khơi của cửa biển Hội An – trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1995.
2- Trong sưu tập gốm này, có rất nhiều hiện vật lạ, mà chúng tôi cho rằng, chúng có niên đại Hán – Đường, thế kỷ I-III và thế kỷ VII-X.
3- Phạm Quốc Quân – Tống Trung Tín: Báo cáo kết quả khai quật khảo cổ học dưới nước tàu đắm cổ Cù Lao Chàm (Quảng Nam) (1997-1999) – Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
4- John Guy: Bài nghiên cứu trong catalogue gốm cổ Hội An bán đấu giá ở Mỹ năm 2000 do Butterfild Auctioneers copr thực hiện. Treasures from the Hội An Hord Vol 1.
5- Phạm Quốc Quân, Tống Trung Tín, đã dẫn.
– Phạm Quốc Quân, trong bài đề dẫn catalogue gốm cổ Hội An bán đấu giá ở Mỹ năm 2000 do Butterfild Auctioneers copr thực hiện. Treasures from the Hội An Hord Vol 1.
6- Hà Văn Cẩn: Các trung tâm sản xuất gốm sứ cổ ở Hải Dương. Luận án tiến sĩ khảo cổ học, năm 2000, tư liệu Viện Khảo cổ học.
7- Nguyễn Đình Chiến – Diệp Đình Hoa: Về chiếc bình gốm hoa lam mới trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1992.
8- Phạm Quốc Quân: Bàn về ảnh hưởng của gốm sứ Trung Hoa đối với gốm Việt Nam. Khảo cổ học, số 4-1992.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Những bức họa cổ Trung Quốc, thời nhà Thanh (1644 – 1840) – Phần cuối

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »