Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm 14th, 2009

Tranh kính nghệ thuật

Việc sử dụng tranh kính trong trang trí nội thất đã trở nên khá phổ biến ở các nước trên thế giới, đặc biệt là châu Âu, châu Mỹ. Còn tại Việt Nam, loại hình nghệ thuật trang trí này mới chỉ thực sự phát triển khoảng hơn 10 năm gần đây.

Tranh kính trong không gian thư viện.

Tranh kính ngày xưa thường được dùng trang trí cho các cung điện, lâu đài, nhà thờ, được ghép bởi những mảng kính màu với nhau bằng vật liệu đặc biệt để tạo thành những bức tranh đầy màu sắc. Ánh sáng chiếu qua tranh kính sẽ đem lại hiệu quả cao, giúp không gian trở nên lung linh. Do xuất xứ của tranh kính từ những nơi cổ kính, sang trọng nên chúng thường có nét cổ điển, sang trọng cho không gian kiến trúc. Với nghệ thuật kiến trúc hiện đại, tranh kính được áp dụng như một thủ pháp trang trí pha nét nghệ thuật thủ công.

Hiệu quả của tranh kính trong trang trí trần.

Từ chỗ chỉ trang trí cho các nhà hàng, khách sạn… nay tranh kính đã lan rộng ra các công trình nhà ở, văn hóa và đặc biệt là tôn giáo. Tranh kính được trang trí nhiều vị trí trên công trình kiến trúc như vòm phẳng, cong, cửa đi, cửa sổ, bức hoành phi, mặt tiền, vách ngăn, các loại đèn trang trí ốp tường, treo trần, để bàn…

Tô điểm cho những ô cửa sổ.

Sản phẩm kính màu ghép được sản xuất hoàn toàn trên nguyên vật liệu nhập ngoại, với 24 gam màu chuẩn và hơn 360 gam màu phụ có sẵn trong kính, kết cấu bởi những hoa văn, họa tiết được ghép lại với nhau tạo thành mặt phẳng hoặc mặt cong kính. Sản phẩm được làm ra bằng thủ công do các nghệ nhân và thợ lành nghề Việt Nam. Trải qua các công đoạn như thiết kế tạo mẫu, cắt kính và mài dũa, gia công vật liệu và tạo đường nét, vẽ, qua nhiệt độ nung cao để tạo kết dính chất liệu, thi công lắp ráp cho các công trình.

Những mảng tranh kính được ghép, vẽ thủ công.

Tuy nhiên hiện nay, do phương pháp chế tác tranh kính bằng phương pháp ghép kính màu khá cầu kỳ, giá thành cao nên người ta nghĩ ra phương pháp vẽ trực tiếp lên kính bằng hóa chất đặc biệt rất khó phai màu. Phương pháp này làm cho giá thành tranh kính giảm xuống nhiều. Hiện nay giá tranh kính dao động từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/m2 theo từng chủng loại.

Tranh kính là sản phẩm của sự sáng tạo và sắp đặt. Khi dùng tranh kính, bạn nên nhờ sự tư vấn của nghệ nhân hoặc kiến trúc sư. Tranh kính khi trang trí đúng cách sẽ đem lại hiệu quả rất cao, nhưng nếu tranh kính sử dụng ẩu sẽ có tác dụng ngược lại, làm cho căn phòng bị cảm giác quá diêm dúa và màu mè. Tranh kính chỉ có tác dụng thực sự khi được ánh sáng chiếu xuyên qua và thường được trang trí tại vị trí ranh giới giữa sáng và tối.

(Theo VnExpress)

Read Full Post »

Tranh kính phươngTây – lịch sử và phát triển

Kính (thuỷ tinh) được khám phá tình cờ trong quá trình lao động của người thợ làm gốm và trang sức, thời gian đầu kính mờ đục nhưng lại vô cùng quí giá. Thời đại của kính bắt đầu khoảng năm 2750 đến 2650 trước Công Nguyên, khi lối kiến trúc nổi hình chuỗi hạt của Ai Cập thịnh hành. Trãi qua nhiều quá trình phát triển, kính cũng có sự tiến hóa, từ các kỹ thuật sản xuất cho đến sự xuất hiện màu sắc trên kính. Sự sáng tạo trong nghề thủ công làm kính màu đã dần hình thành một kỹ thuật kính màu Stained Glass.

Dựa vào các di tích được tìm thấy ở Pompeii và Heraculaneum, Ý, kính màu Stained Glass được sử dụng đầu tiên trong các cung điện, trong các lâu đài và dinh thự của người La Mã thượng lưu vào thế kỷ đầu sau Công Nguyên. Vào thời điểm này, Stained Glass luôn được những tầng lớp quí tộc sử dụng trong trang trí cho ngôi nhà của họ. Stained Glass bắt đầu được đánh giá là một loại hình nghệ thuật khi những người theo đạo Cơ Đốc giáo (Đạo Chúa) được phép tín ngưỡng công khai vào năm 313 sau Công Nguyên. Mẫu hiện vật sớm nhất còn tồn tại là tấm Stained Glass minh họa phần đầu của Chúa từ thế kỷ thứ 10 được khai quật ở Lorsch Abbey, Đức.

Vào thế kỷ thứ 10, khi kính màu Stained Glass trở nên hưng thịnh như một phong cách sở hữu giá trị nghệ thuật cao cấp, các xưởng sản xuất thủ công kính màu được xây dựng ở những nơi được cung cấp tối đa silic dioxit, hợp chất của silic dưới dạng thạch anh, đá lửa hay trong sa thạch và những loại đá khác, nguồn sản vật chính trong qui trình sản xuất kính màu Stained Glass.

Thời kỳ kiến trúc Roman, thế kỷ thứ 12

Từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 10, cùng với nhu cầu phát triển tôn giáo, các công trình xây dựng nhà thờ đã dẫn đến nhu cầu trang hoàng bằng các cửa sổ kính màu Stained Glass. Phong cách nghệ thuật trong thời kỳ Roman ban đầu chủ yếu là các bố cục theo đường thẳng dọc, trừu tượng và vẽ đơn giản trên bề mặt kính màu bằng phong cách nghệ thuật La Mã phương Đông. Hầu hết các nhà thờ được trang hoàng bằng cửa sổ kính màu với các họa tiết hình thoi nối liền và được thiết kế để thu nhận ánh sáng tự nhiên một cách triệt để.

Thời kỳ kiến trúc Gothic, từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 14

Sự tiến tới phong cách kiến trúc Gothic cũng là thời kỳ hưng thịnh của Stained Glass. Màu đỏ và màu xanh vẫn chiếm ưu thế và khuynh hướng nấu chảy kính trắng trong các hợp chất đã dần hoàn thiện khả năng xuyên sáng cho toàn bộ bề mặt kính dù với các thiết kế trang trí công phu bao gồm cả phần kính có màu sậm. Các mẫu họa tiết có hình học đa dạng cũng như lối tường thuật bằng hình ảnh trên kính ngày càng có vai trò quan trọng và được bố trí thành từng nhóm hay từng gian theo một chuỗi các sự kiện trong quá khứ. Kỹ thuật nấu kính được giới thiệu rộng rãi, đã giúp cho những người thợ làm kính tìm ra kỹ thuật vẽ màu trên những mảnh kính màu Stained Glass nhỏ. Sự nổi bật của những mảng cửa sổ Hoa Hồng (Rose Window) của Tòa thánh Denis và thánh đường Chartres, Pháp, đã ảnh hưởng rộng khắp Châu Âu về cách thức mô tả phức tạp hơn các ý tưởng và các tác phẩm kính màu Stained Glass miêu tả trong kinh thánh trở nên thịnh hành.

Cuối thời kỳ Gothic – Đầu thời kỳ Phục Hưng, từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17

Các họa sĩ nhận được sự bảo trợ từ tầng lớp thượng lưu, họ tìm kiếm cho mình kỹ năng riêng để có nét nổi trội trong phong cách. Nghề làm kính không còn trong phạm vi nhỏ và không còn tên tuổi mà được nâng tầm là một lĩnh vực nghệ thuật đặc trưng cùng với tên tuổi của các phân xưởng. Ngoài ra, kỹ thuật vẽ miêu tả của các họa sĩ và các nghệ nhân làm cửa sổ kính màu đã đưa nghệ thuật kính màu lên vị trí cao hơn.

Trải qua quá trình phát triển lâu dài trong các thời đại lịch sử khác nhau, các nền văn hóa khác nhau, kính màu vẫn giữ được nguyên giá trị nghệ thuật lâu đời như một di sản văn hóa nghệ thuật. Ngày nay, các phân xưởng làm kính màu có nguồn gốc lâu đời vẫn tồn tại và phát triển để cung cấp những loại kính có chất lượng và giá trị nghệ thuật cao. Kính màu Stained Glass hay các hình thức kính nghệ thuật khác hiện được ứng dụng rất phong phú.

Cửa sổ kính màu Stained Glass – Một hình thức mô tả Tôn Giáo

Quá trình lịch sử thế giới đã chứng minh, các thời đại hay các đế chế ở mỗi quốc gia đều tín ngưỡng tôn giáo của họ một cách sùng bái và nghiêm ngặt, sức mạnh thống trị gắn liền với một tôn giáo duy nhất. Chính vì vậy mà nguồn gốc của các cửa sổ Stained Glass cũng gắn liền với đạo Cơ Đốc Giáo. Loại hình cửa sổ Stained Glass xuất hiện khi các công trình nhà thờ lớn và quan trọng được thực hiện.

Các bức vẽ về Chúa Giê-Su và các hình ảnh minh họa trong kinh thánh trên chất liệu kính màu Stained Glass được tìm thấy trong các nhà thờ lớn ở Pháp và Đức. Các hình ảnh trang trí bằng kính màu Stained Glass cũng được tìm thấy ở Anh. Một trong những mảng kính màu được làm công phu (từ việc ghép nhiều mảnh kính) được lắp trên cưa sổ cao của Tu Viện Thánh Paul, Jarrow, Anh, được tìm thấy vào năm 686 sau Công Nguyên.

Trong thời kì Gothic, xu hướng phát triển Tôn Giáo đã hình thành các thánh đường lớn ở Châu Âu, bắt đầu thời đại hưng thịnh của Stained Glass. Các nhà thờ lúc này có khuynh hướng tăng thêm về chiều cao, tường mỏng và đòi hỏi nhu cầu về ánh sáng, kính màu Stained Glass được sử dụng để lắp vào phần cao mở rộng đó. Cha trưởng tu viện Abbey, đã xây dựng lại nhà thờ với lối kiến trúc Gothic sơ khai. Ông đặc biệt chú trọng việc lắp đặt các dãy cửa sổ kính màu Stained Glass. Cha trưởng tin rằng sự hiện diện của những nghệ thuật kính màu sẽ mang tâm hồn của con người đến gần với Chúa hơn.

Cửa sổ Stained Glass thời kỳ này được thực hiện phức tạp về kỷ thuật và cách thể hiện miêu tả các truyền thuyết trong kinh thánh. Những tác phẩm này đã tạo cho các nhà thờ nét đặc trưng riêng.

Ở các nước không có nguồn gốc của nghề thủ công kính màu thì Stained Glass được du nhập vào trong các thời kỳ chiến tranh dành thuộc địa khi các nhà thờ đầu tiên được xây dựng và do đó cửa sổ kính màu chỉ giới hạn trong phạm vi Tôn Giáo. Tuy nhiên ngày nay kính màu Stained Glass không chỉ đem lại hiệu quả mô tả Tôn Giáo mà còn phát triển rộng rãi trong trang trí, thiết kế nội, ngoại thất cho các công trình dân dụng, khách sạn…Hiệu quả của kính màu Stained Glass trong trang trí không chỉ còn là sự xuyên suốt mà còn thu nhận ánh sáng một cách có kiểm soát nhờ tính chất truyền sáng khác nhau của từng loại kính màu, mỗi ô kính màu thu nhận ánh sáng sẽ tỏa ra màu sắc huyền ảo hoặc quyến rũ của riêng nó. Chính vì vậy mà cửa sổ Stained Glass được xem là “Bức tường trang trí đầy màu sắc và ánh sáng”.

Đèn Tiffany

Loại đèn được làm thủ công bằng kính màu Stained Glass còn được gọi bằng tên của người đã sáng chế ra loại đèn nghệ thuật này, ông Louis Comfort Tiffany (1848-1933). Ông là một nghệ nhân Stained Glass hàng đầu của nước Mỹ, bậc thầy trong thiết kế cửa sổ Stained Glass và trang trí nội thất.

hình minh họa: Click để xem hình lớn.

Diễn đàn mỹ thuật công nghiệp

Read Full Post »

Người vẽ tranh trên kính cuối cùng ở đất Bình Dương

Lái Thiêu là một thị trấn nhỏ thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Nơi đây nổi tiếng với những vườn cây ăn trái, lò gốm, xưởng mộc gia truyền… Nhưng, có lẽ còn ít người biết mảnh đất này trước đây cũng khá nổi tiếng với nghề vẽ tranh trên kính. Theo thời gian, những bức tranh trên kính vàng son cũng dần phai mờ trong trí nhớ.

Tiệm kính Mỹ Nga là một căn nhà nhỏ, nằm ở mặt tiền một con đường nhỏ của thị trấn Lái Thiêu. Khi chúng tôi bước vào tiệm kính thì người nghệ nhân ấy đang cặm cụi hoàn tất công đoạn cuối cùng của một bức tranh kính khảm ốc. Khi biết chúng tôi là nhà báo đến đây để tìm hiểu nghề vẽ tranh trên kính thì ông hết sức ngạc nhiên: “Hồi nào giờ, có ai hỏi ba cái vụ mần tranh kiếng (tức kính) này đâu!”.

Thong thả, vừa làm, vừa hút thuốc, trò chuyện, người nghệ nhân vẽ tranh kính ấy cho chúng tôi biết, tên khai sinh của ông là Trương Trung Thơ, gọi theo thứ bậc trong nhà là Sáu Thơ, năm nay đã 66 tuổi. Theo dòng hồi ức của một người… hay quên, ông Sáu Thơ cho biết, cha ông là một người gốc Hoa tên Trương Tường, còn mẹ ông là người Việt. Từ thời xa xưa, những người Hoa đến vùng Lái Thiêu để lập nghiệp, mưu sống, với chủ yếu là nghề gốm, mộc, thì cha ông đã có sẵn trong tay nghề vẽ tranh trên kính. Theo hình dung của ông thì cha ông chắc hẳn phải là một họa sĩ, có học trường lớp hẳn hoi ở bên Trung Hoa. Nhưng lúc ấy, nghề vẽ tranh trên kính của người Hoa chỉ là “vẽ chơi”, đủ thứ hoa văn chứ không theo một chủ đề nào.

người thợ vẽ cuối cùng và bức tranh trên kính

người thợ vẽ cuối cùng và bức tranh trên kính

Theo như những gì mà chúng tôi đọc được thì có lẽ người Trung Hoa lúc ấy đã lãnh hội kỹ thuật vẽ tranh trên kính của châu Âu. Còn ông Sáu Thơ thì đinh ninh rằng: cha ông là người đầu tiên “sáng lập” ra nghề vẽ tranh kính ở Lái Thiêu. Từ những thứ “vẽ chơi” của người Hoa, ông Trương Tường đã nghiên cứu vẽ theo chủ đề để phục vụ cho cuộc sống và phong tục của người Việt. Mà, điển hình nhất là tranh kính thờ và tranh kính sơn thủy dùng để trang trí.

Người Hoa có tục thờ linh vị, chỉ có chữ chứ không có hình. Còn người Việt thì có cả một ban thờ với đủ “chư vị”, lại thêm những bức liễn, trướng khá công phu, phong phú. Từ chỗ quan sát cuộc sống, ông Trương Tường bắt tay vào vẽ tranh thờ trên kính. Ngay lập tức, tranh thờ trên kính của ông nổi tiếng, tạo nên một thị trường tranh kính sôi động tại Lái Thiêu. Sau đó, có người đến xin làm “đệ tử”. Tranh kính phát triển lên Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh lân cận…

Nghệ nhân Sáu Thơ nhớ lại: “Hồi đó ở miệt Lái Thiêu này làm gì có kiếng. Để mua kiếng, cha tôi phải đánh xe bò lên tuốt… cái cảng gì đó ở Sài Gòn. Kiếng được nhập cảng chứ không phải của người mình làm. Mua kiếng xong lại đánh xe bò về. Tui đã từng theo cha ngồi vắt vẻo trên chiếc xe bò đó. Hồi nhỏ, thấy đường đi xa lắm. Mà cũng phải, hồi đó vùng này hoang vu, chỉ thấy toàn cây chuối với ao, mương…”.

Khoảng 13 tuổi, Sáu Thơ đã được cha truyền nghề. Vẽ tranh trên kính, tất nhiên không phải là món “dễ mần”, trái lại rất khó, bởi phải vẽ ngược. Dụng cụ dùng để vẽ là cọ, mà cọ phết trên kính thì dễ bị “trôi” hoặc nhòe đi. Do đó phải luyện cho bàn tay đạt đến mức: mạnh, nhanh mà uyển chuyển. Đấy là cách luyện của người vẽ thư pháp, chỉ chấm phá mà tạo đường nét, sắc sảo, có hồn. Chưa hết, do vẽ trên kính màu lâu khô, nên người vẽ phải vẽ liên tục, không được dừng, vẽ cho đến khi xong bức tranh thì thôi. Nếu vẽ đứt đoạn, nghỉ dừng tùy ý thì bức tranh cũng đậm nhạt, đứt đoạn lôi thôi.

Cặm cụi với cha vẽ tranh kính riết cũng chán. Năm 20 tuổi, Sáu Thơ rời Lái Thiêu lên Sài Gòn để vẽ tranh cho các gánh hát. “Tui vẽ tranh cho các gánh hát Thúy Nga, Trâm Vàng, Thống Nhất… gần cả chục năm. Vẽ tranh cho gánh hát nhưng tánh tui không thích theo gánh hát nên kêu họ dựng cho một cái trại ngay tại Sài Gòn. Tui vẽ cảnh tuồng, rồi vẽ luôn mẫu quần áo cho thợ may. Các gánh hát thỉnh thoảng về đó lấy phông cảnh tập tuồng, rồi mang phông cảnh, quần áo đi. Còn tui thì có cái xe hơi, rảnh rỗi là… đổ xăng đi chơi”.

Sau hơn 10 năm vẽ tranh cho các gánh hát, ông Sáu Thơ lại quay về Lái Thiêu để tiếp tục nghề vẽ tranh kính. Bởi, khi cha ông mất đi thì ông là người vẽ tranh kính cuối cùng của Lái Thiêu nói riêng, đất Bình Dương nói chung. “Ở Sài Gòn-Chợ Lớn bây giờ có còn người vẽ tranh kiếng?”- Chúng tôi đặt câu hỏi. Ông Sáu Thơ nheo nheo đôi mắt, giọng buồn buồn: “Có lẽ vẫn còn. Nhưng mà lớp “hậu sanh” không tận tâm về nghề đâu. Họ biết vẽ, nhưng làm biếng, chỉ làm tranh in hoặc dán đề-can…”

Nghề vẽ tranh kính trước nguy cơ thất truyền

“Giữa một bức tranh kiếng in, với một bức tranh kiếng vẽ, đâu là chỗ phân biệt?”- Chúng tôi hỏi. Không trả lời ngay, nghệ nhân Sáu Thơ lôi từ trong góc ra hai bức tranh kính thờ Mẹ Sanh (tức là thờ có trước, có sau, có ông bà cha mẹ mới có mình. Với hình Phật Bà Quan Âm ngồi giữa, hai nữ hầu cầm quạt hai bên) cho chúng tôi xem. Thoạt nhìn bức tranh kính thờ Mẹ Sanh dùng kỹ thuật in trông phẳng phiu và… dễ nhìn hơn. Nhưng nhìn kỹ, bức tranh vẽ lại chi tiết, có hồn.

Nghệ nhân Sáu Thơ giải thích: “Tranh in thì cũng từ tranh vẽ, nhưng tạo khuôn rồi cứ theo khuôn đó mà rập. Còn tranh vẽ thì cũng là tranh đó nhưng mỗi cái mỗi khác, vì đường nét linh động, sắc sảo, có hồn. Mà tranh có hồn hay không là do tay nghề và thần thái của người vẽ!…”.

Một bức tranh kính in rẻ hơn tranh kính vẽ từ 3-4 lần. Do đó mà ngày càng nhiều người chỉ mua tranh in. Dù vậy, công việc của nghệ nhân Sáu Thơ vẫn không ngớt, bởi những người yêu thích tranh kính vẽ vẫn còn, nhất là lớp người lớn tuổi hay sống trong hoài niệm, hoặc những người biết được giá trị của tranh kính vẽ đích thực.

Hiện nay, tranh kính thờ vẫn có mặt ở hầu khắp đất nước. Nhưng người vẽ tranh kính như ông Sáu Thơ chắc hẳn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Hơn thế nữa, ông Sáu Thơ là nghệ nhân còn lại duy nhất của dòng tranh kính Lái Thiêu, là cội nguồn, cái nôi của tranh kính Việt Nam. Thế mà cho đến bây giờ nghệ nhân Sáu Thơ vẫn chưa có một “đệ tử” nào cả. Nếu sau này ông mất đi, liệu nghệ thuật tranh kính Lái Thiêu có thất truyền?

Giải thích cho việc không có ai xin làm “đệ tử”, nghệ nhân Sáu Thơ lại nheo mắt, giọng trầm buồn: “Có lẽ vì nghề này khó học. Trường đại học Mỹ thuật cũng không có khoa nào dạy tranh kiếng. Trước đây, cậu tui là GS Nguyễn Văn Rô cũng là học trò của cha tui. Cậu tui dạy Cao đẳng Mỹ thuật (ĐH Mỹ thuật bây giờ), nhưng cũng không dạy vẽ tranh trên kiếng. Mà người chơi tranh kiếng bây giờ cũng hiếm. Chỉ thỉnh thoảng có “đại gia” hay một trí thức Việt kiều nào đó về đây đặt tui vẽ một bức theo đơn đặt hàng…”. Nói rồi, nghệ nhân Sáu Thơ mang ra khoe một bức tranh kính vừa hoàn tất. Đấy là bức tranh thờ “Cửu quyền thất tổ” (tức là thờ chín đời). Một bức tranh khá đẹp, phong cảnh sơn thủy hữu tình, ngoài màu vẽ còn được khảm ốc, xà cừ khá độc đáo, sắc sảo hiếm thấy. Lại mang ra một bức Phật Bà Quan Âm được khảm ốc, nghệ nhân Sáu Thơ tự hào: “Đẹp không? Tranh kiếng khảm ốc chỉ có ở Lái Thiêu này thôi. Mà tui cũng chỉ làm theo đơn đặt hàng, chứ không làm chơi, làm đại trà…”.

Nhìn những bức tranh kính khá đẹp của nghệ nhân Sáu Thơ và nghĩ đến nguy cơ thất truyền của nghề tranh kiếng Lái Thiêu, chúng tôi không khỏi chạnh buồn.

Đoạn kết

“Có một dạo, ông nhà văn già Sơn Nam có ghé tui chơi. Ổng nói nghề tranh kiếng có ở Lái Thiêu đâu chừng khoảng 100 năm. Ổng kêu nghề tranh kiếng này quí lắm, tui ráng giữ và truyền lại cho con cháu. Nhưng tui già rồi, nhà chỉ có một cháu gái lại theo nghề kinh doanh. Đó cái tiệm kiếng, tủ nhôm này là của nó đó. Còn tui cũng chỉ làm chơi chơi thôi…”.

Chúng tôi hỏi, có bao giờ ông nghĩ đến chuyện mở một cuộc triển lãm tranh kính không? Nghệ nhân Sáu Thơ tủm tỉm: “Hồi năm 1957 tui có mở một cuộc triển lãm: “Tranh kiếng Mỹ thuật” tại Sài Gòn. Cũng như cha tui, ngoài vẽ tranh sơn thủy, tranh thờ, tui cũng có tranh kiếng sáng tác. Cuộc triển lãm đó thú vị lắm. Sau đó, trên dưới chục năm, tui không nhớ, tui có làm một cái triển lãm nữa rồi thôi!”. Khi chúng tôi muốn tìm xem những tranh sáng tác trên kính của ông, cũng như tranh kính “di cảo” của cha ông thì ông buồn bã: “Đâu có giữ được cái nào. Bán hết rồi. Hồi đó phòng Văn hóa – Thông tin huyện có xuống chụp hình làm tài liệu, nhưng tui cũng không giữ. Còn tranh của cha tui thì làm đâu bán hết đó. Ông vẽ cho người ta biết bao nhiêu mà khi mất đi không có cái riêng cho mình. Cái hình thờ, phải lấy thẻ căn cước mà phóng ra. Tội lắm!…”.

Trước khi tìm đến nghệ nhân Sáu Thơ, chúng tôi được biết ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre có anh họa sĩ nghèo Đoàn Việt Tiến cũng là người vẽ tranh trên kính (tất nhiên là cũng vẽ ngược). Anh nổi tiếng vì dùng bàn tay (không cầm cọ) bôi màu và vẽ lên kính những chân dung rất đẹp, đặc biệt xuất thần nhất là chân dung Bác Hồ. Anh Đoàn Việt Tiến được mệnh danh là người duy nhất Việt Nam vẽ tranh bằng tay trên kính. Chúng tôi nghĩ vẽ tranh trên kính dù bằng tay không hay cầm cọ đều khó như nhau. Để có thể có được những bức tranh trên kính đẹp, mang tâm hồn Việt Nam, họ – những nghệ sĩ được nuôi dưỡng trong dân gian đã bỏ biết bao công sức và tâm huyết. Hành trình lao động nghệ thuật âm thầm, lặng lẽ ấy thật đáng trân trọng.

Trần Nhã Thuỵ

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Nghề thủ công vẽ tranh trên kính, tỉnh Bình Dương – Thực trạng hiện nay

* LÊ THỊ HÒE

Khi nói tới ngành nghề thủ công truyền thống của tỉnh Bình Dương, chúng thường nghe nhắc đến các nghề như điêu khắc gỗ, gốm sứ, sơn mài… nhưng có lẽ ít ai biết đến một nghề thủ công truyền thống vẽ tranh trên kính đã có từ lâu đời. Nghề vẽ tranh trên kính xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, vẽ tranh trên kính thật sự có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh Bình Dương xưa, nhưng hiện nay đang dần dần bị lãng quên, do nghề này không còn tồn tại nữa.

Tranh kiếng (tức là tranh vẽ trên kính) là một loại hình nghệ thuật dân gian được người dân Nam bộ ưa chuộng, trước đây vào bất cứ gia đình nào cũng đều thấy một vài bộ loại tranh này. Tranh kiếng trở thành sản phẩm không thể thiếu trong nghệ thuật trang trí ngôi nhà của người dân, việc treo tranh trong nhà đã tạo ra nét văn hóa riêng của người dân Nam bộ.

Khác với các loại tranh vẽ thông thường, tranh kiếng là một loại hình đặc biệt, nguyên tắc vẽ tranh kiếng là phải vẽ từ phía sau mặt kính, khi vẽ xong mới lật tấm kính lại và bề đó mới chính là bề mặt của tranh. Do nguyên tắc là vẽ phía sau mặt kính nên chi tiết nào đáng lẽ phải vẽ sau cùng, thì với tranh kính lại phải vẽ trước tiên. Chính với đặc điểm này đã tạo nên nét độc đáo trong tranh kiếng. Vẽ tranh kiếng rất khó, đòi hỏi người nghệ nhân phải thật sự khéo tay và có óc thẩm mỹ cao.

Trong những năm đầu thế kỷ XX, ở Nam bộ có 3 vùng sản xuất tranh kiếng nổi tiếng: Lái Thiêu (Thủ Dầu Một), Chợ Lớn (Sài Gòn) và Chợ Mới (An Giang). 3 vùng này dần dần phát triển trở thành 3 trung tâm sản xuất tranh kiếng và tạo ra 3 dòng tranh kiếng khác nhau, mỗi dòng tranh kiếng có những đặc điểm riêng.

Riêng Dòng tranh kiếng ở Lái Thiêu: Lái Thiêu là một địa phương sản xuất tranh kiếng nổi tiếng từ những năm đầu thế kỷ XX, phát triển mạnh vào những năm thập niên 20, có thể nói thời kỳ này là thời kỳ hưng thịnh nhất của nghề vẽ tranh trên kính của tỉnh Thủ Dầu Một. Sau năm 1945, nghề vẽ tranh trên kính của tỉnh bị suy tàn do rất nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ nguyên nhân chính là do sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh.

Vẽ tranh trên kính

Vẽ tranh trên kính

Sản phẩm tranh kiếng ở Nam bộ phong phú và đa dạng, nhiều loại hình, nhiều màu sắc. Tranh có nhiều đề tài khác nhau và phân theo từng loại hình treo ở những nơi nhất định:

Loại tranh thờ tổtiên thường được treo ở bàn thờ tổ tiên, thờ Phật… loại tranh này thường thể hiện các đề tài như: Các bức hoành phi, câu đối có chữ “Trần Phủ Đường” (ghi họ tên gia chủ), “Thiện Tối Lạc” (ca tụng tổtiên), xung quanh trang trí dây lá, hối văn hay là trang trí viền bằng cây trúc, cây tùng minh họa; tranh viết chữ “Phước”, “Lộc”, “Thọ” trên nền đỏ, xung quanh vẽ khung hình dây lá hoặc hồi văn, thỉnh thoảng có thêm con bướm hay con dơi ngậm trụ chỉ. Tất cả các chữ trên tranh đều được viết bằng chữ Hán.

Ngoài ra, loại tranh này còn vẽ một bụi mai già bên cạnh có cây trúc, bụi lan, cúc… Đề tài khác hấp dẫn người dân bình thường như tranh vẽ phong cảnh, vẽ núi non, bầu trời… Tranh cao cấp thì có tấm liễn vẽ một cành cây có 7 bông, xung quanh có lá, có nụ, phía trên có ghi chữ Hán, loại tranh này rất đắt tiền nên chỉ có những gia đình giàu có mới có tiên mua loại tranh này về trang trí.

Loại tranh treo cửa buồng: Kiến trúc nhà của người dân Nam bộ khác hẳn với miền Bắc và miền Trung.Trong gian nhà ngoài (phòng khách) của người Nam bộ, bàn thờ được đặt chính diện với cửa chính, phía trước bàn thờ đặt một cái tủ lớn và một bộ bàn ghế dùng để tiếp khách, hai bên bàn thờ có 2 lối đi vào nhà trong (buồng). Vì có 2 cửa buồng đi vào nhà trong, nên người ta thường treo một tấm rèm hay một tấm vải cóhoa văn đẹp để, che cửa, phía trên cửa treo tranh trang trí.Tranh cửa buồng có hình chữ nhật, kích thướcthường là 0,9m x 0,6m, mỗi bộ có 2 bức treo phía trên 2 cửa buồng. Tranh cửa buồn vẽ theo đề tài “Loan phượng hòa minh” (tượng trưng chồng vợ hòa hiệp), “Hoa mẫu đơn và chim phượng” (tượng trưng sự giàu có).

Loại tranh tứ bình: Một bộ tranh tứ bình gồm có 4 tấm, treo trên vách với mục đích trang trí. Tranh tứ bình Nam bộ phổ biến các đề tài “Mai Lan Liên Cúc” tượng trưng cho bốn mùa trong năm, “Bát tiên quá hải” (Bát tiên vượt biển), “Bát tiên kỳ thú” (Bát tiên cưỡi thú)”, “Tứ hùng” (vẽ bốn con thú mạnh nhất theo quan niệm dân gian là cọp, hổ, báo, sư tử…). Ngoài ra, còn có tranh vẽ về đề tài như: 4 bó hoa (loại hoa phương Tây), những đàn hạc lội ven sông… loại tranh này mô phỏng tranh phương Tây, xuất hiện muộn thích hợp với nhà thành phố.

Tranh thờ phật, trời, thánh, thần có khổ nhỏ, dùng để thờ phật, thánh, thần, trời… gồm có 2 loại: Tranh vẽ các vị Phật A Di Đà, Bồ Tát, Quan Âm, Quan Thánh Đế Quân, Mẹ Sanh – Mẹ Độ… và các bài vị (loại này chỉ có chữ, xung quanh trang trí hoa văn) thường được treo trong các chùa, đình, miếu…

Mặt hàng nổi tiếng nhất của Dòng tranh Lái Thiêu là tranh thờ tổ tiên và tranh cửa buồng. Tranh cửa buồng Lái Thiêu có loại vẽ nhiều màu sắc, nhưng cũng có loại chỉ vẽ một màu đen hoặc đỏ, các hoa văn đều dán ốc xà cừ. Đặc biệt, người sản xuất tranh ở Lái Thiêu còn biết tâm lý của người dân, nên họ chú ý đường nét vừa tỉ mỉ vừa cách điệu. Họ lại mạnh dạn dùng gam màu ngũ sắc Huế, gồm màu trắng, hường, đỏ, đen, xanh dương, xanh màu lông két… và tùy theo từng sản phẩm để họ dùng mực Tàu hay mực Tây, bột màu pha a dao… Họ cũng rất chú ý đến nội dung và hình thức chữ viết, có nhiều bộ tranh Lái Thiêu chữ đẹp, văn hay, phía sau cẩn ốc xà cừ rất đẹp, treo trong nhà tạo ra nét thanh tao và tôn lên vẻ sang trọng trong ngôi nhà.

"Một góc làng" - tranh kính sơn thủy của cụ Sáu Thơ

"Một góc làng" - tranh kính sơn thủy của cụ Sáu Thơ

So với Dòng tranh kiếng Chợ Mới (An Giang) và Dòng tranh kiếng Chợ Lớn (Sài Gòn), thì Dòng tranh kiếng Lái Thiêu đẹp hơn, tinh tế hơn. Người nghệ nhân Lái Thiêu chú đến thể loại tranh thờ tổ tiên, phù hợp với truyền thống người Việt Nam, nghệ nhân ở chợ Lớn chỉ chú trọng đến tranh Thánh, tranh bài vị và một số hoành phi, tranh dùng để chúc mừng (phù hợp với tâm lý người Hoa). Trong 3 dòng tranh kiếng ở Nam bộ, Dòng tranh Chợ Mới ra đời muộn hơn, sản phẩm không được đẹp như Dòng tranh Lái Thiêu và Chợ Lớn, nhưng sản phẩm của Dòng tranh Chợ Mới lại phong phú, đa dạng, giá thành lại rẻ hơn. Hiện nay, sản phẩm tranh kiếng của chợ Mới vẫn được bán rộng rãi trên thị trường miền tây Nam bộ.

Cách tổ chức sản xuất và tiêu thụ hàng hóa: người ta chỉ sản xuất theo kiểu gia đình chứ không tập hợp theo nhóm hay hợp tác xã, các gia đình tự làm và bán lại cho các lái buôn. Trong một xưởng vẽ tranh, thông thường có năm, bảy người, nhưng chỉ có một người phụ trách chỉ huy, phân công công việc, người này phải am tường mọi việc. Những người còn lại theo sự phân công của người thợ cả làm phần việc của mình. Tùy theo trình độ tay nghề của từng người mà thợ cả phân công công việc. Phần lớn, các thành viên trong xưởng đều là người trong gia đình, nhưng cũng có những xưởng còn thâu nạp học viên, những học viên này khi đã lành nghề có thể ở lại cùng làm việc hoặc ra mở xưởng riêng. Hàng hóa xuất xưởng đều được các lái buôn thu mua và bán lại cho người tiêu dùng. Trước kia, tranh Lái Thiêu được chuyển về miền Tây bằng con đường thủy. Thị trường tranh kiếng Lái Thiêu không những được phổ biến rộng rãi khắp miền Nam mà còn mở rộng ra các vùng lân cận như miền Trung, nước bạn Campuchia.

Tranh kiếng phổ biến rộng rãi trong các gia đình quý tộc cũng như thường dân ở nam bộ, đề tài phong phú nên các tác phẩm tranh trở thành những tác phẩm nghệ thuật, có sức hấp dẫn người dân. Do đó, tranh thường được treo trang trọng trong phòng khách, bàn thờ. Dân thôn dã Bình Dương nói riêng và dân Nam bộ nói chung rất ưa chuộng tranh kiếng. Đó chính là động lực thúc đẩy để tranh kiếng phát triển và hưng thịnh đến những năm thập niên 60 của thế kỷ XX.

Hiện nay, tranh kiếng rất ít chỉ còn tồn tại trong các đình, chùa, miếu và trong các nhà cổ do người dân còn giữ lại… Tuy nhiên, nếu được các ngành hữu quan quan tâm và khôi phục lại bằng cách: tập trung các nghệ nhân xưa lại, đào tạo các nghệ nhân mới, giúp vốn khuyến khích người dân khôi phục lại nghề cũ… chắc chắn rằng sản phẩm tranh kiếng không chỉ là bán ở khu vực Nam bộ mà còn có thể mở rộng thị trường ra cả nước và quốc tế. Nghề vẽ tranh trên kính không chỉ dừng lại ở ngành nghề thủ công truyền thống của một địa phương (Lái Thiêu) mà nó còn có thể sánh ngang hàng với các ngành nghề thủ công truyền thống khác như sơn mài, gốm sứ, điêu khắc gỗ… sẽ thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh nhà phát triển mạnh hơn. Khai thác và phát huy triệt để các ngành nghề thủ công mà ông cha ta để lại…

L.T.H

Tài liệu tham khảo:

1 – Tài liệu thuyết minh trưng bày Bảo tàng tỉnh Bình Dương

2 – Xóm nghề & nghề thủ công truyền thống Nam bộ, NXB Trẻ

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Một số đồ gốm và sành tiêu biểu thời Mạc, Lê

(Từ thế kỷ 15 đến nửa đầu thế kỷ 18)

Đây là thời kỳ đất nước ổn định và phát triển mạnh sau chiến thắng quân xâm lược Minh. Riêng đồ gốm đã hình thành nhiều trung tâm sản xuất có tính chuyên nghiệp để xuất khẩu như Chu Đậu, Hợp Lễ, Cậy ở Hải Dương, Bát Tràng ở Hà Nội, Thổ Hà, Phù Lãng trên đất Kinh Bắc,v.v.

Thời này bắt đầu xuất hiện chống dính bằng kỹ thuật ve lòng. Đồ gốm men trắng vẻ lam thường được gọi là gốm hoa lam là đặc trưng nổi bật của gốm thời này đã được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, sang tận Trung cận đông, Ai Cập và châu Âu.

Gốm hoa lam thường có dáng cao, chân đế cao, dưới trôn tô màu đỏ trang trí văn lá chuối, văn cánh sen to với các loại điển hình là lọ hình tỳ bà, bát chân cao, nậm, vò hộp phấn, bát, đĩa v.v.

Bên cạnh đó còn có loại gốm men trắng với các loại âu, ang, bát, đĩa, ấm, vò,v.v. Đáng chú ý thời này đồ sành cực kỳ phát triển với trung tâm Hương canh nổi tiếng với các loại chum, vại, tiểu sàng và Phù Lãng với loại sành tráng men da lươn.

Riêng đồ gốm vào cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17 xuất hiện loại gốm men lam, hoa văn đắp nổi kết hợp vẽ lam rất đặc trưng, chủ yếu để sản xuất đồ thờ cúng và trang trí như chân đèn, lư hương, bát hương. Một số đồ gốm có ghi tên người và lò gốm sản xuất.

Bên cạnh cũng có một số gốm men lam, men nâu, men trắng như chum, ấm, tước, chậu, bát đĩa và gốm kiến trúc.

Thời kỳ này xuất hiện một số trung tâm đúc đồng khá nổi tiếng chuyên đúc các loại chuông, trống, lư, đỉnh khá đẹp.

âu gốm Lê sơ

âu gốm Lê sơ

ấm gốm

ấm gốm

chum gốm

chum gốm

chân đèn

chân đèn

ấm gốm

ấm gốm

bát đĩa và gốm tk 16

bát đĩa và gốm tk 16

các loại chân đèn thế kỷ 16

các loại chân đèn thế kỷ 16

 

Docoviet

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Một số đồ gốm và sành tiêu biểu thời Lý Trần

(Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 14)

Đây là thời kỳ xây nền tự chủ sau ngàn năm Bắc thuộc. Với ý thức tự cường dân tộc sau các chiến thắng lẫy lừng chống quân Nam Hán, quân Tống, quân Nguyên Mông nền văn hoá dân tộc được phục hưng mạnh mẽ với nền văn minh Đại Việt với đỉnh cao thời Lý Trần.

Thời này đồ gốm cực kỳ phát triển với nhiều dòng gốm khác nhau. Tiêu biểu là các dòng gốm men ngọc, gốm men nâu, gốm men trắng hoa nâu, gốm một màu men trắng, gốm men lục. Đây cũng là thời kỳ xuất hiện nhiều loại gốm xây dựng như các loại gạch lát hoa, ngói mũi hài, các tượng đất nung hình rồng, phượng, lá đề, uyên ương, mô hình tháp màu đỏ rất đặc trưng.

Đáng chú ý là đồ gốm thời này chống dính bằng phương pháp con kê, kiểu dáng và hoa văn trang trí thường gắn liền với các biểu tượng Phật giáo, như hình gương sen, cánh sen, hoa cúc dây, v.v.

Thời kỳ này đồ sành cũng khá phát triển với các loại vò,chum,liễn trang tri hình hoa cúc, tôm, cá, hươu nai ở vai.

Docoviet

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Tìm hiểu trang trí biểu tượng trên gốm sứ TQ – 3: chim “bạch đầu” – The bulbul

The bulbul là một loài chim có lông mào trắng. Tiếng Hoa loài chim này được gọi đúng như thế: bai dou weng(白头翁 – bạch đầu ông)có nghĩa là ông lão bạc đầu. Con chim này biểu tượng cho tuổi già.

Nó thường thường được vẽ trên gốm sứ cùng với hoa mẫu đơn, là biểu tượng của sự giàu sang và cao quý. Đồ án trang trí biểu tượng này gọi là fu gui bai tou (富贵白头 – phú quý bạch đầu)có nghĩa: sự giàu sang và cao quý cho đến tuổi bạc đầu hay suốt đời giàu sang phú quý. Nói chung là bố cục cầu hay chúc việc cát tường.

Minh họa đồ án chim bulbul và hoa mẫu đơn trên bình và chậu cuối thời nhà Thanh

Minh họa đồ án chim bulbul và hoa mẫu đơn trên bình và chậu cuối thời nhà Thanh

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Older Posts »