Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm 2nd, 2009

Gốm Quảng Đức

Con sông Cái hẹp dòng, nước chảy xiết, nhưng khi về gần đến biển bỗng hiền hòa, rộng thênh thang, đẹp như một bức tranh thủy mặc. Bên kia sông là làng lụa Tân Châu nổi tiếng một thời, bên này sông là làng gốm cổ Quảng Đức một thời vang bóng. Ngày nay, làng gốm cổ Quảng Đức đã trở thành quá vãng song hàng ngàn sản phẩm của làng này vẫn nằm trang trọng trong các bộ sưu tập.

Nghệ nhân cuối cùng

Xuân này chúng tôi về làng gốm cổ Quảng Đức (xã An Thạch, huyện Tuy An). Trời lất phất mưa bụi. Con sông Cái vẫn hiền và đẹp như xưa, song bên kia sông, làng lụa Tân Châu đã im tiếng thoi đưa từ lâu. Bên này sông, không khí sôi động của một làng nghề sầm uất cũng lùi vào dĩ vãng đã hơn nửa thế kỷ. Trong làng chỉ còn đúng hai nhà làm gốm, nhưng chỉ làm những đồ đơn giản, chủ yếu là chậu hoa, quy mô nhỏ. Hỏi những người từ trung niên trở xuống về nghề gốm Quảng Đức chỉ nhận được cái lắc đầu, hoặc có biết thì cũng đại loại là nghe các cụ kể lại… Chiến tranh, giặc giã đã làm cho nghề gốm Quảng Đức lụi tàn. Trong làng chỉ còn hai nghệ nhân biết khá tường tận về gốm cổ Quảng Đức và còn nắm được kỹ thuật chế tác gốm cổ Quảng Đức là cụ Nguyễn Thịnh và Nguyễn Dần, năm nay đều đã ngoài 80 tuổi. Khi chúng tôi đến nhà, cụ Nguyễn Thịnh đang mệt nằm trên võng, nhưng khi nghe nói đến gốm cổ Quảng Đức, đôi mắt bỗng sáng lên và cụ ngồi dậy trò chuyện với khách.

Những người nghiên cứu, sưu tầm gốm Quảng Đức trao đổi với cụ Nguyễn Thịnh

Những người nghiên cứu, sưu tầm gốm Quảng Đức trao đổi với cụ Nguyễn Thịnh

Theo cụ Nguyễn Thịnh, gốm Quảng Đức đã có lịch sử trên 300 năm, khoảng cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Khai sinh ra dòng gốm này là một dòng họ Nguyễn ở Bình Định mang nghề vào. Rất có thể gốm Quảng Đức là sự nối tiếp gốm Gò Sành Bình Định nổi tiếng từ khoảng thế kỷ XII, XIII đến thế kỷ XIV, XV dưới triều Viaya Chămpa và Đại Việt sau này. Cụ Nguyễn Thịnh cho biết: Khi xưa làng gốm thịnh vượng lắm. Các lò gốm trong làng quanh năm đỏ lửa, trên bến dưới thuyền tấp nập, cả làng lúc nào cũng nhộn nhịp. Nguyên liệu, nhiên liệu dồi dào, cả tỉnh duy nhất chỉ có một làng gốm, đặc biệt vị trí thuận lợi bên bờ sông Cái chính là điều kiện cho nghề gốm Quảng Đức phát triển. Hồi đó hầu như cả tỉnh Phú Yên này đều dùng gốm Quảng Đức, từ cái trã kho cá, cái lu, bọng giếng đến những sản phẩm cao cấp đòi hỏi kỹ thuật cao, thể hiện tinh túy của nghề gốm Quảng Đức như bình, lọ, nậm rượu… Không chỉ ở Phú Yên, gốm Quảng Đức còn có mặt ở các tỉnh khu vực miền Trung – Tây Nguyên và cả ở Nam Bộ. Gần đây người ta phát hiện trong một chiếc tàu đắm được phát hiện tại Bình Thuận cũng có gốm Quảng Đức, điều đó cho thấy có thể gốm Quảng Đức còn được tiêu thụ ở ngoài nước.

Một số sản phẩm gốm Quảng Đức

Một số sản phẩm gốm Quảng Đức

Độc đáo gốm Quảng Đức

Cũng củi, cũng đất như bao làng gốm khác, nhưng các nghệ nhân làng Quảng Đức đã cho ra đời một dòng gốm độc đáo không lẫn vào đâu được. Theo ông Phan Đình Phùng, Phó giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Phú Yên, sự giản dị, mộc mạc, có phần xù xì, thô ráp của gốm cổ Quảng Đức với màu men giản dị, khiêm nhường nhưng rất bí ẩn đã tạo nên sự hấp dẫn, ấn tượng đối với các nhà nghiên cứu cũng như những người sưu tầm. Bí quyết nào tạo nên sự độc đáo đó? Cụ Nguyễn Thịnh giải thích: Gốm Quảng Đức chỉ làm từ duy nhất đất sét ở xã An Định. Đất sét xanh dùng để chế tác đồ gốm thông dụng, còn đất sét vàng dùng làm đồ gốm cao cấp. Đất sét xanh trộn với đất sét vàng làm các đồ có kích cỡ lớn như chóe, chậu…

Nguyên liệu như thế, còn nhiên liệu cũng có sự đặc biệt, ấy là củi mằng lăng, lửa đượm mà lại lâu tàn. Khi xưa, vùng này mằng lăng bạt ngàn. Ngôi nhà thờ Công giáo lớn nhất Phú Yên ở xã An Thạch có tên là nhà thờ Mằng Lăng có lẽ cũng vì vậy. Yếu tố quyết định làm nên đặc sắc gốm Quảng Đức là vỏ sò. Vỏ sò đầm Ô Loan nhiều vô kể, được chở từ thôn 8 xã An Ninh Đông theo đường sông Cái. Theo quan sát của cụ Thịnh thì vỏ sò được nung nóng chảy ra lớp men bao phủ mặt gốm làm cho sản phẩm có nhiều hình nhiều vẻ trông rất độc đáo.

Anh Trần Thanh Hưng (Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Phú Yên, một người nghiên cứu, sưu tầm gốm Quảng Đức) nói: “Trên thế giới, việc sử dụng vỏ sò để đo nhiệt độ lò đã xuất hiện khá sớm, từ thế kỷ XIII ở Ý, song việc dùng sò huyết ở đầm Ô Loan chèn vào bao gốm, tạo nên hiện tượng hỏa biến trong quá trình nung để làm nên nhiều màu sắc cho sản phẩm thì chỉ có ở gốm cổ Quảng Đức”. Anh Thanh Hưng là người có bộ sưu tập gốm Quảng Đức phong phú nhất hiện nay. Trong ngôi nhà tại 194 đường Nguyễn Công Trứ (TP Tuy Hòa), anh dành hẳn gian phòng lớn nhất để trưng bày gốm Quảng Đức. Đầy ắp những gốm là gốm, từ chóe, chậu đến bình, nậm…, trong đó có cả cặp bình vôi Quảng Đức vốn là sở hữu của Ngô Đình Cẩn. Mới đây, anh đã cùng với ông Nguyễn Vĩnh Hảo, Giám đốc Bảo tàng tư nhân gốm cổ Gò Sành Vijaya Chămmpa Bình Định mở cuộc triển lãm “Từ Gò Sành đến Quảng Đức” tại Festival Tây Sơn – Bình Định 2008. Anh Hưng cũng cho biết: Thời gian gần đây, trên trang web http://www.asia.si.edu, mục Nghệ thuật Đông Nam Á đã giới thiệu khá nhiều hiện vật gốm cổ Quảng Đức như bình vôi, hũ rượu, các loại chóe… Rất tiếc là các nhà nghiên cứu ngoài nước chưa biết chính xác xuất xứ của dòng gốm này mà chỉ ghi địa danh sản xuất là Tuy Hòa, miền Trung Việt Nam. Còn tại Việt Nam, gốm Quảng Đức có mặt ở chợ đồ cổ Lê Công Kiều (TP Hồ Chí Minh) và các bộ sưu tập tư nhân nhưng cũng không nhiều người biết địa danh xuất xứ của nó.

Bảo tồn gốm Quảng Đức

Khôi phục kỹ thuật chế tác gốm Quảng Đức, không để dòng gốm này vĩnh viễn thất truyền là việc làm cấp bách của tỉnh Phú Yên. Ngành Văn hóa – Thể thao – Du lịch Phú Yên cùng Viện Khảo cổ học Việt Nam đang có dự định chế tác lại một mẻ gốm cổ Quảng Đức. Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải, Phó viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam cho rằng: Công việc không đơn giản nhưng vẫn có thể làm được, vì ở làng Quảng Đức vẫn còn hai nghệ nhân là cụ Nguyễn Thịnh và Nguyễn Dần còn biết kỹ thuật này. Hiện hai nghệ nhân đều đã ngoài 80 tuổi, không làm sớm e sẽ không kịp. Theo ông Phan Đình Phùng và anh Trần Thanh Hưng, bảo tồn gốm Quảng Đức không phải là khôi phục một làng nghề, đưa sản phẩm gốm Quảng Đức ra cạnh tranh trên thị trường, điều này là không tưởng. Nhưng nếu chế tác thành công gốm cổ Quảng Đức, chúng ta làm được một điều vô cùng ý nghĩa là chứng minh cho không chỉ các nhà nghiên cứu Việt Nam mà cả thế giới về một kỹ thuật chế tác gốm độc đáo riêng có ở Quảng Đức. Thứ hai là bảo tồn theo cách xây dựng Quảng Đức thành một địa chỉ du lịch, nằm trong quần thể du lịch của địa phương gồm những di tích và thắng cảnh đã được xếp hạng quốc gia rất gần nhau như thành cổ An Thổ, đầm Ô Loan, gành Đá Dĩa, chùa Đá Trắng, mộ và đền thờ chí sĩ Lê Thành Phương, địa đạo gò Thì Thùng…

Không còn cảnh nhộn nhịp trên bến dưới thuyền khi xưa, nhưng ngôi làng cổ bên dòng sông thơ mộng này có đủ điều kiện để trở thành một địa chỉ du lịch hấp dẫn. Đây cũng là việc làm ý nghĩa hướng tới kỷ niệm 400 năm Phú Yên.

Theo Báo Phú Yên

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Gốm Thanh Hà – Quảng Nam

Gốm sứ Thanh Hà đang được trưng bày tại Bảo tàng cổ vật

Gốm sứ Thanh Hà đang được trưng bày tại Bảo tàng cổ vật

Làng gốm Thanh Hà nằm ở địa phận xã Cẩm Hà, thị xã Hội An. Dù đã trải qua bao nhiêu sự đổi dời của thời gian, sự khó khăn về kinh tế bởi sự cạnh tranh dữ dội của các mặt hàng ngoại quốc, dân làng ở đây vẫn cố tồn giữ một nghề truyền thống truyền thừa từ cha ông đã bao đời lặng lẽ đã góp vào các mặt hàng nhu yếu xã hội bằng các sản phẩm đặc trưng về nghề gốm như: chén, bát, nồi, chum, vại, bình bông, chậu kiểng…

gomth2

Xuất phát từ nguồn gốc Thanh Hoá vào đầu thế kỷ XVI ( cư dân vùng Thanh Hóa theo chân Chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp đã chọn vùng đất Thanh Hà ngày nay), nghề gốm Thanh Hà đã tiếp thu một số kỹ thuật của đất Quảng Nam để hình thành nên một làng nghề với các sản phẩm hội đủ mọi yếu tố không giống với bất kỳ một làng gốm nào ở địa bàn cả nước dù cũng chỉ với nguyên liệu chính là đất sét và kỹ thuật chế tác chính là ở đôi bàn tay và nhiệt độ ở các lò nung. Ðiều đó thể hiện rõ rệt ở các điểm: màu sắc, độ bền, độ nhẹ và các hoa văn trên bề mặt sản phẩm. Tuỳ theo thời gian và nhiệt độ nung màu sắc gốm Thanh Hà có thể từ màu hồng, hồng vàng đến đỏ, gạch nâu và đen tuyền. Tuỳ theo kỹ thuật chế biến đất và các thao tác dây chuyền trong chuốt, nắn độ bền của các sản phẩm gần như vô địch so với các loại khác ở trong nước và độ láng có thể nói là chẳng khác gì tráng men. Ðồ gốm ở đây đặc biệt lại nhẹ hơn các sản phẩm cùng loại ở các địa phương khác. Ðặc biệt, khi gõ vào sản phẩm vang lên những âm thanh trong, thanh mảnh và có độ vang. Một số sản phẩm được đặt theo yêu cầu hoặc các chậu để trồng phong lan, hoa kiểng đều được thực hiện những hoa văn chìm, nổi tuy đơn sơ nhưng không kém phần tinh tế, sắc sảo về mỹ thuật.

gomth3

Các nghệ nhân gốm Thanh Hà từng được triều Nguyễn mời ra Huế để chế tác những sản phẩm đặc biệt phục vụ cho sinh hoạt cung đình và cũng như nghệ nhân mộc Kim Bổng, họ cũng được phong hàm Cửu phẩm, Bát phẩm. Từ vài thập niên gần đây gốm Thanh Hà vẫn có mặt ở khắp nơi trong nước và thỉnh thoảng lại xuất hiện ở nước ngoài (Canada, Mỹ, Pháp).Ngoài gốm, làng Thanh Hà còn nổi tiếng về gạch, ngói. Nơi đây từ xưa đến nay đã từng cung cấp ngói âm dương, ngói mấu, ngói ống để phục vụ cho các công trình kiến trúc cổ, biểu trưng là đô thị cổ Hội An trong các công trình trùng tu, tôn tạo di tích.

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm Phước Tích

Gốm Phước Tích trưng bày trong Viên bảo Tàng

Gốm Phước Tích trưng bày trong Viên bảo Tàng

Đi từ phía Bắc vào hay trong Nam ra, trên tuyến Quốc lộ 1A đến ngã ba chợ Mỹ Chánh, theo Quốc lộ 49 khoảng 800m, qua cầu Phước Tích rẽ tay phải là đến làng Phước Tích. Làng Phước Tích thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập vào năm 1470 và nổi danh khắp kinh thành Huế về nghề gốm. Nghề gốm ở Phước Tích đã có bề dày hơn 500 năm tuổi, từng là vật phẩm tiến vua, từng nuôi sống bao thế hệ người dân ở ngôi làng bé nhỏ nép mình bên dòng Ô Lâu trong xanh, hiền hòa.

Cụ Nguyễn Duy Mai – một trong 15 nghệ nhân còn sót lại của làng kể: “Gốm Phước Tích từng là một đặc sản nổi tiếng khắp miền Trung. Không chỉ sản xuất dưới dạng các loại gia dụng như trách, chậu, om, niêu, ấm, tộ, cối tiêu, bình vôi, chum, ghè, thạp, thống… . gốm Phước Tích còn được trưng dụng trong hoàng cung triều Nguyễn với nhiều cổ vật tinh xảo một thời, đến nay còn được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế”.

Cũng theo lời cụ Mai, thời hoàng kim của nghề gắn chặt với thời điểm làng thành lập. Trong làng có cả thảy 12 lò sấp, lò ngửa chẳng bao giờ tắt khói. Sản phẩm làm ra đến đâu, tiêu thụ đến đó. Dưới sông, trên bờ ngược xuôi tấp nập tàu thuyền đưa gốm của làng đến tận Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Quy Nhơn…

Chất liệu chính của sản phẩm gốm Phước Tích khai thác ở vùng Diên Khánh (Quảng Trị), đất sét – người thợ thường gọi là kẻ được chia thành nhiều loại: kẻ tốt, kẻ màu… Trong quy trình sản xuất gốm, kẻ tốt được dùng để sản xuất những sản phẩm có thành mỏng, hình khối lớn, kẻ màu dùng làm những đồ vật không yêu cầu về mặt ngoại hình. Sản phẩm gốm, qua các công đoạn làm đất, chuốt, làm nguội… với sự hỗ trợ của các công cụ: thêu, nề đất, bàn chuốt, bàn xên, gót chân, vòng vá nhắm, dợ sát, trang, cái lù, tre dồn… và nung trong những dạng lò sấp hay lò ngửa. Đôi tay của người thợ Phước Tích cho ra đời nhiều sản phẩm từ hàng trăm năm nay có mặt trong mọi gia đình Huế dưới dạng các loại đồ đựng như: lu, hông, ảng, hủ, độc, trình, thống…; các loại đồ nấu như om, siêu, nồi, ấm; dụng cụ sinh hoạt khác như: bình vôi, bình hoa, dĩa dầu chuồng…; hay chiếc oa ngự dụng (om ngự) dùng trong buổi ngự thiện của nhà vua mà dân gian thường gọi là om cồi luôn là niềm kiêu hãnh của người dân xứ Cồn Dương.

Ngày nay, trước sự cạnh tranh của hàng nhựa công nghiệp, trên những gian hàng xén của làng quê miền Trung đã vắng dần hình ảnh thân quen của mặt hàng độc Phước Tích. Tuy nhiên, Phước Tích vẫn là ngôi làng được nhiều người biết đến, bởi sản phẩm thủ công của họ vẫn là vật gần gũi với mọi người trong một thời gian dài và cả trong ký ức.

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Những bộ tranh và bức tranh cổ thời Ngũ Đại Thập Quốc (900 – 980)

Paintings of Five dynasties and Ten states (900 – 980)
Ngũ Đại Thập Quốc (900-980) là một thời kỳ chính biến trong lịch sử Trung Quốc, bắt đầu từ khi nhà Đường sụp đổ và kết thúc khi nhà Tống xuất hiện. Trong suốt thời kỳ này, 5 triều đại đã thay nhau tồn tại ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà và hơn 12 nhà nước độc lập đã được xây dựng chủ yếu ở vùng đất Hoa Trung, Hoa Nam và một phần Hoa Bắc.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »