Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm 7th, 2009

Thấy gì từ những bộ sưu tập gốm sứ ở Tây Nguyên

các loại chóe, ghè tại Tây Nguyên

các loại chóe, ghè tại Tây Nguyên

Gốm tìm thấy ở Tây Nguyên rất phong phú và đa dạng về lai lịch , chỉ riêng tại Buôn Đôn, DakLak giáp giới với Kampuchia người ta vẫn trao đổi voi lấy các sản vật gốm sứ ( đặt biệt là chóe , ghè,..) từ Kampuchia, Đông Bắc Thái Lan, từ các lò gốm vùng Maenam Noi miền trung Thái Lan và ngay cả gốm của vùng Hạ Miến Điện. Nhưng ưu thế ở các nơi khác vẫn thuộc về các thương buôn Chăm vì lý do ngôn ngữ khá gần với các cộng đồng Tây Nguyên.

Nam Tây Nguyên cũng được biết đến như một chặng dừng rực rỡ của con đường gốm sứ trên biển. Từ xa xưa, người Tây Nguyên đã coi gốm sứ là đồ dùng có giá trị gia bảo, “có thể bắt gặp gốm ở bất kỳ đâu, từ chốn cung đình lộng lẫy đến mỗi ngôi nhà dân dã”. Người dân thường dùng ghè, chóe, jăng, nồi, tô, ché; giới quý tộc dùng gốm làm đồ trang trí quý giá…

Trong khi đó gốm thuần Tây Nguyên là đồ đất gia dụng do các phụ nữ trong các cộng đồng đã định cư sản xuất với phương thức tương tự như các làng nghề gốm Chăm ven biển Bình Thuận và Ninh Thuận.

Nồi nấu của dân tộc Katu

Nồi nấu của dân tộc Katu

Nồi nấu của dân tộc Ede, Ma hay Bana

Nồi nấu của dân tộc Ede, Ma hay Bana

Thông qua những bộ sưu tập gốm sứ, chúng ta bắt gặp một thời vàng son, hưng thịnh của chủ nhân nơi này trong việc giao thương trao đổi, buôn bán gốm sứ với các vùng trong nước và với nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Tư… Bộ sưu tập gốm sứ Đại Làng (xã Lộc Tân – Bảo Lộc) gồm 2.312 tiêu bản. Loại hình hiện vật cơ bản lớn nhất là các loại tô, bát men ngọc; tô, bát, đĩa bán sứ; tô, bát, đĩa sứ hoa lam; âu, liễn, cốc, bình, hũ, vò, chóe, lọ sứ, bán sành sứ; bình vôi, nồi gốm thô, ấm… Chất liệu để làm tô, bát, đĩa là loại cao lanh đã luyện lọc kỹ, trắng mịn. Hoa văn trang trí nằm dưới lớp men trắng, xanh, xanh lơ, vàng nhạt, vàng xám, xám xanh, xanh ngả vàng; đề tài được thể hiện hoa văn rất đa dạng gồm: cây cỏ hoa lá thân mềm, dạng dây leo, muông thú được vẽ cách điệu với đường nét mềm mại, uyển chuyển; mô tả các loài chim, cò, phượng, hạc, các loài cá, các loài thú và những con vật tưởng tượng (rồng bay, ngựa bay). Có những bức tranh mô tả phong cảnh, thuyền rồng, ngựa du ngoạn, bờ hồ với cỏ cây… hoặc hoa văn kỷ hà vẽ chìm với những đường khắc miết uốn lượn khoáng đạt.

Bộ sưu tập gốm sứ Đại Lào (Lộc Châu, Bảo Lộc) gồm 294 tiêu bản được phục nguyên dạng và hàng ngàn mảnh gốm, phổ biến là các loại hình chóe, bình, bát, đĩa, âu, cốc, ấm, nồi đất.

Bộ sưu tập gốm sứ Đạ Đờn (Lâm Hà) gồm 87 hiện vật nguyên và gần 16 ngàn mảnh vỡ; với loại hình tô, chén, đĩa men ngọc, bán sứ và đồ sành.

Những bộ sưu tập gốm sứ thông qua các cuộc khai quật khảo cổ học đã nêu, chỉ là một góc nhỏ bề nổi của tảng băng chìm với hàng chục khu mộ táng đã tìm thấy, chưa khai quật, và hàng trăm khu mộ táng lẩn chìm trong những cánh rừng hùng vĩ.

Những bộ sưu tập gốm sứ Nam Tây Nguyên được TS Bùi Chí Hoàng sắp xếp theo trật tự phát triển với độ chênh lệch niên đại không lớn: từ Đạ Đờn đến Đại Làng, Đại Lào, Lạc Xuân, Đạ Lây, Lộc Sơn… có niên đại sớm từ thế kỷ XII – XIII Khmer, Nguyên (Trung Quốc), Lý (Việt Nam). Phổ biến nhất là loại gốm có niên đại XV – XVI (Gò Sành, Chu Đậu (Việt Nam); Phúc Kiến, Long Tuyền (Minh – Trung Quốc) và muộn nhất là gốm Imari (Nhật) có niên đại giữa thế kỷ XVII.

Các di tích gốm sứ ở Nam Tây Nguyên trải trên một vùng không gian rộng lớn, đây là một mảng quan trọng trong mạng lưới gốm sứ thương mại quốc tế, với sự có mặt hầu hết các sản phẩm gốm sứ từ các trung tâm gốm sứ mạnh như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật, Thái… điều đó cho thấy các cộng đồng cư dân ở Lâm Đồng vào giai đoạn lịch sử này là một cộng đồng khá giàu mạnh. Họ đã chủ động mở rộng cánh cửa địa vực cư trú của mình, tham gia vào mạng lưới kinh tế hàng hóa khu vực. Con đường gốm sứ thương mại trên biển được thiết lập rất sớm, do các thương nhân Trung Hoa và bùng nổ mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XVI với sự xuất hiện của Công ty Đông Ấn (Hà Lan) và sau đó là các đội Châu Ấn thuyền của Nhật Bản. Các chuyến thuyền buôn cặp vào thương cảng miền Trung (Hội An), nước mặn (Quy Nhơn) và có khả năng gốm sứ Trung Hoa, Bắc Việt Nam, Bình Định đến Lâm Đồng qua sự trung chuyển của các thương nhân Chămpa… và mang về những sản phẩm của Tây Nguyên theo chiều ngược lại; một con đường khác từ thung lũng Chao – Praya (Thái Lan) theo dòng chảy sông Menam xuôi Nam bộ ngược lên Nam Tây Nguyên theo dòng sông Mêkông, Đồng Nai. Tuyến đường bộ cắt ngang Nam Trường Sơn đoạn Đơn Dương, Ninh Thuận tạo một hành lang thương mại giữa duyên hải Trung bộ Việt Nam và Tây Nguyên: Các thương nhân Chămpa tạo nên những kết nối kinh tế giữa hai vùng này. Trên con đường thâm nhập của các dòng gốm sứ thương mại quốc tế, Nam Tây Nguyên là vùng đất thoáng mở, năng động và liên tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát triển.

Những sưu tập gốm sứ không chỉ cùng với thời gian chứng kiến sự sinh tồn của các cộng đồng cư dân vùng Nam Tây Nguyên mà còn đồng hành với họ minh chứng cho một cơ tầng văn hóa độc đáo, đa dạng. Gốm sứ đã từng là một loại hình nghệ thuật được sử dụng, được coi như một thú chơi tao nhã của xứ sở này; giờ đây, gốm sứ gắn với con người trong lịch sử của Nam Tây Nguyên như đặc trưng văn hóa của một vùng đất, với một thế giới đầy biến ảo của sắc màu đất quả lửa, với những sáng tạo đầy ngẫu hứng về kiểu dáng và cả sự ngưỡng vọng của tâm hồn hướng đến cái đẹp tột cùng của Chân – Thiện – Mỹ.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »