Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm 7th, 2009

Thấy gì từ những bộ sưu tập gốm sứ ở Tây Nguyên

các loại chóe, ghè tại Tây Nguyên

các loại chóe, ghè tại Tây Nguyên

Gốm tìm thấy ở Tây Nguyên rất phong phú và đa dạng về lai lịch , chỉ riêng tại Buôn Đôn, DakLak giáp giới với Kampuchia người ta vẫn trao đổi voi lấy các sản vật gốm sứ ( đặt biệt là chóe , ghè,..) từ Kampuchia, Đông Bắc Thái Lan, từ các lò gốm vùng Maenam Noi miền trung Thái Lan và ngay cả gốm của vùng Hạ Miến Điện. Nhưng ưu thế ở các nơi khác vẫn thuộc về các thương buôn Chăm vì lý do ngôn ngữ khá gần với các cộng đồng Tây Nguyên.

Nam Tây Nguyên cũng được biết đến như một chặng dừng rực rỡ của con đường gốm sứ trên biển. Từ xa xưa, người Tây Nguyên đã coi gốm sứ là đồ dùng có giá trị gia bảo, “có thể bắt gặp gốm ở bất kỳ đâu, từ chốn cung đình lộng lẫy đến mỗi ngôi nhà dân dã”. Người dân thường dùng ghè, chóe, jăng, nồi, tô, ché; giới quý tộc dùng gốm làm đồ trang trí quý giá…

Trong khi đó gốm thuần Tây Nguyên là đồ đất gia dụng do các phụ nữ trong các cộng đồng đã định cư sản xuất với phương thức tương tự như các làng nghề gốm Chăm ven biển Bình Thuận và Ninh Thuận.

Nồi nấu của dân tộc Katu

Nồi nấu của dân tộc Katu

Nồi nấu của dân tộc Ede, Ma hay Bana

Nồi nấu của dân tộc Ede, Ma hay Bana

Thông qua những bộ sưu tập gốm sứ, chúng ta bắt gặp một thời vàng son, hưng thịnh của chủ nhân nơi này trong việc giao thương trao đổi, buôn bán gốm sứ với các vùng trong nước và với nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Tư… Bộ sưu tập gốm sứ Đại Làng (xã Lộc Tân – Bảo Lộc) gồm 2.312 tiêu bản. Loại hình hiện vật cơ bản lớn nhất là các loại tô, bát men ngọc; tô, bát, đĩa bán sứ; tô, bát, đĩa sứ hoa lam; âu, liễn, cốc, bình, hũ, vò, chóe, lọ sứ, bán sành sứ; bình vôi, nồi gốm thô, ấm… Chất liệu để làm tô, bát, đĩa là loại cao lanh đã luyện lọc kỹ, trắng mịn. Hoa văn trang trí nằm dưới lớp men trắng, xanh, xanh lơ, vàng nhạt, vàng xám, xám xanh, xanh ngả vàng; đề tài được thể hiện hoa văn rất đa dạng gồm: cây cỏ hoa lá thân mềm, dạng dây leo, muông thú được vẽ cách điệu với đường nét mềm mại, uyển chuyển; mô tả các loài chim, cò, phượng, hạc, các loài cá, các loài thú và những con vật tưởng tượng (rồng bay, ngựa bay). Có những bức tranh mô tả phong cảnh, thuyền rồng, ngựa du ngoạn, bờ hồ với cỏ cây… hoặc hoa văn kỷ hà vẽ chìm với những đường khắc miết uốn lượn khoáng đạt.

Bộ sưu tập gốm sứ Đại Lào (Lộc Châu, Bảo Lộc) gồm 294 tiêu bản được phục nguyên dạng và hàng ngàn mảnh gốm, phổ biến là các loại hình chóe, bình, bát, đĩa, âu, cốc, ấm, nồi đất.

Bộ sưu tập gốm sứ Đạ Đờn (Lâm Hà) gồm 87 hiện vật nguyên và gần 16 ngàn mảnh vỡ; với loại hình tô, chén, đĩa men ngọc, bán sứ và đồ sành.

Những bộ sưu tập gốm sứ thông qua các cuộc khai quật khảo cổ học đã nêu, chỉ là một góc nhỏ bề nổi của tảng băng chìm với hàng chục khu mộ táng đã tìm thấy, chưa khai quật, và hàng trăm khu mộ táng lẩn chìm trong những cánh rừng hùng vĩ.

Những bộ sưu tập gốm sứ Nam Tây Nguyên được TS Bùi Chí Hoàng sắp xếp theo trật tự phát triển với độ chênh lệch niên đại không lớn: từ Đạ Đờn đến Đại Làng, Đại Lào, Lạc Xuân, Đạ Lây, Lộc Sơn… có niên đại sớm từ thế kỷ XII – XIII Khmer, Nguyên (Trung Quốc), Lý (Việt Nam). Phổ biến nhất là loại gốm có niên đại XV – XVI (Gò Sành, Chu Đậu (Việt Nam); Phúc Kiến, Long Tuyền (Minh – Trung Quốc) và muộn nhất là gốm Imari (Nhật) có niên đại giữa thế kỷ XVII.

Các di tích gốm sứ ở Nam Tây Nguyên trải trên một vùng không gian rộng lớn, đây là một mảng quan trọng trong mạng lưới gốm sứ thương mại quốc tế, với sự có mặt hầu hết các sản phẩm gốm sứ từ các trung tâm gốm sứ mạnh như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật, Thái… điều đó cho thấy các cộng đồng cư dân ở Lâm Đồng vào giai đoạn lịch sử này là một cộng đồng khá giàu mạnh. Họ đã chủ động mở rộng cánh cửa địa vực cư trú của mình, tham gia vào mạng lưới kinh tế hàng hóa khu vực. Con đường gốm sứ thương mại trên biển được thiết lập rất sớm, do các thương nhân Trung Hoa và bùng nổ mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XVI với sự xuất hiện của Công ty Đông Ấn (Hà Lan) và sau đó là các đội Châu Ấn thuyền của Nhật Bản. Các chuyến thuyền buôn cặp vào thương cảng miền Trung (Hội An), nước mặn (Quy Nhơn) và có khả năng gốm sứ Trung Hoa, Bắc Việt Nam, Bình Định đến Lâm Đồng qua sự trung chuyển của các thương nhân Chămpa… và mang về những sản phẩm của Tây Nguyên theo chiều ngược lại; một con đường khác từ thung lũng Chao – Praya (Thái Lan) theo dòng chảy sông Menam xuôi Nam bộ ngược lên Nam Tây Nguyên theo dòng sông Mêkông, Đồng Nai. Tuyến đường bộ cắt ngang Nam Trường Sơn đoạn Đơn Dương, Ninh Thuận tạo một hành lang thương mại giữa duyên hải Trung bộ Việt Nam và Tây Nguyên: Các thương nhân Chămpa tạo nên những kết nối kinh tế giữa hai vùng này. Trên con đường thâm nhập của các dòng gốm sứ thương mại quốc tế, Nam Tây Nguyên là vùng đất thoáng mở, năng động và liên tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát triển.

Những sưu tập gốm sứ không chỉ cùng với thời gian chứng kiến sự sinh tồn của các cộng đồng cư dân vùng Nam Tây Nguyên mà còn đồng hành với họ minh chứng cho một cơ tầng văn hóa độc đáo, đa dạng. Gốm sứ đã từng là một loại hình nghệ thuật được sử dụng, được coi như một thú chơi tao nhã của xứ sở này; giờ đây, gốm sứ gắn với con người trong lịch sử của Nam Tây Nguyên như đặc trưng văn hóa của một vùng đất, với một thế giới đầy biến ảo của sắc màu đất quả lửa, với những sáng tạo đầy ngẫu hứng về kiểu dáng và cả sự ngưỡng vọng của tâm hồn hướng đến cái đẹp tột cùng của Chân – Thiện – Mỹ.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Gốm Bình Dương – Chi tiết các giai đoạn phát triển

Nội dung 100 trang PDF – NGHỀ GỐM Ở BÌNH DƯƠNG TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1975 là luận văn Thạc Sĩ khoa học Lịch Sử  của Nguyễn Văn Thủy từ nguồn Hội Khoa Học Lịch Sử Bình Dương

bao gồm các mục lục đáng quan tâm khi sưu tầm gốm sứ:

NGHỀ GỐM BÌNH DƯƠNG – CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

1. Khởi nguồn

1.1 Gốm thời tiền – sơ sử

1.2 Nguồn gốc ra đời của gốm sứ Bình Dương

2. Nghề gốm ở Bình Dương từ thế kỷ  XIX đến năm 1954

2.1 Vùng phân bố các lò gốm

2.2 Kỷ thuật truyền thống của gốm sứ Bình Dương

2.2.1 Nguyên liệu

2.2.2 Xữ lý nguyên liệu

2.2.3 Tạo dáng sản phẩm

2.2.4 Mỹ thuật trên gốm

2.3. Nung sản phẩm

2.3.1 Kỹ thuật xây lò ống

2.3.2 Kỹ thuật xây lò bao (lò bầu)

2.4 Các loại sản phẩm gốm sứ  Bình Dương

2. 5 Thị Trường

2.5.1 Thị trường trong nước

2.5.2 Thị trường nước ngoài

3. Nghề gốm ở Bình Dương giai đoạn 1954 – 1975

3.1 Vùng phân bố

3.2 Kỷ thuật truyền thống

3.2.1 Về nguyên liệu và sự phát triển ở khâu nguyên liệu trong sản xuất gốm sứ

3.2.2 Tạo dáng sản phẩm

3.2.3 Mỹ thuật trên gốm

3.3 Nung sản phẩm

3.4 Các loại hình sản phẩm

3.5 Thị trường gốm Bình Dương

3.5.1 Thị trường trong nước

3.5.2 Thị trường nước ngoài

Để download bài khảo cứu này click trên đường dẫn bên dưới đây:

nghe1bb81-ge1bb91m-binh-dc6b0c6a1ng-cac-giai-doe1baa1n-phat-trie1bb83n

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Thú chơi nhà cổ

Những căn nhà được xây dựng nhiều tỉ đồng với kiến trúc hiện đại xem ra đã “đề mốt” ở Sài Gòn, nên nhà cổ đang được ưa chuộng.

Giới giàu có hiện đang săn lùng khắp nơi, cố tậu cho được một căn nhà cổ, càng cổ xưa, chạm trổ càng tinh xảo càng có giá trị.

Thú chơi bạc tỉ

“Phong trào chơi nhà cổ sẽ còn tiếp tục khi giới nhà giàu đang có xu hướng hoài cổ.”

Theo những người chuyên kinh doanh nhà cổ tại Tp.HCM thì phong trào chơi nhà cổ rộ lên trong ba năm trở lại đây. Người mua thích nhất những căn nhà cổ thuộc loại hàng hiếm, như nhà sàn của các tù trưởng, già làng dân tộc thiểu số được cất cả trăm năm trước, nhà của các quan lại triều Nguyễn với ngói cổ, rường, cột bằng gỗ lim đen bóng…

Những căn nhà cổ bạc tỉ đó sẽ được dựng trong khuôn viên biệt thự để làm nơi nhậu nhẹt, tiếp khách, sum họp gia đình và thư giãn. Chủ nhiều nhà hàng cũng lùng mua nhà cổ để tạo phong cách riêng và thu hút khách.

“Một căn nhà cổ đúng nghĩa giá thấp nhất hiện nay là một tỉ đồng trở lên. Dân chơi nhà cổ căn cứ vào thời gian tồn tại của căn nhà và kiểu kiến trúc của nó mà định giá tiền” – ông Lê Văn Bảy, chủ một điểm kinh doanh nhà cổ ở đại lộ Bình Dương (tỉnh Bình Dương), cho biết.

Trị giá của một căn nhà cổ căn cứ vào độ hoàn chỉnh hay không của cột, kèo, mè, mái ngói, hoa văn chạm trổ… Nhà cổ càng cao giá nếu còn trọn bộ nội thất như tủ thờ, ván ngựa, hoành phi, câu đối… Theo lời ông Bảy, có những căn nhà cổ với nội thất trọn bộ được rao bán với giá cả triệu USD.

Cũng theo ông Bảy, hiện nay, dọc các con đường vùng ven Tp.HCM như Lê Văn Khương, Hà Huy Giáp, Bình Dương, quốc lộ 22… ngày càng có nhiều điểm kinh doanh nhà cổ. Muốn mua được một căn nhà cổ ưng ý phải đặt hàng trước sáu tháng, có khi cả năm.

Dân buôn nhà cổ sau khi nhận “cọc” sẽ liên hệ với đầu mối ở các tỉnh, thành. Có những căn nhà cổ hư hỏng được “săn” về giao cho những thợ mộc lành nghề phục chế, tu bổ, trước khi giao cho khách.

Muốn nhà cổ kiểm Nam Bộ thì về miệt Bình Dương, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhà kiểu quan lại triều Nguyễn thì ra miệt Huế, nhà sàn cổ thì phải ra Tây Bắc, lên Tây Nguyên, muốn nhà cổ của người Chăm thì phải về Bình Thuận, Ninh Thuận… Hiện nay, những căn nhà cổ được xem là “hot” nhất là nhà cổ theo kiểu Huế.

Giới buôn nhà cổ đồn đại, mới đây, một đại gia ngành xây dựng đã bỏ ra đúng 1,2 triệu USD để mua “trọn gói” một ngôi nhà cổ có đầy đủ nội thất của một người trong tôn thất nhà Nguyễn. Nghe đâu, căn nhà này có từ thời vua Minh Mạng.

“Nếu lần được đầu mối, có khi mua được giá hời, mỗi căn nhà cổ cũng kiếm được vài chục triệu đồng tiền lời”- bà Nguyễn Thị Vinh, chủ một điểm buôn bán nhà cổ trên đường Lê Văn Khương, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, cho biết.

Hoài cổ

Phong trào chơi nhà cổ đang tạo nên một cơn sốt ở Tp.HCM.

Hiện còn không ít căn nhà cổ ở thôn quê có tuổi thọ hàng trăm năm. Do không có điều kiện tu sửa hoặc vì không hiểu hết giá trị của nhà, nhiều chủ nhân của chúng vui vẻ bán đi để có tiền cất nhà mới cho hợp thời. Đó chính là cơ hội “vàng” cho giới kinh doanh nhà cổ.

Ông L.M.T, phó chủ tịch hội đồng quản trị một ngân hàng lớn ở quận 5, vừa mua một căn nhà cổ có từ thời vua Thiệu Trị, đúng 2 tỉ đồng để về dựng tại khuân viên biệt thự bên An Phú, quận 2, nói: “Thú chơi nhà cổ thu hút tôi vì không chỉ kiến trúc, nghệ thuật lạ mắt mà tạo sự yên tĩnh, thư thái cho tinh thần. Sau những lúc làm việc căng thẳng, ngồi thả mình trong ngôi nhà cổ, mình có cảm giác thư thái và bình lặng trở lại.”

Ông Lê Đức, chủ doanh nghiệp khinh doanh bồn chứa nước Nguyên Hạnh ở quận 12, vừa bỏ ra 1,1 tỉ đồng mua một căn nhà sàn cổ của vùng Tây Nguyên để dựng trong khuôn viên biệt thự ở An Phú Đông. Ông đang nhờ người tìm cho đủ bộ cồng, chiêng, ché rượu… để những ngày nghỉ sẽ sống với cảm giác như một già làng bên bếp lửa, rượu cần. “Sống trong căn nhà cổ, không gian cổ, tách biệt với cuộc sống ồn ào, cảm thấy thoải mái tinh thần, thanh thản lạ lùng”, ông Đức nói vậy.

Người Đô Thị

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Nghệ thuật trang trí trong một căn nhà cổ ở Bình Dương

Tìm hiểu về các ngôi nhà cổ người Việt ở Bình Dương, mà nét nổi bật và mang tính đặc trưng của lối kiến trúc nghệ thuật phải nói đến 3 ngôi nhà của họ Trần, nằm trong khu chợ Thủ Dầu Một ngày nay. Trong đó, có 2 ngôi nhà được công nhận di tích cấp quốc gia (nhà Bác sĩ Trần Công Vàng và nhà ông Trần Văn Hổ).

Ngôi nhà ông Trần Văn Hổ tọa lạc số 18 đường Bạch Đằng, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ông Trần Văn Hổ (tự Đẩu) – nguyên là Đốc Phủ sứ thời thuộc Pháp. Công trình được xây dựng năm Canh Dần (1890), tháng Trọng Xuân (tháng 2), nhằm niên hiệu Thành Thái thứ 2 cách ngày nay (2008) là 116 năm. Công nhận di tích quốc gia ngày 29-4-1993, tổng diện tích còn lại là 1.296m2 .

Hiện nay, di tích còn lại là một ngôi nhà chính, đây là ngôi nhà lớn chủ yếu là để thờ cúng ở gian giữa. Ngôi nhà trông bề thế và trang nghiêm, biểu hiện cung cách tôn ti trật tự, nề nếp. Mặt chính diện ngôi nhà quay về hướng Tây Nam, hướng sông Sài Gòn để hưởng được làn gió mát trong lành quanh năm.

Lối kiến trúc của ngôi nhà theo dạng chữ “Đinh”, tổng diện tích xây dựng là 200m2, kiểu nhà được người dân Thủ Dầu Một xưa rất ưa thích. Trước sân được che phủ bởi cảnh thiên nhiên thu nhỏ của vườn hoa, cây cảnh, hòn non bộ được trang trí đầy đủ cảnh sinh hoạt “Ngư – Tiều – Canh – Mục”. Ngôi nhà có dáng dấp nhìn từ ngoài vào hơi thấp, với mái ngói rêu phong, tạo cảnh sắc thiên nhiên của sự cổ kính, thanh tịnh tách hẳn với ồn ào náo nhiệt của cảnh phố chợ bên ngoài.

Bước vào bên trong là nét đẹp trang trí thể hiện sự sung túc của ngôi nhà. Nguyên vật liệu toàn là gỗ quý như Cẩm lai, Giáng hương, Gõ, Sến, Mật… được sử dụng bài trí lớp lớp, từ mái nhà xuống cửa võng và cả bậc ngạch. Từ những song gỗ, đường nét ô vuông đến các mảng phù điêu đều được bố trí đối xứng đến từng chi tiết, tạo nên bề thế trang nghiêm, thể hiện phong cách vương quyền.

Ngôi nhà xây dựng theo kiểu 3 gian, 2 chái gồm 36 cột tròn. Mái ngói âm dương dài thoai thoải và thấp mang đậm nét nhà truyền thống người Việt. Trên nóc nhà có hồi văn, hình bát quái. Loại nhà này có nhiều ưu điểm so với các nhà cổ truyền khác ở chỗ có bộ khung sườn cứng cáp, lòng nhà rộng rãi. Kết cấu bộ vì kèo theo kiểu nối cột cái với cột con bằng “giả thủ” tạo không gian thoáng đãng, hệ thống kẻ ngòi phong phú (theo lối kẻ ngòi đãng: ngắn, ráp, nối nhau) gắn chặt xà, kẻ, bẫy vào đầu cột theo không gian 3 chiều. Kẻ, bẩy vươn qua không gian, ăn mộng vào đầu cột tạo cho nghé kẻ thêm phần vững chắc ở điểm nối giữa nách và cột. “Bẩy” (đầu kèo) ở đây được chạm thẳng vào cục gỗ “Tứ linh”, xà nách thì chạm Tứ thời, kẻ ngòi (thân kèo) thì ngoài chạm ra còn tạo hình dáng uốn lượn trông mềm mại.

Từ hệ thống mái vững chắc, có phần hơi thấp, bên trong nội tự được ngăn đôi bức tường giả hình chữ U tạo chiều sâu. Mảng giữa tường và khánh thờ là các bức Hoàng phi được sơn son thiếp vàng, các bức liễn bằng những câu đối cẩn xà cừ đính trên cột.

Gian giữa phía trên là khám thờ với tấm Thủ quyển chạm nổi hình Tứ linh hoàng tráng, giữa bức thủ quyển ấy là ba hàng chữ đề danh hiệu các vị thần được thơ. Phía trái là thờ thần Táo với danh hiệu “Đông Trù Tư Mạng”, giữa là thờ trời với danh hiệu “Hiệp Thiên Đại Đế”, bên phải thờ phúc thần với danh hiệu “Phúc Đức Chánh Thần”, phía dưới thờ gia tiên nhiều đời, hai bên nơi thờ chính là hai câu đối:

Canh độc lưỡng đồ, độc khả vinh thân, canh khả phú

Cần kiệm nhị, cần năng sáng nghiệp, kiệm năng doanh.

Tạm dịch:

Cày ruộng và đọc sách là hai con đường: đọc sách có thể hiển vinh. Còn cày ruộng chắc là giàu có.

Hai chữ cần và kiệm thì vần (siêng năng) ta có thể dựng nên sự nghiệp, còn tiết kiệm cũng có thể đủ đầy.

Ở hai bên phải và trái, có hai bức thờ cẩn xà cừ rất công phu và độc đáo. Bức bên phải đề hai chữ “Hạc Toán” (sống lâu như tuổi Hạc), bức bên đề “Qui linh” (tuổi thọ như Rùa thiêng). Bốn chữ ấy đều cẩn ốc xà cừ màu ngũ sắc óng ánh tuyệt đẹp với lối viết cách điệu, mỗi nét chữ là hình ảnh của chim muông hoa lá tạo thành. Hai bên mỗi bức thờ là đôi câu đối viết kiễu chữ “Chân lư” (một loại chữ mà cho đến nay chưa đọc được), cẩn ốc xà cừ nét chữ khó đọc thể hiện sự huyền bí pha lẫn sự khéo léo của các nghệ nhân tài hoa xưa.

Hai bên thờ chính, có cặp đối:

Hoa đường thụy ái hoàng khai phú hậu chi cơ

Đại địa linh chung triệu khải văn minh chi vận.

Tạm dịch:

Rực rỡ mây lành rộng mở nền phú hậu

Địa linh hun đúc gầy dựng vận văn minh

(ước mơ vừa giàu vừa có văn hóa).

Ở hai bên gian thờ giữa là hai buồng (phòng) ngủ của chủ nhà (buồng ông và buồng bà) bài trí 2 bộ ván nằm ngủ (dạng nguyên khối gỗ). Trên hai cửa buồng có hai bức hoành đề: Ngự dược, Diên phi (cá nhảy, diều bay: Có ý mong thi đậu hoặc thăng quan lên chức). Nơi đây còn có các bao lam đều trang trí đẹp, công phu. Đối xứng hai bên hông buồng ngủ là hai tủ đứng cẩn xà cừ màu sắc sặc sỡ, tủ dùng bài trí các vật dụng trong nhà.

Nét độc đáo của ngôi nhà là lớp cửa thứ hai, tất cả đều chạm nổi, khắc chìm, khắc lộng… thể hiện toàn bộ trên các khung cửa, cách cửa: khung cửa chính dựng theo lối Tam quan, ở đây là một bức tranh khá hoành tráng với cảnh có hình bán nguyệt được trổ lộng, thể hiện cảnh lầu son gác tía ở cung đình. Bề mặt của khung cửa chạm trổ Tứ thời, bên trên là đề tài, bên dưới đề câu đối, tạo nếp hài hòa sinh động qua cảm giác khoảng thời gian của mỗi mùa.

Phần thể hiện các đề tài trên cửa được chia ra các ô vuông. Ô chữ nhật thể hiện Tứ Linh: Long với sóng nước vân mây, Lân với cuộc giấy, Qui với chân đèn, Hạt với cây Tùng. Các hoa văn tứ hữu “Mai – Lan – Cúc – Trúc” với những đường diềm chi tiết khéo léo được phân bố hợp lý nét chạm – khắc tinh tế.

Các tấm lá gió đường diềm ở giữa cột được gia công, chạm lộng, hình chữ Thọ, các chắn song song đều nhau, ngăn cách một cách chuẩn mực. Ở đây công trình chạm lộng từ bẩy, kẻ ngòi, xà nách, bao lam, khám thờ… song cũng có nhiều chủ đề khác nhau nhưng vẫn tập trung của 2 đề án trang trí chính: Đồ án trang trí theo các đề tài tôn giáo phong kiến như: Tứ linh, Đồ án trang trí dân gian lấy thảo mộc, hoa quả làm chủ đề chính như: Bát bảo, Bát quả, Tứ hữu, Tứ thời… Mỗi chủ đề là sự thể hiện một mãn tâm hồn, một phần đời sống, một cảnh thiên nhiên với nhiều ý nghĩa khác nhau.

Bộ phận văn hóa chữ Hán được thể hiện ở những tấm hoành phi, cặp liễn, trên bức thờ, thủ quyển, tấm hoành, câu đối. Những bài thơ, văn ở đây đều được thể hiện ngắn gọn, súc tích. Có câu mang tính ước lệ, khuôn sáo nhưng nội dung vẫn giàu tính nhân văn, chẳng hạn để diễn tả nét đẹp của mặt tiền ngôi nhà đã có câu: Định tiền sinh thụy thảo

Liêm ngoại xuất kỳ hoa

Tạm dịch:

Trước sâu sinh cỏ lành

Ngoài rèm mọc hoa quý.

Ở nơi hàng cột nhì trong ngôi nhà trên bốn cột có treo bốn bức tranh “Tứ bình” (thật đáng tiếc nay chỉ còn lại 3 bức tranh) khảm ốc rất đẹp, đẹp đến từng đường nét cẩn ốc rất tinh xảo nhuyễn – nhỏ và uyển chuyển sinh động.

Bức thứ nhất vẽ chủ đề “Mai – Nhạn” với hai câu thơ:

Nguyệt Minh thời hữu Nhạn lai quy

Lan bất tri mai nguyên Nhạn ước.

Tạm dịch:

Vào đêm trăng sáng nhạn trở về,

Lan nào hay biết nhạn với mai đà ước hẹn).

Bức thứ hai vẽ chủ đề “Trúc – Phượng” với hai câu thơ:

Tập lai nghi phượng tảo tầm qui

Cúc tảo tri tha thường trúc thực.

Tạm dịch:

Đàn phượng tìm về vừa đúng lúc

Nhưng cúc cũng đã sớm ưa tìm ăn trái trúc!

Bức thứ ba vẽ chủ đề “Cúc – Yến” với bốn câu thơ:

Chất bạn cúc li kiên vãn tiết

Hương tùy chu thất tán thu phong

Phong nguyên chấn lập li tao lí

Yến kết di phục cư bội trung.

Tạm dịch:

Cúc luôn giữ khí tiết

Hương vào nhà thơm theo gió thu

Thẳng tới chốn phòng văn

Hay dầu én đã đến nơi đây làm tổ.

Nơi lạc khoảng một trong ba bức tranh này đề: Quý Tỵ Niên Khiến Tạo (1833). Như vậy, phần trang trí nội thất không phải tiến hành cùng một lúc với công trình xây cất ngôi nhà.

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

    minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

    minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

Một di tích kiến trúc cổ được đặt trên một nền văn hóa nghệ thuật chạm trổ – điêu khắc gỗ thể hiện hài hòa và điêu luyện, được tồn tại và bảo lưu quý giá về chất liệu sử dụng cả về nghệ thuật trang trí làm cho người xem khó có thể phân biệt tách rời giữa ranh giới đâu là chạm và đâu là khắc các đường nét sắc bén tinh vi, tỉ mỉ đến từng đường nét uốn lượn từ lớn đến nét nhỏ nhất, từ độ sâu đến nét cạn… tất cả đều thể hiện một nét riêng độc đáo của loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống Việt Nam.

Cái đẹp của công trình kiến trúc ngôi nhà là người chủ đã xác định được địa thế, địa hình: đồi, dòng sông, nắng trời, trăng và phong cảnh xung quanh hòa hợp. Đó là đặc điểm truyền thống trong kiến trúc cổ của dân tộc Việt Nam, kiến trúc ngôi nhà với sự hài hòa với địa hình, phong cảnh và thiên nhiên vùng nhiệt đới.

Giá trị kết cấu kiến trúc của ngôi nhà cổ Trần Văn Hổ được thể hiện ở cách bố trí không gian bên trong ngôi nhà. Nghệ thuật trang trí cho thấy ngôi nhà vừa cổ điển, vừa sâu kín và ấm cúng, thanh thoát. Nghệ thuật chạm trổ tinh vi từ các vì kèo, bao lam, khán thờ – uy nghi của tấm Thủ quyển chạm hình Tứ linh hoàng tráng nhũ vàng, các bức hoành phi sơn son thiếp vàng, các bức liễn cẩn xà cừ theo motyp truyền thống như: Tứ linh, Bát bửu, Hồi văn, Chữ thọ… cùng với những đường nét theo kiểu hình học. Những cây trính đều được uốn cong và chạy chỉ, trên thích với kiểu cánh dơi theo kiểu truyền thống từ miền Bắc và miền Trung nước ta. Đặc biệt, là những cái lá dung ở mỗi đuôi kèo được chạm khắc tinh xảo, thể hiện nét tiêu biểu của kiểu nhà cổ Việt Nam, nói lên óc thẩm mỹ đặc sắc của nghệ nhân đất Thủ xưa.

Phần giàu có nhất của ngôi nhà được thể hiện ở vật trang trí từ các bộ bàn ghế, tủ chè, tủ thờ, hoành phi, câu đối, trường kỹ, ván nằm (dạng nguyên khối gỗ) có niên đại cổ xưa và giá trị nghệ thuật, kinh tế cao. Ngoài chất liệu gỗ được sử dụng như sao, gõ, huỳnh đàn, cẩm lai, mật… được chạm trổ với các kiểu nghệ thuật khác nhau: chạm lọng, chạm nổi, khắc, chạm giũa thật tinh xảo, hệ thống các hiện vật trong trang trí nội thất đều nâng lên được giá trị đặc biệt về mỹ thuật lẫn niên đại.

Qua những nét đặc trưng nổi bật về trang trí mỹ thuật của kiến trúc nghệ thuật dân dụng. Ngôi nhà cổ Trần Văn Hổ là sự hội tụ mọi yếu tố văn hóa khác nhau, phù hợp với điều kiện tự nhiên khí hậu thổ nhưỡng, về kinh tế – xã hội thời bấy giờ. Với nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc ngôi nhà tồn tại trên vùng đất trù phú (Phú Cường) đã đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc gỗ ở thế kỷ XIX, mang phong cách đặc trưng của địa phương đất “Thủ” – Bình Dương ngày nay.

Hiện nay, di tích được Ban Quản lý di tích tỉnh quản lý và khai thác phát huy tác dụng giá trị nghệ thuật quý giá ấy. Giá trị của ngôi nhà được bảo tồn và trùng tu, tôn tạo ngày một đẹp hơn. Hàng năm ngôi nhà đón tiếp nhiều du khách trong và ngoài nước tham quan chiêm ngưỡng và nghiên cứu. Tại đây, hàng tháng còn tổ chức lớp học về nhạc cụ dân tộc, đờn ca tài tử Nam bộ… làm cho ngôi nhà trở nên sinh động hơn và ngôi nhà góp phần giúp giới trẻ tìm về với cội nguồn, gần gũi với nghệ thuật truyền thống dân tộc, làm giàu tính nhân văn tâm hồn Việt trong thời hội nhập và phát triển.

Nguồn Hội Khoa Học Lịch Sử Bình Dương  (VĂN THỊ THÙY TRANG)

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Nhà cổ ở Bình Dương

(hình ảnh trang trí không có nội dung minh họa)

Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ. Cấu trúc địa chất cơ bản là vùng bán sơn địa nhưng có nhiều dạng địa hình tự nhiên như đồi gò, đồng bằng, sông ngòi, rừng nguyên sinh… Nơi đây là vùng đất lý tưởng vì sự đa dạng về thổ nhưỡng và môi trường sinh thái: vừa giàu có về rừng cây gỗ quý nổi tiếng một thời, vừa có chất đất thuận lợi để trồng cây công nghiệp và có cả đồng bằng phù sa màu mỡ.

nhaco

Trên vùng đất trù phú được thiên nhiên ưu đãi nên nhìn chung dân cư Bình Dương có đời sống ổn định, nền nếp, phong lưu, văn hóa phát triển. Theo Đại Nam Nhất Thống chí  thời Tự Đức, Bình Dương xưa thuộc trấn Phiên An, giữa hai huyện Bình Dương (Tân Bình) và Phước Long, dân cư trù mật, nhà ngói, phố chợ liền lạc, là xứ phồn hoa đô hội của đất Gia Định, cả nước không đâu sánh bằng. Ngày nay dấu ấn xứ phồn hoa đô hội  ở Bình Dương vẫn còn được lưu giữ qua nhiều ngôi nhà cổ, một loại hình di tích văn hóa độc đáo của vùng đất này.

Làng xã ở Bình Dương thường nằm yên bình, tĩnh lặng giữa thiên nhiên đầy cây xanh của vườn cây trái hay vườn cây cảnh, trên vùng đồi gò đã được khai phá thành vườn tược hay trên những cù lao nằm giữa dòng Đồng Nai. Có lẽ phong cảnh nhà vườn với nếp sống phong lưu thể hiện rõ nhất nơi những căn nhà bề thế, cổ kính trên những cù lao trù phú như cù lao Mỹ Hoà, Mỹ Quới (tên cũ của Bạch Đằng, Tân Uyên) cù lao Rùa, cù lao Thạnh Hội… Cù lao ở đây đã được con người chọn để cư trú từ lâu đời, nơi có nhiều dòng họ giàu có “tam đại đồng đường” trong những ngôi nhà cổ đồ sộ giữa vườn cây trái bạt ngàn, không gian tĩnh mịch và môi trường sinh thái trong lành.

Tại Bình Dương hầu như có đủ các kiểu nhà thường thấy ở Nam Bộ.

Nhà chữ đinh: là loại nhà phổ biến nhất tại Bình Dương. Kiểu nhà này có hai căn, căn nhà trên nằm ngang và căn dưới nằm xuôi, đòn dông của hai căn này thẳng góc với nhau, giống như chữ đinh (丁¡)  trong Hán tự. Đặc điểm của nhà chữ đinh là cửa cái của nhà trên trổ ở chiều dài của ngôi nhà, còn cửa cái của nhà dưới trổ ở chiều rộng (tức ở  đầu hồi nhà), do đó cửa cái hai căn nhà trên và nhà dưới đều mở ra cùng một hướng, có chung mái hiên trước, tạo sự đồng nhất cho toàn bộ ngôi nhà. Kiến trúc nhà chữ đinh thể hiện ý thức về trật tự phong kiến rất rõ. Nhà trên quan trọng vì là nơi thờ cúng tổ tiên nên thường bề thế, cao hơn nhà dưới, đây cũng là nơi sinh hoạt chủ yếu của nam giới. Nhà dưới là nơi ở chung của gia đình, nơi sinh hoạt thường xuyên của phụ nữ. Dù nhà bằng vật liệu bán kiên cố hay kiên cố, phần lớn nhà chữ đinh tại Bình Dương đều thuộc dạng nhà chữ đinh có cầu nối  đặc trưng của miền Trung, tức là nhà có phần trung gian nối vách và mái giữa nhà trên và nhà dưới thành một tổng thể chứ không tách rời nhau.

Để cất được một căn nhà chữ đinh, trước tiên phải có diện tích đất khá rộng, sau nữa chi phí cho vật liệu xây dựng khá cao, vì vậy chỉ những gia đình khá giả trở lên mới có khả năng đáp ứng. Có những ngôi nhà chữ đinh diện tích nhà trên đến 250m2 (ngang 10m dài 25m), được xây dựng bề thế với những cột gỗ lớn, các bộ phận trang trí kiến trúc được chạm khắc tinh xảo. Đi khắp Bình Dương, nhất là những nơi có cư dân lâu đời như thị xã Thủ Dầu Một, huyện Tân Uyên, Dĩ An, Thuận An… đâu đâu cũng có những ngôi nhà chữ đinh cổ xưa với dạng nhà vườn giống nhau. Phổ biến là nhà chữ đinh có kích thước trung bình, mái ngói cổ rêu phong, hiền hòa giữa những vườn cây xanh, tạo cho cảnh quan cư trú một vẻ đẹp yên bình và sung túc.

Nhà chữ Nhị  cũng khá phổ biến tại Bình Dương. Loại nhà này có hai căn: nhà trên ở phía trước và nhà dưới liền ngay phía sau nhà trên, do đó hai cây đòn dông của nhà trên và nhà dưới nằm song song với nhau như chữ nhị (二þ). Bố cục mỗi căn nhà thường là ba gian, tuy nhiên sau này người ta cất nhà dưới dài thêm một gian so với nhà trên để lấy ánh sáng. Nhà dưới là không gian cư trú, còn nhà trên chủ yếu dành làm nơi thờ tự. Nhà chữ nhị cũng thuộc loại nhà có diện tích đất tương đối lớn.

Nhà chữ Đinh và nhà chữ Nhị là những ngôi nhà có tuổi khá xưa, phần lớn được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, chủ nhân thường là người giàu có. Tuy đã trải qua trùng tu nhiều lần nhưng nhờ xây dựng bằng các loại gỗ quý, thợ dựng khéo léo và kỹ lưỡng, con cháu  có sự lưu tâm giữ gìn nên đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn.

Nhà ba gian hoặc ba gian hai chái là loại nhà phổ biến trong dân chúng. Không gian của căn nhà vừa để ở, vừa có chức năng thờ tự và tiếp khách. Nhà ba gian phân bố ở vùng nông thôn và cả thành phố. Để tận dụng diện tích làm nhà ở, theo độ che rộng của mái nhà, người ta xây dựng thêm một hoặc hai chái hai bên nhà ba gian.

– Nhà năm gian hai chái  tại Bình Dương được tầng lớp điền chủ, phú gia, trí thức giàu có ưa chuộng. Kiểu nhà này chiếm diện tích đất rộng, kỹ thuật xây dựng công phu, vật liệu tốn kém vì là sự kết hợp giữa kiểu nhà gỗ truyền thống với phong cách kiến trúc và vật liệu xây dựng của phương Tây, thường được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XX: nền nhà cao có bậc tam cấp, tường xây gạch dày, tô hồ quét vôi. Cột nhà có khi là cột bê-tông nhưng vì kèo gỗ và lợp ngói, có trần nhà.

nhacoa

Nhà cổ ở Bình Dương cũng thể hiện tính chất chung của nhà cổ Nam bộ, đó là có kết cấu nhà cột giữa (nhà rôi) và nhà xuyên trính (nhà rường) theo hệ thống khung chịu lực truyền thống như ở miền Bắc, miền Trung. Về sau có thêm dạng nhà đúc kết cấu bê tông chịu lực theo kiểu phương Tây.

Nhà cột giữa thuộc kết cấu cổ truyền, cột cái (cột giữa) kết gắn trực tiếp vào đòn dông và giao điểm của hai cây kèo, tạo thành một bộ vì nhà giản đơn, thích hợp với loại hình nhà thô sơ, bán kiên cố. Hạn chế của nhà cột giữa là không gian nhà chật hẹp do sự hiện diện của hàng cột giữa.

Nhà xuyên trính  còn gọi là nhà rường phổ biến hơn nhà cột giữa. Bộ khung sườn nhà này không có hàng cột cái ở giữa nên không gian nội thất khá rộng rãi. Một số nhà rường biến thể là nhà bát dần được xây cất rất qui mô. Mái ngói của dạng nhà bát dần kéo sà thấp xuống (giống như chữ Bát…..trong Hán tự). Bên ngoài nhìn vào kiểu “mái xụ” này thấy nhà có vẻ thấp, nhưng bước vào bên trong sẽ thấy hệ thống kèo cột và trần nhà rất cao làm cho nhà thoáng mát vì kiểu mái đó có tác dụng che mưa và ánh nắng chói chang vùng nhiệt đới, đồng thời hạn chế được tầm nhìn từ bên ngoài. Nhà ông Trần Công Vàng ở thị xã Thủ Dầu Một là một ngôi nhà rường theo kiểu chữ đinh, gồm 5 gian 2 chái, dài 24m, ngang 22m với 6 hàng 24 cây cột, đầu kèo chạm trổ tinh xảo. Cột nhà xưa thường bằng các danh mộc như sao, cẩm lai, gỗ mun.

Bình Dương hiện còn nhiều ngôi nhà cổ có giá trị về kiến trúc và nghệ thuật, niên đại trên dưới 100 năm, chủ yếu tập trung ở thị xã Thủ Dầu Một và huyện Tân Uyên, như nhà ông Trần Văn Tề (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Trần Văn Hổ (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Trần Công Vàng (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Nguyễn Văn Đằng (xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên), nhà ông Đỗ Cao Thứa (xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên), nhà ông Nguyễn Tri Quang (xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một)… Trong số đó có hai ngôi nhà được công nhận Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia vào năm 1993, đó là nhà ông Trần Văn Hổ và nhà ông Trần Công Vàng.

Hầu hết nhà cổ ở Bình Dương có giá trị về mỹ thuật kiến trúc và trang trí là nhà chữ đinh. Riêng nhà của một số gia đình giàu có nổi tiếng ở thị xã Thủ Dầu Một, ở huyện Tân Uyên thì có qui mô khá lớn và hình thức đa dạng chứ không chỉ là kiểu nhà chữ đinh truyền thống. Nhà ông Trần Văn Hổ thuộc kiểu nhà 5 gian 2 chái rất rộng lớn, hoàn toàn bằng gỗ chạm trổ kỹ lưỡng từ cột, kèo đến vách. Kiểu nhà này xưa vốn là đặc quyền của tầng lớp quan lại cao cấp thời Nguyễn, thường dân không được phép xây dựng. Nhà ông Nguyễn Văn Đằng theo kiểu nhà chữ công £¨工¤£©  có hai gian lớn gọi là Đông lang – Tây lang; hay kiểu nhà chữ khẩu £¨口£© (gồm 4 căn với hướng đòn dông tạo thành hình vuông) của ông Nguyễn Tri Quang. Hầu hết những căn nhà cổ vừa nêu trên đều khẳng định chức năng thờ cúng ông bà tổ tiên và thể hiện niềm tự hào về gia tộc trên các bức đại tự như Trung Nghĩa Đường, Trần Miêu Duệ, Nguyễn Phủ Đường… tại gian thờ chính trong nhà.

Việc xây dựng nhà ngày xưa rất công phu. Gia tộc ông Đỗ Cao Thứa cho biết nhà xây 3 năm mới hoàn thành, do những người “thợ Bắc” thi công. Vì địa thế vùng Tân Uyên thấp nên nhà phải đắp nền cao rất công phu. Đất phải lấy từ ấp Bình Hóa (xã Uyên Hưng) vận chuyển bằng xe bò đến bờ sông, sau đó chở đất bằng ghe qua sông rồi mướn người gánh về đổ đắp nền nhà. Nền cao hơn mặt đất 0,8m, xung quanh nền nhà được bọc móng rất kiên cố bằng những tảng đá ong vốn có nhiều ở miền Đông Nam Bộ.

nhacoab

Nhà cổ tại Bình Dương là dấu ấn thời kỳ phong kiến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Hầu hết nhà cửa thời kỳ này còn tồn tại cho tới nay đều nhờ kỹ thuật xây dựng kiên cố với các loại danh mộc quý, chắc như lim, căm xe, cà chất… Khung sườn các nhà xưa hầu hết sử dụng kỹ thuật lắp ghép tự nhiên (lắp mộng) chưa dùng đinh sắt. Các bức vách gỗ phía trước nhà hoặc vách ngăn giữa gian thờ tự với gian nhà trong, những cây kèo, hoành phi, câu đối, bao lam, bàn thờ, trang thờ, bình phong… đều được chạm trổ tinh xảo theo phong cách chạm lộng, chạm thủng, chạm chìm khéo léo. Ngôi nhà vừa là công trình kiến trúc tài hoa, vừa chứa đựng những tác phẩm điêu khắc phản ánh các giai đoạn của nền mỹ thuật Nam Bộ: giai đoạn sớm là chạm trổ trên gỗ mộc, toàn bộ chỉ để gỗ tự nhiên, giai đoạn muộn hơn là dùng sơn ta để sơn son thếp vàng hoặc cẩn ốc, khảm trai, sơn mài…

Thời kỳ đầu nhà cổ tại Bình Dương được thi công xây dựng và trang trí chạm trổ bởi các nhóm thợ mộc nổi tiếng khéo tay từ miền Trung vào như thợ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên, Bình Định (thường gọi chung là “thợ Huế”). Bên cạnh đó còn có thợ mộc của “trường phái thợ Thủ” (Thủ Dầu Một) với tay nghề giỏi nức tiếng đã dần đảm trách vai trò chính yếu trong xây cất nhà và trang trí nội thất. “Thợ Thủ” không chỉ  hành nghề ở Bình Dương mà còn ở nhiều nơi khác. Người ta rước “thợ Thủ” về xây nhà và nuôi nhóm thợ trong nhà hàng năm để họ chạm khắc trang trí cho ngôi nhà. Những thế hệ nghệ nhân “thợ Thủ” đã trải nghiệm tài nghệ của mình và lưu danh về kỹ thuật xây cất và nghệ thuật trang trí nội thất những ngôi nhà trên khắp Nam Bộ. Trong “Nam kỳ nhân vật phong tục diễn ca” Nguyễn Liên Phong đã nêu:

…“Nhà khéo cất tốn bạc muôn

Tiếng đồn thợ Thủ ráp khuôn kỹ càng”

Những nghệ nhân nghề mộc khéo léo, tài giỏi của Bình Dương xưa đã để lại những tác phẩm nghệ thuật của mình trên các kèo đùi ếch, trên “lá dung” đầu kèo, bao lam, hoành phi, câu đối, bàn ghế, tủ thờ… được chạm, cẩn tinh xảo, làm nổi bật sắc gỗ mộc thanh cảnh, vàng óng, đỏ tươi và sắc mun ánh ngời bóng loáng của sơn ta, của xà cừ… Đặc biệt toàn bộ vách trước những căn nhà truyền thống ở Bình Dương thường được “thợ Thủ” chạm trổ tỉ mỉ tài hoa, tạo nên vẻ đẹp sinh động nhưng tôn nghiêm cho căn nhà. Từng khung vuông, khung chữ nhật của bức vách trước được chạm khắc nhiều đồ án hoa văn các môtíp điển hình như tứ linh, tứ quý, quả lựu, hoa mẫu đơn… Vách trước cũng thường chạm đôi “mắt cửa” hay biểu tượng của âm dương, nhật nguyệt và khung viền cửa trước (bao lam) thường chạm trổ kiểu đòn võng khéo léo.

Nhà xưa ở Bình Dương hầu hết lợp ngói âm dương, nền nhà lót gạch tàu đỏ. Trong nhà theo mô thức trang trí nội thất thống nhất, gồm bộ trường kỷ gỗ đen ở gian giữa phía trước bàn thờ, hai gian nhà hai bên bày hai bộ ván ngựa. Ở một góc nhà có tủ kiếng để chưng bày các cổ vật kỉ niệm. Bàn thờ, nhất là các câu đối trên cột hoặc các bài minh bằng Hán tự đặt trên bàn thờ tổ tiên đều được cẩn ốc hoặc sơn son thếp vàng. Nội dung các câu đối, bài minh hầu hết đều đề cao lòng hiếu đễ với ông bà tổ tiên, nề nếp gia phong, việc kính trọng và phụng dưỡng cha me. Ngoài dấu ấn đặc trưng của tâm thức Nho giáo đương thời thể hiện như yếu tố chủ đạo trong nội dung các câu đối, bài minh… chủ đề trang trí trong những ngôi nhà xưa tại Bình Dương còn thấy một nội dung khác của văn hoá Nho giáo, đó là những bài thơ cổ tả phong cảnh hay là điển tích xưa. Ngoài đồ trang trí nội thất chủ yếu bằng gỗ như tủ thờ, bàn thờ, trường kỷ, bộ ván, mấy bộ bàn ghế… trong nhà còn có nhiều đồ gốm Biên Hòa, gốm Lái Thiêu như đôn tròn, lục giác, đôn voi, chậu kiểng, độc bình. Nhiều ngôi nhà cổ còn có vài vật dụng Tây phương như đèn Măng sông, quạt trần, máy hát đĩa…

Về Bình Dương đắm mình trong không gian tĩnh lặng của những ngôi nhà cổ giữa khu vườn êm ả, tiếng ồn, khói bụi đường xa dường như không len lỏi vào đến nơi đây, cuộc sống xô bồ gấp gáp chốn thị thành dường như không hiện diện ở nơi đây… Chợt thấy mình như được quay về với những ngày xưa yêu dấu…

Tham khảo: Tài liệu của Ban quản lý di tích tỉnh Bình Dương – TS Nguyễn thị Hậu

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »