Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một, 2011

Bảo tàng nghệ thuật Walters
William và Henry Walters: Những nhà sưu tập tiên phong và những người xúc tiến nghệ thuật Châu Á

Bảo tàng nghệ thuật Walters

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Advertisements

Read Full Post »

Đầu Xuân Nói Chuyện Quốc Hoa

Tản mạn: Đức Chính

Quốc hoa là gì nhỉ? Hình như nhiều người cho đó là câu hỏi vớ vẫn, nhưng bình tâm tâm ngẫm xét lại xem: quốc hoa hơn loài hoa khác điểm gì. Quốc hoa không là thứ đua đòi danh tiếng, nó phải là loài hoa đi vào hồn dân tộc và gắn bó với sự thăng trầm của dân tộc. Trong dòng tư duy triết lý ẩn tàng trong quốc hoa bộc lộ ra dân tộc tính thuần chất của hầu hết mọi người cùng chung sống trên một mảnh đất được gọi là quốc gia.

Quốc hoa không thể gượng ép trao cho, nó hình thành từ trong tâm tư của người dân khi nhớ tưởng đến nó và nó phải là một biểu hiện tâm linh đặc thù của một dân tộc. Gía trị tâm linh đó không thể là dòng triết lý hay tín ngưỡng du nhập, càng không phải là tư tưởng riêng cho một nhóm người. Quốc hoa phải là loài hoa để mọi người không phân biệt tuổi tác, tín ngưỡng, địa vị xã hội cùng cảm nhận linh hồn của nó.

Gần đây có trào lưu phong hiệu quốc hoa quốc tửu. Một số đông bầu chọn hoa sen. Hoa sen là loài hoa cao quý, nhưng dòng tư tưởng đó du nhập từ Thiên Trúc qua nhiều ngã, trong đó không ít sự pha trộn dòng triết học Trung Hoa. Đành rằng sự du nhập đó đã trải qua nhiều thế hệ, ăn sâu vào lòng người, nhưng trong chừng mực nào đó gần như mặc nhiên coi là biểu tượng Phật giáo. Nên hay chăng gán ép người theo Cơ Đốc chấp nhận một quốc hoa mà trong đức tin của họ không hòa đồng được với những nét sâu xa thâm trầm mà hoa sen vốn có. Hay là vì tên gọi một loài quốc hoa khiến họ thành một bộ phận tách rời sống trong lòng một dân tộc. Linh hồn của một quốc hoa là để mọi người trong một dân tộc cùng hoài cảm như nhau: vậy hoa sen có nên là quốc hoa hay không? Chúng ta cứ suy tư mà tự trả lời.

Cũng có bài báo nêu cây lúa. Lúa ư! Đáng trân trọng lắm đấy chứ, nhưng xưa nay nào ai đã bẻ một nhánh lúa đòng đòng trưng trong nhà đâu mà gọi là hoa. Hơn nữa, dòng tư tưởng gắn với cây lúa không mang đậm triết lý sống. Vậy có nên chọn một loài cây có tâm linh thiếu nồng thắm như thế làm quốc hoa chăng?

Thế còn cây mai vàng. Ở đây nói đến loài mai vàng chưng tết, không nói đến loài mai mơ đặc nét Trung Hoa.

Có thể lắm chứ. Ngày xuân trong buổi họp mặt gia đình mà thiếu cây mai hình như không khí kém đi phần thiêng liêng của tinh thần gia tộc. Ai cũng cố tìm cho mình một canh mai vàng thật đẹp trong buổi đầu xuân, cầu mong một điều may mắn (mai trại là may) như một tâm nguyện của người dân xứ nghèo muôn đời lo chiến tranh loạn lạc. Cây mai hình như có một linh hồn, người Việt xa xứ thường cố tìm một cành mai để kỹ niệm ngày tết riêng của dân tộc mình thay vì nhánh đào đỏ thắm. Nhiều Việt Kiều lớn tuổi ngắm cành mai vàng qua ngày rụng từng cánh mà rưng rưng nước mắt nhớ về kỹ niệm ấu thơ, nhớ về quê hương. Cây mai vàng không được thêu dệt nhiều huyền thoại tâm linh chép thành sách như người Trung Hoa hay thêm thắt cho tín ngưỡng của mình, nhưng ngay chính nó có một thứ triết lý ‘vô ngôn’ chỉ những người vì hoàn cảnh xa quê cha đất tổ mới cảm được. Há thứ triết lý đó chẳng phải quá sức thâm trầm vượt ngoài ngữ nghĩa. Chỉ có trực tâm hoài cảm mới thấu được đạo lý “nguồn cội” của cành mai vàng vào đầu xuân nơi xứ lạnh.

Nếu cây đào còn mang dấu ấn của Trung Hoa, cây mai vàng hình như chỉ có ở Việt Nam đưa vào hàng hoa kiểng. Xứ Châu Phi không thiếu loài mai vàng nhưng họ có trân trọng  như người Việt chúng ta đâu. Người Nhật đặc trưng với quốc hoa Anh Đào vì chính họ và chỉ riêng họ biết nâng niu loài hoa ấy. Cây mai vàng của chúng ta có nét thuần túy dân tộc riêng như Anh Đào, có một tâm linh huyền diệu như thế, sao không là quốc hoa?

Hoa Champa (hoa sứ) là quốc hoa của Chiêm Thành nhưng dân tộc này chẳng bao giờ gọi nó là quốc hoa. Chí sau này các nhà nghiên cứu mới nói thế. Chẳng qua vì loài hoa đó gắn với dân tộc Chăm như cành mai vàng gắn với người Việt. Cả hai đều là sự hòa quyện linh hồn vào dân tộc, cả hai không là thứ gượng ép áp đặt. Quốc hồn quốc túy là thứ tự sinh ra và tiệm biến trong lòng dân tộc, nó không vay mượn hay ‘chế biến’ mà thành. Hãy cho bất cứ người dân Việt nào khi ngắm quốc hoa đều thấy hồn mình trong đó và kiêu hãnh đó là loài hoa đặc thù của dân tộc mình. Đáng buồn nhất là một ngày nào đó có du khách nước ngoài bảo loài hoa X gì đó là quốc hoa của dân tộc Y từ hàng thế kỷ rồi, chứ không gượng ép được chọn hồi thế kỷ 21. Hoa mai vàng chưa có dân tộc nào chọn làm quốc hoa và chắc chắc chẳng có dân tộc nào gửi nhiều tâm khảm vào loài mai vàng bằng dân tộc Việt. Mai vàng là quốc hoa được chăng?

Chuyện quốc hoa dần sang quốc tửu! Tôi chẳng muốn nói có cần hay không cần chọn một loại quốc tửu, chỉ muốn nói khi nhấp ly quốc tửu đó tâm linh người Việt thế nào? Nào ai cùng tôi rót ba ly rượu nếp tiêu biểu ba miền: rượu làng Vân, rượu Bàu Đá, rượu Gò Đen. Ai sành rượu xin mời phân biệt đúng tên từng loại rượu. Có lẽ người có khả năng này chỉ đếm trên đầu ngón tay, nếu không muốn nói không có, thế thì lạm bàn quốc tửu có quá lời chăng? Cũng như ai nhấp thử một ly rượu đủ sức nói đúng cách chế biến men, phân biệt được lửa già lửa non, trái gió hay không  trái gió khi nấu, … Có cao nhân như thế kẻ hèn này xin nâng chén tôn làm thầy. Tôi nói ý này chỉ với mục đích: hãy nghiên cứu cho kỹ rồi bàn về quốc tửu. E rằng rất nhiều kẻ huyên hoang cổ động quốc tửu này quốc tửu nọ nhưng thú thưởng rượu chẳng biết được bao nhiêu.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Đồ sứ Imari

Trong ẩm thực, người Nhật không chỉ chú trọng đến hương vị của món ăn, mà cả trong cách thể hiện. Vật đựng bằng sứ Imari luôn là lựa chọn ưa thích để trang trí món ăn Nhật Bản.

Đồ sứ Imari là sản vật nổi tiếng của thị trấn nhỏ Arita thuộc thành phố Imari, thủ phủ của tỉnh Saga, tọa lạc trên đảo Kyushyu.

Khác với những sản phẩm được làm từ đất sét khác, đồ sứ có đặc điểm không chỉ đẹp, mà còn rắn chắc. Đồ sứ Imari là đại diện cho các sản phẩm gốm sứ có nguồn gốc từ Nhật Bản. Chất lượng của nó đã được thế giới khẳng định trong nhiều thế kỉ qua. Sứ Imari được chia ra làm hai loại chính là sứ Sometsuke và Iro-e.

Đồ sứ Imari là sản vật nổi tiếng của Nhật Bản

Đặc trưng của sứ Sometsuke là những hoa văn chỉ duy nhất một màu xanh được trang trí trên nền men trắng. Sứ  Sometsuke ra đời sớm nhất trong lịch sử tồn tại của đồ sứ Imari.

Sứ  Sometsuke ra đời sớm nhất trong lịch sử tồn tại của đồ sứ Imari

Loại thứ 2 là sứ Iro-e. Hoa văn trang trí trên dòng sản phẩm này mang nhiều màu sắc và sắc thái khác nhau, thường là phong cảnh hoa lá, chim chóc. Iro-e là loại sứ men được sản xuất bằng phương pháp phủ men màu lên trên sản phẩm đã được vẽ họa tiết trang trí và nung trước. Những men màu thông dụng trong sứ Iro-e là màu đỏ, vàng kim, xanh lá và xanh biển.

Những men màu thông dụng trong sứ Iro-e là màu đỏ, vàng kim, xanh lá và xanh biển

Đối với sứ Imari, người Nhật không dùng chúng để bày trí và sử dụng một cách tùy tiện. Cách sử dụng ở đây không có nghĩa là bảo quản, mà đó là kỹ năng bày biện những đồ đựng bằng sứ Imari trên bàn ăn sao cho chúng hài hòa với món ăn và không khí của bữa tiệc.

Sản xuất và kỷ thuật:

Cao lanh là thành phần nguyên liệu quan trọng dùng để sản xuất đồ sứ. Sản phẩm sứ Imari sử dụng cao lanh lấy từ khu mỏ cao lanh Izumiyama ở thị trấn Arita.

Cao lanh là một loại đất sét màu trắng, bở, chịu lửa với thành phần chủ yếu là khoáng vật kaolinit. Để tiết kiệm sức lực, các nghệ nhân tại Arita đã dùng sức nước trong công đoạn tán vụn đá cao lanh.

Sản phẩm sứ Imari sử dụng cao lanh lấy từ khu mỏ cao lanh Izumiyama ở thị trấn Arita

Sau khi những khối đá cao lanh được tán nhuyễn, người ta cho nước vào bột đá cao lanh và dùng chân giẫm lên hỗn hợp này hàng trăm lần để trộn chúng lại với nhau đồng thời tạo nên độ kết dính cần thiết. Màu trắng của nguyên liệu quyết định nên màu sắc thuần khiết của đồ sứ.

Tiếp đến là công đoạn tạo dáng cho đồ vật, việc này đòi hỏi người thợ phải sử dụng đến bàn xoay. Sau khi hoàn tất việc tạo dáng bằng bàn xoay, người thợ dùng một cái bào bằng sắt để gọt dũa nhẵn nhụa mặt ngoài của đồ vật. Dựa vào âm thanh phát ra khi dùng tay gõ vào đồ vật, người thợ sẽ phán đoán được sức chịu nóng của nó.

Sau đó, người thợ sẽ đặt khuôn mẫu vào bên trong của vật cần tạo hình. Họ cẩn thận dùng lòng bàn tay ấn mạnh vật cần tạo hình một cách đều đặn từ bên ngoài để nó hòa hợp với hình dáng của khuôn mẫu bên trong. Đối với những đồ sứ có hình dáng phức tạp thì người thợ không dùng đến bàn xoay. Sau khi đã thành hình, sản phẩm thô được tráng qua một lớp men. Công đoạn này giúp bề mặt sứ sáng bóng đẹp mắt.

Nét vẽ thon nhọn, mỏng manh, phá vỡ không gian trắng ngần của lớp men phủ bên ngoài đồ sứ

Để tạo độ bền chắc cho sản phẩm, người ta mang sứ vào lò nung trong 40 giờ với nhiệt độ khoảng 1300 độ C. Khi đồ sứ đã được nung xong, đến công đoạn trang trí hoa văn. Người thợ bắt đầu vẽ những nét thẳng để tạo dáng cho lá và thân cây. Nét vẽ thon nhọn, mỏng manh, phá vỡ không gian trắng ngần của lớp men phủ bên ngoài đồ sứ. Chúng là khung sườn cho hoa văn cầu kì trong các bước trang trí kế tiếp do đó cần phải có độ chính xác cao.

Bước tiếp theo là sơn màu lên đồ sứ. Bàn tay khéo léo của người thợ lướt nhẹ những nét cọ mềm mại trên mẫu vẽ thô. Thao tác được thực hiện rất tỉ mĩ. Thỉnh thoảng, người thợ lại vẫy nhẹ đầu cọ để điều tiết lượng mực tồn đọng giúp nét vẽ thanh thoát và màu sắc hài hòa.

Thanh Tâm (THVL)

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ

Read Full Post »

(Các bài viết nguồn từ My Opera Khách Phong Trần)

MỘT SỐ NÉT KIẾN-TRÚC VÀ TRƯNG BÀY CỦA VIỆN BẢO-TÀNG KHẢI-ĐỊNH


Tháng 7 nưm 1908 chuyển giao các vật liệu của ngôi điện thờ Long-An để xây-dựng Tân Thơ Viện. Chỉ dụ ngày 6 tháng 7 năm Khải-Định thứ 8 lấy toàn bộ cơ sở Tân Thơ Viện để thành-lập Viện Bao-Tàng Khải-Định hiện nay la Bảo-Tàng Cổ-Vật Cung-Đình Huế. Tuy Viện Bảo-Tàng Khải-Định được thành-lập dựa trên những kiến-trúc sẵn có của Tân Thơ Viên (tức điện Long-An cũ) nhưng kiến-trúc ở đây rất phù-hợp cho một bảo-tàng. Kiến-trúc ở đây là tông-hợp của kiến-trúc truyền-thống, hợp với thị-hiếu thời đó, hơn nữa đó là một kiến-trúc có tính nghệ-thuật cao, đậm nét văn-hóa nghệ-thuật Việt-Nam.
Sơ đồ điện Long-An cổ (do M.Craste vẽ)
Viện Bảo-Tàng Khai-Định
Mặt trước của Viện Bảo-Tàng Khải-Định.
Một góc của mặt trước Viện Bảo-Tàng Khải Định
Mặt bên của Viện Bảo-Tàng Khải-Định
Phần trần bên trong Viện Bảo-Tàng Khải-Định
Ô ngang có hình hai con rồng (do M.Craste vẽ)
Ô ngang chính điện có hình rồng (do Craste vẽ)
Vách ván ngăn (do M.Craste vẽ)
Một số tủ kính trưng bày cổ-vật ở hành-lang trung-tâm.
Gian trung-tâm của Viện Bảo-Tàng Khải-Định.
Gian bên trái và gian bên phải của Viện Bảo-Tàng Khải-Định.
Đồ thờ tự.
Đồ thờ tự.(Tát cả những hình ảnh trên được trích từ tập-san
Bulletin des Amis du Vieux Hue’ số 2 – Avril – Juin 1929)Hồ Tấn Minh – Khách Phong Trần

CỔ VẬT BẰNG GÔ Ở VIỆN BẢO-TÀNG KHẢI-ĐỊNH


Viện Bảo-Tàng Khải-Định ngày xưa và nay là Bảo-Tàng Cổ-Vật Cung-Đình Huế ngoài những cổ-vật bằng đồng, cổ-vật gốm sứ, cổ-vật bằng ngà, cổ-vật bằng bạc… là những cổ-vật quí hiếm thì những cổ-vật bằng gỗ cũng rất quí giá, trong đó có một số lớn là do những nghệ-nhân người Việt-Nam ngày xưa làm ra. Những nghệ-nhân nầy là những người thợ có tay nghề cao nên những tác-phẩm họ làm ra đều là những tuyệt-tác, có giá-trị nghệ-thuật cao.
Hộp đựng đò vật để cúng bằng gỗ chạm có nam kim-loại.
Khay bằng gỗ chạm và khay bằng ngà
Khay bằng gỗ cẩn xa-cừ
Gối bàng gỗ
Gối bằng sừng
Bình phong bằng gỗ chạm có những mặt gương là những bức họa
Bàn thờ bằng gỗ chạm sơn son thếp vàng
Gương có giá là gỗ chạm, sơn son thếp vàng
Đèn lồng khung gỗ, các mặt gương là những bức họa
Bức tranh thêu trên lụa có khung bằng gỗ chạm
Bàn thờ bằng gỗ chạm
Bàn thờ bằng gỗ chạm
Giá bằng gỗ
Tợ và án bằng gỗ chạm
Sập gỗ chạm sơn mài và thếp vàng
Ba ghế tựa gỗ chạm
Trường kỉ bằng gỗ chạm
Tủ sách bằng gỗ chạm, một số tấm gương có vẽ hình
Tủ chè bằng gỗ chạm
Tủ che bằng gỗ chạm
Tủ sách bằng gỗ chạm
Rương bằng gỗ sơn mài có cẩn xa-cừ
Hộp đựng trầu
Hộp đựng trầu
Hộp đựng ấn
Rương hành-lý bằng gỗ sơn mài
Hộp trầu sơn mài và cẩn
Hòm đựng thuốc bằng gỗ sơn mài
Hộp trang điểm bằng gỗ chạm
Cáng du-hành(Tất cả những hình-ảnh đều trích từ tập-san
Bulletin des Amis du Vieux Hue’ số 2 – Avril – Juin 1929)

Hồ Tấn Minh – Khách Phong Trần

CỔ VẬT BẰNG ĐÔNG VÀ GỐM SỨ Ở VIỆN BẢO TÀNG KHAI-ĐỊNH


Ngày 24/8/1923 vua Khải-Định đã phê-chuẩn và ban chỉ-dụ về việc thành-lập Viện Bảo-Tàng Khải-Định. Viện Bảo-Tàng nầy được đặt ở tòa nhà Tân Thơ Viện (thư-viện được chuyển đến một địa-điểmmới).Ngày26/12/1927, ở Viện Bảo-Tàng Khải-Định thành-lập thêm phân-bộ cổ-vật Chàm.
Viện Bảo-Tàng Khải-Định lưu giữ và trưng bày nhiều tác-phẩm nghệ-thuật, những pho tượng, những đồ gỗ quí giá, những cổ vật bằng đông,cổ vật gốm sứ, những cổ vật Chàm…
Viện Bảo-Tàng Khải-Định ngày nay là Bảo-Tàng Cổ Vật Cung-Đình Huế.
Chuông nhỏ và bình rượu bằng đồng của Thanh-Hóa
Trống đồng cầu mưa
Hoa văn trên mặt và trên thân của trống đồng cầu mưa.
Lò đun bằng đồng
Lò đun bằng đồng
Lò đun bằng đồng
Lò đun bằng đồng
Đồ gốm sứ Thanh-Hóa
Đồ gốm sứ Thanh-Hóa
Đồ gốm sứ Thanh-Hóa
Thạp gốm sứ Thanh-Hóa
Đồ gốm sứ Thanh-Hóa
Đồ gốm sứ Thanh-Hóa
Đồ gốm sứ Thanh-Hóa
Đồ gốm sứ Thanh-Hóa
Đồ gốm sứ Thanh-Hóa
Bát vỏ trứng đặt trên đế bịt bạc
Đĩa hâm thức ăn của Ấn-Độ
Đĩa sứ lớn
Đĩa sứ Trung-Quốc
Đĩa sứ Trung-Quốc
Đĩa sứ Trung-Quốc
Đĩa sứ Trung-Quốc
Đĩa sứ Trung-Quốc
Đĩa sứ Trung-Quốc
Đĩa sứ Trung-Quốc
Đĩa sứ Trung-Quốc
Đĩa sứ Trung-Quốc
Chén sứ Khang-Hy
Chén sứ Trung-Quốc
Bình vôi gốm sứ
Bình vôi gốm sứ
Bình vôi gốm sứ
Bình vôi gốm sứ
Bình vôi gốm sứ
Thống lớn Trung-Quốc
Các loại bình trà và bình rượu
Các loại bình rượu
Hai bình trà
Gối bằng gốm sứ(Tất cả hình ảnh đều ở trong tập-san Bulletin des Amis du Vieux Hue’
số 2 các tháng Avril – Juin 1929)

Hồ Tấn Minh – Khách Phong Trần

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 12: HỌA TIẾT HÌNH THÚ – CON CÁ

Ở Trung Hoa, chữ ngư 漁 (con cá) phát âm giống chữ dư 輿 (dư thừa). Do vậy hình ảnh con cá biểu tượng cho sự trù phú, thường vẽ thành hình một đứa bé cầm con cá với nghĩa “Phú, hữu dư” (giàu, có dư)[1].

Ở An Nam không thể có lối chơi chữ này vì chữ “” và chữ “” không trùng âm. Nhưng có thể do ảnh hưởng Trung Hoa mà vào lễ tết Trung thu người Hà Nội hay mua con cá làm bằng giấy dầu cho trẻ em chơi. Tập tục này không thấy ở Huế và vùng phụ cận, nhưng vào ngày đầu năm người ta lại hay mua hình con cá làm bằng giấy màu treo ở trước bàn thờ tổ tiên gay đâu đó trong nhà để cầu may.

Ở Bắc Kỳ trong các đền chùa thảy đều thấy hình con cá ở các gờ mái như loại trang trí dấu nhấn. Tôi nghe nói rằng đó là biểu tượng “cá hóa rồng”, đuôi của cá được cách điệu hình cuộn thanh thoát và trang nhã. Ở Huế hiếm thấy họa tiết này ở đền chùa, chỉ thấy ở dinh phủ: khi thì nguyên hình con cá thật tự nhiên (hình CCIV), khi thì được cách điệu giống như ở Bắc Kỳ (hình CCV). Có một số món bằng gốm tráng men có vẽ hình cá hình như từ Trung Hoa mang sang (hình CCIII).

Con cá làm thành hình miệng máng xối có nét tự nhiên vì được hiểu nước là một yếu tố sống còn của cá (hình CCII). Trang trí ở giá đỡ chậu rữa mặt cũng theo nghĩa này (hình CCI), nhưng truyền thống An Nam thích chạm hình đầu phụng hay rồng mềm mại và tinh tế hơn.

Cá ngoài biểu tượng cho sự giàu sang như đã nói, nó còn là biểu tượng cho sự đăng khoa của nho sĩ: cá hóa rồng. Đó là tích Long Môn Điểm Ngạch 龍門點額 của Trung Hoa, nghĩa là chúc thi đậu. Con cá đó người An Nam gọi là con cá gáy[2], nó vượt long môn thành rồng. Chính vì vậy ở mặt tiền Quốc Tử Giám Huế có khắc hình tượng con cá đang hóa thành rồng.

Cá còn được trang trí thành cái mõ (hình CC) nhưng hiếm thấy ở Huế (xem thêm hình CXXXI, CXXXII).


Các  tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho blog và diễn đàn . Thay mặt bạn đọc xin chân thành cảm ơn bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(Hết)


[1] Nghiên cứu về sự mê tín ở Trung Hoa (Recherche sur les superstitions en Chine), P. Henri Doré, trang 475.

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 11: HỌA TIẾT HÌNH THÚ – CON CỌP

Tác giả không có bài viết, chỉ minh họa một số hình.


Các tư liệu trên đều d0 bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho blog và diễn đàn . Thay mặt bạn đọc xin chân thành cảm ơn bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 12: Họa tiết hình thú – con cá)

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

Họa tiết trong Mỹ thuật An Nam

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 10: Họa tiết hình thú – sư tử[1]

Trong mỹ thuật An Nam sư tử có hai tên: sư và nghê. Đầu tiên nói đến con sư tử có bờm xoắn, lông uốn lượn, đuôi tỏa cuộn, vuốt cứng; nhưng dáng vẽ hiền lành. Con vật này luôn được thể hiện với một trái cầu có dãi lụa dài xé tơi hay gút lại một cách mỹ thuật. Dĩ nhiên toàn bộ chủ đề này chỉ là ước lệ, nhất là bộ lông.

Mô-típ này thường dùng trang trí các góc: con sư tử có dáng như bước xuống thềm cửa, hai chân trước chạm vào ngạch tam cấp nối liền với khung cửa. Trong trường hợp này chỉ thấy có một con sư tử cùng với quả cầu gọi là sư tử hí cầu.

Đôi lúc thấy trên bình phong có trang trí hình 5 con sư tử gọi là ngũ sư hí cầu (hình CXCV), hoặc thấy chỉ một hay nhiều con sư tử ở trên nắp bình vôi hay lư hương (hình CXCVI). Thế nhưng gặp khi không có quả cầu thì người An Nam kẻ thì bảo đó là con lân, người thì nói là sư tử. Quả có nhiều mơ hồ trong tên gọi hình thú của An Nam.

Hình thái khác của con sư tử là con nghê hay toan nghê[2] (hình CXCVII). Cả từ điển Trung Hoa lẫn An Nam đều định nghĩa nghê là ‘sư tử nhanh’ (lion rapide), ‘ngựa hoang’ hay ‘sư tử Tây Tạng’, luôn mơ hồ. Nhưng hình dáng nói chung có khác biệt với sư tử ở phần đầu, móng vuiốt, lông và mõm có nanh nhọn cong vui61t; tức thiên về nét con hoẵng và con ngựa hơn. Theo truyền thuyết con nghê mỗi ngày đi được 500 dặm hay mỗi cú nhảy của nó xa 500 dặm; nó vồ cả cọp để ăn.

Con nghê được trang trí ở Điện Thái Hòa, hai con đặt hai bên điện. Con vật này bằng đồng thau, đặt trong chiếc tủ bằng thủy tinh kê cao 1 thước và có đầy đủ dáng vẽ con nghê. Trước nhà bia lăng Thiệu Trị cũng có hai con nghê bằng đồng đỏ, kích thước cũng cỡ đó. (hình CXCVII)

Một số lư đồng lớn thể hiện hình con sư tử ngồi trên bốn chân của nó cũng gọi là kim toan nghê (lư hương đặt trên lưng con vật này). Hình này hoàn toàn khác hình con nghê trong cung điện, nhất là có thêm cái sừng ở giữa trán.

Chúng ta nhớ con lân cũng có một sừng như vậy. Thế nhưng có những món đồ nhỏ trang sức cho lư hương hay vật dụng nào khác có dáng giống con nghê đến kỳ lạ, từ bộ long đến răng nanh và vuốt, nhưng dưới con mắt nghệ sĩ An Nam lại gọi đó là con lân. Có lẽ là do nhầm lẫn (hình CLXIII).

Trên đỉnh cột ở Huế có hình một số con vật mang tên thiếu chính xác như thế. Những con vật này trông thật giống sư tử nên trong cuốn Symboles, Emblèmes et Acessoires du Culte chez les Annamites (Biểu tượng, biểu trưng và đồ tự khí của người An Nam) ông G. Dumoutier gọi là sư tử, nhưng người An Nam ở Huế gọi là con lân. Chính vì điều này mà tôi đưa chúng vào bài viết về con lân (hình CLXI, CLXII).


Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho blog và diễn đàn . Thay mặt bạn đọc xin chân thành cảm ơn bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 10: Họa tiết hình thú – con cọp)


[1] Thật tế sư tử không có ở Việt Nam và Trung Hoa, nó được du nhập theo con đường Phật giáo với thuật ngữ ‘sư tử hống’.  Do vậy chữ sư (獅) trong sư tử bên phải có chữ sư (師) nghĩa là thầy (chỉ thầy tu Phật giáo) và bên trái là chữ ‘thú’ (狩) chỉ con vật.

Có người viện dẫn Trung Hoa không có sư tử sao có thành ngữ ‘sư tử Hà Đông’. Thật ra là không có mà là một biểu tượng Phật giáo biến thể ra ám chỉ sự chanh chua của người vợ đối với người chồng. Tích này có thuậtt trong cuốn Tầm Nguyên Từ Điển của Bửu Kế. ND

[2] Từ này tác giả dịch là ‘lion rapide’ và chú kế bên ‘nghê’ hay ‘toan nghê’.

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

Older Posts »