Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘vũng tàu’

Tàu cổ đắm Côn Đảo – Vũng Tàu và hiện vật trục vớt – THE VUNG TAU SHIPWRECK (c. 1690)

vung tau1

“Tàu cổ đắm tại Vũng Tàu” được ngư dân phát hiện gần Côn Đảo, Nam Việt Nam. Sverker Hallstrom nhận được giấy phép trục vớt cổ vật sau khi Xí nghiệp Liên hiệp trục vớt cứu hộ (Visal – the Vietnam Salvage Corporation) đã tiến hành các công tác trục vớt sơ bộ. Flecker đã chỉ đạo phần việc trục vớt chính cho Hallstrom vào năm 1991.

Từ cuối năm 1989, dân buôn bán đồ cổ khu vực đường Đồng Khởi rỉ tai nhau về chuyện một nhóm ngư dân ở Long Hải phát hiện một con tàu cổ bị đắm trên vùng biển Vũng Tàu, Côn Đảo. Không lâu sau, vào khoảng giữa năm 1990, hàng loạt cổ vật như bình, hũ, lọ bằng gốm sứ với hai màu xanh lam, trắng với đủ loại chiều cao, kích cỡ, trong đó có rất nhiều cổ vật bị hàu bám đã xuất hiện trên thị trường cổ vật TP.HCM.

Rồi tung tích của những người dân chài phát hiện chiếc tàu cổ bị đắm đã được xác định: anh Nguyễn Văn Đê và Nguyễn Văn Vàng, đều là ngư dân ngụ tại ấp Hải Hà, thị trấn Long Hải (BR-VT). Khi thị trường đồ cổ ở đường Đồng Khởi, TP.HCM dậy sóng, cũng là lúc Xí nghiệp trục vớt cứu hộ Visal (Bộ Giao thông vận tải) tìm được vị trí tàu cổ bị đắm trên vùng biển Hòn Cau, Côn Đảo.

Phương tiện trục vót : tàu Đại Lãnh cùng 20 thợ lặn Việt Nam

Phương tiện trục vót : tàu Đại Lãnh cùng 20 thợ lặn Việt Nam

Tháng 9-1990, Xí nghiệp Liên hiệp trục vớt cứu hộ (Visal) và Công ty Hallstrom Holdings Oceanic (Thụy Điển) khai quật khảo cổ học dưới nước con tàu cổ bị đắm này. Đây là đợt khai quật khảo cổ học dưới nước đầu tiên ở VN thành công mỹ mãn.

48.000 hiện vật gốm sứ thu được từ con tàu đắm này (trong tổng số 270.000 hiện vật các loại ) chủ yếu là đồ sứ men lam (blue and white) thời Khang Hy (1662-1772) do các xưỡng gốm tại Cảnh Đức Trấn – Giang Tây TQ sản xuất bao gồm các hàng hóa như chóe, bình hũ, lọ, ấn, đĩa, tô, ống cắm bút bằng gốm với kỹ thuật chế tác điêu luyện, tinh xảo, hoa văn trang trí kiểu châu và một bộ sưu tập ấn tượng đồ sứ men trắng. Cũng có nhiều hiện vật là hàng tại các địa phương khác ở Trung Quốc sản xuất, và đa dạng các hiện vật cổ ngoài danh sách gốm sứ từ các bánh răng chuyển lực của con tàu cho đến các vật dụng cá nhân khác. Việc tìm thấy ba loại tiền quan cổ trên tàu trong đó đồng Khang Hy có niên đại sớm nhất và một thanh mực tàu cổ bên hông có khắc trang trí năm âm lịch sản xuất là căn cứ cho các nhà khảo cổ định niên đại tàu đắm là trong khoảng 1690.

Đồ gốm sứ trên con tàu này dự tính sau khi cập cảng trung gian sẽ được chuyển qua một con tàu VOC khác và tiếp tục cuộc hành trình để đến Hòa Lan. Những hàng hóa khác là để cung cấp cho cộng đồng người Hoa tại cảng ấy và chính là thương cảng Batavia.

Cổ vật tàu đắm Côn đảo - Vũng Tàu

Cổ vật tàu đắm Côn đảo - Vũng Tàu

Năm 1992, 28.000 cổ vật lành lặn được Christies chọn đem bán đấu giá tại Hà Lan với giá trị 7,3 triệu USD. Toàn bộ các tiêu bản đầy đủ các cổ vật trục vớt tại địa điểm này được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Vũng Tàu. Phần gốm sứ cổ còn lại phần lớn có độ hư hỏng nhất định được phân chia giửa Hallstrom và Chính quyền Việt Nam.

Trong khi cuộc đấu giá đồ cổ tại Hà Lan đang diễn ra thì rất nhiều ngư dân Vũng Tàu và Côn Đảo tiếp tục khai quật “mót” cổ vật từ tàu cổ Hòn Cau. Điều đáng nói là trong quá trình “mót” cổ vật ở Hòn Cau, một ngư dân ở phường 10, TP Vũng Tàu bị liệt nửa người, sau đó đã chết vì nhũn não.

Trước khi mất, ngư dân này kêu người vợ lại gần và nói: “Ngoài Hòn Cau, ít nhất trên vùng biển Vũng Tàu còn có sáu con tàu bị đắm. Năm ngoái anh đã phát hiện tại Hòn Bà một tàu bị đắm chỉ cách mặt nước vài chục mét. Chừng nào con mình lớn thì bảo nó ra khu vực đó mà vớt đồ cổ…”. Thông tin này sau đó được vợ của ngư dân nọ báo cho em trai và đó cũng là thời điểm người dân Vũng Tàu và giới săn đồ cổ TP.HCM lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm ở Vũng Tàu và Long Hải..

Giữa năm 1993, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phối hợp với Visal tiếp tục khai quật con tàu cổ khu vực Hòn Bà. Trong lần khai quật này, 569 hiện vật, chủ yếu là đồ gốm VN ở thế kỷ 19. Các cổ vật đã có tiếng nói riêng: khẳng định được nghề gốm dân dụng truyền thống của cư dân vùng Nam Trung bộ, liên quan chặt chẽ đến nghề làm mắm của cư dân cổ.

Hình ảnh một số cổ vật tiêu biểu trục vớt được từ tàu đắm Vũng Tàu ( Hòn Cau – Côn Đảo):

KhanhHoaThuyNga tóm lược theo The International Journal of Nautical Archaeology (1992)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Nhà cổ dân gian tại Bà Rịa, Vũng Tàu

Trên vùng đất Bà Rịa -Vũng Tàu ngày nay, vẫn còn tồn tại hàng trăm ngôi nhà cổ xưa . Mỗi một ngôi nhà không chỉ là một tác phẩm kiến trúc có giá trị mang đậm nét tài hoa của những nghệ nhân hàng mấy trăm năm trước mà còn  ẩn chứa sâu sắc những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể .

nhacobaria

Bà Rịa Vũng Tàu vốn nổi tiếng là một vùng đất trù phú, xuất hiện khá sớm trong lịch sử khai phá của người Việt.Từ thế kỷ XVII lớp cư dân đầu tiên ngoài vùng Ngũ Quảng đã tiến vào Nam lập nghiệp. Họ dừng chân nơi đây và cùng nhau khai khẩn đất hoang, khơi thông nguồn lạch, lập ấp dựng làng. Trên vùng đất trù phú được thiên nhiên ưu đãi, nên dân cư Bà Rịa Vũng Tàu xưa có đời sống ổn định, nề nếp, phong lưu, văn hóa phát triển. Ngày nay, dấu ấn về một cuộc sống phong lưu nhưng nề nếp ấy vẫn còn được lưu giữ trong nhiều ngôi nhà cổ kính với nét rêu phong phủ mờ bởi thời gian. Trải qua hàng thế kỷ,  dãi dầu cùng mưa nắng của xứ nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt, nhưng những ngôi nhà cổ xưa vẫn giữ được nét đẹp bình dị . Mỗi ngôi nhà đều ghi dấu những kỷ niệm, những câu chuyện dài của cha ông trong hành trình đi mở cõi vùng đất phương Nam.

Thống kê chưa đầy đủ cho thấy, trên địa bàn Bà Rịa – Vũng Tàu hiện còn 177 kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống, có niên đại xây dựng cách nay gần 70 năm đến trên 100 năm, tập trung chủ yếu ở các huyện Long Điền, Đất Đỏ, thị xã Bà Rịa. Trong số đó có 46 nhà có niên đại xây dựng trước năm 1900. Qua bao biến cố lịch sử, biến cố cuộc đời nhưng nhiều ngôi nhà vẫn được các thế hệ con cháu nối tiếp nhau gìn giữ nguyên vẹn. Nhà ở dân gian truyền thống trên địa bàn tỉnh có nguồn gốc từ loại nhà cột giữa và nhà rường của các tỉnh miền Trung.  Chúng được xây cất từ những kíp thợ từ xứ Ngũ Quảng, miền Trung vào Bà Rịa lập nghiệp, từ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18,  chứ không phải từ kinh nghiệm truyền thừa của những chủ nhân ở vùng đất Mô Xoài vốn sớm có mặt khoảng đầu thể kỷ XV. Vì thế, nhà cổ xưa ở  BRVT đđược  nhìn nhận như một phần quan trọng của kho tàng văn hóa kiến trúc quý giá của cư dân vùng đất Bà Rịa Vũng Tàu tạo dựng được trong quá trình mưu sinh và khai khẩn vùng đất phương Nam.

nhacobaria01

Theo kiến trúc sư Mai Quý – giám đốc trung tâm  kiến trúc sư miền Nam: Nhà cổ xưa ở Bà Rịa Vũng Tàu rất phong phú về kiểu dáng kiến trúc gồm kiểu chữ Nhất, chữ Nhị, chữ Tam, chữ Đinh, chữ Công…Hầu hết đều lợp ngói âm dương, ngói vẩy cá hay ngói mốc, nền nhà lót gạch tàu đỏ. Nhà có ba gian trên làm nơi thờ tự và tiếp khách, ba gian dưới dùng cho người nhà sinh họat, nghỉ ngơi và chứa lương thực dự trữ. Bề thế và sự am tường của gia chủ được thể hiện rõ trong cách bày trí trong ba gian thờ tự . Gian giữa đặt bàn thờ Phật, hai gian bên thờ tổ tiên, ông bà. Những gia đình giàu có thường mời những nhóm thợ mộc nổi tiếng về đặt làm khám thờ bằng gỗ quý, chạm trổ tinh xảo với các mô típ truyền thống như : lưỡng long chầu nguyệt, hổ phù, tùng, trúc, cúc, mai…sau đó sơn son thếp vàng . Các tủ thờ thường được cẩn xà cừ công phu, trên bàn thờ bài trí hai bên đặt bộ chân đèn bằng đồng, giữa là chiếc đỉnh dùng để đốt trầm, bát nhan sứ trắng men lam hoặc men đồng. Phía trước tủ thờ còn đặt thêm sập thờ, nơi bày trái cây, món ăn trong ngày tết, giỗ chạp.Phía ngoài cùng đặt thêm bộ bàn ghế dùng tiếp khách . Tại xà ngang của gian giữa còn treo thêm vài bức đại tự bằng chữ Hán cũng được sơn son thếp vàng. Hai bên cột cái và cột quân treo hai cặp câu đối .Nội dung đề cao lòng hiếu đễ với ông bà tổ tiên, nề nếp gia phong, việc kính trọng và phụng dưỡng cha me. Cách bài trí này không chỉ nói lên sự quyền quý của chủ nhân tại thời điểm tạo dựng mà chủ nhân của những ngôi nhà cổ này hẳn có ý muốn để lại dấu ấn của mình cho con cháu sau này

Hai bên gian còn lại là nơi đặt hai bộ ván ngựa bằng gỗ, để cho đàn ông và khách nghỉ ngơi. Bộ ván ngựa thường được làm bằng gỗ tốt, dày 20 cm, kiểu chân quỳ. Nhiều bộ ván dùng lâu trở nên đen bóng rất đẹp. Ba gian nhà dành cho sinh họat đặt vài bộ ván ngựa, bàn ghế đơn sơ làm nơi sinh họat,ăn uống, nghỉ ngơi, khâu vá. Phía trước nhà là khỏang không thư giãn, được bố trí một hòn non bộ, trồng vài chậu mai vàng, mai chiếu thủy, thiên tuế hoặc nguyệt quế… tỏa hương thơm ngát bốn mùa.

Nhà chữ Đinh là một trong những kiểu nhà cổ phổ biến nhất tại Bà Rịa Vũng Tàu, thường có có kích thước trung bình, mái ngói cổ rêu phong, hiền hòa giữa những vườn cây xanh, tạo cho cảnh quan cư trú một vẻ đẹp yên bình và sung túc.

Kiểu nhà này có hai căn, căn nhà trên nằm ngang và căn dưới nằm xuôi, đòn dông của hai căn này thẳng góc với nhau, giống như chữ Đinh   trong Hán tự. Điển hình nhất là nhà của ông Lê Văn Còn, ở khu phố Phước Trung- thị trấn Đất Đỏ. Trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, bao biến cố của lịch sử những thành viên trong gia đình không còn nhớ chính xác ngôi nhà đượcxây dựng từ năm nào, chỉ phỏng đoán được xây dựng từ những năm cuối thể kỷ 19 đầu thể kỷ 20.

Cửa cái của nhà trên trổ ở chiều dài của ngôi nhà, còn cửa cái của nhà dưới trổ ở chiều rộng, do đó cửa cái hai căn nhà trên và nhà dưới đều mở ra cùng một hướng, có chung mái hiên trước, tạo sự đồng nhất cho toàn bộ ngôi nhà. Kiến trúc nhà chữ Đinh thể hiện ý thức về trật tự phong kiến rất rõ. Nhà trên quan trọng vì là nơi thờ cúng tổ tiên nên thường bề thế, cao hơn nhà dưới. Và đây cũng là nơi sinh hoạt chủ yếu của nam giới trong gia đình.Nhà dưới là nơi ở chung của gia đình, nơi sinh hoạt thường xuyên của phụ nữ.

nhacobaria02

Nói đến nhà cổ ở Bà Rịa Vũng Tàu, không thể không nhắc đến nhà của ông Nguyễn Văn Hồng , ở khu phố Thanh Long _ thị Trấn Đất Đỏ. Ngôi nhà này đã từng được mượn làm bối cảnh cho nhiều bộ phim Việt Nam. Tổng thể căn nhà theo hình chữ Nhất với lối kiến trúc thuần Việt cổ. Mặt tiền nhà về hướng Nam – theo thuật phong thủy – “Lấy vợ hiền hòa, xây nhà hướng Nam”. Hệ thống cột kèo toàn bằng danh mộc quý hiếm. Trên các đầu kèo, đầu đòn,  kể cả những chi tiết nhỏ trong các ngóc ngách đều chạm khắc kỳ công theo kiểu tứ linh,  mai – điểu, liễu – phụng .  Hai bên cột cái và cột quân treo hai cặp câu đối. Nội thất trong nhà được trang trí theo mô thức thống nhất, gồm bộ trường kỷ gỗ đen ở gian giữa phía trước bàn thờ, hai gian nhà hai bên bày hai bộ ván ngựa.  Phía trước hiên nhà bố trí hòn non bộ và vài chậu cây cảnh tạo nên không gian tươi xanh. Anh Hồng cho biết : căn nhà này được ông sơ của anh- vốn là Đại hương cổ cả đình làng, một người có học thức và có uy tín trong làng, xây cất từ năm 1922. Để tạo dựng được căn nhà này, ông sơ của anh phải mời cánh thợ khéo tay nhất của miền Trung vào nuôi ăn, nuôi ở để làm nhà  suốt hơn một năm ròng.

Nhà chữ Đinh và nhà chữ Nhất là những ngôi nhà có tuổi khá xưa, phần lớn được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, chủ nhân thường là người giàu có. Tuy đã trải qua trùng tu nhiều lần nhưng nhờ xây dựng bằng các loại gỗ quý, thợ dựng khéo léo và kỹ lưỡng, con cháu  có sự lưu tâm giữ gìn nên đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn.

Nhà cổ tại Bà Rịa Vũng Tàu không phải chỉ được thi công xây dựng và trang trí chạm trổ bởi các nhóm thợ mộc nổi tiếng khéo tay từ miền Trung vào như thợ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên, Bình Định mà còn có một số căn được  nhóm mộc của “trường phái thợ Thủ” (ở Thủ Dầu Một – Bình Dương) với tay nghề giỏi nức tiếng  đảm trách vai trò chính yếu trong xây cất nhà và trang trí nội thất. Điển hình như căn nhà anh Phạm Văn Võ, ở ấp An Trung- Xã An Nhất- Long Điền . Năm Nhâm Tý 1902, ông nội của anh đã  khởi công xây cất và rước nhóm “thợ Thủ” về xây nhà và nuôi nhóm thợ trong nhà để họ chạm khắc trang trí cho ngôi nhà. Không thua gì thợ mộc xứ Ngũ Quãng, những nghệ nhân “thợ Thủ” khéo léo tài hoa đã chạm khắc, chạm trổ kỳ công trên những thân cột, rường, kèo, mái nhà những hình long lân quy phụng, song long chầu nguyệt hay những câu chuyện về nhân -lễ- nghĩa- trí -tín …mang những ý tưởng về một cuộc sống thanh bình, nhàn hạ, đậm đà tình quê hương, nghĩa đồng bào.

Nhà cổ ở Bà Rịa Vũng Tàu gắn liền với giai đọan lịch sử quan trọng, nơi dừng chân đầu tiên của cha ông ta đến khai phá mảnh đất này. Nó còn là nhân chứng trong suốt quá trình con người  đấu tranh với những biến cố thiên nhiên và lịch sử để tồn tại . Người Việt xưa vốn coi ngôi nhà là tổ ấm tâm linh nên nhà cổ cũng mang đậm nét văn hóa đặc thù của nhiều thế hệ, gắn liền với truyền thống uống nước nhớ nguồn, tôn ti trật tự, mối quan hệ gắn bó trong gia đình, họ hàng, dòng tộc. Tuy nhiên, hiện nay nhiều ngôi nhà cổ đang có nguy cơ biến mất . Nhiều gia đình do kinh tế khó khăn, thiếu thốn chưa có điều kiện để trùng tu, nên xuống cấp trầm trọng hoặc chủ nhà sửa chữa theo ý muốn của họ, nên đã làm biến dạng. Vì vậy “cái cổ” trong một ngôi nhà cổ đã mất đi sự đồng bộ.

Ông Phạm Chí Thân- giám đốc bảo tàng tổng hợp tỉnh cho biết: Nhà cổ là nét duyên xưa,nét đẹp văn hóa mà người xưa để lại cho bao đời sau – thông qua việc tạo nên những ngôi nhà cổ vô giá.Giữ gìn, bảo tồn và phục dựng đúng cách những ngôi nhà cổ cũng là một nét đẹp – một sự kế thừa truyền thống văn hóa của cha ông để lại.

theo BRT

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Tổng hợp tin các sự kiện trục vớt tàu cổ tại vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu

Sưu tập cổ vật Hòn Cau (toạ độ X)

x01

Từ những thông tin của ngư dân Vũng Tàu, Long Hải và hàng ngàn cổ vật được chào bán do lặn vớt được trên một con tàu chìm, gần đảo Hòn Cau – Côn Đảo. Ngày 4/6/1990 UBND Đặc khu VTCĐ thành lập Ban chỉ đạo khai quật con tàu, với sự hướng dẩn của các chuyên gia của Bộ Văn hoá Thông tin Thể thao và Du lịch, Visal và về sau có hợp tác liên doanh Visal- Hallstrom Holdings Oceanic của Thuỵ Điển là cơ quan thực hiện cuộc khai quật con tàu cổ.

Cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước lần đầu tiên ở Việt Nam trong thời gian 2 năm 1990, 1991 đã mang về hơn 68.000 hiện vật từ con tàu chìm, trong đó phần lớn là đồ gốm sứ có niên đại giữa sau thế kỷ XVII, thời Khang Hy, triều Thanh, Trung Quốc. Cũng từ kết quả khai quật này, hơn 28.000 món cổ vật Hòn Cau lần đầu tiên được tổ chức bán đấu giá tại Hà Lan, thể hiện mối giao lưu kinh tế – văn hoá của Việt Nam với thế giới trong thời kỳ đổi mới.

Bộ sưu tập cổ vật Hòn Cau ở Bảo tàng BRVT có đến hơn 8000 hiện vật, trong đó hầu hết những hiện vật độc bản của con tàu thuộc bộ sưu tập này. đồ gốm sứ men trắng vẽ lam độc đáo thời Khang Hy. Do đặc điểm là hàng hoá sản xuất theo đơn đặt hàng để chào bán ở Châu Âu, màu sắc, kiểu dáng, hoa văn trang trí khác lạ gốm sứ Trung Hoa truyền thống, mặc dù do những lò gốm nổi tiếng của Trung Quốc như: lò Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây, lò Đức Hoá ở Phúc Kiến sản xuất. Ngoài đồ gốm sứ, bộ sưu tập cổ vật Hòn Cau còn có rất nhiều hiện vật độc đáo khác là đồ đá, đồ đồng, đồ gổ, thực vật… liên quan chuyến hải trình của con tàu cổ và sinh hoạt của đoàn thuỷ thủ trên tàu.

Sưu tập gốm Thái Lan trên tàu cổ toạ độ X2

x02

Trong chuyến đi biển Tháng 5/1999, tàu đành cá do ông Phan Cao Thạch – chủ tàu đã phát hiện tại toạ độ X2 một con tàu chìm bị cát biển vùi lấp. Nhóm thợ lặn sau nhiều ngày làm việc đã mang về và bàn giao cho Bảo tàng tỉnh 298 hiện vật là đồ gốm với các chủng loại: vò, hủ, bình, bát đĩa, thố trang trí men màu đen, nâu, men ngọc (xanh lục). Những hiện vật này đựơc xác định là gốm Sukhothai và Sawankhalok của Thái Lan vào khoảng thế kỷ XV (tương tự những cổ vật tìm thấy trên tàu chìm Hòn Dầm – Kiên Giang do VISAL trục vớt năm 1993).

Sukhothai là vương quốc độc lập đầu tiên của Thái Lan vào năm 1238, sau khi lật đổ nền thống trị của vương quốc Khơme (từ thế kỷ thứ IX). Gốm Sukhothai, Sawankhalok của Thái lan có ảnh hưởng gốm Khơ me và kỷ thuật mới từ Trung Hoa thế kỷ XIII, XIV. Gốm Sukhothai có đặc trưng những hoạ tiết vẽ dưới men màu đen hoặc nâu, với kỷ thuật trang trí như khắc vạch, đắp nổi, vẽ màu có vân,  riêng gốm Sawankhalok có đặc điểm trang trí men ngọc. Vào thế kỷ XV, XVI khi gốm Trung Hoa ngưng việc xuất cảng ra nước ngoài, đồ gốm Thái Lan và cả Việt Nam có điều kiện để mở rộng thị trường đến các nước khác, con tàu chìm tại vùng biển BRVT chứa những cổ vật gốm Thái Lan với nhiều chủng loại : vò, bình, hủ tô, bát, đĩa… chứng tỏ điều đó.

Sưu tập gốm sứ Trung Hoa trên tàu cổ tọa độ X3

x03

Nhờ sự phát hiện của ngư dân ở Vũng Tàu, Long Hải và phối hợp của các cơ quan chức năng của tỉnh BRVT, năm 2000, Bảo tàng tỉnh đã tiếp nhận bộ sưu tập với 2.342 hiện vật là đồ gốm sứ Trung Hoa thời Ung Chính có niên đại thế kỷ XVIII. Chủng loại hiện vật gồm có: choé, bình, hủ, chén, bát, đĩa, hộp, tượng… với nhiều kiểu dáng, kỷ thuật chế tác, trang trí độc đáo của nghệ thuật gốm sứ Trung Hoa.

Bộ sưu tập gốm sứ  tàu chìm toạ độ X4 bổ sung nhiều thông tin về gốm sứ thế kỷ XVII, XVIII trên con đường buôn bán hàng hải qua biển Đông, làm phong phú thêm nhận thức về giá trị nghệ thuật, kỷ thuật chế tác  gốm sứ men trắng vẽ lam từ đầu đời nhà Thanh, đạt đỉnh cao vào thời Khang Hy, nay vẫn tiếp tục có giá trị trong trao đổi, mua bán với thị trường thế giới.

Sưu tập cổ vật Pháp từ vùng biển Bãi Dâu:

x04

Đầu năm 1997, ông Bùi Văn Chi, chuyên nghề lặn vớt phế liệu đã tìm thấy một con tàu chìm cách bờ biển Vũng Tàu tại Bải Dâu 4 hải lý về phía tây. Ở độ sâu 15m, xác con tàu chỉ còn phần thân, bị cát bùn phủ lấp. Sau nhiều ngày làm việc, nhóm thợ lặn đã đưa về 105 cổ vật là đồ gốm sứ, pha lê, thuỷ tinh, đồ đồng.

Bộ sưu tập sứ men trắng hầu hết là đồ nguyên, đáy một số đĩa ghi ký hiệu De POLE – Paris in chìm dưới men, khả năng là nơi sản xuất. Một số tô sứ có in chử E. BIEDERMANN & CO- SAIGON, cho phép nhận định hàng công ty nói trên tại Sài Gòn đặt hàng, vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Ngoài những cổ vật là đồ gia dụng, sinh hoạt như: tô, đĩa, thố, hộp, tách, ly…Còn có những vật dụng liên quan con tàu như: phù điêu con tàu gắn ở cabin, đèn di biển, đèn hoa tiêu…Bộ sưu tập cổ vật Pháp của tàu chìm Bải Dâu được đánh giá là sưu tập cổ vật khá hiếm ở Việt Nam.

Cổ vật trên tàu cổ Bình Châu

x05

Ngày 28 tháng 5 năm 1995, tàu đánh cá BT5534 do ông Nguyễn Văn Ba điều khiển, đã phát hiện những đồ gốm sứ trên con tàu chìm cách bờ biển Bình Châu huyện Xuyện Mộc 30km, ở độ sâu 25m.

Được sự giúp đở của các ngư dân và trạm biên Phòng Lộc An, Bảo tàng đã tiếp nhận 1.092 hiện vật gốm sứ, gồm đĩa, tô, bát gốm men trắng vẽ lam. Số hiện vật này được sản xuất từ vùng Nam Trung Hoa, khoảng nữa cuối thế kỷ XIX, đây là những sản phẩm của các lò gồm dân gian, phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày của công chúng rộng rãi, người dân lao động. Việc gốm sứ dân gian được xuất khẩu ra nước ngoài vào thế kỷ XIV, XX chứng tỏ vùng Nam Trung Hoa vẫn tiếp tục duy trì quan hệ thương mại hàng hải, mặt hàng gốm sứ vẫn giử được thị trường tiêu thụ.

Nguồn: Bảo Tàng Tổng Hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2/2009)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »