Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘việt nam’

I. Tôi nhớ mãi câu của Tư Mã Quan:

“Học xong mà thành đạt quên cả người thầy dạy mình thì chưa phải là học”

Tôi ngồi dưới mái trường Trung học Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa không đủ bốn năm, mà chỉ học tới năm thứ ba (Đệ Tam Niên) thôi!

Nếu học trọn khóa, lãnh bằng tốt nghiệp, là công thành danh toại, tựa bông hoa tới kỳ nở rộ, khoe sắc hương thơm.Trong khi tôi học hành dang dở, nghề nghiệp chưa thành, tựa nụ hoa chưa nở, nên không tỏa hương sắc – Nụ hàm tiếu.

Tuy vậy, tôi cũng có kỷ niệm về nụ Hàm Tiếu. Xin kể ở đoạn sau.

– Giờ đây có ai hỏi tôi, ngôi trường Trung học Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa giờ ở đâu?

– Tôi xin thưa: Ngôi trường thân yêu ấy hiện nó đang “nằm” trong trái tim tôi.

Vâng. Tôi “lọt” vào “đôi mắt kính” của truờng Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa khóa 1960-1964. Qủa không dễ chút nào ! Cũng “trầy da tróc vẩy”. Bởi một, phải “chọi” với năm, tỉ lệ 1/5. Nghĩa là: khóa học năm ấy! Chỉ tiêu của trường tuyển bốn mươi học sinh, cho lớp đệ nhất niên (đệ thất), nhưng có tới bốn trăm người dự thi và tôi may mắn nằm trong số bốn mươi người trúng tuyển và đậu hạng tư. Với hạng này, tôi được học bổng của tỉnh, mỗi tháng hai trăm đồng “tương đương hai triệu đồng bây giờ”. Cũng cần nói thêm, trường hồi ấy có hai loại học bổng: Của Bộ Quốc Gia giáo dục, mỗi tháng được bốn trăm, cho hai xuất. Hạng nhất và hạng nhì của tỉnh, từ hạng ba tới hạng năm, ba tháng lãnh một kỳ, mỗi lần lãnh tôi được sáu trăm, nếu có tác phẩm bán được, hưởng thêm 30% nữa! Vị chi tôi cũng được 7-8 trăm đồng, đủ trang trải giấy bút, sắm áo quần, giầy dép, cũng bớt gánh nặng cho gia đình!

Học năm đầu đệ nhất, tôi có chuyện vui vui, đáng nhớ! Xin kể – số là một lần có người hỏi thăm tôi bao nhiêu tuổi, và học lớp mấy? Tôi trả lời tôi mười lăm tuổi và học lớp đệ nhất! Họ tròn mắt nhìn tôi, thán phục! Qủa là tuổi trẻ tài cao, mới có tí tuổi này! Mà đã chuẩn bị lấy bằng tú tài kép “ tú tài đôi” (Hồi xưa chúng tôi vẫn gọi thế). Với bằng này thường ở tuổi 18-20. Cấp T.H.P.T, năm đầu là lớp đệ thất ( lớp 7) nhưng với trường nghề như Trường Mỹ Nghệ Biên Hòa lại gọi là đệ nhất, thế mới oái oăm! Tôi có mấy người bạn nữ trường K.T học lớp đệ lục “lớp 6” vẫn đinh ninh rằng tôi chuẩn bị “giựt” bằng tú đôi, rồi khoe với bạn bè, ra vẻ hãnh diện lắm! Ai có ngờ! Đời là thế!

Tôi cứ lặng im như … thóc, chẳng biện bạch chi cả. Kệ! Họ muốn hiểu sao thì hiểu, mình cứ hiên ngang tiến bước…

Chuyện thứ hai cũng đáng nhớ. Đó là giờ văn của Cô NGUYỆT( cô Nguyệt vừa dạy văn vừa dạy toán) đề Cô cho chúng tôi hôm ấy: Tả cây Phượng già trước sân trường. Cây cây phượng này là nguyên nhân, gây ra bao rắc rối, bởi những tay có tâm hồn lãn mạng hay viết vớ vẩn lên thân nó! Nào là hình hai trái tim lồng lên nhau với chữ HL (H.L) y như chữ Hy Lạp ! Mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu ! Hoặc hình trái tim có mũi tên đâm vào, lại có vài giọt máu rơi xuống ! Qủa khó hiểu! Mà thôi ! Ai muốn hiểu sao thì hiểu !!!

Còn nhiều câu, nhiều hình đan xen nhau, chi chít! Làm tội cái gốc cây phải “gồng mình cõng” biết bao nhiêu cái đầu hâm nóng….

Cũng có những hình không lành mạnh, bởi cái đầu lệch lạc! Nên ai đó ?! Đã đè lên thân nó câu : “ Người họa sĩ này có bàn tay vẽ rất khéo ! Nhưng có tư tưởng không đứng đắn !”

Bài làm trong giờ xong, nộp cho Cô và Cô hẹn tiết sau trả bài. Chúng tôi chờ đợi trong sự hồi hộp. Hai ngày sau gặp Cô cũng tiết văn. Chúng tôi nhận lại bài, cả lớp ai lấy đã có bài. Bài thằng Lộc ngồi cạnh tôi, được điểm năm, nó không vui, cũng không buồn ! Tính nó là vậy ! Duy có tôi chưa nhận được bài ! Và tôi thấy trên tay Cô còn cầm một bài. Tôi hồi hộp tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra đây ! Thằng Lộc nó bảo” chắc bài của mày rồi! Bài mày làm chắc quá ẹ ! Nên bị Cô giữ lại” Tao nào biết ! Tôi trả lời nó vậy ! Bất ngờ Cô hỏi” em Phát đâu ? Đứng lên Cô coi ?”  Vì mới “ chân ướt chân ráo” nên Cô chưa biết mặt học trò. Tim tôi như muốn nhảy khỏi lồng ngực, đánh như trống… làng ! Phải đợi Cô gọi tới lần thứ ba, tôi mới từ từ đứng lên, mặt xanh như tàu lá (sau thằng Lộc nó bảo tôi vậy). Cô nhìn tôi mỉm cười, vẻ trìu mến, làm tôi hơi an tâm ! Rồi Cô nói: “Bài em làm r..ấ..t” Cô kéo dài chữ rất làm tôi càng điếng hồn! Cả lớp đổ dồn ngó tôi!!! Thú thật, lúc ấy! Phải là tôi Ngộ Không thì tôi đã thăng thiên, hoặc độn thổ ngay lập tức! Rồi Cô nói tiếp: “Bài em làm rất hay, điểm chín, đáng làm bài mẫu! Tôi thở phào nhẹ nhõm, như vừa chút được bao chì nặng trĩu! Tôi liền đá vào chân thằng Lộc một cái!!! Nó trợn mắt ngó tôi…cười! (Tôi thân với thằng Lộc hồi còn tiểu học). Rồi Cô trích một đọan và phân tích câu cú cho cả lớp nghe.

Tôi viết: Cây phượng trong sân trường! không biết nó mọc ở đây, từ bao đời! Và đã trải qua, bao thế hệ học sinh, thầy, cô, tới nay! Chính xác nó được bao nhiêu tuổi đời!?

Tôi chẳng biết! Chỉ biết rằng, cứ nhìn vào “ Dung nhan” về chiều của nó, với cái gốc to bè, sần sùi, đến 3-4 người lớn ôm không xuể, thì có thể đóan nó phải ngoài thất thập (ngoài 70 tuổi). Mà nó lại mọc ngay bìa trường, đứng sừng sững như người mẹ già nua vương những cánh tay khổng lồ ngoằn ngèo như những con rắn lượn! Phủ rợp cả một sân rộng, che nắng cho đàn con đông đúc, vui đùa, thỏa thích. Nhưng trong đám con ấy! Lại có những đứa tinh nghịch, ưa phá phách! Cứ leo lên từng cánh tay mẹ (vì tôi thấy có một sợi dây thừng to bằng cổ tay người lớn, được cột từ cành to cao nhất xuống tận đất ( chắc để học sinh chơi du dây) để bẻ những “ ngón tay” mẹ, mà vứt xuống! (bởi trên sân đầy những cành phượng nhỏ mang chùm hoa đỏ rực, tựa màu máu). Lúc ấy! Chắc “mẹ” đau lắm!? (Bài còn dài xin dừng tại đây!).

Sang năm thứ hai thì chọn ban, tôi theo bạn chọn điêu khắc đá nhân tạo. Đúng như lời cổ nhân có câu ” Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” Trường hồi ấy có mấy ban như: Ban đồng do thầy Ung Văn Nam dạy, Ban Xoay do thầy Hai Bồi dạy, Ban Men thầy Nguyễn Văn Nhàn, ban điêu khắc thầy Nguyễn Văn Mậu, đá nhân tạo thầy Cừ, ban khuôn thầy Đinh, năm đầu mọi học sinh đều qua các ban. Năm hai thì chọn ban theo năng khiếu và học lấy một nghề cho thật giỏi, thật tinh thông, thế mới đúng: Nhất nghệ tinh…! Trường đã đi đúng lời cổ nhân dạy!..

Ban khắc có hơn mười bạn. Tôi, Thanh, Lịch, Soi, Lộc, Phép, Phấn, Liễu, Hướng, Tòng, còn mấy người bạn người nam, tôi không nhớ hết tên! Ban này do thầy Cừ và thầy Mậu giảng dạy. Thầy Đinh tuy dạy cùng phòng với hai thầy Cừ và thầy Mậu, nhưng thầy dạy môn khuôn, môn này tôi cũng học qua năm đầu, nhưng không có khiếu, đành trả nghề lại thầy! Em mong thầy lượng thứ cho thằng học trò bất tài này!!!.. vì không theo nổi nghề của thầy!

Với môn khiêu khắc đá nhân tạo, tôi cũng có vài kỷ niệm buồn, vui với các bạn! Chẳng hạn: Học được vài tháng đầu tôi nghe theo lời thầy Cừ bảo: “ Các em phải luôn có óc sang tạo, luôn đổi mới trong tư duy! Nhất là ngành khiêu khắc đá, phải tìm mọi hướng đi nghệ thuật cho riêng mình, như danh họa Picasso, có riêng một trường phái của ông, ngày nay khó có ai sánh kịp! Trước giờ! Điêu khắc chỉ thuần túy nắn một kiểu tròn, góc vuông, tức đồ giặt, rồi sẽ tạo riêng trường phái giặt!!! “ Câu nói của thầy Cừ cứ mãi xoáy vào tâm trí tôi, để rồi tôi đã thực hiện được điều thầy dạy.

Lần ấy! Chúng tôi thực tập, nặn con dơi sống, nó được nhốt trong cái lồng sắt, chúng tôi đứng bao quanh nó, nhìn và nặn, lâu lâu lại đổi chỗ xoay vòng, cốt để hoàn chỉnh tác phẩm.Và kết quả con dơi đá nhân tạo của tôi đã được trưng bầy trên H.T.X, mà bây giờ không biết nó “ bay” về phương mô?! Kể từ H.T.X không còn nữa.

Riêng môn đá nhân tạo, ngoài những chất liệu chính như: Xi măng, bột đá, màu, dụng cụ, dăm bằng sắt dăm lên tác phẩm để tạo sần sùi như đá thiên nhiên ra, còn có một bí quyết! Mà không phải ai cũng có thể làm được: Sư phụ cũng không dạy! Theo tôi! Chỉ có thiên phú, trời cho ai, người ấy được! Đó là chất… mồi hôi tay: “ Nghe có vẻ khôi hài, nhưng đó là sự thật”! Mồ hôi ai mà chẳng có, người thì mồ hôi muối, người mồ hôi dầu, mà đá nhân tạo lại chỉ hợp với người mồ hôi dầu, thế mới lạ kỳ ? Tôi đã bao phen “ghen” với tay Lịch, vì bài nó luôn được điểm cao, mặc dù xét về kỹ thuật tạo hình, tôi không thua hắn! Mà thua hắn về mỹ thuật. Nhìn tác phẩm của hắn luôn bóng láng và hấp dẫn! Vì hắn hay lấy tay xoa xoa lên tác phẩm “ thì ra hắn mồ hôi dầu!” Tôi cũng bắt trước hắn xoa xoa lên tác phẩm đến nỗi rát cả tay, đỏ tấy lên mà chẳng bóng! Trái lại nó cú bạc trắng ra, nhìn cứ như bị mốc! Hóa ra tôi mồ hôi muối!.

II- Nụ Hàm Tiếu:

Vừa rời mái trường Trung học Mỹ Thuật Thực Hành Biên Hòa năm 1963, tôi lên sài gòn kiếm việc và tìm cách học thêm để luyện thi cấp 3, tôi ở trọ nhà một người bà con, ở xóm Chí Hòa, dường Lê Văn Duyệt, nay là đường C.M.T.8. Quận 3, TP.Hồ Chí Minh, đang thất nghiệp đi lang thang trên đường Lê Văn Duyệt ngắm cảnh hai bên đường. Đi gần tới chợ Ông Tạ, tôi thấy trước cửa nhà có treo tấm bảng nhỏ đề vỏn vẹn bốn chữ: Cần người biết vẽ! Mừng quá, như người đang trong cơn khát, được ai cho ly nước uống, tôi liền vào xin việc, chủ tiệm đang lim dim gật, nghe tôi hỏi, anh tỉnh hẳn, nhìn tôi từ đầu tới chân. Biết tôi xin việc, rồi cuộc phỏng vấn chớp nhoáng về nhân thân, tên tuổi, biết tôi vừa dời Trường Trung Học Mỹ Nghệ Biên Hòa ra, và anh cho biết cũng mới tốt nghiệp Trường Bách Nghệ Phú Thọ và thuê phòng này mở phòng vẽ được hai tháng nay. Anh hơn tôi năm tuổi, tên Sơn. Vậy là cùng cảnh ngộ, đồng hội, đồng thuyền, dễ cảm thông!!! Rồi anh hẹn tôi ra nhận việc… để rồi nụ hàm tiếu nó “ mọc lên từ đây …!”.

Phòng vẽ, thì chủ yếu vẽ quảng cáo, bảng hiệu cho mấy quán bar. Vì thời gian ấy (1963) quân Mỹ ồ ạt sang Việt Nam mang theo những đồng đôla xanh, đỏ, rải đi mấy quán có cave “tiếp viên nữ” nên quán xá mọc lên càng nhiều! “ Chúng ta cứ chặc đẹp, tiền chùa mà” Anh Sơn bảo vậy!

Chúng tôi làm ăn với nhau được vài tháng, thì vào một sáng đẹp trời, tiết thu. Hai anh em đang thổi “kèn” và nghĩ ngợi lung tung, thì có một vị khách bước vào, ông khoảng năm mươi tuổi, lịch sự chào chúng tôi và muốn đặt chúng tôi vẽ bức tranh: Nụ hàm tiếu, đồng thời cho biết giá. Sau khi thỏa thuận giá cả, khách đồng ý. Chúng tôi hẹn ngày giao hàng, khách còn hào phóng đặt cọc và nở nụ cười “ hàm tiếu” ( sau này sự việc vỡ lẽ, chúng tôi mới hiểu nụ cười “ chết người ấy”! … cười chế diễu).

Sau khi ông khách ra về, hai thằng tôi nhìn nhau: Tôi hỏi anh Sơn hoa Hàm Tiếu là hoa gì? Anh Sơn lắc đầu!

–         Tôi cũng không biết nữa! Hồi học ở trường có ai dạy vẽ hoa Hàm Tiếu đâu?!

–         Tôi nói – hồi học ở trường em có vẽ khỏa họa bông hoa hồng, hay mình vẽ hoa hồng!?

–         Ừ! Cũng được, anh Sơn gật đầu, và chạy ngay ra chợ Ông Tạ mua một bông hồng to, tươi, nức mùi thơm, kèm theo cái nụ trên cành, rồi anh trao tôi vẽ, mẫu sao vẽ vậy! Sau một ngày vẽ và anh Sơn chỉnh sửa, bức tranh đã hoàn chỉnh, một bông hồng to và cái nụ hoa trên nền vải nhung tím được lồng trong khung gỗ, khổ 30 x 40cm, coi cũng có hồn lắm!!! Và bức tranh được bọc một lớp nhật trình, rất cẩn thận, chúng tôi chờ đợi trong sự hồ hởi! Rồi ngày hẹn cũng tới, khách đến lại vào cái giờ mà chúng tôi cho là “kị”- gặm bánh mì, buộc chúng tôi phải bỏ ra tiếp khách.

–         Khách nhìn chúng tôi, tỏ vẻ thân thiện, miệng luôn nở nụ cười như buổi đầu gặp, tôi liền trao bức tranh cho ông.

–         Ông giỡ lớp giấy bọc ngoài! Ngắm tranh một lúc, ông gật đầu khen “ Tranh vẽ bông hồng với cái nụ phải không? Khá đấy! Rất nổi! Vì hoa màu hồng đỏ, lại đặt lên nền nhung tím sẫm càng bật lên nét đặc trưng của hoa và cái nụ nho nhỏ, vậy cái nào là nụ Hàm Tiếu?!”

–         Hai thằng tôi ngớ người nhìn nhau, sau một giây, tôi chỉ đại vào cái bông hoa và bảo:

–         Dạ! đây là nụ Hàm Tiếu!!!

–         Ông khách phá lên cười dòn dã một hồi, và hai tay vỗ vỗ vào vai hai thằng tôi và nói:

–         Không phải rồi hai chú ơi! Hoa hồng là hoa hồng, nụ hàm tiếu là nụ hàm tiếu! Không thể lẫn lộn nhau được, Rồi ông giải thích cặn kẽ.

–         “Thật ra, khi nói đến nụ hàm tiếu là nói chung cho mọi nụ của các loài hoa chứ không riêng hoa hồng, hoa cúc, hoa mimosa chẳng hạn! Rất tiếc cái nụ này ( ông chỉ vào bức tranh) các chú vẽ nó hãy còn ngậm!!! Chưa hé nở! Vậy nụ hàm tiếu là cái nụ chớm nở! Các văn nhân thi sĩ khi ngắm nụ hoa chớm nở, đều cho là đẹp hơn cả bông hoa đã nở rộ! Vì thế người ta ví người con gái nào có nụ cười chúm chím, cười mỉm chi, khi cười chỉ khoe chút răng, đều cho là đẹp. Cái đẹp ở đây cón ẩn ý là người con gái kín đáo, ý tứ, được giáo dục kỹ lưỡng, nên được gọi là “Nụ Cười Hàm Tiếu”.

–         Hai thằng tôi cúi đầu sượng sùng! Lạnh thinh! Anh Sơn di di chân dưới đất, còn tôi, tay chân lúc ấy cảm thấy sao mà nó thừa đến vô duyên, chẳng biết giấu đâu! Căn phòng gần chục mét vuông, bình thường thấy rộng thênh thang, mà sao lúc này! Nó trở nên chật chội, ngột ngạt, khó thở lạ! Đang gặp nước bí, chưa biết ăn nói thế nào cho khách!!! Thì như hiểu được cảm nghĩ của hai thằng tôi!? Ông lên tiếng phá tan bầu không khí “ đặt quánh” bao trùm chúng tôi!. Ông tế nhị nói: “ Qua biết hai chú mới ra nghề, như mới dời trường lớp phải không? Nên chưa dầy dặn kinh nghiệm trường đời! Thế nên qua muốn thử cho vui thôi! Không ác ý gì đâu, dẫu sao đây cũng là bài học cho hai chú em. Người Pháp có câu : Ecol de lavie “ Trường đời” rất có nghĩa! Nói xong! Ông trả nốt tiền còn lại và lấy bức tranh, còn bắt tay hai thằng tôi vẻ chân tình, thân thiện, rồi chào tạm biệt!

Chúng tôi chưa kịp nói lời tạ lỗi, và cảm ơn vị khách quí, thì bóng ông đã mất hút vào lòng chợ Ông Tạ. Chúng tôi chợt bừng tỉnh! Như một cơn mê! Tiếc ngẩn ngơ!!!

Cho tới nay! Dù đã trải qua mấy chục năm, bao vật đổi, sao dời, biết bao việc đổi thay, nhưng với cái nụ Hàm Tiếu và vị khách quý kia, vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi, bởi tôi đã coi ông như một người thầy trong đời, dù ông không dạy như thầy cô dạy trong trường lớp! Nhưng đã có câu: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, nếu không, làm sao chúng tôi biết được nụ hàm tiếu ra sao!? Để nó vẫn “ đeo sát” tôi trong gần nửa thế kỷ nay!!!

Nhân kỷ niệm 105 năm thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai, tôi viết lên những dòng này! Kính dâng lên vong linh các thầy cùng bạn thân yêu, như thắp lên nén hương lòng vậy!

Đồng Nai, ngày 07 tháng 3 năm 2008

Advertisements

Read Full Post »

Trong nhiều ngày, từ 10/9-19/9 nhiều báo đài TW và địa phương đã liên tiếp đưa ra những thông tin ban đầu về chiếc tàu cổ. Trong đó có nhiều thông tin chưa chính xác, thậm chí có những báo in và điện tử còn đưa cả những bức ảnh hiện vật gốm sứ vốn có nguồn gốc khai quật từ tàu cổ Cù Lao Chàm. Đây là những thông tin sai lạc khiến cho nhiều người đọc hiểu lầm về nguồn gốc và niên đại con tàu. Để giúp độc giả có thêm những thông tin chính thức, chúng tôi xin đăng tải bài viết của hai chuyên gia: TS. Nguyễn Đình Chiến và TS. Phạm Quốc Quân, Hội đồng Giám định Cổ vật Bộ VH, TT & DL.

Theo tin vnexpress.net ngày 12/9/2012, ngay từ sáng sớm ngày 08/9/2012 hàng trăm ngư dân đã đưa tàu thuyền, ghe thúng về thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi để trục vớt cổ vật từ con tàu chìm dưới đáy biển. Ngay sau khi nhận được thông tin, Công an huyện Bình Sơn và bộ đội biên phòng 288 đã đến hiện trường lập biên bản thu giữ được 2 chiếc bát men ngọc, 2 chiếc chậu men nâu da lươn và 1 đồng tiền cổ có nguồn gốc từ chiếc tàu chìm. Ngày 11/9/2012 UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có báo cáo số 149/BC-UBND gửi Bộ VH, TT và Du lịch đề nghị Bộ cử đoàn công tác về kiểm tra tàu cổ tại vùng biển Bình Châu – Quảng Ngãi Ngày 12/9/2012 Cục Di sản văn hóa đã có quyết định số 47/QĐ-DSVH cử đoàn cán bộ gồm các thành viên: 1. Ths. Nông Quốc Thành, Trưởng Phòng Quản lý di tích; 2. TS. Nguyễn Đình Chiến, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Ủy viên Hội đồng Giám định cổ vật; 3. TS. Phạm Quốc Quân nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử ViệtNam, Ủy viên Hội đồng Giám định cổ vật. Ngày 13/9/2012 Đoàn công tác đã có mặt tại Quảng Ngãi và tham gia đoàn khảo sát do TS. Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc  Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi tổ chức. Một số thông tin ban đầu: 1. Địa điểm tàu đắm thuộc vùng biển Vũng Tàu, thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, tọa độ 15o25’N, 108o15’55E, cách bờ khoảng 100m. 2. Hiện vật do ngư dân trục vớt được cơ quan biên phòng và công an thu giữ bao gồm các loại hình: bát, đĩa, lư hương men ngọc; đĩa men trắng xanh; chậu men nâu da lươn nhiều cỡ. – Bát men ngọc màu xanh da táo hay vàng ôliu, có miệng loe thành cao, đáy màu xám hay đỏ gạch. Đường kính miệng: 18,5-19,5 cm; Chiều cao từ 7,5-8cm.

Bát Men Ngọc

Bát Men Ngọc

Đa số bát men ngọc không trang trí, nhưng có trường hợp giữa lòng in hình 2 người đấu vật hay in chìm cành hoa lá.

Đĩa Men Ngọc

Đĩa Men Ngọc

– Đĩa men ngọc dáng chậu, gờ miệng uốn, thành trong in chìm cánh hoa cúc, giữa lòng in chìm cành hoa lá, đáy có dấu khoanh tròn màu đỏ nâu. Đường kính miệng: 34 cm; Chiều cao: 7,5 cm.

LƯ HƯƠNG

LƯ HƯƠNG

– Lư hương men ngọc dáng hình trụ, xung quanh thân chia 3 ngấn nổi, chân đế nhỏ có gắn 3 chân nổi, men phủ phía ngoài, lòng để mộc. Đường kính: 9 cm; Chiều cao: 5cm.

Đĩa men trắng xanh

Đĩa men trắng xanh

Chi tiết lòng bát men ngọc

Chi tiết lòng bát men ngọc

– Đĩa men trắng xanh, chân đế thấp, gờ miệng để mộc trong lòng in nổi 2 hình cá ngược chiều nhau. Đường kính miệng: 14,3 cm; Chiều cao: 3,4 cm.

Chậu men nâu da lươn

Chậu men nâu da lươn

– Chậu men nâu da lươn, dáng hình nón cụt, đế bằng để mộc, men phủ trong lòng, thành ngoài men không đều. Đường kính miệng: 21,5-24 cm; Chiều cao: 5-6,7cm.

Đặc biệt trong số những hiện vật trên có 1 chồng dính gồm 11 chiếc chậu men nâu da lươn, có dấu tích than tro và những đồng tiền cổ bị cháy. Từ chứng cứ này chúng tôi cho rằng đây là dấu hiệu con tàu đã bị cháy trước khi chìm, tương tự như nguyên nhân bị chìm của tàu Hòn Cau và Cà Mau đã khai quật trước đây.

Quan sát tất cả những hiện vật bị vỡ chúng tôi đều thấy rõ những vết mới vỡ, phản ánh hậu quả việc trục vớt tự do của ngư dân. Đây là trường hợp đáng tiếc đã xảy ra tương tự với các con tàu cổ đã biết ở Việt Nam.

Trên cơ sở xem xét các loại hình, hoa văn trang trí, so sánh với các tài liệu đã biết, đặc biệt là con tàu Sinan bị đắm ở biển Nam Triều Tiên chở hàng gốm sứ thời Nguyên, chúng tôi cho rằng niên đại của những hiện vật trong tàu cổ Bình Châu thuộc thế kỉ 14, thời Nguyên (Trung Quốc).

Để thực hiện việc khai quật khẩn cấp tàu cổ Bình Châu, Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi đã có văn bản trình UBND tỉnh xem xét cấp phép và phê duyệt phương án khai quật khẩn cấp. Đồng thời Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi cũng có công văn số 1002/SVHTTDL-VP ngày 12/9/2012 gửi Bảo tàng Lịch sử quốc gia đề nghị cử cán bộ tham gia chủ trì khai quật.

Ngày 14/9/2012 UBND tỉnh Quảng Ngãi có quyết định số 1349/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng xét chọn các tổ chức và cá nhân có đủ điều kiện thăm dò, khai quật, trục vớt di sản văn hóa dưới nước tại vùng biển thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Hội đồng gồm 9 thành viên do TS. Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở VH, TT và Du lịch làm Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng đã trao đổi thống nhất 6 tiêu chí đánh giá tổng quát về hồ sơ đăng kí của các tổ chức và cá nhân được ban hành kèm theo quyết định số 1349 của UBND tỉnh Quảng Ngãi.

Sau cuộc họp xét chọn ngày 19/9/2012 tại Văn phòng Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi, Hội đồng đã lựa chọn Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương – một công ty đã hoạt động trong lĩnh vực này 9 năm (2003-2012), đã được các UBND tỉnh Quảng Nam, Cà Mau, Bình Định, Bình Thuận, Kiên Giang và Bộ VH, TT và Du lịch cấp phép khảo sát khai quật tàu cổ tại nhiều địa phương trong vùng biển Việt Nam để xây dựng Bảo tàng Cổ vật Biển Việt Nam. Hiện nay, Sở VH, TT và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi đang chỉ đạo các công việc tiếp theo để tiến hành khảo sát và khai quật tàu cổ Bình Châu theo Quy chế thăm dò, khai quật khảo cổ học dưới nước do Bộ VH, TT & DL ban hành ngày  30/12/2008.

Hội đồng xét chọn theo quyết định số 1349 của UBND tỉnh Quảng Ngãi

Nguyễn Đình Chiến – Phạm Quốc Quân

Nguồn tin:baotanglichsuquocgia

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

 

 

 

Read Full Post »

Nằm bên tả ngạn sông Hồng cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 10 km về phía Đông Nam. Bát Tràng là một làng gốm cổ truyền nổi tiếng của Việt Nam .

Ban đầu xã Bát Tràng  với tên là xã Bát  , làng Bát từ đời nhà Trần  . Thời Lê xã Bát Tràng  thuộc  huyện Gia Lâm , phủ Thuận An Trấn Kinh Bắc . Sang thời Nguyễn năm 1822 trấn kinh bắc đổi thành trấn Bắc Ninh , năm 1831 đổi thành tỉnh Bắc Ninh  . Lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Du , huyên Gia lâm  , phủ thuận An  , đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành  và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn . Sau cách mạng tháng tám 1945 , có một thời gian ngắn từ tháng 2  đến tháng 11 năm 1949 huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên . Năm 1948  xã Bát Tràng nhập với xã Giang cao và xã Kim Lan thành xã Quang Minh . từ năm 1964 tên xã Bát Tràng được khôi phục gồm Bát Tràng và Giang Cao như hiện nay .

Theo các thư tịch cổ thì nghề gốm xuất hiện ở  Bát Tràng từ thế kỷ thứ XV , nhưng theo những tư liệu thu thập được  ở Bát Tràng thì làng gốm này có thể ra đời sớm hơn . Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ( Ninh Bình ) về Thăng Long ( Hà Nội ) . Thăng Long trở thành trung tâm chính trị , kinh tế và văn hóa của cả nước , do nhu cầu phát triển của kinh thành  nhiều thương nhân , thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long để lập nghiệp , Thăng Long ngày càng mở mang và phát triển  , một loạt các làng ven đô cũng dần phát triển kinh tế  ,  trong đó có làng Bát Tràng .Do gần kinh thành lại nằm bên bờ sông Hồng  , Bát Tràng có điều kiện giao thông thuận lợi để phát triển công thương nghiệp , đăc biệt ở vùng này lại có nhiều đất sét trắng  ,theo  người dân Bát Tràng ngày xưa ở đây có 72  gò đất sét trắng ,  một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm .Lúc bấy giờ một số thợ gốm Bồ Bát ((xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hóa ngoại, nay là hai thôn của xã Yên Thành, huyện    Yên Mô , tỉnh Ninh Bình )   đã di cư về Bát Tràng để lập lò gốm  ,  khi mới đến lập nghiệp ở vùng này , dân Bồ Bát đặt tên cho quê mới của mình là Bạch Thổ Phường , tức phường đất trắng . Khi công việc sản xuất gốm đã ổn định , người dân ở đây đã đổi tên Bạch Thổ Phường  thành Bát Tràng Phường , ý nói là Phường có trăm lò bát . Cuối cùng họ mới đổi tên thành Bát Tràng ( nơi làm bát ) . Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho triều đại nhà Minh  .

Người  dân Bát Tràng đến nay vẫn lưu truyền một huyền thoại về nguồn gốc của nghề gốm như sau :

Vào thời Lý ( 1010 – 1225 ) , có ba vị Thái học sinh ( học vị như Tiến sĩ ) là Hứa Vĩnh Kiều ( hay Cảo ) , Đào Trí Tiến  và Lưu Phương Tú ( hay Lưu Vĩnh Phong ) , được cử đi sứ Bắc Tống (  960 – 1127 ) . Sau khi hoàn thành sứ mạng , trên đường trở về nước qua Thiều châu ( Quảng Đông – Trung Quốc ) thì gặp bão , phải nghỉ lại . Ở đây có lò gốm nổi tiếng , ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê hương .

Hứa Vĩnh Kiều ( hay Cảo )  truyền cho Bát Tràng nước men trắng

Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà ( Việt Yên – Hà Bắc ) nước men sắc đỏ

Lưu Phương Tú ( Lưu Vĩnh Phong )  truyền cho Phù Lãng ( Quế Võ – Hà Bắc ) nước men màu vàng thẫm

Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng với ít nhiều sai biệt về tình tiết . Điều đáng lưu ý là theo những tư liệu dân gian này , nghề gốm Bát Tràng đã có từ thời Lý , ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127 , khoảng đầu thế kỷ XII . Nhưng cho đến nay , chưa tìm thấy tư liệu  lịch sử  nào xác nhận tiểu sử của ba nhân vật trên .

Gốm Bát Tràng rất nổi tiếng ,  địa danh gốm Bát Tràng đã đi vào  thơ  và ca dao tục ngữ . Bằng vốn di sản kinh nghiêm nghề nghiệp những người thợ đã đưa nghề gốm ở đây lên đỉnh cao , những loại gốm quý và độc đáo nổi tiếng khắp trong và ngoài nước như : gốm men ngọc ( thời Lý – Trần ) gốm men nâu hay gốm hoa nâu ( cuối Trần – đầu Lê ) gốm men rạn ( thời  Lê –  Trịnh )và gốm hoa lam  ( vào cuối thời Nguyễn ) . Nhiều  sản phẩm gốm men ngọc , men rạn  , hoa lam của Bát Tràng rất hoàn mỹ , được coi là đỉnh cao của nghệ thuật và kỹ thuật gốm ở Việt Nam và đã trở thành  những tác  phẩm nghệ thuật gốm cổ , quý giá .

Sản phẩm gốm Bát Tràng phong phú và đa dạng  , với đôi bàn tay khéo léo của thợ gốm họ đã làm ra những sản phẩm gốm tinh xảo như : độc bình , chân đèn , đôn , bình vôi , nậm , chóe bằng gốm men ngọc và men chảy , hoa lam , men rạn , Trong suốt mấy trăm  năm  nay , gốm hoa lam tiếp tục ra đời khg hề đứt đoạn ở làng gốm Bát Tràng . Song song với các sản phẩm gốm đàn dân dụng , gốm hoa lam của Bát Tràng đã đi vào đời sống nhân dân cả nước  , mà trước hết là các tỉnh Bắc Bộ . Ngoài các mặt hàng truyền thống  , các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của người dân trong khắp cả nước như các loại ấm chén , bát đĩa , lọ hoa ,  đặc biệt là gạch Bát Tràng và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài .  …. Trên các sản phẩm không chỉ được tạo dáng uyển chuyển mà còn trang trí rồng uốn khúc đắp nổi , những hoa lá tinh tế , hoa văn khắc chìm nhìn rất sinh động , ngoài  men trắng ngà cổ truyền , người thợ Bát Tràng cũng biết dùng men màu và vẽ màu dưới men , giữa men , trên men , nhằm tạo hiệu quả huyền ảo cho người thưởng thức sản phẩm gốm Bát Tràng . Việc tìm đất , chọn nguồn đất nguyên liệu thích hợp , tạo ra các loại men từ tro , đất phù sa , đá màu , rỉ đồng . rỉ sắt , cũng như sự cải tiến kỹ thuật lò nung có hiệu quả đã chứng tỏ được tài nghệ của các nghệ nhân và thợ gốm nhiều thế hệ ở Bát Tràng .

Bát Tràng có may mắn và thuận lợi lớn là nằm bên bờ sông Hồng , ở khoảng giữa Thăng Long và Phố Hiến , trên đường thủy nối liền hai đô thị này và là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài  nên các sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi . Từ cuối thời Trần đến thời Lê và đầu thời Nguyễn  một khối lượng lớn gốm các loại của Bát Tràng được xuất khẩu sang nhiều nước  như  : Nhật Bản , Malaixia , Thái lan , quần đảo Java , các nước trung đông , và một số nước châu âu . Trong nhiều gia đình quý tộc , thương gia , và trong một số bảo tàng các nước   cho đến nay vẫn còn lưu giữ nhiều di vật gốm Việt Nam trong đó có gốm Bát Tràng  .

Trong suốt quá trình nghề gốm của mình , người Bát Tràng luôn luôn ý thức tầm quan trong sống còn của làng nghề là thích nghi với hoàn cảnh biến đổi của nền kinh tế xã hội theo từng thời kỳ , họ nắm bắt nhanh các thành tựu gốm mới và đặc biệt quan tâm  thích ứng với thị hiếu , thẩm mỹ và yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước,  ưu tiên sản xuất các mặt hàng cao cấp đắt tiền , các đồ gốm giả cổ ….xưa kia các lò gốm thủ công tuyệt đối giấu nghề bằng biện pháp ‘’ cha truyền con nối ‘’ Trong đời sống cũng như quá trình sản xuất  người dân Bát Tràng có tinh thần cộng đồng  cao và ý thức bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp . Bí quyết nghề nghiệp đặc biệt khâu pha chế men  được bảo vệ chặt chẽ . bí mật này chỉ được truyền cho con trai và những quy đinh trong các hương ước của làng , hay của dòng họ . Trước đây Bát Tràng có tục lệ trai gái trong làng lấy nhau , con trai có thể lấy vợ ngoài làng nhưng con gái nhất thiết không được lấy chồng ở làng khác  vì sợ để lô  bí quyết nghề của làng . Tục lệ này cũng phai mờ dần và nay  đã được xóa bỏ  .

Hiện nay làng gốm Bát Tràng đang phát triển sản xuất hai chủng loại gốm đó là

gốm giả cổ và gốm hiện đại   .  Khôi phục gốm cổ , người Bát Tràng cũng như các làng gốm khác đang làm sáng lên những giá trị di sản văn hóa  . không chỉ khôi phục , họ còn tìm tòi khai thác các men quý , men đẹp , dáng cổ để tạo ra các mặt hàng mỹ nghệ đặc sắc  đưa sản phẩm gốm Bát Tràng tới đỉnh cao của nghệ thuật .

Bát Tràng là một làng gốm lâu đời , nổi tiếng , có nhiều truyền thống văn hóa  vừa mang những sắc thái công đồng chung của làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ , vừa phản ánh những nét đặc thù của nghề gốm , Ở làng gốm này , mọi lứa tuổi đều có công ăn việc làm , ít thấy trẻ em chạy ngoài đường , hoặc trai tráng ngồi chơi bê tha , các cụ già giỏi nghề , làm việc suốt ngày bên bàn tạo mẫu , hay bên lò nung đang rừng rực lửa . Phụ nữ thì vuốt gốm , phơi gốm , vào lò ….mỗi công đoạn sản xuất đòi hỏi nhiều thao tác , người thợ cần có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao .Sản phẩm của người Bát Tràng là kết tinh của sức lao động cần cù , sự khéo tay và đầu óc thẩm mỹ .Bằng mọi cách để giữ lấy nghề và di sản quý của cha ông .Từ nền tảng đó họ ra sức sáng tạo  để  cho ra đời những sản phẩm gốm là những tác phẩm nghệ thuật  tinh túy  và sống động .

Khanhhoathuynga  tổng hợp .

HÌNH ẢNH GỐM BÁT TRÀNG TỪ THẾ KỶ 14  ĐẾN THẾ KỶ 19

This slideshow requires JavaScript.

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Mời các độc giả blog thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật thị giác do các em học sinh trường mù Nguyễn Đình Chiểu thực hiện được trưng bày tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Hà Nội Ngày  19/  11 / 2011 .

Để chuẩn bị cho sự kiện này , 12 thành viên của House of Art  – giáo viên Đào Ngọc   Huỳnh &  Đỗ Quốc Vi  đã chuẩn bị từ đầu năm 2011 . Và cũng được sự hỗ trợ rất nhiều từ các nghệ nhân làng gốm Bát Tràng (Hà Nội ) – Cây ( Hải Dương ) – Ngòi ( Bắc Giang ) .

Trong cuộc triển lãm đã được trưng bày các tấm tranh với nhiều kích cỡ  và 150 sản phẩm nhỏ các loại  . Hầu hết các tác phẩm đều do các học sinh trường mù làm.

Cuộc triển lãm mang ý nghĩa và thông điệp  ” Người mù có thể làm việc như những người bình thường ” . và tìm kiếm cơ hội cho học sinh khiếm thị .

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ

Read Full Post »

TRƯNG BÀY CỔ VẬT CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 

Ngày 24.4, Bảo tàng Lịch sử quốc gia (Hà Nội) và Bảo tàng Lịch sử (TP.HCM) kết hợp khai mạc đợt trưng bày đặc biệt về cổ vật các nước Đông Nam Á tại số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P.Bến Nghé, Q.1, TP.HCM.

Bà Trần Thị Thúy Phượng, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử (TP.HCM), cho biết lịch sử các cư dân Đông Nam Á từ lục địa đến hải đảo thời Tiền – Sơ sử đã tạo nên nền văn hóa đồ đá khá đồng nhất được các nhà khảo cổ học trên thế giới gọi là “Hoabinhian – Bacsonhian”, theo tên của văn hóa đá mới Hòa Bình – Bắc Sơn của Việt Nam. Từ đó đến cuối thế kỷ 20, khi kết thành khối ASEAN, các nước Đông Nam Á đã và đang tiếp tục mở rộng giao lưu văn hóa và giao thương trong khu vực cũng như quốc tế. Điều đó được thể hiện qua trưng bày lần này với 216 cổ vật đa dạng có niên đại từ đầu Công nguyên đến thế kỷ 19 được chế tác ở Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia, Myanmar, Singapore, Indonesia, Đông Timor…

Nhiều cổ vật thu hút sự chú ý của công chúng và các nhà nghiên cứu như chiếc mão bằng vàng (Việt Nam), tượng Phật bằng gỗ và bình gốm men đen (Lào), tượng thần Ganesa (Campuchia), tượng người cầu nguyện và chum đất nung (Malaysia), tượng thần bằng đá và phù điêu (Indonesia), trống đồng và tượng Phật gỗ (Myanmar), tượng thần Shiva đang cưỡi bò Nandin và bình đất nung (Thái Lan)… Đợt trưng bày kéo dài đến tháng 11.2012.


CỔ VẬT ĐÔNG NAM Á ” SỐNG LẠI ”

Có đến 219 cổ vật tiêu biểu của các nước Đông Nam Á như Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Myanmar, Singapore, Lào, Campuchia, Việt Nam đang trưng bày tại số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q.1, TP.HCM từ đây đến cuối năm 2012…

Trong đó có 31 hiện vật do Bảo tà

ng lịch sử quốc gia từ Hà Nội đưa vào giới thiệu như nhóm tượng cổ chế tác ở Myanmar (Miến Điện) thế kỷ 19 gồm tượng thần Shiva đứng trên bò Nandin, tượng thần Vishnu cưỡi chim Garuda, tượng Phật ngồi đại định trên thân rắn Naga, hoặc tượng vua Dhammceti đang dang hai cánh tay như muốn ôm lấy miền đất thánh…

Riêng cổ vật duy nhất mượn của một nhà sưu tập ở TP.HCM để trưng bày đợt này là chiếc mũ miện ráp lại từ 23 miếng vàng có hình cánh hoa đang nở và mỗi miếng được cẩn từ 1 đến 4 viên ngọc quý màu hồng, đỏ hoặc xanh lam. Tỏa sáng nhất là bông sen bằng vàng đính trên phần đỉnh của mũ và một miếng khác đập dẹp thành chiếc “vành vương miện” nằm ở phần cuối của cổ vật độc đáo và thuộc loại quý hiếm này trong kho tàng văn hóa nghệ thuật cổ Chăm Pa thế kỷ 7-8.

Ngoài 32 hiện vật kể trên, số còn lại gồm 187 hiện vật khác đều của Bảo tàng lịch sử (TP.HCM) đưa ra trưng bày có gốc gác từ nhiều nguồn khác nhau.

Nguồn thứ nhất do Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn (trước năm 1975) để lại như tượng thần Brahma bằng đồng do Campuchia chế tác ở thế kỷ 17-18, cao 13 cm, bề ngang 8 cm, với 8 cánh tay và 6 gương mặt nhìn về nhiều hướng. Chiếc đầu hổ phù bằng đất nung màu cam thế kỷ 13-14 cũng như chiếc khánh bằng đồng thế kỷ 19 có khắc bài minh trên thân đều của Việt Nam làm. Hoặc chiếc bát Thái Lan thế kỷ 18-19 bằng gốm men nhiều màu có vẽ hình ngọn lửa, thần linh và hoa lá cách điệu. 6 quả cân lạ mắt của Myanmar ở thế kỷ 19 bằng kim loại, mỗi quả mang hình một con vật quen thuộc với người Đông Nam Á như gà, vịt, voi…

Nguồn thứ hai do Bảo tàng lịch sử sưu tầm, mua lại – như cái chóe lớn 5 quai của Indonesia ở thế kỷ 16 bằng gốm men nâu với dạng hình trứng cao 69 cm, đường kính miệng 24 cm, đắp nổi đề tài “lưỡng long chầu nhật” trên thân, mua năm 2006. Tượng Phật bằng đồng thế kỷ 17-18 và chuông đồng thế kỷ 20 khắc hình cánh sen, đắp nổi lá bồ đề cách điệu chế tác từ Lào, mua năm 2007-2008. Chiếc bình Kendy bằng đồng của Campuchia thế kỷ 13 dạng tròn với vòi hình đầu gà cao 20,7 cm, đường kính miệng 9,7 cm, mua năm 2009. Chiếc bình Việt Nam thế kỷ 19 đắp nổi cành hoa mai có vòi hình đầu rồng bằng gốm men nhiều màu…

Nguồn thứ ba do các cơ quan chức năng chuyển giao cho Bảo tàng lịch sử từ việc phát hiện và xử lý những vụ đào bới, đánh cắp hoặc buôn bán đồ cổ trái phép, chẳng hạn bát nhang cổ chế tác từ Hải Dương thế kỷ 16-17, cao 38 cm, đường kính miệng 29 cm, đắp nổi hình rồng và hoa sen, do Công an TP.HCM giao năm 1994. Tượng Phật của Lào thế kỷ 17-18, cao 22 cm, bề ngang 9,5 cm, bằng kim loại, do Bộ Nội vụ giao năm 1995.

Theo TS Phạm Hữu Công, Phó giám đốc Bảo tàng lịch sử, từ nhiều năm trước một số cơ quan kiểm tra hàng hóa như Hải quan, Quản lý thị trường, Công an kinh tế, Kiểm tra văn hóa phẩm xuất nhập khẩu bắt gặp nhiều cổ vật trên đường công tác: “Ngay những năm cuối thập niên 1970, Phòng Xuất nhập khẩu văn hóa phẩm TP.HCM đã chuyển giao cho bảo tàng chúng tôi nhiều cổ vật, trong đó có mô hình thuyền rắn thần Naga bằng đồng thếp vàng chế tác từ Thái Lan vào thế kỷ 19 và tượng người cầu nguyện đang quỳ với hai chân duỗi về phía sau, hai tay chắp lại trước ngực, bằng gỗ sơn son thếp vàng chế tác từ Myanmar mà chúng tôi đem trưng bày trong đợt này”, TS Công cho biết.  (Còn tiếp)

“ Cuộc trưng bày giới thiệu một số cổ vật phong phú và đa dạng của các nước Đông Nam Á được chế tác từ nhiều chất liệu vốn là những sản vật địa phương, theo phong cách mỹ thuật của từng quốc gia, từng dân tộc, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử (TP.HCM) và Bảo tàng lịch sử quốc gia (Hà Nội). Hy vọng rằng những gì có được trong chuyên đề này sẽ góp thêm phần hiểu biết về những người bạn, những người anh em cùng chung mái nhà Đông Nam Á, nhằm vun đắp tình đoàn kết, giữ vững chủ quyền, hòa bình an ninh, hợp tác cùng phát triển trong khu vực”.

Bà Trần Thị Thúy Phượng
(Giám đốc Bảo tàng lịch sử)

CỔ VẬT ĐÔNG NAM Á ” SỐNG LẠI ” –  KỲ 2  : TƯỢNG PHẬT LÀO 

Trong số 19 cổ vật của Lào đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử (TP.HCM) có đến 16 tượng Phật, chiếm tỷ lệ cao nhất về số lượng cổ vật đề tài văn hóa Phật giáo so với các nước khác.


Phần lớn các tượng Phật trên đều chế tác hoặc điêu khắc trong tư thế ngồi, tay trái để ngửa, tay phải đặt trên đầu gối phải, với các ngón tay chạm tới mặt đất. Đó là ấn Địa xúc (chạm đất) được Phật sử dụng sau khi đánh thắng Ác Ma Vương (Ác Ma Thiên) dưới cội Bồ Đề.

Ở Lào hàng ngàn pho tượng Phật tạc bằng nhiều chất liệu như gỗ, đá, hoặc cả bằng vàng ròng, đều cất giữ trong những hang động Pak Ou kỳ bí, có pho cao lớn tới 2 m, nhỏ thì vài centimet. Trước kia hằng năm nhà vua và Hoàng gia Lào thường đến cử hành lễ thắp nến tại các hang Pak Ou thiêng liêng ấy và chiêm bái các tượng Phật trong thánh địa này.

Trong bộ sách Đối thoại với các nền văn hóa do NXB Trẻ ấn hành, cuốn về nước Lào, đã ghi nhận ở Lào tượng Phật ít bị phá hoại bởi các cuộc chiến triền miên vì “không giống như các phế liệu chiến tranh, người Lào không bao giờ nấu chảy các tượng Phật dù làm bằng vàng hay bằng đồng. Các tượng Phật chất đầy trên các ngôi chùa, tu viện, các hang động thiêng liêng, được dựng dọc đường đi, trên đỉnh đồi, hoặc xếp thành hàng ở phía ngoài những sảnh điện của các ngôi chùa”. Những tượng đó chế tác theo phong thái “tứ oai nghi” (tức 4 tư thế chính) là đi, đứng, nằm, ngồi và biến hóa chi tiết các động tác để thành 40 tư thế được gọi chung là các “Mudra”. Một số Mudra phổ biến trong mỹ thuật tạo hình của Lào do Trịnh Huy Hóa nêu lên trong bộ sách trên, gồm:

1. Bhumisparca Mudra cũng gọi là “chạm đất” hoặc “gọi thổ địa chứng kiến”. Tư thế này mô tả sự giác ngộ và chiến thắng quỷ vương Mara.

2. Chiêu Vũ Phật (Phật gọi mưa): trong tư thế này Đức Phật đang đứng với hai tay xuôi chỉ xuống đất, tượng loại này ít thấy ở đâu khác ngoài nước Lào.

3. Dhyana Mudra (đại định) một hình tượng rất phổ biến, thể hiện Đức Phật đang ngồi thiền định, hai bàn tay đặt trong lòng, lưng bàn tay mở ra và ngửa lên trên.

4. Abhaya Mudra (hộ trì hoặc vô úy) được tạc với bàn tay phải của Phật giơ lên trước ngực như đang đẩy lùi tà kiến và các thế lực vô minh. Như thế, bộ sưu tập tượng Phật của Lào chế tác đang trưng bày nằm trong tư thế bắt ấn Địa xúc Bhumisparca Mudra.

Công chúng và những nhà nghiên cứu đến xem bộ sưu tập tượng Phật của Lào đã đồng thời có dịp nhắc đến những nét tổng quát liên quan đến nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (trước đây gọi là Ai Lao) vốn là quốc gia không có bờ biển, diện tích 236.800 km2, dân số tính đến 2011 có hơn 7 triệu người, thủ đô Viêng Chăn, đơn vị tiền tệ là kíp, di tích văn hóa nổi tiếng thế giới là Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng.

Niên đại, chất liệu và chi tiết của 19 cổ vật Lào đang trưng bày

* Thế kỷ 17-18: 4 tượng Phật trong đó có 3 tượng bằng đồng và 1 tượng cao nhất 22 cm còn nguyên trong tư thế ngồi bán kiết già.

* Thế kỷ 19: 1 tượng Phật bằng đồng cao 35 cm, bệ 19×13,5 cm và 2 tượng Phật bằng gỗ sơn son thếp vàng. Một tượng cao 33,2 cm đứng trên bệ. Một tượng cao 30 cm ngồi trên rắn thần Naga. Một bức tranh khắc gỗ hình Đức Phật ngồi tòa sen, tay cầm cành sen, cao 124,5 cm, rộng 35,5 cm – dày 4 cm. Cả 4 cổ vật trên do Bảo tàng Lịch sử quốc gia (Hà Nội) đưa vào trưng bày.

* Hai chiếc bình dạng tròn, có 3 bầu, chân loe bằng gốm men đen. Một chiếc cao 23 cm, đường kính miệng 5 cm, chiếc còn lại cao 30 cm, đường kính miệng 6,5 cm.

Cổ vật Đông Nam Á “sống lại” – Kỳ 3 –  5 thanh kiếm độc đáo của Malaysia

Trong 6 hiện vật của Malaysia đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử (TP.HCM), có đến 5 thanh kiếm cổ mang phong cách tạo hình cũng như kiểu dáng khác lạ.

5 thanh kiếm chế tác từ thế kỷ 19 với lưỡi bằng kim loại và tay cầm bằng gỗ đã thực sự gây chú ý cho khách tham quan vì sự tập trung của loại hình này lạ mắt hẳn so với các cổ vật xuất xứ từ các quốc gia khác.

* 1 kiếm dài 65 cm, ngang 9 cm (ký hiệu BTLS.4278)

* 1 đoản kiếm dài 52 cm, ngang 6 cm (ký hiệu BTLS.4293)

* 1 đoản kiếm khác dài 58 cm, ngang 7 cm, có tay cầm hình Makara

Makara là loài gì? Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Thị Được trong một chuyên khảo về điêu khắc Chăm và thần thoại Ấn Độ thì: “Makara là loài thủy quái, nguyên thủy là một con cá sấu Ấn Độ to lớn nhưng sau lại (biến dạng) thành một con cá heo Hy Lạp, hoặc giống như con thủy quái sống dưới biển trong Kinh thánh. Trong điêu khắc, dần dần đuôi cá sấu được thay thế bằng đuôi cá, sau lại là cuống của một bông hoa sen. Chỉ có người anh hùng can đảm mới lấy được viên ngọc vô giá từ miệng của Makara và nếu được viên ngọc này người ta có thể làm cho phụ nữ yêu mình say đắm”.

* 2 thanh kiếm gọi là Kris. Một Kris dài 48 cm, ngang 19 cm. Kris còn lại dài 38 cm, ngang 12 cm. Kris thông thường là một loại kiếm ngắn có hai cạnh sắc bén, cạnh phía trên được mài giũa chế thành một dãy khía răng cưa với hình móc, cạnh dưới có thể giũa thành hình đầu voi. Cách giải thích này bắt nguồn từ nhà nghiên cứu Robert Cato trong tài liệu phân tích về kích thước, kiểu dáng các bộ sưu tập kiếm của người Hồi giáo phía nam Philippines.

Các nhà sưu tập và khảo cổ đã ghi nhận trên đất Malaysia (cũng như ở Sumatra, Java, Bali, Timor) có khá nhiều cổ vật Kris. Sự có mặt của sưu tập 5 thanh kiếm Malaysia một lần nữa cho thấy mối giao lưu và tương đồng về văn hóa mỹ thuật của các nước Đông Nam Á.

Thật vậy, một loại Kris ngắn hơn, từa tựa kích thước một chiếc dao găm cổ vốn rất nổi danh ở vùng Acceh (Indonesia) gọi là Kris Modjopahid thường được “sánh đôi” với những bộ y phục cổ truyền để làm đậm hơn bản sắc văn hóa của vùng đất trên, chứ không chủ yếu để chiến đấu thuần túy như những loại khác. Chính ở chức năng đó, các nhà quyền quý thường lấy ngọc, vàng để chạm vào các thanh Kris sắc bén. Đường nét thẩm mỹ và trình độ chế tác thường thể hiện ở bên ngoài vỏ bọc của Kris và cả dưới chuôi.

Loại Kris “quý phái” này có một thanh chạm kim cương do quốc vương Indo để lại đang trưng bày ở Bảo tàng Djakarta. Giao lưu gợi mở qua hình ảnh sưu tập kiếm Kris cũng được ghi nhận bởi những thanh Kris của Việt Nam như Phạm Giảng Thơ và Phan Anh Tú – cán bộ nghiên cứu sưu tầm của Bảo tàng Lịch sử nêu rõ: “Khi sản xuất kiểu Kris truyền thống, các nghệ nhân thường tìm cách biến đổi cho phù hợp với văn hóa bản địa của dân tộc. Thanh Kris của người Chăm vùng Ninh Thuận – Việt Nam, có lưỡi xoắn nhưng được quan niệm là hình tượng ngọn lửa của thần Shiva, chuôi bằng kim loại; chạm hình Hầu vương Hanuman tư thế ngồi bó gối, 2 tay ôm lấy đầu như những pho tượng nhà mồ Tây nguyên. Người Moro theo đạo Hồi ở Mindanao (Philippines) sử dụng Kris cùng khiên mây. Họ chế tạo Kris theo 3 dạng chính: lưỡi thẳng hoặc hơi cong thể hiện con rắn nằm yên; lưỡi lượn sóng: rắn đang bò; lưỡi kết hợp vừa thẳng vừa uốn sóng: rắn từ trạng thái tĩnh sang chuyển động. Chuôi kiếm là hình ảnh của đầu chim công hoặc chim chào mào với chiếc mỏ và mào dài hơn bình thường.

Ngày nay, nhiều gia đình dòng tộc ở Philippines, Malaysia, Indonesia, Việt Nam (dân tộc Chăm) vẫn lưu giữ những thanh Kris là báu vật do tổ tiên truyền đời, có khi chúng được phong tước hiệu, nhận nhiều sự tôn kính do những chiến công vang lừng, là niềm tự hào của chủ nhân. Kris biểu hiện địa vị đẳng cấp xã hội hoặc sức mạnh nam tính; có khi chiếc Kris thuộc danh sách lễ vật trong hôn nhân truyền thống. Người ta vẫn còn thấy chúng được giắt bên hông chú rể Indonesia vào ngày cưới. Nổi bật hơn hết là Kris đang được dùng làm binh khí đối kháng trong bộ môn pencak silat, võ cổ truyền của Indonesia mà ngày nay đang trở thành môn thi đấu thể thao quốc tế khu vực Đông Nam Á”.

5 thanh kiếm chế tác từ Malaysia nằm trong bộ sưu tập lớn hơn trước đây gồm 25 thanh kiếm lưu giữ trong kho của Bảo tàng lịch sử có xuất xứ từ nhiều nước với hình dáng khác lạ và độc đáo ở phong cách nghệ thuật tinh tế kết hợp giữa các bộ phận lưỡi, chuôi và bao đựng. Có thể nói, mỗi thanh kiếm là một khí giới lợi hại, đồng thời là một tác phẩm thủ công mỹ nghệ thật sự. Cùng một kiểu dáng, chủ đề trang trí nhưng không thanh kiếm nào giống thanh kiếm nào.

Theo Thông báo khoa học số 2 của Bảo tàng lịch sử (TP.HCM)

Cổ vật Đông Nam Á “sống lại” – Kỳ 4: Tượng thần đầu voi Ganesha

Tượng thần đầu voi Ganesha bằng đá chế tác từ thế kỷ 17-18 ở Campuchia là tượng Ganesha duy nhất được trưng bày trong đợt này.

Vị thần của may mắn

Đây là tượng thần mình người đầu voi được thờ ở nhiều nước Đông Nam Á, riêng tượng Ganesha của Campuchia này mặc dù chiếc vòi và chỏm tóc bị sứt một chút, phía cánh tay trái và dưới đế hơi bị nứt, nhưng vẫn giữ được những nét tạo hình theo phong cách mỹ thuật truyền thống của tín ngưỡng Ấn Độ giáo.

Theo tín ngưỡng đó, một số loài vật như cọp, rắn, chim, voi được thờ chung cùng các vị thần khác, nhưng cũng có một số loài cá biệt được sùng bái và thờ riêng một cách trang trọng như thần đầu voi Ganesha (Ganapati) tượng trưng “cho sự hợp nhất giữa tiểu vũ trụ và đại vũ trụ”, được xem là vị Phúc thần đáp ứng những điều may mắn, cát tường cho mọi lời cầu nguyện. Ngài là đứa con ra đời từ cuộc hợp hôn giữa thần Shiva với con gái của thần núi Himalaya là nàng Uma Himavutee thường được gọi bằng một tên gợi cảm là Parvati (Sơn nữ).

Sự có mặt của tượng thần Ganesha chế tác từ Campuchia là dịp để người ta liên tưởng đến các tượng Ganesha khác tại Việt Nam được phát hiện ở tháp Mỹ Sơn vào năm 1903, đồng thời xác nhận thêm sự xuất hiện cũng như ảnh hưởng khá sớm của Ấn Độ giáo ở Chăm Pa, đem lại nguồn cảm hứng thiêng liêng để sáng tác những tác phẩm điêu khắc Chăm mang giá trị cao.

Về ý nghĩa các tượng Ganesha ở Việt Nam, bà Huỳnh Thị Được – cán bộ Bảo tàng Điêu khắc Chăm tại Đà Nẵng, trong một tác phẩm liên quan đến thần thoại Ấn Độ đã giới thiệu Ganesha là “một trong những vị thần được yêu mến nhất của Ấn Độ. Với chiếc vòi dài, bụng phệ, bức tượng Ganesha có mặt khắp các thị trấn Ấn Độ và nhiều nơi khác trên thế giới. Những bức tượng tương tự như vậy từ thời Trung cổ có thể được nhìn thấy tận miền Đông Java. Người theo Ấn Độ giáo thường cúng một số lễ vật trước tượng Ganesha mỗi khi bắt dầu một chuyến du hành hay là khai trương một công việc kinh doanh, thậm chí đi hỏi vợ”.

Ảnh hưởng của Phúc thần Ganesha

Không chỉ riêng Campuchia có tượng thần Ganesha, mà một pho tượng Ganesha khác do Thái Lan chế tác hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử mang ký hiệu 2563, tạc bằng gỗ quý với sắc đỏ tự nhiên, do Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Etude Indochinois) mua lại của một nhà sưu tập người Pháp năm 1927, rồi đưa vào Viện Bảo tàng quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn bảo quản với ký hiệu cũ T.319. Mô tả của Phan Anh Tú, cán bộ bảo tàng, cho biết tượng Ganesha Thái Lan này được tạc với tư thế ngồi bán già trên một bệ tròn ba tầng, đầu đội mũ hình tháp (stupa), đôi tai lớn phình rộng với chiếc vòi uốn cong xuống tận bệ, miệng có hai ngà, cổ và tay chân đều có đeo vòng trang sức, tay trái cầm một chiếc bát, tay phải cầm một chiếc bình: “Chúng tôi nhận thấy dấu hiệu của điêu khắc Phật giáo miền Bắc Thái Lan thế kỷ 14 xuất hiện trên pho tượng Ganesha này… Đã có sự kết hợp những yếu tố điêu khắc của Phật giáo Thái Lan hiện đại với xu hướng hình thể học của điêu khắc phương Tây, tạo cho pho tượng một phong cách hoàn hảo. Kiểu điêu khắc này, theo các nhà nghiên cứu thì nó xuất hiện tại Bangkok vào thế kỷ 19 dưới triều đại vua Rama V. Chính trong giai đoạn này, nghệ thuật Thái Lan có ảnh hưởng mạnh đến nghệ thuật Campuchia và Lào”.

Ảnh hưởng xã hội của Phúc thần Ganesha đến ngày nay vẫn còn ghi dấu ở nhiều di tích và thành thị Đông Nam Á, chẳng hạn ở TP.HCM  có một ngôi đền Ấn Độ giáo lâu đời nhất hiện vẫn còn tồn tại ở số 98 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q.1, TP.HCM. Đền này thờ vị thần quyền lực siêu phàm trong hệ thống thần thoại Ấn Độ là Subramaniam Swamy có quan hệ huyết thống với thần hủy diệt Shiva. Trong đền đồng thời có thờ Phúc thần Ganesha là con thứ hai của thần Shiva.

Thần Ganesha như đã nói là kết quả cuộc hợp hôn của Shiva với sơn nữ Himalaya, mà các pho sách xưa chép rằng: “Khi Shiva giao hợp cùng vợ thì tia lửa lạc thú phóng xuất giúp vũ trụ hình thành từ tình yêu ấy, chính vì thế Shiva tự phân thành hai nửa, một nửa là âm và một nửa là dương, hai nửa ấy giao hòa và hóa thành đại địa cùng sự sống khắp nơi”. Bởi vậy trong đền thờ nói trên hiện vẫn còn thờ thần Shiva lưỡng tính qua biểu tượng linga đặt trên yoni tại chánh điện – nơi có tượng thần Ganesha an vị.

Giao Hưởng 

Nguồn Thanh Niên Online

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

DANH MỤC TỔNG HỢP

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ

 

*Thành Kèn – di tích lịch sử Thành Biên Hòa

*Một ngôi nhà cổ ở thị xã Hội An

*Hoang tàn nhà cổ cụ Vương

*Những ngôi nhà cổ dân gian truyền thống ở TPHCM

*Nhà cổ ở Nam Bộ – tư liệu tổng hợp

*Hai căn nhà cổ ở Sa Đéc

*Nhà rường cổ Huỳnh Phủ – bến Tre

*Nhà cổ trăm  cột ở Long An

*Nhà vườn cổ ở Huế

*Nhà cổ trên lưng đồi vùng Tiên Phước –Quảng  Nam

* Kiến trúc xưa ở Cù Lao Phố

*Những Kiến trúc , công trình xưa nhất Sài Gòn

*Nhà cổ dân gian tại Bà Rịa Vũng Tàu

*Nhà cổ Bình Dương

*Nghệ thuật trang trí trong ngôi nhà cổ tại Bình Dương

* Thú chơi nhà cổ         

*Ngôi nhà cổ đẹp nhất miền Tây

*Ngôi nhà cổ đẹp nhất Miền Tây 2 – nhà cổ vườn lan

* Nguy cơ tuyệt tích nhà cổ ở Sài Gòn

*Những người mê nhà cổ

*Nhà cổ thật & nhà cổ giả ở Hội An

*Bình phong trong kiến trúc truyền thống VN

*Bảo tồn di sản : phải đúng luật & có tầm nhìn xa

*Di sản bốc hơi

*Nhà cổ Diệp Đồng Nguyên – Hội An va các cổ vật sưu tập của gia chủ

*Ngôi đền Pô Kluang Garai ở Phan Rang

*Ngói lưu ly

*Cấu trúc kiến trúc cổ VN

*Nhà rường cổ VN

*Ứng xử tàn bạo với di tích

*Kiến trúc các ngôi chùa xưa & nay

*Ngôi nhà thờ  tộc  Trương ở Hội An

*Nếu Hội An không còn phố cổ

*Nhà cổ ở Huế

*Biến di tích 400 tuổi thành   …1 ngày tuổi

*Viện bảo tàng Khải Định – Bảo tàng cổ vật cung đình Huế

*Những ngôi chùa đẹp tại VN

*Chùa tại Miền Bắc VN p2

*Chùa tại miền Bắc VN p3

*Chùa tại miền Bắc VN p4

*Chùa tại miền Bắc VN p 5

*Di tích đài kỷ niệm ở Biên Hòa

Read Full Post »

Viện Bảo Tàng Điêu Khắc Chăm Đà Nẵng tọa lạc tại góc đường Bạch Đằng và Trưng Nữ Vương với diện tích là 6.673 m vuông  . Tòa nhà được thiết kế bởi hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair. Trong quá trình xây dựng và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng góp lớn của chuyên gia khảo cổ Henri Parmentier, của EFEO và là một trong những người đầu tiên có đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa Chăm .

Được xây dựng trên một gò đất cao , toàn bộ phía ngoài  viện bảo tàng sơn một màu vàng nhìn đơn giản và rất cổ kính ,với một không gian thoáng mát và trong lành ,những hàng cây trồng dọc theo các lối đi , cây cổ thụ làm tăng thêm vẻ cổ kính của bảo tàng , phía ngoài khuôn viện của bảo tàng các mảng đài thờ , tượng đá được xếp đặt rải rác  hài hòa với cảnh vật xung quanh , tạo cho người đến tham quan có một cảm giác ngỡ ngàng và  hứng thú khi tiếp xúc với những tác phẩm điêu khắc mà thoạt nhìn ta thấy có vẻ bí ẩn và xa lạ .

Từ những năm cuối thế kỷ XIX  khi một số người Pháp bắt đầu chú ý đến di tích Chăm thì rất nhiều các tháp Chăm đã ở trong tình trạng hư hỏng và đổ nát  , họ là những người Pháp yêu nghành khảo cổ và những người làm việc cho trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp ( L’ École francais d’ Éxtrême – Orient, viết tắt là EFEO) , họ và   những đồng nghiệp người Việt Nam đã cùng nhau bắt đầu  thu thập , bảo tồn và nghiên cứu tác phẩm điêu khắc Chăm .  Đến  đầu thế kỷ XX một số hiện vật được chuyển đi  Pháp , một số được  chuyển ra Bảo Tàng Hà Nội & Bảo Tàng Sài Gòn , nhưng phần nhiều các tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng . Từ năm 1902 với ý định xây dựng một bảo tàng tại Đà nẵng để lưu giữ và trưng bày những tác phẩm điêu khắc Chăm mà họ thu thập được và sau 17 năm thì tòa nhà đầu tiên của bảo tàng chính thức hoàn thành .

Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng được xây dựng năm 1915 chính thức khánh thành vào năm 1919 là một bảo tàng trưng bày các hiện vật Chăm quy mô và độc đáo nhất Việt Nam  chuyên sưu tập , cất giữ và trưng bày các di vật điêu khắc Chăm được tìm thấy ở các tháp , thành lũy Chăm ,  các vùng tại Đà nẵng , Quảng nam và các tỉnh  lân cận   Các tác phẩm được trưng bày ,  lưu giữ tại bảo tàng điêu khắc Chăm là những tác phẩm tượng , đài thờ , phù điêu và vật trang trí , hầu hết là  các tác phẩm  nguyên bản được làm từ 3 chất liệu chính là Sa Thạch ,đất nung và đồng , phần lớn là sa thạch có niên đại từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ XV thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau   được phân  theo các gian tương ứng với các khu vực địa lý nơi chúng được phát hiện như Mỹ Sơn ( thế kỷ thứ VII – VIII )  , Đồng Dương  ( thế kỷ thứ  IX ),  Trà Kiệu ( thế kỷ thứ X ) Tháp Mẫm  ( thế kỷ thứ  XII – XIV ) và các hành lang Quảng Trị , Quảng Nam , Quảng Ngãi , Kon Tum , Quảng Bình và Bình Định . Các tác phẩm  tiêu biểu của nền nghệ thuật này có một vẻ đẹp kỳ lạ độc đáo , gần gũi thiêng liêng , tinh tế  , một thế giới thần linh và kỳ bí  .. tất cả đều sống động , chi tiết và một sức hấp dẫn vô cùng mãnh liệt  . Đó là phần còn lại của cà một hệ thống tín ngưỡng , một kho tàng văn hóa phong phú .

Mặc dầu đã qua hai lần mở rộng , lần đầu là đầu năm 1930 – 1936  xây dựng thêm hai phòng trưng bày hai bên thẳng góc về phía trước của tòa nhà cũ,  để trưng bày các hiện vật thu thập được 1920 – 1930 Theo ý tưởng của Henri Parmentier,  hiện vật được phân loại để trưng bày theo nguồn gốc địa điểm nơi chúng được phát hiện hoặc khai quật. Không gian của toà nhà bảo tàng gần 1000 m2 đã được bố trí thành những khu vực trưng bày, tạm gọi tên như sau:

*Phòng Mỹ Sơn – Quảng Trị,

*Phòng Trà Kiệu,

*Phòng Đồng Dương,

*Phòng Tháp Mẫm

*các hành lang Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum.

Ngoài ra còn có một phòng nhỏ làm kho. Cách bố trí không gian trưng bày này cơ bản vẫn được duy trì cho đến hiện nay.

Lần thứ hai xây thêm một toà nhà hai tầng ở phía sau khu nhà cũ, với diện tích sử dụng khoảng 2.000 m2 dành cho việc trưng bày và hơn 500 m2 dành làm kho, xưởng phục chế và phòng làm việc. Tại tầng 1 của khu nhà mới này hiện đang trưng bày những hiện vật trước đó còn để trong kho và một số hiện vật sưu tầm được sau năm 1975. Tầng 2 trưng bày về văn hóa Chăm đương đại bao gồm sưu tập về trang phục, nhạc cụ và hình ảnh lễ hội của đồng bào dân tộc Chăm.

Sau hai lần mở rộng Toàn bộ toà nhà và phong cách kiến trúc ban đầu của bảo tàng vẫn còn giữ lại cho đến ngày nay

Trước năm 2007, Bảo tàng Điêu khắc Chăm là một bộ phận của cơ quan Bảo tàng Đà Nẵng. Ngày 02 tháng 7  năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa – Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng.

Hãy đến và hãy ghé tham quan bảo tàng  , đừng bỏ qua nếu bạn có dịp ghé thành phố Đà Nẵng , một điểm đến lý thú và đầy bất ngờ đối với khách du  lịch

Một số thông tin cần biết :

1/ ĐỊA CHỈ :

*Văn Phòng : số 01-  đường Trưng Nữ Vương – Đà Nẵng

*Lối vào tham quan : Số 02 – đường 2 tháng 9 – Đà Nẵng

*Lối ra : Số 02 B  – đương 2 tháng 9 – Đà nẵng

2/ ĐƯỜNG ĐẾN :

* Từ sân bay Đà Nẵng  : đến Bảo tàng khoảng 4 km

*Từ ga xe lửa Đà Nẵng : đến Bảo tàng khoảng 6 km

*Từ Hội An đến Bảo Tàng : Khoảng 30 km

3/ GIỜ MỞ CỬA :

* Từ 7 giờ đến 17 giờ 30 hằng ngày.

4/VÉ VÀO CỬA :

*Người lớn: 30.000 đồng/người

*Học sinh – sinh Viên : 5000 đồng / người  ( xuất trình thẻ  )

*Trẻ em dưới 16 tuổi : miễn phí

5/HƯỚNG DẪN VIÊN :

*Những đoàn khách từ 5 người trở lên có yêu cầu về hướng dẫn viên có thể liên hệ trước tại quầy vé để sắp xếp.

*Thời gian:

từ 8 g –  10 g 30

từ 14 g – 16 g 30.

6/ QUY ĐỊNH :

*Khách đến tham quan phải mua vé.

*Không được mang theo vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy vào Bảo tàng.

*Phải gửi hành lý ở phòng thường trực, lưu ý không để tiền, vật quý trong hành lý

*Không sờ vào hiện vật .

*Không hút thuốc trong các gian trưng bày. Giữ gìn trật tự vệ sinh.

*Được phép chụp ảnh, quay phim với máy cầm tay. Các chương trình quay phim, chụp ảnh đặc biệt phải được sự đồng ý của Bảo tàng. Không được sử dụng hình ảnh, phim về Bảo tàng ĐKC và về hiện vật của Bảo tàng ĐKC để in, đăng trên bất kỳ phương tiện thông tin nào, kể cả trên các trang web, khi chưa có sự cho phép của Bảo tàng Điêu khắc Chăm.

7/SƠ ĐỒ BẢO TÀNG

8/LƯU NIỆM :

*Cửa hàng lưu niệm tại hành lang của Bảo tàng hoạt động theo giờ mở cửa của Bảo tàng

9/LIÊN HỆ :

• Quầy vé:

– Tel: (511) 3470114

 • Bảo vệ:

– Tel:  (511) 3572414

 • Phòng Tổ chức – Hành chính:

– Tel: (511) 3470116
– Fax: (84 511) 3574801

 • Phòng Hướng dẫn – Tuyên truyền:
– Tel: (511) 357 2935

 • Phòng Sưu tầm – Bảo quản:
– Tel: (511) 3821951

 • Góp ý : ChamMuseum@gmail.com

Một số hình ảnh được chụp tại bảo tàng điêu khắc Chăm

This slideshow requires JavaScript.

Khanhhoathuynga

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »