Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Văn hóa Sa Huỳnh’

Kỷ niệm và triển lãm 100 hiện vật tiêu biểu văn hóa Sa Huỳnh

100namsahuynh

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội) hôm nay (8-7-2009) đã khai mạc triển lãm 100 hiện vật tiêu biểu của văn hoá Sa Huỳnh nhân kỷ niệm 100 năm phát hiện nền văn hoá này.

Mộ nồi úp bình được phát hiện tại di chỉ văn hoá Sa Huỳnh ở Hà Tĩnh.

Mộ nồi úp bình được phát hiện tại di chỉ văn hoá Sa Huỳnh ở Hà Tĩnh.

Từ năm 1909 đến nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều hiện vật quý làm sáng tỏ nguồn gốc, niên đại, chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh. Qua đó chứng minh nét bản địa của nền văn hoá này, cũng như sự giao lưu, tiếp biến với các nền văn hoá khác trong và ngoài nước.

Nhân dịp này, một hội thảo quốc tế mang tên “100 năm phát hiện, nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh” sẽ được tổ chức tại tỉnh Quảng Ngãi, từ ngày 20 đến ngày 24-7. Hội thảo do Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Khoa học xã hội Việt Nam và UBND tỉnh Quảng Ngãi thực hiện.

100 năm phát hiện di tích văn hóa Sa Huỳnh

Đã 100 năm kể từ ngày một người Pháp tên là M. Vinet có thông báo ngắn và sớm nhất về sự có mặt của di tích Sa Huỳnh trong tập san của Trường Viễn Đông Bác cổ. Từ đó đến nay, nền văn hóa mang tên một địa danh của huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, đã được xác lập, nghiên cứu sâu.

Sưu tập hiện vật gốm tập trung và điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh

Sưu tập hiện vật gốm tập trung và điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh

Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học, cho biết từ những tư liệu của các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước, có thể xác định về mặt niên đại đây là nền văn hóa thuộc thời đại Kim khí, khi con người đã biết đến việc chế tác và sử dụng kim loại.

Văn hóa Sa Huỳnh có niên đại vào khoảng 500 năm trước Công nguyên đến đầu Công nguyên. Đây là 1 trong 3 đỉnh của tam giác văn hóa Việt Nam cổ: Đông Sơn-Sa Huỳnh-Óc Eo.

Về địa bàn phân bố, văn hóa Sa Huỳnh phân bố chủ yếu ở miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Khu vực tìm được đậm đặc nhất di tích Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh chính là hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Các địa điểm có di tích thường tập trung ở ven biển, nhất là khu vực cửa các con sông lớn đổ ra biển như sông Trà Bồng, Trà Khúc hoặc các vịnh biển như Sa Huỳnh, Cam Ranh. Các di tích gồm có các khu mộ táng lớn, thường chôn trong các mộ vò hay chum mà các nhà khảo cổ Pháp gọi là “bãi mộ chum”.

Đồ gốm Sa Huỳnh có những loại hình đồ gốm khá phát triển như nồi, bát, bình con tiện, chậu, vò… Đồ gốm được trang trí rất đẹp bằng cách tô màu, khắc vạch, in vỏ sò, tô ánh chì đen.

Sa Huỳnh còn có chum gốm để chôn người chết. Những chum này có nắp đậy và tô màu đỏ, trang trí hoa văn khắc vạch ngoài thân. Đặc biệt, người Sa Huỳnh đã sáng tạo ra các loại khuyên tai độc đáo và có sức giao lưu lan tỏa khá rộng khắp các vùng Đông Nam Á.

Họ còn sáng tạo nhiều đồ trang sức thủy tinh như các loại hạt cườm, hạt chuỗi rất đẹp, trang sức mã não đỏ…

Vào khoảng đầu Công nguyên, cách đây khoảng 2.000 năm, văn hóa Sa Huỳnh có sự chuyển biến thành nền văn hóa Chăm. Khi đó, tộc người vẫn là người Chăm cổ, tức người Sa Huỳnh trước đó, nhưng nền văn hóa đã có sự thay đổi, tự thân vận động mà cũng có giao lưu mạnh mẽ với những nền văn hóa khác như Đại Việt ở miền Bắc, Hán ở phương Bắc, với Ấn Độ và các văn hóa đến từ phía tây như Thái Lan.

Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải cho biết trải qua 200 năm, vẫn có thể thấy được một số nét văn hóa Sa Huỳnh vẫn còn được lưu giữ tới ngày nay. Một số đồ trang sức của đồng bào dân tộc miền núi của miền Trung nước ta vẫn thích đeo đồ trang sức như cư dân Sa Huỳnh đã từng đeo. Đó là các loại hạt chuỗi mã não màu đỏ óng ánh.

Một số dân tộc ở tỉnh Quảng Nam ưa loại mã não này, thậm chí gần đây, một vài hạt mã não có thể đổi được cả một con trâu. Một số tộc người như người H’Rê ở Quảng Ngãi hiện còn đeo khá nhiều hạt cườm và hạt chuỗi giống hệt như cách đây hai ngàn năm.

Một số phong tục tập quán thể hiện trong cách chôn cất của người Sa Huỳnh có thể gặp được ở một số dân tộc Tây Nguyên trước đây. Việc người Sa Huỳnh rất thạo công việc luyện sắt cũng được một số dân tộc ở Tây Nguyên tiếp thu sau này.

Hình ảnh hiện vật triển lãm:

100namsahuynh-3

100namsahuynh-4

100namsahuynh-5

100namsahuynh-6

Khuyên tai 3 vầu

Khuyên tai 3 vầu

Khuyên tai 2 đầu thú

Khuyên tai 2 đầu thú

KhanhHoaThuyNga tổng hợp tin

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Ngôi đền Pô- Kluang Garai

Pô-Klaung Garai-1

Trên đỉnh của một trong ba ngọn tháp Chăm ở đền Pô-Klaung Garai (Phan Rang, Quản Nam – thế kỷ 14), có một hình khối kiến trúc khá xa lạ với kiến trúc của những ngôi tháp Chăm, nói chung, thường mang đậm ảnh hưởng của nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ, từ Trà Kiệu đến Mỹ Sơn. Hình khối kiến trúc xây bằng gạch đá nói trên có dáng vẻ của một ngôi nhà sàn mái hình thuyền, sống võng, mặt cắt hình vòm cuốn, hai đầu mái hồi tròn, hơi cong lên và nhô ra như kiểu nhà sàn mái hình thuyền của một vài dân tộc ở Papoua, Tân Guinée (Đại dương châu), hoặc của người Nhật Bản cổ đại.

Pô-Klaung Garai-2

Hai kiểu nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn,với mái võng và mái lồi.

Hai kiểu nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn,với mái võng và mái lồi.

Kiểu nhà sàn này là một biến thể của kiểu nhà sàn khắc trên trống đồng Đông Sơn, mà phiên bản trung thực nhất là kiểu nhà sàn bằng tre gỗ hiện vẫn tồn tại và được người Toradja sử dụng trong đời sống hàng ngày ở đảo Célèbes (ngày nay gọi là Sulawesi, thuộc Indonesia).

Mô hình nhà cổ đại Nhật Bản , mái hình thuyền bằng đất nung.

Mô hình nhà cổ đại Nhật Bản , mái hình thuyền bằng đất nung.

Hiện tượng này có ý nghĩa gì, nếu quả thật khối kiến trúc nói trên thể hiện hình tượng của một ngôi nhà sàn mái hình thuyền biến thể thuộc nền văn hoá Đông Sơn ? Chúng ta biết rằng, về mặt lịch sử và văn hoá, dân tộc Chăm có quan hệ mật thiết với một vài dân tộc Tây Nguyên thuộc ngữ hệ Nam đảo (Mã Lai-Đa đảo) : Giarai, Êđê , Churu, Raglai. Mà những dân tộc này đều là những dân tộc thuộc nền văn hoá Đông Sơn – theo nghĩa một nền văn hoá cổ, mà địa bàn là một vùng rộng lớn ở Đông Nam Á, có liên quan tới những chiếc trống đồng tìm thấy ở địa điểm Đông Sơn – nền văn hoá này được thể hiện qua một số biểu hiện văn hoá vật chất và tinh thần cụ thể, từ hoa văn trang trí trên y phục, đồ dùng trong nhà, đến kiến trúc, đến những tục lệ, truyền thống lễ hội, huyền thoại, v.v.

Bản thân dân tộc Chăm – theo giả thuyết của nhà tiền sử học Heine-Geldern về lộ trình của chiếc rìu đá có mộng – có thể có cùng nguồn gốc Nam đảo với những dân tộc kể trên, mà tổ tiên, trong khoảng thời gian 1000 năm, giữa 2500 -1500 tr. C.N., đã di cư từ vùng Vân Nam xuống (cư dân Bách Việt ?), xuyên qua bán đảo Mã Lai, quần đảo Indonesia, các đảo thuộc Đại dương châu, vòng lên đến Đài Loan, Nhật Bản. Một bộ phận của những tộc người này có thể đã xâm nhập vùng Tây Nguyên Việt Nam, nhưng đã bị những tộc người thuộc ngữ hệ Môn-Khmer có mặt ở đây từ trước xua đuổi đi. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, ở vào một thời điểm có thể cũng không muộn hơn, những tộc người gốc Mã Lai – Đa đảo kể trên, trong đó có tổ tiên của người Chăm, đã từ biển đông xâm nhập vào vùng ven biển miền trung Việt Nam. Sau đó, do tiếp thu văn hoá Ấn Độ, bắt đầu từ những thế kỷ đầu Công Nguyên, người Chăm đã phát triển lên thành một quốc gia lớn mạnh (vương quốc Lâm Ấp), và đã dồn những tộc người gốc Nam đảo kém phát triển hơn lên vùng Tây Nguyên. « Có thể người Giarai đã tràn lên vùng cao nguyên Pleiku và vùng bình nguyên Ayun Pa Cheo Reo theo đường đèo An Khê và đường Cung Sơn. Người Êđê và người Churu thì lên cao nguyên Đắc Lắc bằng đường đèo Phượng Hoàng hiện nay. Những nhóm người tràn lên đã chẻ đôi khối người Môn-Khơme có trên Tây Nguyên từ trước : một khối cư trú từ nửa tỉnh Gia Lai trở ra phía bắc, gồm người Bana, Xơđăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơmâm, v.v., và một khối từ nửatỉnh Đắc Lắc trở vào phía nam, gồm người Mơnông, Mạ, Koho, v.v. » (theoNguyên Ngọc, Một số vấn đề văn hoá xã hội, Tập san nghiên cứu NGOKLINH, số 1 – 2001)

Con đường truyền bá của chiếc rìu đá có mộng (khoảng từ 2500 đến 1500 trước C.N., theo nhà tiền sử học Heine-Geldern).

Con đường truyền bá của chiếc rìu đá có mộng (khoảng từ 2500 đến 1500 trước C.N., theo nhà tiền sử học Heine-Geldern).

Gần đây, nhà nghiên cứu Stephen Oppenheimer đưa ra một giả thuyết độc đáo về sự kiện lục địa Sunda bị ngập chìm do trận Đại Hồng Thuỷ gây nên cách đây khoảng 8000 năm, do đó, tổ tiên của người Chăm và một vài tộc người ở Tây Nguyên, thuộc ngữ hệ Nam đảo, không phải là từ miền nam Trung Quốc, hoặc từ Đài Loan di chuyển xuống phía nam vào thiên niên kỷ II trước Công Nguyên, như theo giả thuyết của Bellwood/Blust, hoặc của Heine-Geldern, mà ngược lại, đã xuất phát từ vùng tây bắc đảo Bornéo (Indonesia), một mặt đi ngược trở lên phía bắc(ngược lên các con sông lớn) đến Phi Luật Tân, miền trung Việt Nam (Lâm Ấp, Chiêm Thành) và Đài Loan ; một mặt đi sang phía tây : đến các vùng miền tây Indonesia, Mã Lai, v.v. ; một mặt đi về phía nam : các đảo ở Đại dương châu…(theo Nguyễn Quang Trọng, Địa đàng ở phương Đông, DĐ, số 127, 3-2003).

Cho đến nay, người ta biết rằng người Chăm, cũng như các cư dân của vương quốc Phù Nam, thuộc nền văn hoá Sa Huỳnh, có niên đại từ 500 tr. C.N. đến 100 sau C.N., mà địa bàn trải dài từ Quảng Nam đến Nam bộ (Đồng Nai, Cần Giờ). Nhưng người Chăm đến vùng đất này có thể đã cả ngàn năm trước đó rồi (xem các giả thuyết đã dẫn), vậy chắc hẳn họ đã có cả một nền văn hoá cổ khác nữa ? Nếu đem so sánh các biểu hiện văn hoá nghệ thuật của người Chăm với một số dân tộc Tây Nguyên, người ta có thể khẳng định được rằng người Chăm đã từng thuộc cùng một nền văn hoá với họ : văn hoá Đông Sơn.

Lục địa Sunda trước khi bị ngập chìm trong trận Đại Hồng Thuỷ cách đây khoảng 8000 năm, theo giả thuyết của Stephen Oppenheimer.

Lục địa Sunda trước khi bị ngập chìm trong trận Đại Hồng Thuỷ cách đây khoảng 8000 năm, theo giả thuyết của Stephen Oppenheimer.

Qua những phát hiện khảo cổ học mới đây ở Gò Mả Vôi (xem Nguyễn Quang Trọng, Những phát hiện mới về văn hoá Sa Huỳnh…, DĐ số 140, 4-2004). , người ta có thể thấy được rằngnền văn hoá Sa Huỳnh khác hẳn với nền văn hoá Đông Sơn trên nhiều điểm : sự phong phú của các hiện vật bằng sắt, trình độ kỹ thuật sản xuất đồ trang sức, và nhất là đồ thuỷ tinh rất tinh xảo, v.v. Tuy nhiên, cho tới nay, người ta vẫn chưa biết gì mấy về những truyền thống kiến trúc cổ trong nền văn hoá này, ngoại trừ những dấu tích cột chống đã mục nát của những ngôi nhà sàn. Người ta chỉ biết đến những di tích kiến trúc đền đài bằng gạch đá của người Chăm : Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Hoà Lai, Tháp Mắm, v.v. Đó là những sản phẩm văn hoá mang đậm ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ. Nhưng trước khi có nền kiến trúc bằng gạch đá, chắc hẳn dân tộc này cũng đã phải trải qua thời kỳ xây cất bằng tre, gỗ ? Người Chăm không để lại những ngôi nhà sàn mái nhô, hoặc sống võng, hay sống lồi, như một số dân tộc Tây Nguyên, có lẽ vì họ đã đi vào sản xuất nông nghiệp ngay từ sớm ở các vùng đồng bằng (lúa Chiêm), nhưng người ta biết chắc chắn rằng dân tộc Chăm có một truyền thống ở nhà sàn từ lâu đời : dấu tích những ngôi nhà sàn ở Hội An được ghi lại bằng hình vẽ trong sử liệu Giao Chỉ Độ Hải Đồ của Chaya Shinoku, người Nhật Bản, thế kỷ 17 – xem Văn Ngọc, Từ trong lũ lụt nghĩ đến tương lai đô thị cổ Hội An, DĐ số tháng 1-2000 ).

Truyền thống ở nhà sàn này vẫn được tiếp tục một cách mạnh mẽ và bền bỉ bởi những người Chăm hiện đang cư ngụ tại một số vùng ngập trũng, hoặc gần sông nước ở Việt Nam (chủ yếu là để tránh lũ lụt !).

Người Giarai và người Êđê cho tới gần đây vẫn còn giữ truyền thống xây nhà dài, nhà rông, nhà kho, và nhà ở theo kiểu « hạ thu thượng khuếch », nhưng mái nhà của họ là kiểu mái có sống lồi, cũng giống như ngôi nhà làng của người Bana, Xơđăng, v.v. Tuy nhiên, kiểu nhà này, cũng như kiểu nhà có mái hồi tròn của người Cơtu, Stiêng, vẫn được coi như thuộc kiểu nhà khởi nguyên thuộc nền văn hoá Đông Sơn. Người Dayak (Indonesia) cho rằng hai dạng nhà sàn khắc trên trống đồng Đông Sơn (nhà sàn hình thuyền mái võng và nhà cầu mưa mái lồi) đều thuộc dạng nhà khởi nguyên : nhà sống võng gắn với các biểu tượng chim – núi – thế giới bên trên – mặt trời – đàn ông…, còn nhà sống lồi gắn với các biểu tượng rắn nước – sông – thế giới bên dưới – mặt trăng – đàn bà, v.v. Ngôi nhà cổ truyền của người Toradja (đảo Célèbes, Indonesia) được coi là biểu tượng của con thuyền, với mô típ trang trí chủ yếu là đầu con trâu, tuy nhiên mô típ chim/gà vẫn được chạm khắc hoặc vẽ ở mặt trước nhà cùng với mô típ mặt trời như trên trống đồng Đông Sơn (theo Tạ Đức, Truyền thống Đông Sơn…Tạp san nghiên cứu NGOK LINH, số 2 , 6-2001).

Hình dáng ngôi nhà sàn mái hình thuyền trên đỉnh ngọn tháp Chăm ở đền Pô- Kluang Garai gợi nghĩ đến những ngôi nhà sàn Đông Sơn có mái hồi tròn của người Cơ tu, Stiêng, của người Nhật Bản cổ đại, và của những tộc người ở Papoua, Tân Guinée, v.v.

Quần thể đền Pô-Kluang Garai ở Phan Rang (thế kỷ 14), với ngôi nhà hình thuyền nằm ngang trn một trong ba ngọn

Quần thể đền Pô-Kluang Garai ở Phan Rang (thế kỷ 14), với ngôi nhà hình thuyền nằm ngang trn một trong ba ngọn

Vậy, với ý nghĩa gì, và với động cơ nào, Chế Mân (tức Jaya Simhavarman III), vị vua Chăm ở thế kỷ 14, hôn phu của Huyền Trân Công chúa, đã cho xây ngôi đền này, với hình tượng ngôi nhà sàn mái hình thuyền trên đỉnh một trong ba ngọn tháp ? Đây không thể là một sự tình cờ, mà chỉ có thể là do một sự liên tưởng nào đó tới nền văn hoá cổ của người Chăm ? Cũng có thể, đây chỉ là một ý tưởng thẩm mỹ, một nét chấm phá nghệ thuật ? Hoặc giả, đằng sau tác phẩm kiến trúc, còn có một giai thoại nào khác, một mối tình cảm động, như trường hợp cung Tadj Mahal (Ấn Độ) ? Còn cái tên của ngôi đền : Pô-Kluang Garai, không biết có liên quan gì với tộc người Giarai không ?… Dẫu sao, đây cũng là biểu hiện của một cuộc giao thoa văn hoá độc đáo, ít nhất giữa ba nền văn hoá cổ đã từng có mặt trên mảnh đất miền trung này : đó là văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh, và văn hoá Ấn Độ. Đồng thời, về mặt mỹ thuật, Pô-Klaung Garai là biểu hiện của một nền nghệ thuật

đã đạt đến độ chín muồi ở thế kỷ 14 : rất có thể là nó đang manh nha tìm cách thoát khỏi những ràng buộc về qui ước của nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ, mà nó đã chịu ảnh hưởng trong nhiều thế kỷ. Đáng tiếc thay, đây cũng là một trong những biểu hiện cuối cùng của nghệ thuật Chăm, trước khi vương quốc này đi vào suy vong.

TÓM TẮT

Đền Pô-Klaung Garai là biểu hiện của một cuộc giao thoa văn hoá độc đáo, ít nhất giữa ba nền văn hoá cổ đã từng có mặt trên mảnh đất miền trung Việt Nam : đó là văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh, và văn hoá Ấn Độ.

Phạm ngọc Tới

Các bài đã đăng :

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Dấu tích Champa trên đất Bình Định

Nghiên cứu khoa học ngày nay cho biết rằng cư dân lâu đời của dải đất miền Trung, trong đó có Bình Định, là chủ nhân một nền văn hóa được đặt tên là văn hóa Sa Huỳnh. Những dấu vết đầu tiên của nền văn hóa này lần đầu tiên được biết đến nhờ các cuộc khai quật của một nhà khảo cổ học nữ, bà Labarre, vào năm 1909. Sau đó, năm 1924, H. Parmantire tập hợp lại, cho công bố trên tạp chí của trường Viễn Đông Bác Cổ.


thap chăm BĐ
Cách đây trên dưới 4.000 năm, trên đất Bình Định ngày nay đã có người cổ sinh sống.

Theo quan điểm của các chuyên gia, văn hóa Sa Huỳnh thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt, có niên đại vào giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Tuy nhiên, tổ tiên của chủ nhân nền văn hóa này là ai? Những dạng thức văn hóa nào đã phát triển lên thành Sa Huỳnh? Đang là những câu hỏi lớn đặt ra cho giới khảo cổ học tiếp tục đi sâu nghiên cứu.

Vào cuối những năm 70, một số cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành trên đất Bình Định đã có những đóng góp quan trọng. Kết quả khai quật các di chỉ ở Long Thạnh và Bình Châu vào năm 1978 đã hé mở những khả năng hiểu sâu thêm về thời kỳ tiền Sa Huỳnh. Di chỉ Long Thạnh được đoán định vào sơ kỳ thời đại đồ đồng thau, có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500-4.000 năm. Đây là di chỉ khảo cổ liên quan đến văn hóa Sa Huỳnh sớm nhất mà khoa học biết đến. Di chỉ Bình Châu ở vào giai đoạn muộn hơn, thuộc Trung kỳ đồng thau, cũng cách ngày nay tới trên dưới 3.000 năm.

Vào cuối năm 1979, trên một trảng cát gần đầm Trà Ổ có tên gọi Truông Xe (thuộc xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ), các nhà khảo cổ lại phát hiện thêm một di chỉ thuộc thời kỳ tiền Sa Huỳnh. Trong tầng văn hóa, người ta tìm thấy những mảnh gốm màu nâu đỏ, nâu xám, xương gốm có lẫn cát và vỏ nhuyễn thể với trang trí chủ yếu là văn thừng, khắc vạch, chấm vải và một ít ô trám. Đó là mảnh vỡ của các bình, lọ và nắp vò. Phân tích kỹ thuật cho thấy những loại gốm này độ nung không cao. Ngoài gốm, trong di chỉ còn tìm được rìu đá, đục, bàn mài và chày nghiền. Dựa vào loại hình và kết cấu địa tầng, có thể đoán định niên đại của di chỉ này vào khoảng 3.000 năm.

Không nghi ngờ gì nữa, cách đây trên dưới 4.000 năm, trên đất Bình Định ngày nay đã có người cổ sinh sống. Họ là một trong những nhóm cư dân xây nền đắp móng cho văn hóa Sa Huỳnh. Rất có thể đó chính là những nhóm người thuộc bộ lạc Dừa mà các bi ký và truyện cổ dân gian Chàm đã nhắc đến.

Vào năm 111 trước Công nguyên, sau khi đánh bại nước Nam Việt của họ Triệu, giành quyền cai trị nước Âu Lạc, nhà Hán đã cho quân tiến sâu xuống phương Nam, chiếm lấy địa bàn cư trú của bộ lạc Dừa, lập ra quận Nhật Nam. Trong suốt thời gian gần 3 thế kỷ, nhân dân vùng này đã cùng chung cảnh ngộ với dân Việt ở hai quận Giao Chỉ và Cửu Châu, bị đô hộ bởi chính quyền Hán tộc ở Giao Châu và cũng đã nhất tề nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Cuối thế kỷ thứ II, đời Sơ Bình (190-193), nhân Trung Quốc có loạn, nhân dân bộ lạc Dừa, dưới sự lãnh đạo của Khu Liên, đã nổi dậy chống lại ách cai trị của chính quyền đô hộ, lập ra một quốc gia độc lập có tên gọi trong các thư tịch cổ Trung Quốc là Lâm ấp, sau này được gọi là Champa trong các bi ký cổ. Kết hợp với những cư dân ở phía Nam đèo Cù Mông, thuộc bộ lạc Cau, từ đầu thế kỷ thứ VI đến đầu thế kỷ thứ VIII, dưới vương triều Gangaraja, Champa bước vào giai đoạn phát triển khá mạnh mẽ. Lúc này kinh đô của Champa được xây dựng tại thành phố Indrapura (thành phố Sư tử). Các nhà nghiên cứu cho rằng kinh đô đó tương ứng với Trà Kiệu, một địa điểm gần bờ nam sông Thu Bồn, thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Đây là thời kỳ ưu thế chính trị thuộc về bộ phận quý tộc phía Bắc. Ở phía Tây kinh thành (tương đương với vùng Mỹ Sơn), một thánh địa lớn được xây dựng.

Nhưng từ giữa thế kỷ VIII, quyền lực dần chuyển về tay các quý tộc Nam Champa và kinh đô cũng được chuyển vào Panduranga (Phan Rang). Chính vì vậy mà lịch sử Champa giai đoạn từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX thường được gọi là thời kỳ trị vì của vương triều Panduranga. Một trung tâm tôn giáo mới cũng được xây dựng ở Kauthara (Nha Trang), được gọi là Po Nagar (đền thờ quốc Vương).

Sang đến giữa thế kỷ IX, ưu thế chính trị lại một lần nữa thuộc về Bắc Champa. Một thành phố mới mang tên thần Indra (Indrapura) lại được xây dựng ở phía Bắc làm kinh đô. Địa điểm kinh đô mới này thuộc địa phận làng Đồng Dương (huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), trên bờ sông Ly Ly (một nhánh sông Thu Bồn), cách Trà Kiệu khoảng 15km về phía Đông – Nam.

Sau khi vương triều Indrapura chấm dứt vào khoảng năm 982-983, kinh đô được dời chuyển vào Vijaya (Chà Bàn). Từ đây, vùng đất Bình Định xưa trở thành đế đô của vương quốc Champa và phát triển phồn thịnh cho đến tận năm 1471. Trong thời gian trên dưới năm thế kỷ, biết bao thăng trầm của lịch sử đã diễn ra trên vùng đất này.

Champa là quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh Ấn Độ. Nhưng bằng sức lao động và óc sáng tạo, người Champa cổ đã kết hợp nhiều yếu tố tiếp thu được với bản sắc riêng của mình tạo nên một nền văn hóa độc đáo. Trên đất Bình Định nay còn để lại không ít di tích của một thời vàng son, mà điển hình là hệ thống tháp cổ với 8 cụm tháp gồm 14 ngôi tháp độc đáo và bí ẩn.

Chú thích : Long Thạnh , Bình Châu thuộc Quảng Ngãi

(Theo báo Bình Định)

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Văn hóa Sa Huỳnh trên đất Bình Định

Vào đầu tháng 7 năm nay, UBND tỉnh Quảng Ngãi sẽ tổ chức hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày tìm ra dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh. Trong dịp này, Bình Định là một trong những tỉnh được mời tham dự hội thảo và trưng bày những cổ vật về Văn hóa Sa Huỳnh được khai quật và phát hiện trong những năm qua trên địa bàn tỉnh.

VH sahuynh 01

Đồ gốm tùy táng, khai quật tại Động Cườm.


Những dấu tích văn hóa thời tiền sử ở khu vực miền Trung lần đầu tiên được biết từ năm 1909 và đã được một học giả người Pháp thông báo sơ lược, với việc phát hiện khoảng trên 200 quan tài bằng gốm (gọi là mộ chum hay mộ vò) tại cồn cát ven biển vùng Sa Huỳnh (thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi), từ đó những khu di tích mang yếu tố mộ chum này được gọi tên chung là Văn hóa Sa Huỳnh. Nhưng cuộc tìm kiếm lúc đó chỉ là những cuộc đào bới tìm đồ cổ, chứ không mang tính khoa học về khảo cổ học. Từ năm 1954 trở về trước, người ta chỉ biết được một cách tương đối về sự phân bố của Văn hóa Sa Huỳnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975, với nhiều phát hiện mới đã khẳng định thêm sự có mặt của những nhóm văn hóa này ở cả vùng Đông Nam bộ. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, giới khảo cổ học nước ta đã tiến hành phúc tra những địa điểm khảo cổ học cũ, đồng thời phát hiện, nghiên cứu và khai quật thêm nhiều địa điểm mới. Cho đến nay, giới nghiên cứu đã thống nhất cho rằng Văn hóa Sa Huỳnh là một tập hợp di tích khảo cổ học từ thời đại Đồng thau và Sắt sớm, phân bố trong một khu vực liền khoảnh từ Quảng Bình cho đến Đồng Nai và có những đặc trưng văn hóa giống nhau, phát triển theo từng thời gian.

Đối với Bình Định, việc nghiên cứu điều tra khảo cổ học, chỉ mới được tiến hành sau năm 1975, với nhiều di chỉ đào thám sát và khai quật trong những năm qua cũng đủ cứ liệu để khẳng định từ hậu kỳ Đồng thau và Sắt sớm cách ngày nay khoảng 2.000 đến 3.500 năm, vùng đất Bình Định đã có con người tiền sử đến định cư và sinh sống. Cho đến nay, trên vùng đất Bình Định đã phát hiện được khá nhiều các di tích thuộc Văn hóa Sa Huỳnh, cũng như những nơi khác, con người Sa Huỳnh có một đặc điểm chung là họ sống ở những cồn cát và chết vùi trong cát, ven biển miền Duyên hải, các rìa cạnh đầm nước ngọt. Di tích Văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định tập trung nhiều nhất ở hai huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ và thành phố Quy Nhơn.

Tại các di tích Truông Xe, Gò Lồi, Thuận Đạo, Chánh Trạch thuộc các xã Mỹ Thắng, Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ); Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp (thuộc TP Quy Nhơn) (các di tích này đã được phát hiện năm 1977 – 1978), Viện Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát và đào thám sát. Trong các lần khảo sát và khai quật tại các di tích này, trong tầng văn hóa đã thu được hiện vật thuộc nền Văn hóa Sa Huỳnh, nhiều loại hình như: rìu đá hình răng trâu, rìu tứ giác, đục nhỏ hình lưỡi xòe, bàn mài, chày nghiền, vò táng bằng gốm chôn đứng có dáng hình trứng, và mộ vò có hình bầu dục có vò nhỏ khác úp lên trên. Hiện vật tìm thấy trong mộ gồm: bình gốm, nồi minh khí, rìu đá hình chữ nhật, rìu hình răng trâu, vòng tay đá, hòn kê, mảnh vòng đeo tay bằng gốm hoa văn hình sống trâu và nhiều mảnh gốm hoa văn trang trí trên gốm là các kiểu hoa văn như: khắc vạch, chấm đôi, văn chải, cắt chéo hình ô trám. Theo giới nghiên cứu, trong các di tích trên, hai di tích Truông Xe và Gò Lồi thuộc giai đoạn sơ kỳ thời đại Đồng thau; các di tích Thuận Đạo, Chánh Trạch, Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp có niên đại muộn hơn – sơ kỳ đồ Sắt.

Đồ trang sức - vật tùy táng khai quật tại Động Cườm

Đồ trang sức - vật tùy táng khai quật tại Động Cườm

Giai đoạn sơ kỳ đồ Sắt cách ngày nay từ 2.500 năm đến đầu Công nguyên, dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh còn tìm thấy ở huyện Hoài Nhơn, địa điểm này đã được Colani (học giả Pháp) thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ khảo sát và khai quật năm 1934. Qua nhật ký của bà ghi chép, ở Hoài Nhơn có các điểm: Động Cườm (Tăng Long 2 – Tam Quan Nam), Phú Nhuận, động Bàu Năng ở làng Ca Công (Hoài Hương) và động Công Lương (Hoài Mỹ), Bà Ná, Đông Phù. Di chỉ Động Cườm đã được Bảo tàng Bình Định đào thám sát năm 2001 và năm 2002 -2003 phối hợp với Viện Khảo cổ học, Bảo tàng lịch sử Việt Nam tổ chức khai quật, với diện tích đào trên 300 m2, đã phát hiện được trên 50 mộ chum và mộ nồi chôn úp nhau, mật độ phân bố mộ chum khá dày, khoảng cách từ 20-35cm. Giới nghiên cứu cho rằng, sự táng tục thành cụm là sự thể hiện dấu vết của tôn giáo nguyên thủy và thể hiện tính cộng đồng của cư dân Sa Huỳnh trong khi sống và đến lúc chết. Mộ Động Cườm với hai kiểu dáng: dáng thân hình bầu tròn, miệng bẻ loe xiên; và một loại mộ thân hình trụ, đáy bầu tròn, vai hơi bóp vào, miệng bẻ loe xiên. Nắp đậy hình nón cụt, miệng bẻ loe, thành hơi bóp, vành vê tròn rồi bẻ loe ra ngoài, bên ngoài phía trên trang trí hoa văn khắc vạch, mô típ hình thoi cách điệu.

Hiện vật thu được tại Động Cườm là những đồ tùy táng chôn theo trong mộ, trong đó có nhiều hiện vật nguyên, bao gồm: nồi, bát bồng, dao găm, kiếm, dọi xe sợi. Hàng ngàn mảnh gốm bao gồm các loại hình như thân, nắp, mảnh nồi, mảnh miệng… Với những kết quả thu được đã khẳng định Động Cườm là một khu mộ táng và có thể là cả nơi cư trú của cư dân Sa Hùynh, một di tích rất có giá trị nghiên cứu về những cư dân tiền sử trên đất Bình Định nói riêng và cư dân Văn hóa Sa Huỳnh ở khu vực miền Trung Việt Nam nói chung. Người ta chôn theo người chết đồ gốm, đồ trang sức, công cụ lao động, vũ khí như một hình thức chia của để người chết sử dụng trong “thế giới bên kia”. Nhiều đồ gốm được tìm thấy bên trong và quanh các mộ chum. Đồ gốm giai đoạn này có độ nung khá cao, hoa văn trang trí không còn được chú trọng như ở giai đoạn trước, gốm tô thổ hoàng và than chì, nhiều dọi xe sợi bằng đất nung được tìm thấy, đồng thời dấu vết của vải cũng in lại trên một số đồ gốm và sắt, cho thấy vào giai đoạn này người ta đã biết dệt vải. Đồ trang sức rất phong phú về loại hình lẫn số lượng gồm có: hạt chuỗi được làm bằng thủy tinh xanh, đá màu vàng, nâu, trắng, tím, nhiều hạt chuỗi được làm bằng mã não; khuyên tai 3 mấu bằng gốm, bằng đá; vòng đeo tay bằng thủy tinh. Ở Bình Định hiện nay chưa phát hiện được loại hình trang sức khuyên tai hai đầu thú – đây là loại trang sức rất phổ biến của cư dân Sa Huỳnh.

Qua các di vật tìm thấy cho ta những nhận thức về Văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định có hai giai đoạn: Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh muộn. Thời kỳ Tiền Sa Huỳnh, người ta còn sử dụng nhiều những công cụ bằng đá, đến giai đoạn Sa Huỳnh muộn, công cụ sản xuất bằng đá không còn, thay vào đó là những công cụ bằng sắt. Đồ sắt được chôn theo gồm các loại dao, rìu, kiếm, dáo… là những loại công cụ lao động và vũ khí phổ biến trong giai đoạn muộn của Văn hóa Sa Huỳnh. Đồ sắt được làm bằng phương pháp rèn nóng, người ta đã biết làm tăng độ cứng của sắt bằng phương pháp thấm than.

Trong các mộ chum ở Động Cườm có thể thấy sức sản xuất của người cổ Sa Huỳnh khá cao, họ là những cư dân nông nghiệp biết trồng lúa nước, biết khai thác những sản vật của rừng và biển, biết dệt vải, rèn sắt, nấu thủy tinh, làm đồ trang sức… Sức sản xuất phát triển, của cải vật chất ngày càng nhiều tất yếu dẫn đến sự phân hóa xã hội, điều này thể hiện qua các di vật được chôn theo, có chum chôn nhiều đồ mã não, đồ sắt, đồ trang sức, có chum chỉ chôn vài món đồ gốm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ở giai đoạn muộn của Văn hóa Sa Huỳnh, khu vực này đã có những nhà nước sơ khai, vào những thế kỷ I-II trước Công nguyên, vùng Đông – Nam Á đã xuất hiện những cảng thị làm nơi giao dịch của cư dân lục địa với cư dân các hải đảo, những nhà nước sơ khai ấy đã chi phối mọi hoạt động của các cư dân trong một khu vực rộng lớn, từ khu vực vùng cửa sông đến vùng thượng nguồn, sản vật ở vùng thượng nguồn được vận chuyển xuống vùng hạ lưu để trao đổi với các nơi khác.

Mộ chum, mộ nồi - khai quật tại Động Cườm.

Mộ chum, mộ nồi - khai quật tại Động Cườm.

Nói về phong tục mai táng trong vò của cư dân Sa Huỳnh, hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa có đủ cứ liệu về tục cải táng hay hỏa táng, chôn nguyên hay chôn từng bộ phận xác. Tục mai táng trong vò của người Sa Huỳnh – chôn đứng có nắp đậy – là một trong những truyền thống mai táng nổi bật ở Đông – Nam Á trong thời đại Kim khí. Các vò táng Sa Huỳnh, kể cả chum lớn, cũng khó mà tin được là để dùng cho việc chôn nguyên thi thể người lớn. Việc bố trí đồ tùy táng, đặc biệt là đồ gốm, cho thấy không có tục chôn nguyên người lớn trong vò. Các bình gốm tùy táng được đặt trong vò với tư thế đứng ở đáy phần lớn còn nguyên dạng không bị vỡ nát, chứng tỏ không có trường hợp chôn người trên các bình gốm tùy táng và việc không có xương người lớn cũng nói lên điều này. Tuy nhiên, trong các khu mộ Sa Huỳnh không thấy khu mộ nào chôn nguyên xác, do vậy, nhiều khả năng cư dân Sa Huỳnh đã “trả” xác về với thần Biển. Đây là quan niệm và tập tục mai táng của cư dân vùng biển ở nhiều khu vực trên thế giới vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Cuộc sống của họ luôn gắn với biển, phụ thuộc vào biển, vì vậy họ tôn thờ thần Biển. Đưa người chết về với biển có thể hoàn thành một vòng luân hồi của tạo hóa: Con người từ tự nhiên sinh ra và trở về với tự nhiên (biển). Những ngôi mộ vò trên mặt đất có lẽ là những mái nhà hoặc các ngôi mộ tượng trưng để các linh hồn có chỗ trú ngụ trên quê quán. Vì vậy, không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà người ta tìm thấy các mộ Sa Huỳnh tập trung theo từng nhóm, nằm thẳng hàng trật tự trên cùng một bình diện địa tầng và đôi chiếc còn có lỗ thủng nhân tạo ở đáy vò như ô cửa để linh hồn ra vào; còn trẻ thơ thì được chôn nguyên trong vò vì chúng còn non dại cần được sự che chở của người lớn, do vậy chúng thường được chôn ngay trong nơi cư trú.

Cũng trong giai đoạn tiền sử, một loại hình di tích khác cũng được phát hiện trên đất Bình Định đó là những điểm phát hiện trống đồng Đông Sơn. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định đã phát hiện được 14 chiếc trống đồng. Sự xuất hiện của trống đồng thuộc Văn hóa Đông Sơn đã phản ánh một thực tế, từ sơ kỳ Đồng thau và Sắt sớm, cư dân Sa Huỳnh đã có mối giao lưu với các nền văn hóa đương đại ở Việt Nam và Đông – Nam Á. Sự tiếp biến văn hóa mạnh mẽ với các nền văn hóa rực rỡ trong khu vực kế cận như Đông Sơn (phía Bắc), Dốc Chùa (phía Nam) và cả với Thái Lan, đã cho đỉnh cao Sa Huỳnh một mô thức văn hóa đa dạng với sắc thái riêng. Rõ ràng trong mối quan hệ qua lại nhiều chiều của Văn hóa Sa Huỳnh, người ta đã thấy bóng dáng của Văn hóa Đông Sơn in đậm trên vùng đất Bình Định.

Tham gia Hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày tìm ra dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh sẽ được UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức vào tháng 7 năm nay là dịp để Bảo tàng Bình Định mở rộng phạm vi hoạt động, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc theo định hướng xã hội hóa các hoạt động bảo tàng trong giai đoạn hiện nay.

* Hồ Thùy Trang ( Báo Bình Định )

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »