Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Văn hóa Đông Sơn’

Phát hiện mới về văn hoá Đông Sơn

Ngày 22.6.2009, một số đồ đồng Đông Sơn đã được phát hiện ở vùng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh). Hiện vật không lạ, nhưng góp thêm một bằng chứng thuyết phục về quá trình làm chủ biển Đông từ lâu của cha ông ta.

Hiện vật Đông Sơn được tìm thấy ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) - Ảnh do Bảo tàng Hà Tĩnh cung cấp

Hiện vật Đông Sơn được tìm thấy ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) - Ảnh do Bảo tàng Hà Tĩnh cung cấp

Theo tin từ Sở VHTTDL Hà Tĩnh, ngư dân xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ Anh vừa thu được 2 hiện vật của văn hoá Đông Sơn nằm đã hơn 2.000 năm dưới đáy đại dương trong một chuyến ra khơi đánh cá. Nơi tìm được các hiện vật này có độ sâu khoảng 10m, thuộc vùng biển Vũng Áng, cách đất liền thuộc địa phận xóm Hải Phong của xã vào khoảng 2km.

Hiện vật thứ nhất là chiếc giáo đồng có họng tròn, dài, lưỡi hình lá, có sống nổi, dài 38cm. Đây là chiếc giáo thuộc loại hình quen thuộc của văn hoá Đông Sơn. Hiện vật thứ hai là chiếc rìu đồng xoè cân, cao 13cm.


Lưỡi rìu cong tròn đều đặn, họng rìu gần có hình đuôi cá, mặt cắt ngang họng có hình lục giác. Hai bên góc lưỡi nhô ra như hai mấu tròn. Mặt lưỡi có hoa văn đường chỉ nổi. Loại hình rìu này khá giống với loại rìu xoè cân đặc trưng cho lưu vực sông Lam của văn hoá Đông Sơn, tìm thấy nhiều ở địa điểm khảo cổ học Làng Vạc nổi tiếng, thuộc huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) và giống với nhiều chiếc rìu đồng xoè cân ở Indonesia.

Việc tìm thấy hai hiện vật chắc chắn của văn hoá Đông Sơn ở trong lòng biển khơi đã mang một ý nghĩa quan trọng.

Trước tiên, đây là lần đầu tiên tìm được hiện vật Đông Sơn ở vùng thềm lục địa VN, mở ra một khả năng còn tìm thấy nhiều hiện vật Đông Sơn ở khu vực này nữa. Đã đến lúc cần xúc tiến nhanh hơn việc ra đời một ngành khảo cổ học dưới nước, như nhiều nước ở Đông Nam Á đã có, để nghiên cứu những gì còn trong lòng biển Đông của các nền văn minh cổ xưa ở ta, bắt đầu từ các hiện vật đá của văn hoá Hoà Bình cách đây một vạn năm đến văn hoá Đông Sơn, các con tàu chìm của các triều đại phong kiến.

Bản đồ con đường giao lưu trên biển của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, chủ nhân văn hóa Đông Sơn

Bản đồ con đường giao lưu trên biển của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, chủ nhân văn hóa Đông Sơn

Việc tìm thấy hiện vật Đông Sơn dưới đáy biển đã bổ sung một chứng cớ tối quan trọng về việc làm chủ biển Đông của người Việt cổ: Từ lâu, các nhà khoa học đã tìm được nhiều hiện vật Đông Sơn ở các vùng đảo xa gần khắp Đông Nam Á.

Họ cũng đã nghĩ đến việc người Đông Sơn đóng thuyền để giao lưu văn hoá với nhiều khu vực lân bang, tuy nhiên, chứng cớ trực tiếp của việc đi biển thì chưa có. Nay với phát hiện này, đã khẳng định người Đông Sơn đã đi biển và họ đã để lại dấu vết hiện vật trong lòng biển.

Theo những nghiên cứu mới đây, chúng ta lại càng có cơ sở để khẳng định: Bằng con đường biển, người Đông Sơn đã để lại vết tích vật chất của mình xa nhất về phía bắc là chiếc trống đồng minh khí trong khu mộ Thượng Mã Sơn, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc). Về phía nam, một loạt trống Đông Sơn đã có mặt ở vùng quần đảo Cua ở Indonesia. Về phía tây, các trống Đông Sơn đã tìm được ở vùng đảo Cô Xa Mui, Thái Lan và vùng Công Pông Xun Gai Lang ở Malaysia.

Một điểm lưu ý là nơi tìm thấy hiện vật Đông Sơn mới đây là vùng Vũng Áng, điểm cực nam của địa bàn phân bố văn hoá Đông Sơn. Quá về phía nam là dãy Hoành Sơn, khó khăn cho việc giao lưu bằng đường bộ xuống phía nam đến các nền văn hoá khác cùng thời.

Chính vì thế mà phải chăng cửa biển Vũng Áng là nơi đã từng xuất phát các đoàn thuyền xuôi phương nam của người Việt đến các vùng đất xa xôi. Có thể những chiếc trống đồng và rìu đồng ở Indonesia giống với loại hình văn hoá Đông Sơn khu vực sông Lam đã gợi ý cho chúng ta một mối liên hệ này chăng?

Phát hiện mới này đã làm các nhà khoa học nhớ lại một phát hiện khảo cổ khác vào năm 1984 trên đảo Hòn Rái, thuộc xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, ở gần đảo Phú Quốc. Hòn đảo này cách đất liền gần 30km.

Một trống đồng Đông Sơn được chôn trong lòng đất của đảo. Bên trong trống có những chiếc rìu, lao, mảnh khuôn đúc, đồ gốm và xương người. Đây là một mộ táng của người Đông Sơn. Điều đó càng khẳng định người Đông Sơn là cư dân thạo đi biển. Trong một chuyến hải hành xuôi phương nam, có người đã chết và được chôn tại đảo này.

Phát hiện khảo cổ học mới về văn hoá Đông Sơn đã góp phần dựng nên diện mạo lịch sử của biển Đông cách đây khoảng 2.000 năm: Làm chủ biển Đông bấy giờ có 2 nhóm cư dân cổ đại tổ tiên của chúng ta: Cư dân Đông Sơn có những mối giao lưu ven biển đến các đảo xa phía nam, cư dân Sa Huỳnh lại có mối giao lưu đậm nét hơn băng qua vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để lại dấu ấn trên vùng quần đảo Philippines.

Các bằng chứng khảo cổ học đã chứng minh một cách rạch ròi một sự thật lịch sử là cả một vùng biển Đông rộng lớn đã được cha ông ta khai thác và làm chủ từ cách đây hơn 2.000 năm, còn trước thời điểm các triều đại phong kiến nước ta cử người đi trấn giữ quần đảo Hoàng Sa dễ đến hàng ngàn năm.

PGS-TS Trịnh Sinh

Phỏng vấn PGS-TS Trịnh Sinh

* Từ sự có mặt của 2 hiện vật Đông Sơn ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) để suy luận về con đường giao lưu văn hóa qua biển Đông và xa hơn nữa là quá trình làm chủ biển Đông, liệu có logic không, thưa ông?

TS Trinhsinh

PGS-TS Trịnh Sinh

– PGS-TS Trịnh Sinh: Đây là lần đầu tiên tìm thấy hiện vật Đông Sơn dưới đáy biển. Nên nhớ, trong phạm vi cư trú của người Đông Sơn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có một cạnh là biển Đông. Trước đây, chúng ta cũng đã tìm thấy một loạt di tích và hàng vạn di vật Đông Sơn ở vùng ven biển trải dài từ Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ. Hơn nữa, một trong những đặc điểm văn hóa của người Đông Sơn là chứa nhiều yếu tố biển. Vì vậy, việc họ để lại dấu vết ở biển Đông là điều dễ hiểu.

* Vậy quá trình “làm chủ” biển Đông là hiểu theo nghĩa nào?

– “Làm chủ” biển Đông tức là cư dân Đông Sơn thời kỳ đó đã khai thác, sử dụng, giao thương trên vùng biển liền khoảnh với đất liền của họ.

* Còn phạm vi xa hơn của Đông Sơn dưới đáy biển, về phía Nam thì sao, thưa ông?

– Người Đông Sơn có truyền thống đi biển, và họ đã đi xa đến vùng đảo Kiên Giang. Tại một hòn đảo cách bờ gần 30 km, chúng tôi đã tìm thấy trống đồng, đồ đồng Đông Sơn, xương người và xương người được chôn trong trống (đây là một trong những phương thức mai táng đặc trưng của cư dân Đông Sơn). Điều này chứng tỏ cách nay 2.000 năm, người Đông Sơn đã đi rất xa, vượt qua ranh giới đèo Ngang (Hà Tĩnh). Ngoài cư dân Đông Sơn, cư dân Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam cùng niên đại cũng đã từng một thời làm chủ biển Đông.

* Vậy đến nay đã có bằng chứng nào chứng tỏ phạm vi ảnh hưởng của văn hóa Sa Huỳnh ở biển Đông chưa?

– Văn hóa Sa Huỳnh chủ yếu phân bố ở miền Trung và một phần phía Nam. Cho đến nay, chúng ta đã tìm thấy những hiện vật của văn hóa Sa Huỳnh nằm rải rác ven biển Đông. Đó là các mẩu xương cá, công cụ chài lưới, những di cốt người được chôn trong các mộ vò ở ven biển, những kiểu hoa văn in hình vỏ sò. Từ năm 1966, nhà khảo cổ học người Mỹ Solhem đã miêu tả con đường giao lưu của cư dân Sa Huỳnh – Việt Nam sang quần đảo Philippines và Thái Lan với bằng chứng là những khuyên tai 3 mấu nhọn, khuyên tai 2 đầu thú – hiện vật đặc trưng của Sa Huỳnh được phát hiện tại đây.

* Nhưng cũng không loại trừ giả thuyết những hiện vật nói trên là sản phẩm của quá trình sản xuất tại chỗ của cư dân Philippines hoặc có thể cư dân Sa Huỳnh đã không băng qua biển Đông để sang Philippines mà đi bằng con đường khác?

– Người Sa Huỳnh không thể đi một đường nào khác để sang Philippines ngoài đường biển Đông, băng qua khu vực Hoàng Sa và Trường Sa. Họ cũng không thể đi vòng lên phía bắc, qua Trung Quốc rồi mới đến Philippines. Trong lịch sử, tuyến đường biển này là một trong những tuyến giao thương vô cùng quan trọng. Trước khi người dân đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi thời Nguyễn đi khai thác vùng biển Hoàng Sa thì tại Lý Sơn đã có 2 làng cổ trong thời văn hóa Sa Huỳnh là Xóm Ốc và Suối Chình với nhiều di vật.

* Có thể đưa ra giả thuyết 2 hiện vật (giáo và rìu) Đông Sơn được tìm thấy ở vùng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh) là di vật từ một con tàu đắm thời Nguyễn hay không?

– Cũng có thể giả thuyết cho vui rằng 2 hiện vật Đông Sơn nói trên là của một người chơi đồ cổ thời Nguyễn chăng? Nhưng điều đó khó xảy ra vì mỗi thời đều có một thứ “mốt” chơi riêng. “Mốt” của thời Nguyễn là chơi ấm uống trà, bình vôi, đồ gốm sứ chứ không phải giáo hay rìu. Theo nghiên cứu của chúng tôi, “mốt” chơi đồ cổ Đông Sơn ở các nhà sưu tầm cổ vật mới có khoảng 20 năm trở lại đây, còn thú chơi đồ cổ ở Việt Nam thì không quá sớm và chỉ mới bắt đầu từ thời Nguyễn. Về mặt logic, nếu 2 hiện vật Đông Sơn nói trên là của một nhà chơi đồ cổ thời Nguyễn thì ắt phải tìm thấy cả chiếc tàu cổ bị đắm, chứ không thể chỉ là 2 hiện vật rời rạc.

Y Nguyên (Thanh Niên)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Cổ vật văn hóa Đông Sơn

Theo nhận định của các nhà khảo cổ học, văn hóa Đông Sơn tồn tại vào khoảng 500-600 năm giữa thiên niên kỷ thứ I trước Công Nguyên đến thiên niên kỷ thứ II sau Công Nguyên. Đấy là giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, cũng là giai đoạn đánh dấu một thời kỳ mà nghề luyện kim đạt đến một trình độ rất cao. Chính vì vậy, rất dễ hiểu ảnh hưởng khá sâu rộng của văn hóa Đông Sơn lên các khu vực khác, ngoài miền Bắc Việt Nam còn tác động đến văn hóa Sa Huỳnh miền Trung, giao lưu với văn hóa Nam Bộ và rộng hơn là ra cả khu vực Đông Nam Á.

Cổ vật quý văn hóa Đông Sơn tại Viện Bảo Tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng:

Các hiện vật chủ yếu là đồ đồng, đồ gốm, mang nặng sắc thái của Đông Sơn cổ điển. Phòng trưng bày có nhiều hiện vật chưa từng thấy trước đây trong các sưu tập văn hoá Đông Sơn trong nước cũng như trên thế giới. Đó là những cây đèn hình người, hình hươu, hình bò, hình voi, phản ánh một tư duy tín ngưỡng xa xưa của trung tâm Đông Sơn sông Cả với di tích làng Vạc nổi tiếng.

Đó là những chiếc trống đồng trang trí hoa văn hình người kéo thuyền. Trống đồng này có kiểu dáng và hoa văn khác lạ, chưa từng thấy trong phổ hệ trống đồng Việt Nam. Chiếc trồng này được tìm thấy ở Tây Nguyên, chứng minh sự lan toả mạnh mẽ của Đông Sơn, cũng như tính thống nhất trong đa dạng của văn hoá này trên lãnh thổ Việt Nam và xa hơn.

Đó còn là những thạp đồng có chân trổ thủng, những con dao găm hình người, những chiếc đèn đồng hình thố vừa quen vừa lạ… Đó là những bộ công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang sức khá điển hình của văn hoá Đông Sơn phía bắc hoà quyện với những di vật Đông Sơn phía nam, đem đến một cái nhìn mới về văn hoá Đông Sơn mà bấy lâu nay chưa mấy ai được chiêm ngưỡng.

Phòng trưng bày cũng giới thiệu bộ sưu tập gốm đặc sắc với sự ảnh hưởng qua lại giữa Đông Sơn và Sa Huỳnh – một nền văn hoá nổi tiếng ở miền trung Việt Nam, tương đương với Đông Sơn.

Một vài hình ảnh về phòng trưng bày “Tiếng vọng Đông Sơn”: ( click trên hình để xem phóng lớn )

 

Đường dẫn xem cổ vật Đông Sơn  qua Video Clip:

http://clip.vn/watch/Trien-lam-nhung-co-vat-Dong-Son,WqSO

nguồn: Viện Bảo Tàng Điêu khắc Chăm

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Ngôi đền Pô- Kluang Garai

Pô-Klaung Garai-1

Trên đỉnh của một trong ba ngọn tháp Chăm ở đền Pô-Klaung Garai (Phan Rang, Quản Nam – thế kỷ 14), có một hình khối kiến trúc khá xa lạ với kiến trúc của những ngôi tháp Chăm, nói chung, thường mang đậm ảnh hưởng của nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ, từ Trà Kiệu đến Mỹ Sơn. Hình khối kiến trúc xây bằng gạch đá nói trên có dáng vẻ của một ngôi nhà sàn mái hình thuyền, sống võng, mặt cắt hình vòm cuốn, hai đầu mái hồi tròn, hơi cong lên và nhô ra như kiểu nhà sàn mái hình thuyền của một vài dân tộc ở Papoua, Tân Guinée (Đại dương châu), hoặc của người Nhật Bản cổ đại.

Pô-Klaung Garai-2

Hai kiểu nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn,với mái võng và mái lồi.

Hai kiểu nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn,với mái võng và mái lồi.

Kiểu nhà sàn này là một biến thể của kiểu nhà sàn khắc trên trống đồng Đông Sơn, mà phiên bản trung thực nhất là kiểu nhà sàn bằng tre gỗ hiện vẫn tồn tại và được người Toradja sử dụng trong đời sống hàng ngày ở đảo Célèbes (ngày nay gọi là Sulawesi, thuộc Indonesia).

Mô hình nhà cổ đại Nhật Bản , mái hình thuyền bằng đất nung.

Mô hình nhà cổ đại Nhật Bản , mái hình thuyền bằng đất nung.

Hiện tượng này có ý nghĩa gì, nếu quả thật khối kiến trúc nói trên thể hiện hình tượng của một ngôi nhà sàn mái hình thuyền biến thể thuộc nền văn hoá Đông Sơn ? Chúng ta biết rằng, về mặt lịch sử và văn hoá, dân tộc Chăm có quan hệ mật thiết với một vài dân tộc Tây Nguyên thuộc ngữ hệ Nam đảo (Mã Lai-Đa đảo) : Giarai, Êđê , Churu, Raglai. Mà những dân tộc này đều là những dân tộc thuộc nền văn hoá Đông Sơn – theo nghĩa một nền văn hoá cổ, mà địa bàn là một vùng rộng lớn ở Đông Nam Á, có liên quan tới những chiếc trống đồng tìm thấy ở địa điểm Đông Sơn – nền văn hoá này được thể hiện qua một số biểu hiện văn hoá vật chất và tinh thần cụ thể, từ hoa văn trang trí trên y phục, đồ dùng trong nhà, đến kiến trúc, đến những tục lệ, truyền thống lễ hội, huyền thoại, v.v.

Bản thân dân tộc Chăm – theo giả thuyết của nhà tiền sử học Heine-Geldern về lộ trình của chiếc rìu đá có mộng – có thể có cùng nguồn gốc Nam đảo với những dân tộc kể trên, mà tổ tiên, trong khoảng thời gian 1000 năm, giữa 2500 -1500 tr. C.N., đã di cư từ vùng Vân Nam xuống (cư dân Bách Việt ?), xuyên qua bán đảo Mã Lai, quần đảo Indonesia, các đảo thuộc Đại dương châu, vòng lên đến Đài Loan, Nhật Bản. Một bộ phận của những tộc người này có thể đã xâm nhập vùng Tây Nguyên Việt Nam, nhưng đã bị những tộc người thuộc ngữ hệ Môn-Khmer có mặt ở đây từ trước xua đuổi đi. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, ở vào một thời điểm có thể cũng không muộn hơn, những tộc người gốc Mã Lai – Đa đảo kể trên, trong đó có tổ tiên của người Chăm, đã từ biển đông xâm nhập vào vùng ven biển miền trung Việt Nam. Sau đó, do tiếp thu văn hoá Ấn Độ, bắt đầu từ những thế kỷ đầu Công Nguyên, người Chăm đã phát triển lên thành một quốc gia lớn mạnh (vương quốc Lâm Ấp), và đã dồn những tộc người gốc Nam đảo kém phát triển hơn lên vùng Tây Nguyên. « Có thể người Giarai đã tràn lên vùng cao nguyên Pleiku và vùng bình nguyên Ayun Pa Cheo Reo theo đường đèo An Khê và đường Cung Sơn. Người Êđê và người Churu thì lên cao nguyên Đắc Lắc bằng đường đèo Phượng Hoàng hiện nay. Những nhóm người tràn lên đã chẻ đôi khối người Môn-Khơme có trên Tây Nguyên từ trước : một khối cư trú từ nửa tỉnh Gia Lai trở ra phía bắc, gồm người Bana, Xơđăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơmâm, v.v., và một khối từ nửatỉnh Đắc Lắc trở vào phía nam, gồm người Mơnông, Mạ, Koho, v.v. » (theoNguyên Ngọc, Một số vấn đề văn hoá xã hội, Tập san nghiên cứu NGOKLINH, số 1 – 2001)

Con đường truyền bá của chiếc rìu đá có mộng (khoảng từ 2500 đến 1500 trước C.N., theo nhà tiền sử học Heine-Geldern).

Con đường truyền bá của chiếc rìu đá có mộng (khoảng từ 2500 đến 1500 trước C.N., theo nhà tiền sử học Heine-Geldern).

Gần đây, nhà nghiên cứu Stephen Oppenheimer đưa ra một giả thuyết độc đáo về sự kiện lục địa Sunda bị ngập chìm do trận Đại Hồng Thuỷ gây nên cách đây khoảng 8000 năm, do đó, tổ tiên của người Chăm và một vài tộc người ở Tây Nguyên, thuộc ngữ hệ Nam đảo, không phải là từ miền nam Trung Quốc, hoặc từ Đài Loan di chuyển xuống phía nam vào thiên niên kỷ II trước Công Nguyên, như theo giả thuyết của Bellwood/Blust, hoặc của Heine-Geldern, mà ngược lại, đã xuất phát từ vùng tây bắc đảo Bornéo (Indonesia), một mặt đi ngược trở lên phía bắc(ngược lên các con sông lớn) đến Phi Luật Tân, miền trung Việt Nam (Lâm Ấp, Chiêm Thành) và Đài Loan ; một mặt đi sang phía tây : đến các vùng miền tây Indonesia, Mã Lai, v.v. ; một mặt đi về phía nam : các đảo ở Đại dương châu…(theo Nguyễn Quang Trọng, Địa đàng ở phương Đông, DĐ, số 127, 3-2003).

Cho đến nay, người ta biết rằng người Chăm, cũng như các cư dân của vương quốc Phù Nam, thuộc nền văn hoá Sa Huỳnh, có niên đại từ 500 tr. C.N. đến 100 sau C.N., mà địa bàn trải dài từ Quảng Nam đến Nam bộ (Đồng Nai, Cần Giờ). Nhưng người Chăm đến vùng đất này có thể đã cả ngàn năm trước đó rồi (xem các giả thuyết đã dẫn), vậy chắc hẳn họ đã có cả một nền văn hoá cổ khác nữa ? Nếu đem so sánh các biểu hiện văn hoá nghệ thuật của người Chăm với một số dân tộc Tây Nguyên, người ta có thể khẳng định được rằng người Chăm đã từng thuộc cùng một nền văn hoá với họ : văn hoá Đông Sơn.

Lục địa Sunda trước khi bị ngập chìm trong trận Đại Hồng Thuỷ cách đây khoảng 8000 năm, theo giả thuyết của Stephen Oppenheimer.

Lục địa Sunda trước khi bị ngập chìm trong trận Đại Hồng Thuỷ cách đây khoảng 8000 năm, theo giả thuyết của Stephen Oppenheimer.

Qua những phát hiện khảo cổ học mới đây ở Gò Mả Vôi (xem Nguyễn Quang Trọng, Những phát hiện mới về văn hoá Sa Huỳnh…, DĐ số 140, 4-2004). , người ta có thể thấy được rằngnền văn hoá Sa Huỳnh khác hẳn với nền văn hoá Đông Sơn trên nhiều điểm : sự phong phú của các hiện vật bằng sắt, trình độ kỹ thuật sản xuất đồ trang sức, và nhất là đồ thuỷ tinh rất tinh xảo, v.v. Tuy nhiên, cho tới nay, người ta vẫn chưa biết gì mấy về những truyền thống kiến trúc cổ trong nền văn hoá này, ngoại trừ những dấu tích cột chống đã mục nát của những ngôi nhà sàn. Người ta chỉ biết đến những di tích kiến trúc đền đài bằng gạch đá của người Chăm : Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Hoà Lai, Tháp Mắm, v.v. Đó là những sản phẩm văn hoá mang đậm ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ. Nhưng trước khi có nền kiến trúc bằng gạch đá, chắc hẳn dân tộc này cũng đã phải trải qua thời kỳ xây cất bằng tre, gỗ ? Người Chăm không để lại những ngôi nhà sàn mái nhô, hoặc sống võng, hay sống lồi, như một số dân tộc Tây Nguyên, có lẽ vì họ đã đi vào sản xuất nông nghiệp ngay từ sớm ở các vùng đồng bằng (lúa Chiêm), nhưng người ta biết chắc chắn rằng dân tộc Chăm có một truyền thống ở nhà sàn từ lâu đời : dấu tích những ngôi nhà sàn ở Hội An được ghi lại bằng hình vẽ trong sử liệu Giao Chỉ Độ Hải Đồ của Chaya Shinoku, người Nhật Bản, thế kỷ 17 – xem Văn Ngọc, Từ trong lũ lụt nghĩ đến tương lai đô thị cổ Hội An, DĐ số tháng 1-2000 ).

Truyền thống ở nhà sàn này vẫn được tiếp tục một cách mạnh mẽ và bền bỉ bởi những người Chăm hiện đang cư ngụ tại một số vùng ngập trũng, hoặc gần sông nước ở Việt Nam (chủ yếu là để tránh lũ lụt !).

Người Giarai và người Êđê cho tới gần đây vẫn còn giữ truyền thống xây nhà dài, nhà rông, nhà kho, và nhà ở theo kiểu « hạ thu thượng khuếch », nhưng mái nhà của họ là kiểu mái có sống lồi, cũng giống như ngôi nhà làng của người Bana, Xơđăng, v.v. Tuy nhiên, kiểu nhà này, cũng như kiểu nhà có mái hồi tròn của người Cơtu, Stiêng, vẫn được coi như thuộc kiểu nhà khởi nguyên thuộc nền văn hoá Đông Sơn. Người Dayak (Indonesia) cho rằng hai dạng nhà sàn khắc trên trống đồng Đông Sơn (nhà sàn hình thuyền mái võng và nhà cầu mưa mái lồi) đều thuộc dạng nhà khởi nguyên : nhà sống võng gắn với các biểu tượng chim – núi – thế giới bên trên – mặt trời – đàn ông…, còn nhà sống lồi gắn với các biểu tượng rắn nước – sông – thế giới bên dưới – mặt trăng – đàn bà, v.v. Ngôi nhà cổ truyền của người Toradja (đảo Célèbes, Indonesia) được coi là biểu tượng của con thuyền, với mô típ trang trí chủ yếu là đầu con trâu, tuy nhiên mô típ chim/gà vẫn được chạm khắc hoặc vẽ ở mặt trước nhà cùng với mô típ mặt trời như trên trống đồng Đông Sơn (theo Tạ Đức, Truyền thống Đông Sơn…Tạp san nghiên cứu NGOK LINH, số 2 , 6-2001).

Hình dáng ngôi nhà sàn mái hình thuyền trên đỉnh ngọn tháp Chăm ở đền Pô- Kluang Garai gợi nghĩ đến những ngôi nhà sàn Đông Sơn có mái hồi tròn của người Cơ tu, Stiêng, của người Nhật Bản cổ đại, và của những tộc người ở Papoua, Tân Guinée, v.v.

Quần thể đền Pô-Kluang Garai ở Phan Rang (thế kỷ 14), với ngôi nhà hình thuyền nằm ngang trn một trong ba ngọn

Quần thể đền Pô-Kluang Garai ở Phan Rang (thế kỷ 14), với ngôi nhà hình thuyền nằm ngang trn một trong ba ngọn

Vậy, với ý nghĩa gì, và với động cơ nào, Chế Mân (tức Jaya Simhavarman III), vị vua Chăm ở thế kỷ 14, hôn phu của Huyền Trân Công chúa, đã cho xây ngôi đền này, với hình tượng ngôi nhà sàn mái hình thuyền trên đỉnh một trong ba ngọn tháp ? Đây không thể là một sự tình cờ, mà chỉ có thể là do một sự liên tưởng nào đó tới nền văn hoá cổ của người Chăm ? Cũng có thể, đây chỉ là một ý tưởng thẩm mỹ, một nét chấm phá nghệ thuật ? Hoặc giả, đằng sau tác phẩm kiến trúc, còn có một giai thoại nào khác, một mối tình cảm động, như trường hợp cung Tadj Mahal (Ấn Độ) ? Còn cái tên của ngôi đền : Pô-Kluang Garai, không biết có liên quan gì với tộc người Giarai không ?… Dẫu sao, đây cũng là biểu hiện của một cuộc giao thoa văn hoá độc đáo, ít nhất giữa ba nền văn hoá cổ đã từng có mặt trên mảnh đất miền trung này : đó là văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh, và văn hoá Ấn Độ. Đồng thời, về mặt mỹ thuật, Pô-Klaung Garai là biểu hiện của một nền nghệ thuật

đã đạt đến độ chín muồi ở thế kỷ 14 : rất có thể là nó đang manh nha tìm cách thoát khỏi những ràng buộc về qui ước của nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ, mà nó đã chịu ảnh hưởng trong nhiều thế kỷ. Đáng tiếc thay, đây cũng là một trong những biểu hiện cuối cùng của nghệ thuật Chăm, trước khi vương quốc này đi vào suy vong.

TÓM TẮT

Đền Pô-Klaung Garai là biểu hiện của một cuộc giao thoa văn hoá độc đáo, ít nhất giữa ba nền văn hoá cổ đã từng có mặt trên mảnh đất miền trung Việt Nam : đó là văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh, và văn hoá Ấn Độ.

Phạm ngọc Tới

Các bài đã đăng :

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Thanh kiếm ngắn Đông Sơn mang hình tượng Hai Bà Trưng

Chiếc kiếm ngắn Đông Sơn mang dư ảnh Hai Bà Trưng

1- Tượng nam và tượng nữ trên cán dao găm Đông Sơn và phân bố của chúng

Từ lâu tôi đã chú ý đến những tượng nữ trên cán dao găm Đông Sơn. Việc phân biệt tượng nam hay nữ trên cán dao găm Đông Sơn đã từng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm thảo luận[1], nay nhờ tư liệu phong phú, có thể xác định chúng khá đơn giản và rõ ràng. Trước hết có thể nhận thấy hai loại hình tiêu biểu nhất trong số những tượng phát hiện trong context khảo cổ hoặc của những sưu tập sớm có độ tin cậy cao : những tượng nữ khai quật ở Làng Vạc (Nghệ An), Núi Nưa (Thanh Hoá) và tượng nam ở Núi Đèo (Thuỷ Nguyên), Quả Cảm (Bắc Ninh), Đông Sơn (Thanh Hoá)[2] những tượng trong sưu tập d’Argence hiện trưng bày tại Bảo tàng lịch sử và hai tượng trên cán dao Đông Sơn khai quật được ở nam Trung Quốc[3]. Sự khác biệt của hai nhóm tượng này thể hiện khá rõ và mang tính địa phương. Những tượng Làng Vạc và Núi Nưa thể hiện lối trang phục kín khắp người (áo váy) với thắt lưng dày trên phần eo luôn buông dài tận chân có tua núm và các vòng hạt chuỗi đeo nhiều tầng ở cổ. Các nhà nghiên cứu đều dễ thống nhất đó là đặc trưng tượng nữ, cho dù kiểu đầu tóc ở các tượng có ít nhiều thay đổi. Ở nhóm tượng còn lại, đặc trưng nổi bật nhất là ở trần (hở hai núm vú dẹt) và đóng khố ngắn có tua. Các khố này được trang trí hoa văn và tạo thành hai bản dẹt hình thang phía trước và sau bộ phận sinh dục. Đây là bằng chứng thuyết phục của tượng nam. Từ những tiêu chuẩn này chúng ta có thể nhận ra thêm những đặc điểm trang sức của nam và nữ thời Đông Sơn : ví dụ nữ đeo nhiều vòng chuỗi, khuyên tai, vòng cổ tay lớn và đơn giản trong khi tượng nam đeo khuyên tai gối quạ (Quả Cảm, Hồ Nam…), vòng đeo ở cánh tay… Cũng với những đặc trưng nhận biết này ta có thể nhận ra những tượng „lạ“ được làm không phải theo phong cách Đông Sơn.

Hai nhóm tượng trên thực chất là hai khối tư duy tôn vinh nam nữ có chủ đích. Kiểu thể hiện khá ổn định với hai cánh tay cong khuỳnh chống nạnh đối xứng tạo độ cầm đày tay cho một cán dao găm. Đa phần tượng nữ phát hiện được ở vùng sông Mã, sông Cả là nơi chế độ mẫu hệ còn bảo lưu rất lâu về sau này. Chúng ta đều biết, sự lan toả của chế độ phụ hệ trong lịch sử Việt Nam có chiều hướng từ phía bắc xuống phía nam. Khối các dân tộc tàn dư hoặc chịu ảnh hưởng của văn hoá Chăm ở miền Trung nước ta cho đến hiện nay vẫn còn chứa đậm nhiều nét bảo lưu của chế độ mẫu hệ. Việc phổ biến cán dao găm tượng nữ ở vùng Nghệ An, Thanh Hoá chứng tỏ chế độ mẫu hệ trong khoảng trước thế kỷ 3 sau Công nguyên còn rất phổ biến tại đây. Ngược lại, vùng phân bố của các tượng nam tập trung ở phía bắc, tức lưu vực sông Hồng (Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh…) phản ánh hiện tượng chế độ phụ hệ có thể đã xác lập phổ biến. Vùng sông Mã được coi như vùng đan xen với sự tồn tại cả hai loại hình với ưu thế trội thuộc về các tượng nữ. Gần đây có một số thông tin phát hiện tượng nam ở vùng Làng Vạc. Điều này, nếu đúng, cũng không lấn át được tính ngự trị của các tượng nữ ở vùng này.

2- Tượng đôi trên cán dao găm, một số phát hiện ngẫu nhiên

Trong khai quật khảo cổ học chính thức chúng ta chưa từng phát hiện được những tượng đôi trên cán dao găm. Tuy nhiên, trong một số trưng bày và công bố gần đây ở trong và ngoài nước, xuất hiện một số tượng đôi thể hiện trên cán dao găm Đông Sơn.

Nhóm nhiều tượng đôi nhất thuộc về sưu tập của Nguyễn Đại Dương trưng bày tại nhà hàng Trống Đông Sơn. Tôi đã có may mắn được nghiên cứu trực tiếp ba tượng đôi thuộc sưu tập này. Theo tôi, chỉ có chiếc dao găm có tượng hai người ngồi trên vai nhau là đáng chú ý. Chiếc dao găm này được người sưu tầm đầu tiên (Nguyễn Đại Dương là người mua lại về sau) cho biết có nguồn gốc Nghệ An (Làng Vạc ?) (hình).

IMG_0160Haiba1

Cụm tượng này thể hiện hai người công kênh nhau. Người ngồi trên mang rõ nét những đặc trưng quý tộc nữ. Kiểu đầu tóc bồng chải ngược như phần đầu không chỏm của tượng Núi Nưa hay tượng trên dao găm 2505-77 của Bảo tàng Barbier-Muller[4]. Trang trí trên toàn thân (tay và váy) phản ánh chiếc áo váy thêu in hoa văn. Trên cổ người ngồi trên đeo hai lần vòng chuỗi. Hai tai đeo hai vòng khuyên lớn. Thắt lưng quấn cao trên eo với dải thả búi thõng phía đằng sau. Phần đùi và chân đều có hoa văn trang trí kiểu trang trí trên váy. Hai chân để trần lộ rõ ngón thả thõng đến ngang đùi người bên dưới đước giữ bởi hai tay của người công kêng mình. Cánh tay người ngồi trên khuỳnh ra, phần bàn tay ôm lấy phần đỉnh đầu của người dưới. Mặt quý tộc nữ thể hiện theo kiểu mặt người Núi Nưa, tức khuôn mặt bầu hình trám với chiếc cằm nhọn. Khi bị gỉ dễ nhầm với chòm râu nhọn của đàn ông. Mắt khắc bằng hai đường viền như kiểu vòng tròn đồng tâm.

Tượng bên dưới đứng nhìn thẳng, phần đầu bị kẹp giữa đùi người ngồi trên nên không rõ kiểu đeo vòng và trang trí đầu. Hai tay giữ chặt chân người ngồi trên. Thắt lưng và váy được thể hiện rất rõ nét theo những đặc trưng phục trang nữ. Chân đi đất để lộ ngón.

IMG_3869doublew

Một tượng cán dao găm khác có nội dung tương tự được giới thiệu trong cuốn „Art Ancien du Vietnam – Bronzes et Ceramiques“ do Monica Crick biên tập, xuất bản đầu năm nay ở Geneva (Thuỵ Sĩ)[5]. Theo tác giả, hiện vật này thuộc sưu tập của Phạm Lan Hương. Đó cũng là một cặp đôi nữ công kênh nhau trên vai cùng phong cách với tượng thuộc sưu tập nhà hàng Trống Đông Sơn ở Hà Nội. Dao găm có kiểu chuôi và lưỡi lá tre theo phong cách sông Mã. Trên bản lưỡi có khung trang trí thu theo khuôn hình lá lưỡi. Kiểu trang trí trên toàn thân với búi thắt lưng thả dài khiến chúng được xếp vào nhóm tưọng nữ, mặc dầu người phía dưới to lớn hơn dường như được khắc những nét vạch ở cằm thể hiện vành râu cằm ? Theo tôi người bên dưới cũng là nữ giới. Người ngồi trên có đai đầu và phía sau có một chiếc trâm cài hình chữ C nằm úp hai đầu soắn nhiều vòng. Trên lưng người này có những đường vạch chìm như thể hiện mớ tóc xoã của bức tượng. Mảng eo được thể hiện bằng ba vòng quấn thắt lưng. Dải thắt lưng có búi lớn thả ở phía sau thóng xuống ngang thắt lưng của người công kênh bên dưới. Tai trái người ngồi trên đeo một khuyên nhưng tai phải đeo chồng tời hai khuyên và dường như có cả một cụm chuỗi vòng nhỏ phía trên, như kiểu đeo tai ở tượng chiến binh nam mang đầu lâu trên lưng. Chân người này để trần lộ cả ngón đang quặp chặt vào eo người bên dưới và được giữ bởi hai tay người bên dưới. Trên phần chân từ đầu gối trở xuống của người ngồi trên có những đường trang trí hoa văn rất phổ biến của tượng nữ Làng Vạc, Núi Nưa. Đó là những vòng tròn đồng tâm tiếp tuyến song song đối xứng biến thể thành hai hình chữ S đối xứng gương như cách thể hiện trên quai thạp đồng vậy. Khuôn mặt người trên thể hiện nữ tính rất rõ với đôi mắt khắc chìm vành mi dưới cong hất lên tương ứng với cái miệng đang cười. Hai tay ôm lấy đầu người công kênh mình.

Tượng phía dưới đứng thẳng, hai tay nắm chặt cổ chân người ngồi trên. Mặt thể hiện nam tính với râu cằm, tai đeo vòng, nhưng phần trang phục lại thể hiện rõ nét nữ tính với thắt lưng thả búi và váy dài tận chân.

IMG_1252Haiba

Đáng nói nhất ở đây cụm tượng người, thú mang đậm phong cách Làng Vạc với sự thể hiện tập trung cặp tượng nữ sinh đôi ngồi song song trên lưng voi được đỡ bởi hai con thú lạ khác (Hình). Cụm tượng này được tạo thành cán cầm của một lưỡi kiếm ngắn thanh mảnh như một quyền trượng hơn là một vũ khí thực thụ. Chủ nhân lưỡi kiếm này cũng là bà Phạm Lan Hương. Báu vật này hiện đang trưng bày tại Galerie HIOCO, Paris[6]. Cán kiếm là một tác phẩm nghệ thuộc phức hợp chứa đựng nhiều tư duy của nghệ sĩ. Tư duy này phác thảo trên nền một phong cách nổi tiếng của nghệ thuật trang trí cán dao đồng Làng Vạc : Đôi hổ đỡ voi mang bành. Cuộc khai quật Làng Vạc của Viện Khảo cổ học trong những năm chiến tranh (1972-73) đã phát hiện in situ con dao găm đầu tiên như vậy[7]. Bảo tàng Barbier-Mueller cũng sở hữu một chiếc tương tự[8] (hình). Trên thanh kiếm ngắn của Hioco Galerie, phần thân cán cũng tạo bởi hai con thú có hình dáng gần giống với một con tôm khổng lồ. Phần miệng thể hiện hàm răng như cá sấu với hàm dưới lại như một cánh tay đỡ chân con voi. Lần này con voi được tạo hình đối xứng với hai đầu rõ rệt. Bốn trụ chân chính của voi được gắn liền với tay (hàm dưới) con thú (tôm hùm) bên dưới, trong khi hàm trên (hoặc mũi nhọn ở đỉnh mũi tôm, có mắt nổi giống mắt tôm hùm) gắn với vòi và cặp ngà voi. Khi nhìn chính diện mặt voi, hai cái tai vuốt nhọn trông rất giống hình tai trên khuyên hai đầu thú Sa Huỳnh. Tôi nghĩ rằng chúng có ảnh hưởng phong cách nghệ thuật khuyên tai hai đầu thú Sa Huỳnh. Khác biệt là ở sự thể hiện bành voi.

2505-26LVTiger

Ở các cán dao hổ đỡ voi Làng Vạc khác, phần bành voi thể hiện một bành ngồi có chân đỡ trông như một ngôi nhà sàn mái cong của Inđonesia. Trên thanh kiếm tôi đang nói tới, thay vào vị trí bành voi là tượng hai nữ quý tộc ngồi xổm ở tư thế hai tay ôm gối chắp trước ngực. Đầu gối hở ra và đôi chân để trần lộ ngón. Hai tượng giống nhau như hai chị em sinh đôi. Tượng thể hiện theo phong cách Núi Nưa (Thanh Hoá) với kiểu tóc hất bồng cao có thắt eo ở giữa. Mặt hình trám bầu, cằm nhọn. Mắt kiểu vành tròn đồng tâm có lông mày chấm rải, mũi vuốt nhô. Trên phần cổ và ngực có những vòng chuỗi nhiều tầng. Phía sau lưng gáy là một hốc lõm hình thang có hai vòng bán khuyên, vừa như thể hiện búi tóc, vừa dùng làm chỗ có thể đeo nhạc chuông. Hiện vật này đã được nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm của công ty giám định cổ vật Ciram (Paris). Tôi may mắn có được 2 ngày trong cuối tháng Sáu năm nay nghiên cứu trực tiếp hiện vật và hiện có trong tay toàn bộ kết quả nghiên cứu thành phần hoá học, X-ray của báu vật này.

3- Tính biểu trưng và tính mô tả trong nghệ thuật tạo tượng cán dao găm Đông Sơn – hình tượng những nữ anh hùng Việt Nam sống vào cuối văn hoá Đông Sơn : Bà Trưng, Bà Triệu.

IMG_1280HaibaVoi

Từ lâu, tôi đã theo đuổi một ý nghĩ về tính biểu trưng (Symbolism) hay tính tả thực (Realism) của các nhân vật trên cán dao găm. Phân tích 30 cán dao găm hình người, thú Đông Sơn mà tôi hiện có tiêu bản studio có thể nhận thấy các nghệ nhân Đông Sơn đã có những ràng buộc mang tính quy chuẩn kỹ thuật, nghệ thuật khi chế tạo tượng cán dao găm : dáng đứng, kiểu đầu tóc, váy, khố, vòng trang sức, cách thể hiện hoa văn … và ở giai đoạn đầu, cán dao găm Đông Sơn mang tính biểu trưng quyền lực chung của thủ lĩnh nhiều hơn[9]. Tượng người được tạo ra mang tính đại diện chứ không nhằm mô tả một nhân vật cụ thể.

IMG_1186BaTrieu

Tuy nhiên vào khoảng cuối Đông Sơn (thế kỷ 1 tr.Cn – thế kỷ 3 sau Cn) xuất hiện những pho tượng chứa đựng „cá tính“ – mang rìu chiến, dao găm, đầu lâu người (hình). Phần chắn lưỡi cũng được trang trí thêm bởi những móc câu soắn tròn (hình) và đặc biết xuất hiện tượng quý tộc nữ được công kênh và tượng hai chị em sinh đôi nói trên[10]. Theo tôi, ba hiện vật giới thiệu ở trên có độ tin cậy cao mặc dù nó không nằm trong các cuộc khai quật khảo cổ học chuyên nghiệp.

IMG_3889daulaw

Chúng đều tôn vinh những quý tộc nữ khiến tôi liên tưởng đến sự thực lịch sử gắn liền với những nhân vật nữ anh hùng cụ thể xuất hiện trong khoảng cuối văn hoá Đông Sơn : Hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị đầu công nguyên (thời kỳ người Việt chưa mang họ như ngày nay) và sau đó là Bà Triệu (thế kỷ 2-3 sau Công nguyên, khi người Việt quý tộc bắt đầu mượn họ phương bắc – họ Triệu – vua Nam Việt).

DSC04329

Truyền thuyết đều gắn họ với voi chiến (ngựa chiến vào Việt Nam rất muộn và không thuộc truyền thống quân sự Việt). Và hình ảnh hai chị em quý tộc sinh đôi ngồi trên lưng voi hai đầu của chiếc kiếm nói trên hoàn toàn có thể gắn với tính tả thực về hiện tượng khởi nghĩa Hai Bà Trưng gây chấn động cả khu vực Đông Á đương thời. Những tượng nữ mang phong cách Núi Nưa đứng đơn cũng là sự tôn vinh những nữ thủ lĩnh anh hùng như vậy. Đặc biệt tượng nữ trên kiếm ngắn mang rìu chiến hiện trưng bày ở Galerie HIOCO (Paris) là một minh hoạ rất sinh động cho giả thuyết này (hình).

TS Nguyễn Việt – Trung Tâm Nghiên Cứu Tiền Sử Đông Nam Á


[1] Lê Văn Lan, 1974, Trang phục thời đại Hùng Vương, trong Hùng Vương dựng nước, tập 2, Hà Nội, tr. Trịnh Sinh và Nguyễn Văn Huyên, 2002, Trang sức trong văn hoá Đông Sơn, Hà Nội. Phạm Minh Huyền, 1997, Tượng người trên cán dao găm Đông Sơn, trong Khảo cổ học, số… Hà Nội. Nguyễn Việt, 2004, Trang phục trong văn hoá Đông Sơn, trong Kỷ yếu Hội nghị 80 năm nghiên cứu Văn Hoá Đông Sơn, Thanh Hoá.

[2] Goloubew, V. ,1929, L’Âge du Bronze au Tonkin et dans le Nord-Annam, BEFEO, tom XXIX, Hanoi, fig.18C và Pl.XIX. Janse O., 1946, 1952, Archaeology in Indichina, Phụ bản ảnh, fig. 20.

[3] Một tượng đã được giới thiệu trong cuốn Văn hoá Đông Sơn, Hà Nội, 1994, chủ biên Hà Văn Tấn. Một tượng khác khai quật ở Hồ Nam năm 1974 ( xem Cheng Dong và Zhong Shao-yi , 1990, Ancien Chinese Weapons- Collection of Pictures, hình 4-188)

[4] Art Ancien du Vietnam – Bronzes et Ceramiques“, ed. by Monica Crick, Collection Baur, Geneva 2008, Cataloge : Bronzes, 3.

[5] Art Ancien du Vietnam – Bronzes et Ceramiques“, ed. by Monica Crick, Collection Baur, Geneva 2008, Cataloge : Bronzes, 2.

[6] Galerie Christophe HIOCO, 2008, Vietnamese Bronzes – The Symbolism of Emotion, Paris, tr. 20. No 4-Swort

[7] Hà Văn Tấn (ed.), 1994, Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội. Hình

[8] Arts de l’Antiques – Fluerons du musee de Barbier-Muller, ed. by Laurence Mattet, Paris, Geneva. Catalogue tr. 462.

[9] Dao găm xuất hiện trong văn hoá Đông Sơn vào khoảng thế kỷ 4-5 tr.Cn. Dao có cán tượng người đều thuộc loại hình sông Mã, tức ở phần chắn giữa lưỡi và đốc thường được đúc dài và thon nhọn ở hai đầu sau đó uốn cong soắn hình sừng trâu. Loại này có kiểu lưỡi hình lá tre mặt cắt thấu kính dẹt khác hẳn với loại dao găm ảnh hưởng phong cách Điền. Có ba loại đốc phổ biến : Ngang hình chữ T, hình củ hành hay củ tỏi (gallic) có hoặc không có trổ lỗ và hình tượng người, động vật. Sự xuất hiện của các loại tay cầm dao găm loại hình này không đồng đều. Những dao găm trong mộ Việt Khê đại diện cho nhóm sớm. Tại đây, chúng ta chưa thấy dấu hiệu nào của dao găm cán tượng người mà mới chỉ thấy những dao găm thuộc loại hình có đốc tay cầm đơn giản : “chữ T”, “củ hành”. Những dao găm khảo cổ học phát hiện ở Làng Vạc đều thuộc nhóm muộn (khoảng sau thế kỷ 2 tr.Cn). Bên cạnh sự tiếp tục phổ biến của hai dạng sớm bắt đầu xuất hiện dạng muộn với nhiều kiểu tượng người thú khác nhau. Những dao găm Đông Sơn cán tượng nam phát hiện ở Trung Quốc được xếp niên đại Chiến Quốc (thế kỷ 3-4 tr.Cn). Theo chúng tôi, có hai giai đoạn phát triển dao găm cán tượng người : giai đoạn sớm ở vào thế kỷ 2-4 tr.Cn là giai đoạn tạo tượng người mang tính công thức, biểu trưng và giai đoạn sau xuất hiện những tượng mang nét cá tính, mô tả. Những dao găm cán tượng người, thú phát hiện ở Làng Vạc thuộc giai đoạn phát triển sau.

[10] Trong sưu tập dao găm Đông Sơn của nhà hàng Trống Đông Sơn (Hà Nội) có một số tượng mang nội dung lạ. Tôi đã có dịp nghiên cứu studio những tượng đó, như tượng đôi nam nữ, tượng đôi “dâng rượu”, tượng người thổi sáo…nhận thấy nhiều điểm ngoài quy luật truyền thống của nghệ thuật và kỹ thuật Đông Sơn.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »