Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Vương Hồng Sển’

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1, bên cạnh Thảo cầm viên. Đây là nơi bảo tồn và trưng bày hàng chục ngàn hiện vật quí được sưu tầm trong và ngoài nước Việt Nam

Ngày 18 tháng 2 năm 1927 nhà sưu tập Holbé qua đời , đề lại nhiều cổ vật trị giá 45.000 bạc Đông dương ( một số tiền lớn lúc bấy giờ ) . Sau khi vận động một số nhà hảo tâm mua bộ sưu tập lớn đương thời là sưu tập Holbé với hàng ngàn hiện vật, hội Nghiên cứu Đông Dương đem tặng toàn bộ hiện vật mà họ sở hữu cho nhà nước thuộc địa và đề nghị chính phủ thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ thành lập Viện Bảo tàng với điều kiện hội được đóng trụ sở và đặt thư viện trong Bảo tàng.

ngày 24-11-1927, Thống đốc Nam kỳ Blanchard de la Brosse ra nghị định thành lập Musée de la Cochinchine tức Bảo tàng Nam kỳ với trụ sở được chọn như hiện nay là tòa nhà lớn đang chuẩn bị xây vào năm sau đó: Năm 1928 – trong Thảo Cầm viên Sài gòn (ở phía trái cổng vào) do kiến trúc sư Delaval vẽ kiểu, mà trước đây dự kiến làm Musée du Riz (Bảo tàng Lúa gạo), sử dụng chung cổng ra vào với Thảo Cầm Viên.

Về mặt quản lý  , trong nghị định thành lập  , Bảo tàng Nam kỳ có quy chế riêng  trực thuộc trường  Viễn Đông Bác cổ , nhưng hội nghiên cứu Đông Dương lại được đặt trụ sở trong Bảo tàng  . Vì vậy  ngày  8 tháng 6 năm 1928, viên Bảo thủ văn thư của Hội  nghiên cứu Đông Dương là Jean Bouchot đồng thời cũng là thành viên của trường Viễn Đông Bác Cổ được cử làm Giám thủ đầu tiên của Bảo tàng  ( tương đương chức Giám Đốc  ) . Sau đó, có lẽ vì muốn cho thấy vai trò của người Pháp trong việc hình thành hệ thống Bảo tàng ở Đông Dương nên ngày 6-8-1928, lại có một nghị định đổi tên Bảo tàng Nam kỳ thành Bảo tàng Blanchard de la Brosse  tức lấy tên người ký nghị định thành lập Bảo tàng làm tên Bảo tàng –  và ngày 1-1-1929 Bảo tàng chính thức ra mắt công chúng.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Blanchard de la Brosse là như sau: “… có mục đích tập trung và gìn giữ tất cả các vật cũ ở Đông dương có tính cách mỹ thuật và khảo chứng, đặc biệt là những vật tìm thấy trong những dịp đào đất hay làm công tác gì trên địa hạt Nam kỳ, kể cả những vật điêu khắc riêng biệt mà sự bảo vệ khó thực hiện được chu đáo ở nơi phát hiện vì tình thế, chất liệu hoăc kích thước của vật đó.”

Trong 18 năm tồn tại dưới chính quyền thực dân Pháp . Bảo Tàng Blanchard de la Brosse   trải qua  2 đời Giám Thủ  :

1.    Jean Bouchot : nhà nghiên cứu, Giám thủ từ năm 1928-1932.
2.    Louis Malleret: nhà khảo cổ học, Giám thủ từ năm 1932-1946.

Năm 1945, sau khi Cách Mạng tháng 8 thành công,  Ngày 20 tháng 10 năm ấy, Bộ Quốc gia Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nghị định đổi tên các Học viện, Thư viện và Bảo tàng. Theo đó, Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đổi tên là Gia Định Bảo Tàng Viện. nhưng thực ra chính quyền người Việt ở Nam  Kỳ không  nắm quyền quản lý Bảo tàng mà phải theo mô hình  cũ cũng như nhờ đến sự trợ giúp của người Pháp , đã có những người Pháp do trường Viễn Đông Bác Cổ  biệt phái tiếp tục thay nhau làm Giám Thủ Bảo Tàng  :

1/Louis Malleret , tiếp tục được lưu dụng  1946 – 1948

2/Pierre Dupont  , nhà nghiên cứu – 1948 – 1950

3/Bernard Groslier , chuyên gia nghiên cứu văn hóa Champa -1951-1954

Từ năm 1948 Vương Hồng Sển đã vào làm việc tại Bảo tàng, đến năm 1954 khi cử Vương Hồng Sển làm Quyền Giám thủ, chế độ Sài gòn mới thực sự quản lý Bảo tàng, Bảo tàng không còn trực thuộc hội Nghiên cứu Đông Dương cũng như không còn các nhân viên người Pháp nữa.

Ngày 16 tháng 5 năm 1956, theo nghị định 321-GD/NĐ, chính quyền Sài gòn đổi tên Bảo tàng Blanchard de la Brosse thành viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam (Sài Gòn). Dưới chế độ Sài gòn, về mặt quản lý, Bảo tàng cũng có quy chế riêng trực thuộc Viện Khảo cổ của bộ Quốc gia Giáo dục (sau là bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên) chính quyền Sài gòn nhưng căn phòng phía sau đại sảnh bát giác vẫn còn dành cho hội Nghiên cứu Đông Dương làm thư viện hội.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam tại Sài Gòn được quy định rất đơn giản

*Nghiên cứu sưu tầm và trưng bày trong viện những di tích và các  tài liêu cổ  thời  thuộc về mỹ thuật , sử học , cổ học và nhân chủng học gồm chung của nước Việt Nam cũng như các nước lân cận hoặc đồng hóa : Trung Hoa , Nhật Bản , Cao  Ly , Cao Miên , Phù Nam , Lào , Thái Lan , Tây Tạng , Ấn Độ , Cổ Chiêm Thành …

*Tập trung về một chỗ và tàng trữ chung tại Viện  những cổ vật hoặc di tích còn ẩn tàng trên lãnh thổ Việt  Nam …

Từ năm 1956- 1975 Bảo tàng đã được quản lý bởi các quản thủ sau:
1.    1956-1964:Vương Hồng Sển, nhà nghiên cứu
2.    1964-1969: Nguyễn Gia Đức, kiến trúc sư
3.    1969-1975: Nghiêm Thẩm, giáo sư Dân tộc học.

.

Sau ngày 30 tháng 4  năm 1975, Bảo tàng được được Chính quyền Cách mạng tiếp thu nguyên vẹn. Sau đó, vào ngày 26 tháng 8  năm 1979, ngành chức năng đã cho đổi tên là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đổi lại là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay.

Bảo tàng  Lịch Sử có chức năng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc qua các hoạt động nghiên cứu , sưu tầm , giám định , kiểm kê , bảo quản , bảo vệ , phục chế , phục hồi , trưng bày , thuyết minh , tuyên truyền , xuất bản , ấn phẩm , maketing … giới thiệu các  tư liệu , hiện vật có liên quan đến lịch sử VN , các nước trong khu vực  nhằm góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ VN  , đáp ứng  thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu  , nghiên cứu  cũng như thưởng ngoạn của khách tham quan trong và ngoài nước  về lịch sử và các  sưu tập cổ vật

Hệ thống trưng bày của Bảo tàng hiện có 2 nội dung :

1/  Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỷ đến hết thời Nguyễn (1945) với 10 phòng trưng bày:

* Việt Nam thời Tiền sử

*Thời Hùng Vương

*Thời Đấu tranh giành độc lập dân tộc

*Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý

*Thời Trần

*Văn hoá Champa

*Văn hoá Óc Eo

*Thời Lê

*Thời Tây Sơn

*Thời Nguyễn

2/ Một số sưu tập về lịch sử – văn hoá các nước trong khu vực với 8 phòng và khu trưng bày:

* Tượng Phật một số nước Châu Á:

*Súng thần công thế kỷ 18-19

*Điêu khắc đá Campuchia

*Gốm một số nước Châu Á

*Xác ướp Xóm Cải (TPHCM)

* Sưu tập Vương Hồng Sển

*Văn hoá các thành phần dân tộc phía Nam

*Một phòng trưng bày ngắn hạn luân phiên trưng bày từ 3 đến 9 tháng, giới thiệu những sưu tập cổ vật mới phát hiện.

 

Vị trí và Kiến Trúc

Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đặt tại một công thự nằm trong một khu vườn rộng lớn (trở thành Thảo Cầm Viên Sài Gòn  năm 1864) ở phía đông thành Phiên An, gần dinh Tân Xá (do chúa Nguyễn Ánh sai dựng để Giám mục Bá Đa Lộc  làm nơi dạy dỗ Hoàng Tử Cảnh ).

Công thự do kiến trúc sư người Pháp  Delaval thiết kế theo lối Đông Dương cách tân và được hãng  thầu  Etablissements Lamorte Saigon thực hiện trong  3 năm : 1926 – 1927 – 1928

Phần giữa công thự có một khối bát giác (gợi nhớ quan niệm về bát quái củaKinh Dịch ) có 2 nóc mái lợp ngói  ống, có gắn vật trang trí hình phụng , hình rồng  cách điệu. Trên cùng, là 4 quả cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau. Vì vậy, có người cho rằng phần nóc mái này, mang nhiều yếu tố của kiến trúc cổ Trung Quôc ..

Vào những năm đầu 70 của thế kỷ 20, Bảo tàng được mở rộng diện tích bằng việc xây thêm phần sau dạng chữ U theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. cùng là dãy nhà ba tầng với hai lớp mái, có gắn đầu rồng kiểu gặm trang trí ở các góc mái. Nhờ các cửa đều hướng ra hồ cây cảnh, nên phòng trưng bày khá thoáng mát và sáng sủa.

Thông tin bạn cần biết :

Tại Bảo tàng Lịch sử, quý khách còn có thể tham quan:

1. Đền thờ Hùng Vương- một công trình xây dựng đầu thế kỷ 20 theo kiến trúc cổ Phương Đông được công nhận “Di tích cấp nhà nước” năm 2012- từ năm 1956 được chọn là nơi thờ kính, tưởng nhớ các vua Hùng và các vị Tổ tiên thành lập nước Văn Lang.

2.  Tra cứu tư liệu tại Thư viện Bảo tàng với trên 12000 đầu sách có niên đại từ thế kỷ 19 đến nay với các loại ngôn ngữ: Việt, Pháp, Anh, Hoa, Nhật, Thái…(trước đây là thư viện của Hội Nghiên Cứu Đông Dương, thành lập từ cuối thế kỷ 19).

3. Xem trình diễn Múa Rối Nước- một hình thức biểu diễn văn nghệ dân gian của nước Đại Việt xuất hiện từ hơn 1000 năm trước.

4. Mua sách về cổ vật cũng như những vật dụng kỷ niệm và thưởng thức café trong shop Bảo tàng…

*Giá vé người lớn : 2000 đ

*Miễn phí cho trẻ em từ 15 tuổi trở xuống tham quan Bảo tàng trong dịp hè ( 2012 ).

*Giờ mở cửa  : 8g – 17g từ thứ ba đến  chủ nhật .

*Thứ hai hàng tuần nghỉ  .

* Chụp hình – quay phim  giá vé : 22.000 đ .

* ĐT : 08.38298146  – 38290268  .

* Email  : btlsvnhcm@yahoo.com


Khanhhoathuynga tổng hợp .

Nguồn tham khảo : Bảo tàng Lịch Sử VN – TPHCM

Trích dẫn môt số bài viết của TS Phạm Hữu Công ( PGĐ  BTLSVN – TPHCM ) .

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P I

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P II –  CỔ VẬT MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P III –

 

 

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

DANH MỤC TỔNG HỢP

 

Read Full Post »

Vương Hồng Sển

Vương Hồng Sển thích chơi đồ cổ hơn thích viết. Trong bài dưới đây, ông cho hay: “trước năm 1945, tôi không viết chi hết, lấy tôn chỉ văn người hay hơn văn mình, mua sách đọc sướng hơn, và tội gì bôi lọ mấy tờ giấy trắng. Nhưng từ chạy lên Gia Ðịnh, bụng đói tôi mới bắt đầu viết để kiếm thêm miếng cà và miếng cơm. Tóm lại tôi ham đọc văn người để học thêm, và cùng cực khi nào tôi biết chắc một vấn đề nào và cần thiết lắm, khi ấy tôi mới cầm viết.”

“Khi nào…”, vậy mà cũng nhiều khi. Ông Vương để lại không phải ít sách. Sách nào cũng viết bằng một giọng cởi mở, thân mật, “bông thùa”. Ông viết tự nhiên đến nỗi, sau khi trình bày gốc tích chiếc bình “Hồng Võ niên chế”, ông tiện bút dặn dò con: “Ðối với con là Bảo, đây cũng là lời dặn riêng chớ xem thường một vật phải có diễm phúc lạ mới có được trong nhà. Vương Hồng Bảo, con nên nhớ.”!

Cổ bình đặc biệt, mà “tân văn” cũng đặc biệt quá đi chớ.

(Thu Tứ)

 

Cổ bình Hồng Võ…

Ông Châu Nguyên Chương, năm 1368, đánh đuổi được quân Nguyên ra khỏi Trung quốc, lên ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu là Minh, đóng đô ở Kim Lăng (Nam kinh ngày nay), gọi là Ứng Thiên phủ, lấy đất Khai Phong làm Bắc kinh. Ở ngôi được 30 năm (1368-1398). Ấy là Minh Thái tổ (Hồng Võ).

Với chiếc lộc bình “con sáo” còn sót lại này, nếu tôi chứng minh được nó là cổ vật chơn chính, không phải đồ giả hiệu, thì tuổi nó là:

cao niên nhất, lấy năm đầu Hồng Võ mà tính thì được 1971 – 1368 : 603 tuổi.

thấp nhứt, lấy năm chót Hồng Võ (1398) mà tính, thì cũng được: 1971 – 1398 : 573 tuổi.

Nay, thực tế mà nói, cứ tính mỗi năm mướn một người gìn giữ nó, theo giá tiền kim thời, nếu người ấy chịu giữ nó với giá một ngàn đồng một tháng thôi, thì trong 603 năm, tức 7276 tháng, dòng họ người đó, từ ông sơ ông sờ ông sẫm cho đến ngày nay, sẽ lãnh được tiền công là 1000$ x 7276 : 7 triệu 276 ngàn đồng.

Không nữa trong 573 năm, tức 6876 tháng, cũng lãnh 6.876.000 đồng.

Ấy là chưa kể tiền mua bình, và số tiền ấy sanh hoa lợi đến năm nay biết là bao nhiêu mà kể.

Thế mà tôi mua nó ở Sa Ðéc, ngày 24-1-1933 giá có bốn chục đồng (40$00), như vậy, các bạn đã thấy sự ích lợi của thú chơi đồ cổ chưa, và giá thử năm nay tôi bán và tôi thách 10.000.000$ thì cũng chưa phải là điên, vì một tấm tranh cổ đời Minh rõ ràng đấu giá có người mua đến mười triệu bạc kia mà! (Nhưng tôi nói đây là tỷ dụ chơi, xin các ông sở thuế chớ tin rằng thiệt.)

Trong giới chơi đồ cổ, đồ đời Minh đã là hiếm có lắm rồi. Thường thường có thể gặp trong vài viện bảo tàng lớn ở Anh, ở Pháp, ở Mỹ, ở Nhựt, một vài món Minh chính cống, kỳ dư đồ giả hiệu Thành Hóa (1465-1487) vẫn có bán ngờ ngờ, nhưng chính bên Nhựt Bản, tôi cũng chưa từng nghe nói có tàng trữ cổ vật Minh Hồng Võ. Nhưng bán giá bạc triệu không phải dễ, phải đủ bằng chứng, có lẽ họ mới tin, còn mua hay không là việc khác.

Nhưng xin các bạn rán chịu đọc tiếp. Tạm thời, tôi dám tuyên bố: “Bình này quý lắm, đáng gọi là “độc nhất vô nhị”, hoặc “cổ kim hy hữu”.”

Tôi viết đến đây nhớ mấy ông Ðạo Chích, ông nào thính tai, cũng đừng bận rộn rình nhà vô ích, vì lấy ra được thì chiếc bình đã bể và trở nên vô giá trị, thà để vậy cho tôi làm tài liệu viết sách còn hơn.

Và xin cho phép tôi dài dòng thơ thẩn, để rọi sáng vấn đề.

Gốc tích. – Năm 1931, tôi để ý cái lục bình này, tại mé sông Tân Qui, châu thành Sa Ðéc, nơi nhà một ông thợ bạc họ Phạm, nay đã quá cố.

– Năm 1932, tôi theo dõi và hỏi thăm các bạn quen biết nhưng chưa dám giáp mặt ông chủ chiếc bình, tuy đã có xin xem mấy lần.

– Năm 1933 tôi đổi về quê nhà Sóc Trăng, và ngày 24 tháng giêng Tây, tôi đã làm chủ thiệt thọ chiếc bình, khi ấy tôi mới dốc lòng tra tầm lý lịch của nó.

– Ðến năm nay 1971, tôi mới viết ra bài này. Từ trước năm 1945, tôi không viết chi hết, lấy tôn chỉ văn người hay hơn văn mình, mua sách đọc sướng hơn, và tội gì bôi lọ mấy tờ giấy trắng. Nhưng từ chạy lên Gia Ðịnh, bụng đói tôi mới bắt đầu viết để kiếm thêm miếng cà và miếng cơm. Tóm lại tôi ham đọc văn người để học thêm, và cùng cực khi nào tôi biết chắc một vấn đề nào và cần thiết lắm, khi ấy tôi mới cầm viết.

Như đối với chiếc lục bình này, tôi biết đã khá nên xin chất vấn hải nội quân tử, chờ được dạy thêm.

Ðối với con là Bảo, đây cũng là lời dặn riêng chớ xem thường một vật phải có diễm phúc lạ mới có được trong nhà. Vương Hồng Bảo, con nên nhớ.

Kích thước. – Chiếc bình đo bề cao 0m 45

Kinh tâm trên miệng 0m 15 (đo phủ bì).

Kinh tâm nơi đáy (đít): 0m 17.

Nơi hông, chỗ rộng hơn hết, đo được 0m 21.

Giá mua: bốn chục bạc, bạc năm 1933 (kinh tế khủng hoảng, giá lúa 0$90 một tạ).

Ngày mua và nơi mua: Mua ngày 24-1-1933 ở Sa Ðéc, nhờ ông phủ Võ Văn Nhiễu chở về giùm.

Số mục lục: 64 VHS. (Xem hình nơi tập H.C.Ð.S. số 4) pl 28-29 fig 28A-28B).

Hình dáng. – Hình dáng rất thanh và cân xứng, không lỏng chỏng, không ô dề, chuộng bề thế vững chắc. Nói theo giọng chuyên môn Âu-Mỹ, bình này quả có một vẻ chơn thật bình thường (honnête et simple), rất cổ điển, y như muốn nhái một bình đời Thương qua Hán, bằng đồng đen. Quả hình dáng có duyên, không hào nháng se sua, cũng không quá cổ lỗ, thấy chiếc bình đủ tin đứng trước một cổ vật đặc sắc, có chơn giá trị.

Từ trên tả xuống: trên vành miệng có một viền hồi văn đắp nổi (xem Pl. VIII, kiểu hồi văn A), đây là những kiểu đầu như ý (modèle de tête de sceptre), đặt kế nhau theo thể cách giao liên, cái này nối tiếp cái kia, thành một đường dài y một kiểu, ta gọi những đầu như ý liên tiếp ấy là “dây hoa sòi” hay “dây sòi”. Theo sách, “sòi” là hình đầu chiếc nấm linh chi, mỹ thuật hóa thêm cho đẹp. Sòi, nay còn thấy thêu trên gấm Trung Hoa hoặc vẽ trên trang sách quí hay trên cổ những chóe Khang Hy, nét vẽ đan thanh, chỉ chừa nhiều khoảng trống để khoe sắc đẹp của da trắng sành trứng diệc (blanc “oeuf de héron”).

Tiếp theo miệng bình, và trên cái hông bình, có một khúc thắt nhỏ lại, quen gọi “cái cổ của chiếc lộc bình”. Nơi khúc cổ ấy, hai bên tả hữu, có đắp nổi hai nhánh mai, nhánh màu đen luốt luốt, bông năm kiếng trắng bạch, cả hai nhánh đắp dộng đầu, cuống trở lên, đọt và hoa trở xuống, kiểu ấy gọi “mai chiếu thủy”. Dưới cái cổ, tiếp hai đường viền hồi văn màu đồng đen, chỉ đắp nổi, đường viền trên là hồi văn chữ S nằm trái trả.

Ðường viền dưới nhái trở lại dây sòi “đầu như ý” y một kiểu với hồi văn đắp trên miệng (xem Pl. VIII, kiểu hồi văn B).

Dưới hai đường hồi văn màu đồng đen này là tới cái hông bình. Hông này, một phía không vẽ vời, cốt để khoe men đẹp và cái đẹp của da rạn, vừa rạn da rắn (craquelé en peau de serpent), vừa men màu hột vịt lộn (couleur “oeuf pourri”).

Phía bên kia của chiếc bình, vẽ tích “mẫu đơn điểu”, nhưng cách vẽ cũng không giống các cổ bình tôi thường thấy. Trên cổ bình, thường ký niên hiệu “Thành Hóa” thường vẽ kiểu “mẫu đơn trĩ”; nhưng trên chiếc bình “Hồng Võ” này, con điểu ấy không phải là chim trĩ nữa, mà là một con chim “kỳ cục”, có mỏ dài màu trắng, trên đầu có chóp mao, còn lông cánh thì xệ xệ, lông đuôi thì tỉa lớn sợi và xụ xuống, trông không biết đó là chim gì, đến nỗi các anh em giới chơi đồ xưa ở Sa Ðéc, luôn và ba tôi, đều tặng cho nó là “bình con sáo của bác thợ Thiệu”. Duy ai nấy đều nhìn nhận nét bút công phu, và màu xanh lơ thiệt đúng là màu xanh sau cơn mưa (vũ quá thiên thanh) của đời Minh vậy. Ngày này, học thêm chút ít, thấy trong sách Cảnh Ðức trấn đào lục chép Hồi Thanh làm ra màu “vũ quá thiên thanh” phải đợi đến niên hiệu Chánh Ðức (1506-1521) mới mua được nhiều của người Hồi Hồi, nhưng thuyết này không đủ chứng minh đời Hồng Võ chưa có Hồi Thanh do các cuộc trao đổi đi sứ đem về, nhưng ít thôi, và đồ ngự dụng mới được dùng đến.

Nay tôi xem kỹ, con chim lạ ấy đậu trên một gốc tùng, tùng thiên niên thọ đã cằn cỗi và nhiều chỗ, nhánh đã mục nay chỉ còn dấu khuyết trên da. Chung quanh và dưới con chim trĩ, có bốn bông mẫu đơn thật lớn, nhờ mấy đóa mẫu đơn này, tôi mới dám chắc đó là kiểu “mẫu đơn trĩ”, tượng trưng cho sự phú quí, vì thuở nay ai cũng biết: mẫu đơn là phú quí chi hoa, và trĩ (sau này biến thành phụng) là chúa các loài điểu.

Dưới chân bức họa “hoa điểu”, sát tới đụng chân bình, là một viền hồi văn màu đồng đen, cao đến hơn năm phân Tây, hồi văn này chạm sâu vào da bình, kiểu sóng bủa có vòi, chạy giáp vòng quanh chiếc bình. Ðây là kiểu “thủy ba dợn sóng”. (Ba là “hoa”, vì kỵ húy tên bà phi, vợ ông Minh Mạng, nên ngoài Huế có tục lệ nói “ba” thay vì “hoa” (xem Pl. VIII, kiểu hồi văn C).

Sau rốt, nơi sát đáy bình, có chừa một viền trơn kiểu “lá hẹ nổi”. Ðây là đường viền chót, nhái viền đồng đen thường gặp trên các cổ đổng đời Hán (206 tr. T.l. – 220 sau T.l.).

Chiếc bình này chứng tỏ đời Minh còn chuộng kiểu bình xưa đời thượng cổ, đều làm bằng đồng, sau vì chiến tranh lấy đồng đúc binh khí, nên mới tìm ra đất nung, gốm và sành, làm đồ từ khí thay thế đồ bằng đồng.

Trên chiếc bình tôi đang tả, dưới đít, chỗ nào men đen cái viền “nhái da đồng”, chỗ nào màu đen không phủ khắp thì lộ ra một màu đo đỏ như màu gạch tôm, nói cách khác, như màu gạch đỏ bầm, đây là một triệu chứng sót lại của các cổ vật bằng đất nung đời Tống đời Nguyên tồn tại (Song 960-1279; Yuan 1279-1368).

Từ nãy giờ, tôi tả dông dài chiếc bình Hồng Võ, mà nào có thấy bằng chứng gì là Hồng Võ đâu? Và đây là bằng chứng ấy: Số là nơi đít bình, khi lật lên xem, sẽ thấy giữa một khoảng trắng da sành rạn ổ nhện, có hình một con dấu to, nét chạm rất sâu, vuông vức như vầy, màu da đồng đen (hình dưới là rập lại y kiểu nơi đáy bình) (xem Pl. IX).

Trong lòng chiếc bình, có tráng men, màu trắng, da trổ rạn da rắn từ trên miệng xuống đến cổ, còn trong bụng chiếc bình không thấy da trổ rạn nữa.

Bốn chữ trong con dấu trên đây, nhiều người đọc, chữ được chữ không và vẫn làm cho giới anh em chơi đồ cổ ở Sa Ðéc đều ngã lòng, vì vậy chiếc bình ế độ mới lọt về tay tôi. Có phần hay không là vậy.

Bây giờ tôi xin để y câu chuyện cắt nghĩa bốn chữ ấy, và bắt qua thuật chuyện cách mua chiếc bình như thế nào:

Cách mua chiếc bình. – Tôi đã nói trước đây rằng trước năm đảo chánh 1945, đồng bạc Ðông Dương rất có giá trị. Nhứt là khoảng 1932-1933, kinh tế khủng hoảng, có người trọn đời không thấy tờ giấy bạc một trăm đồng, gọi <169>giấy xăng<170>. Còn dân đen, nói gì, trọn năm không kiếm đâu ra bốn đồng rưỡi bạc (4$50) đóng thuế thân, phải ở tù lên ở tù xuống.

Lúc ấy, năm 1932 tôi làm thơ ký hạng 3 của chánh phủ Pháp, lương mỗi tháng 81$78 (có vợ không con). Tôi truất ra 40$ mua cái lục bình. Nay bình trị giá sáu, bảy triệu đồng. Nhưng chiếc bình này quí hơn chiếc Mercédès nhiều. Mercédès giá trên mười triệu mà nhiều người có; chiếc bình từ Minh Hồng Võ, lẽ nào giá trị kém chiếc xe bao giờ!

Giá thử năm 1932, tôi không mua chiếc lục bình này, thì số bạc 40$ kia, tôi cũng xoay xở tiêu pha mất hết rồi. Hoặc tôi có khôn khéo dùng số bạc ấy cho vay đặt nợ, bòn tro đãi trấu, thì cũng chưa ắt kết quả có đến số bạc do chiếc bình đẻ ra trong óc tưởng tượng của tôi, không khác bài toán “Con bán sữa và bình sữa”, của ngụ ngôn Pháp!

Bí quyết của nghệ thuật chơi cổ ngoạn là đó. Nhưng ngày nay dở tập hồ sơ cũ, (có cả mảnh lưu chiếu bưu phiếu 40$40, số 104, série 006,983 đề ngày 19-11-1932 gởi cho một bạn ở Sa Ðéc nhờ mua một chiếc bình), tôi thấy lại cả cái rị mọ dễ ghét chầu xưa của tôi mà không khỏi buồn cười.

Tôi cần phải thuật các chi tiết lại đây, mặc dầu dài dòng, để các bạn hiểu đôi chút về tánh gàn của một tên chơi đồ cổ, vừa có dịp so sánh đời sống miền Nam trong hai khoảng năm 1932 và năm 1971, khác nhau xa thế nào.

Sơ khởi, lúc tôi đổi về làm việc tại Tòa Bố Sa Ðéc, từ năm 1928 đến năm 1932, tôi đã nghe danh chiếc lục bình này và đến xem tận mắt tại nhà chủ cũ của nó là ông họ Phạm (nay đã mất). Ông cũng là chủ cũ của cái tô Bá Nha Tử Kỳ có bài thơ nôm mà tôi sẽ nói nơi sau trong tập này, và cũng là chủ cũ của cái thố có nắp, di vật của chúa Nguyễn Ánh, tôi sẽ nói nơi sau, lại cũng là chủ cũ của bộ chén trà năm Giáp Tý (1804) tôi sẽ nói qua tập số 7 “Thú chơi ấm chén”. (Tóm lại những món quí của ông, sau đều về tay tôi cả.)

Nhắc lại khi thấy chiếc lục bình, tôi ưng bụng ngay, và định mua, nhưng các bậc đàn anh dẫn đường cho tôi, đều khuyên nên chậm chậm, một là để đủ thời giờ xem đi xét lại, hai là có sợ mất mát gì đâu mà hòng lật đật, vì buổi ấy tiền bạc trong nước kiếm không ra, tôm tươi một đồng bạc bốn thùng thiếc, “ăn đến kiết”, và bắp trái trên cây, một trăm trái bán có hai cắc bạc; nay tội gì xuất ra bốn chục đồng bạc (40$00) mua một cái lục bình mà nội chợ không ai thèm ngó!

Tháng tư năm 1932, tôi đổi về làm việc sở quản thủ địa bộ ở quê nhà, tại Sóc Trăng, tuy xa cách Sa Ðéc, nhưng không quên cái bình.

Lúc ấy, tôi bèn gởi thơ cho một ông bạn rất tốt (nay đã mất) và rất sành sỏi về đồ xưa, là ông Trương Văn Hanh, nhà ở đầu cầu Vĩnh Phước, mé sông Tân Qui, cùng một xóm với ông thợ Thiệu. Trong thơ của tôi (lúc ấy tôi chưa có tật giữ bản sao thơ gởi đi) tôi nhờ nài chiếc lục bình, nhưng thơ thứ 1 đề ngày 15-XI-1932, ông Trương viết như vầy và tôi xin chép lại cho thấy giọng văn của ông: “Tôi có được thơ cậy hỏi lục bình con sáo từ 40$ đổ xuống mà tôi thì trả có 30$, nên va còn dụ dự, vì thiệt vốn va tính cho tôi nghe thì là 32$. Tôi tính để trả cho y 35$ là cùng mà thôi, thế thì phải được vì năm nay không còn chờ chi là cao giá, và lúc này y cũng cần tiền hơn.

“Vậy chừng mua được, mới làm sao? Phải gởi cách nào? Muốn vậy thì mua được trong tay; xin gởi ngay 40$ và chỉ cách gởi gắm đồ ấy. Có lẽ tôi mua dưới 40$, theo y nói thì bốn chục cũng chưa đắc ý bán, vì vốn đã 32$, mà đã ba năm rồi, lời có mấy đồng còn chê ít, nhưng mà không ai mua chi cho mắc hơn mình mà sợ…

Ký tên: T.V.H.”

Tiếp theo bức thơ 15-XI-32 trên đây, tôi có nhận một bức khác có kèm thơ của chủ cũ chiếc bình, cả hai thơ ấy, tôi xin sao lục ra đây, y nguyên văn:

1) Thơ đánh dấu a). – “Sadec le 16 novembre 1932

Lời cho chú Tư rõ (ông Hanh thứ tư), Cái lục bình, xin chú làm ơn vui lòng trả lời với người đó. Xin chú cắt nghĩa giùm nó đã hay mà lại xưa lắm, như họ muốn dùng, tôi định chắc 40$00.

Ký tên: Thiệu”

2) Thơ đánh dấu b). – “Cùng hiền hữu yêu dấu,

Sớm mai này, mới được tin của M. Thiệu nói vậy đó, liệu sao? Như mọi khi thì không mắc lắm, mà lúc này thì tự ý, tôi đã trả rồi 35$00, y nói để tính rồi trả lời, nên y trả lời vậy, nghĩa là nhứt định 40$00. Hôm qua, tôi tính thế nào cũng mua được 35$00, nên mới gởi thơ nói chắc dưới 40$00. Nay mới đặng tin của y nói vậy, nên xin gởi theo cho mà coi. Tùy ý muốn sao cũng được hết. Hễ là 40$00 thì giờ nào cũng được.

Ít lời cùng hiền đệ đặng hay,

Ký tên: Hanh”

3) Thơ đánh dấu c). – “Sadec le 16 novembre 1932

(tiếp theo)

Thơ vừa rồi đã niêm phong lại chờ gởi đi, kế gặp dịp may, có người điềm chỉ rằng: Tại Cao Lãnh, có nhà Tư Chương, lúc trước sắm đồ cũng mấy ngàn, nay vì kinh tế nên tính bán hết. Tay này cũng biết chơi lắm, tôi có đến nhà một khi, nhà ấy ở gần nhà Hội đồng Vinh, nhớ in là hiền hữu có đi một chuyến với tôi là phải? Như bụng còn muốn sắm nữa, bề nào cũng nhọc công, vậy tốt hơn là lên một chuyến mà lựa thì chắc ý lắm. Liệu sao tự ý rồi trả lời tôi biết.

Ký tên: Hanh”

Tiếp được mấy bức thơ trên, tôi trả lời như sau:

“Sóc Trăng 19-XI-1932

Trương huynh ông,

Hai ngày được liên tiếp của ông hai bức thơ nói về một chuyện, thế đủ rõ tấm lòng sốt sắng với tôi là bao. Cái thạnh tình ấy, tôi xin đa tạ.

Lẽ đáng thì tôi không nên đeo đuổi theo cái lục bình mà làm nhọc ông, nhưng cũng vì cái ham cái muốn đồ cổ khiến tôi bất kể phép lịch sự và xin ông vụ tất việc này một phen nữa.

Sau đây, tôi gởi số bạc 40$00 (mandat bưu điện số 104 ngày 19-11-1932).

Xin ông tùy nơi người chủ bán, chớ người mua vẫn trông cậy vào ông. Ðược rẻ hơn thì may, bằng không thì giá đó cũng vừa, vì tôi muốn lắm. Nhưng xin ổng cho thêm cái chưn tiện bằng cẩm lai.

Như ông mua được rồi thì hãy đem về nhà ông, hoặc đóng vào thùng sẵn để đó cho tôi, rồi mười bữa nửa tháng, có dịp có người đi Sa Ðéc, tôi sẽ cậy ghé lấy, chớ gởi theo nhà thơ, tôi không yên dạ.

Còn việc ông cho hay mấy món nơi nhà ông Tư Chương, hiện nay đổ đường lên mua đồ cổ thì không thể được, để có dịp nào thuận tiện, tôi sẽ thơ cho ông hay.

Thơ chẳng hết lời, kính chúc Trương huynh ông vạn an.

Nay kính,

Ký tên: Sển”

Sau đó lục bình đem được về Sóc Trăng, nhờ ông bạn đồng liêu cũ, nay đã quá vãng, ông Võ Văn Nhiễu, chở về giùm. Lúc ấy tôi ở chung với ba tôi, số 33 đường Hai Bà Trưng, ngay chỗ rạp chiếu bóng bây giờ. Phố tấp nập, người qua kẻ lại rần rần, anh em bạn đến nhà chơi không thiếu một ai, nhưng đều không biết giá trị cái bình: kẻ chê “con sáo vẽ kỳ cục”, người nói nước men không giống các bình đã thấy v.v…, và phần đông bắt bẻ sao trên miệng có một vết màu không y như da sành chung quanh.

Tôi nghe mãi muốn điên đầu… Lúc ấy, tại châu thành Sóc Trăng, ở tiệm bán sắt hiệu Vĩnh Sanh, ở xéo xéo phố ba tôi ở, có một ông tài phú người Quảng Ðông, tên là Trần Phụng Hữu, có tiếng là người hay chữ nhứt trong vùng. Lúc còn ở Trung Hoa, ông đã đỗ tú tài Hán văn, sau bị lùng bắt vì có tên trong đảng đối lập chánh phủ, nên ông trốn qua Nam ở lâu năm trong sốc Thổ, mai danh ẩn tích, rồi mới ra làm thơ ký bút toán cho hãng Vĩnh Sanh này.

Một hôm, tôi rước ông đến nhà, nhờ đọc giùm bốn chữ cổ tự nơi đáy chiếc bình “con sáo”, bốn chữ con dấu tôi đã rập lại nơi đoạn trên. Ông Trần Phụng Hữu trở ngược đầu chiếc bình, nhìn một hồi lâu, xoay qua trở lại đủ hướng mà không đọc được đủ bốn chữ kia. Ông tức lòng vì mình đã xưng đậu Tú tài bên Tàu, nay không đọc được chữ cổ, bèn rút bút máy, viết lia lịa một bức thơ vắn tắt, đề ngày 30-1-1933, gởi qua Hương cảng cho nhóm văn hữu quen bên ấy, nhờ đọc giùm. Thơ của ông có kèm cái rập hình con dấu, tôi đã nhờ người phiên âm và dịch lại Việt văn như sau:

“Thử tứ tự nãi hệ cổ bình để sở tạc chi tự dĩ ký niên hiệu chi ý HỒNG VÕ CHẾ.

Tam tự thượng vị tri thực phủ.

Thử tự kỳ vi vấn các xã huynh năng tả triện tự giả hoặc năng tường xuất mổ tự kỳ trịch phản, thị tri. Thị hà.”

Dịch. – “Bốn chữ này là chữ tạc ở đít cái bình xưa để ghi lấy niên hiệu chế ra cái bình này trong năm thuộc trào vua Hồng Võ. Ba chữ còn chưa biết thật không.

Xin gởi mấy chữ này hỏi chư ông là người thường viết lối chữ “triện” hoặc biết rõ lối chữ ấy ở đâu (đời nào) xin trả lời cho biết. Cám ơn.”

Kế đó, ông Trần Phụng Hữu nhận được thơ trả lời, và ông vẫn giao hết cho tôi giữ làm tài liệu, ngót mấy lần biến cố, tôi vẫn giữ được y và nay xin chép ra sau bản phiên âm và bản dịch văn xuôi:

Phiên âm. – “Phụng Hữu tiên sanh giám: kim nhật thần tiếp bút đại hàm kính thừa dĩ vấn “Triện” thơ chi tự.

Tra “Thiên tự văn” tứ thể “triện” thư nội, NIÊN THỈ MỖI THÔI chi niên tự, dữ tự tương đồng.

Tra biệt thư tả niên tự hữu dĩ “HÒA” dĩ “NGƯU” giả, đại ý niên tự, vô nghi.

Chất chi ngâm hữu, ý kiến giai đồng, diệc dữ “HỒNG VÕ NIÊN CHẾ” độc đắc khứ, tha vi Minh trào niên chế vô nghi, cố giã.”

Dịch xuôi. __ “Cùng ông Phụng Hữu,

Sớm mai này nhận được thơ của ông hỏi về lối chữ “Triện”.

Xét trong “Thiên tự văn” có bốn lối viết chữ “triện”. Có câu “Niên thỉ mỗi thôi” (thì giờ tên tuổi đi mau như tên bắn), thì chữ Niên ấy cũng giống như chữ Niên này.

Xét trong sách khác có viết chữ Niên, thì có chỗ dùng chữ Hòa và chữ Ngưu làm ra chữ Niên. Ðại ý chữ ấy là chữ Niên, không còn nghi ngờ gì nữa.

Tôi đã hỏi anh em bạn tôi đều cùng ý kiến với tôi mà đọc là HỒNG VÕ NIÊN CHẾ, thế thì món đồ đó chế ra hồi trào vua này, không còn nghi ngờ nữa được.”

Thế là từ đó tôi có tài liệu vững chắc, chứng minh lục bình con sáo chế tạo vào niên hiệu vua Minh Thái tổ Hồng Võ: Câu “Tra biệt thư tả niên tự hữu dĩ hòa dĩ ngưu giả, đại ý niên tự vô nghi” (Xét trong sách khác có viết chữ niên thì có chỗ dùng chữ hòa và chữ ngưu làm ra chữ niên, không còn nghi ngờ gì nữa.)

Câu này quan trọng nhất, đại khái nói đời xưa viết chữ Niên khác với chữ Niên ngày nay, và chữ Niên đời trước là do chữ Hòa (một giống lúa) ráp với chữ Ngưu, hiểu rằng “con trâu làm được hột lúa trong thời gian MỘT NĂM”.

Chữ Niên (dĩ hòa dĩ ngưu) này, bọn giả tạo không biết, nên đó là một triệu chứng chắc chắn món đồ này là thiệt.

Kết luận. – Như các bạn đã thấy, trong vụ mua được lục bình con sáo, chẳng phải tại tôi giỏi, nhưng mà tôi may thời.

Nghệ thuật chơi cổ ngoạn là nhiều khi do một sự tình cờ.

a) Chiếc bình, nếu còn trong tay người chủ cũ, thì bất quá, nếu cất giữ được, thì chịu phận thiệt thòi không ai biết; hoặc giả nếu lấy ra dùng thường rủi ro đã bể, và mảnh vụn nát vứt đi, còn ai đọc chữ “niên dĩ hòa dĩ ngưu” cho?

b) Tôi tiếc không hỏi được lý lịch của chiếc bình, khi trước ông Sáu Thiệu tìm được ở đâu, xóm nào, nhà ai, mà có chứa món này và có lẽ còn nhiều món lạc loài đáng tiếc khác. Công việc ngày nay là nên tìm cho ra manh mối đó.

c) Nếu bình này, lối 1932, ở Sa Ðéc có người biết giá trị của nó, thì làm sao về tới tay tôi? Trong nghề chơi cổ ngoạn, nhiều khi người đi trước không biết và người đi sau lại được của quí, cho nên có câu “của tìm người” là vậy.

d) Cái gan lớn của tôi lúc đó là nhà không đủ tiền đi chợ hằng ngày mà vừa thấy là định tâm mua cho được. Nếu tôi có trù trừ dụ dự là vì kiêng kính bạn tác, không dám mua mắc là sợ mích lòng các bậc đàn anh đang dạy mình chơi đồ xưa, và những cái lẩn thẩn tôi đã nói nơi đoạn trước cho thấy thuở ấy, đồng bạc rất có giá trị, khi xài ra ke re cắc rắc, đếm từ đồng, bớt từ xu, không như bây giờ phung phí hời hợt, vì tờ giấy một trăm, tội nghiệp, giá trị không bằng một đồng xu Tây hồi đó. Gói xôi một xu trước ăn no bụng, gói xôi hai chục nay không đủ nhét kẽ răng.

e) Lục bình con sáo, sau khi giảo nghiệm bốn chữ niên hiệu, đã trở nên quí, như nàng quốc sắc, nhờ có người cất nhắc mới đẹp mặt nở mày. Trong khi ấy, vì thiếu đỡ đầu, cô gái đẹp phải đi gánh nước mướn; cũng như chiếc dĩa xưa lọt vào tay thằng lắc bầu-cua-cá-cọp.

f) Tuy tông tích đã thất lạc, nhưng nhờ khảo nghiệm được bốn chữ chính cống “Hồng Võ niên chế”, nên nay lục bình con sáo trở nên một vật dùng để so sánh và định tuổi các vật khác sẽ gặp (élément de datation), nhờ sự giảo tự đáng tin của các chuyên gia đọc rành chữ triện ở Hương cảng, thêm nhờ sự lạc tinh (patine) của chiếc bình. Nếu bình còn mới, chưa lạc tinh, thì không làm vật chứng minh được.

Trong cái lục bình này, tôi tóm tắt lại những cái khéo của nó: Về men, dưới đáy, men trắng và rạn nhỏ, trong lòng men trắng rạn da rắn lớn miếng, ngoài bình men màu vàng sậm rạn da rắn to, cổ và giữa hông cũng như phần chót gần đít bình, luôn hai nhánh mai, thì men da đồng đen, chỗ xanh lam thì xanh màu “vũ quá thiên thanh”, chỗ men nổi trắng như hoa mai hay kiếng hoa mẫu đơn thì màu trắng bạch gọi “duyên phấn”, tóm lại bình này không phải bình “trắng xanh” (bleu et blanc), mà là bình “ngũ thái” (cinq couleurs), hội đủ các tài hay và sự thành công của các bí thuật đời Minh vậy.

Thêm nữa, vẽ cây tùng cằn cỗi, lá tủa đơn sơ xen với bốn đóa mẫu đơn tách xanh trắng phân minh; trên cây tùng vẽ một con chim giống lạ, có lẽ là chim của Trung Hoa, nước ta không có, gọi con sáo là gọi gượng chớ không biết chim gì.

Màu da đồng đen là nhái lại các cổ bình đời Thương đời Hán.

Dưới đáy, nơi men không ăn tới, thì da đất trỗ màu đỏ điệu céladon xưa.

Hai bên hông, nơi có đắp nhánh mai da đồng đen, hoa mai năm kiếng trắng điệu Bạch Ðịnh (blanc de Foukien).

Quả là một độc bình lạ lùng. Từ ngày tôi gặp, và mỗi lần tìm một món khó định tuổi, nhưng gần giống màu sắc, kiểu vở, tôi đều đem lại đọ với bình này mà đánh giá và định tuổi vật kia.

Xin cho tôi căn dặn đôi lời:

1) Ngày nay, thị trường đồ cổ tràn ngập đồ giả hiệu, phần nhiều rất khéo và thường ký nhái hiệu Thành Hóa (1465-1487), chớ không bao giờ dám đề Hồng Võ, vì sợ lộ tẩy sớm. Những đồ giả Thành Hóa ấy cũng đắp bông nổi nhánh mai hoặc mặt bợm (thao thiết) màu đồng đen, hai bên cổ chiếc bình. Vành miệng cũng thường nhái da đồng. Phải cẩn thận và cho tinh mắt, không nên nghe lời tán tụng của con buôn mà mua đồ báo đời, chỉ mất tiền mà không dụng vào đâu.

2) Nhờ chữ “Niên” viết theo lối xưa, bọn giả tạo không biết được, mà tìm ra sự chơn chánh của cổ bình này.

3) Thường thường khi đổi thay một triều đại, thì triều đại sau bỏ hết các kiểu vở của triều đại trước, nước nào cũng vậy và đời nào cũng thế.

Vua Hồng Võ lập nhà Minh. Các lò gốm của Nguyên để lại đều bị dẹp hoặc bị đốt phá. Thường các vua khai quốc chỉ lo về binh bị, không đủ thời giờ lo việc chấn hưng mỹ thuật, văn hóa.

Vào đời Minh, vua Thái tổ mất (1398). Con trưởng là Tiêu, được phong thái tử, ông này mất sớm, con là Kiến Văn (Huệ đế) bị chú là Yên vương (tên Lệ) đánh đuổi giành ngôi, xưng Thành tổ (Vĩnh Lạc 1403-1424). Vì vua Huệ đế bôn đào, không biết sống chết, vua Thành tổ sai thái giám Trịnh Hòa giả danh đi buôn đồ gốm đồ sành để tìm vua Huệ đế đặng trừ hậu hoạn, cũng vì dịp ấy mà đồ gốm đồ sành xuất dương ra nước ngoài, nay nhiều nhứt là ở Istanbul nơi viện Topkapyl của Thổ-nhĩ-kỳ. Vua Thành tổ đồng thời với Hồ Quý Ly, và thành nhà Hồ là kiểu mẫu Minh vậy. (Trịnh Hòa dẫn thuyền kéo cờ Minh đi khắp biển trong 30 năm từ 1405 đến 1433; được người Trung Hoa xuất ngoại nhớ ơn thờ làm ông Bổn (Bổn đầu công) (xem lại tập 4 tr. 254).

Hồ Quý Ly (1400-1407) chống Minh nhưng cự không lại, để bị bắt và làm mất nước, tài có dư mà không có thời, nên tội cũng nhiều.

4) Bình Hồng Võ niên chế này, theo tôi, là vật chế riêng với tất cả sự khéo léo đặc sắc thuở ấy (Mạt Nguyên Khai Minh), để chứng tỏ sự mở màn của một đời thái bình thạnh trị. Vì sao lọt được khỏi Trung Hoa để vào vùng Sa Ðéc? Hay là cố vật buổi lưu vong nhóm di thần nhà Minh Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Ðịch? (Hậu nhựt tri).

5) Bình này có lẽ là “unique” từ trong xứ đến nước ngoài.

(Xem hình trong H.C.Ð.S. số 4 pl 28-29, fig 28A, 28B).


11-XI-1971

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

ĐỒ SỨ BLEU DE HUE  TRONG SƯU TẬP VƯƠNG HỒNG SỂN

PHÍ NGỌC TUYẾN (*)

Vương Hồng Sển (1902 – 1996) là một nhà nghiên cứu văn hóa đồng thời là nhà sưu tập cổ vật nổi tiếng ở miền Nam. Suốt cuộc đời, ông đã say mê tìm hiểu và sưu tập được hàng trăm món cổ vật qúy giá gồm nhiều chất liệu khác nhau như gốm, đá, gỗ, đồng, sừng, ngà, sơn mài, vải, giấy… Trong đó, số lượng nhiều nhất, có giá trị hơn cả là đồ gốm của Trung quốc, Việt nam, Cam-pu-chia, Thái lan, Nhật, Pháp… Trong sưu tập gốm sứ của ông, chúng ta dễ dàng nhận ra các loại đồ gốm men trắng hoa lam thế kỷ XVIII được sản xuất tại Trung quốc hoặc do các nước đặt hàng Trung quốc làm với những kiểu dáng, hoa văn trang trí khác biệt, trong ấy có nhiều loại hình do các chúaViệt nam đặt hàng.

Trước khi giới thiệu về một số cổ vật gốm sứ men lam thế kỷ XVIII có ghi chữ: “Nội phủ…” và “Khánh xuân …” được làm tại Trung quốc theo Việt Nam đặt hàng trong sưu tập của Vương Hồng sển, chúng tôi xin được phép sơ lược qua vài nét về chủ nhân của nó với tấm lòng kính trọng và ngưỡng mộ về một con người đầy tài hoa, phóng túng.

Vương Hồng Sển sinh năm 1902 tại tỉnh Sóc trăng (miền tây Nam bộ) trong một gia đình làm nghề kim hoàn. Lớn lên, ông theo học tại trường Chsseloup Laubat Saigon (1919 – 1923) nay là trường Trung học phổ thông Lê Qúy Đôn. Sau khi thôi học, Oâng  làm nhiều công việc ở nhiều nơi khác nhau : Thư ký trường máy ; Ký lục – phát lương (Sa đéc) ; Thư ký Sở Điền địa (Sóc trăng) ; Tòa Bố chính (Cần thơ) ; Dinh Thống đốc Nam kỳ (sài Gòn) ; Quản thủ Viện bảo tàng Quốc gia tại Sài gòn (1948 – 1964).

Trong những năm làm việc cho Nhà nước thuộc địa Pháp và chính quyền Sài gòn trước đây, Vương Hồng Sển đã bỏ nhiều công sức, chuyên tâm chăm lo nghiên cứu, sưu tầm cổ vật, nghiên cứu văn hóa, phong tục tập quán của miền Nam, tham gia hướng dẫn và giảng dạy đại học. Khi về hưu, ông tập trung viết sách, hồi ký và nghiên cứu sưu tập cổ vật của mình. Oâng cũng góp phần đáng kể trong việc xác định niên đại của một số chủng loại gốm (đặc biệt các loại gốm do Trung quốc sản xuất) và hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho người thích sưu tập cổ vật. Nhờ sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình cùng những tác phẩm nghiên cứu của mình, lớp học trò của ông ngày nay có khá nhiều người thành đạt và nổi tiếng trên lĩnh vực sưu tầm và nghiên cứu cổ vật ở trong và ngoài nước. Nhiều công trình nghiên cứu của ông được các nhà chuyên môn đánh giá cao. Oâng đã xuất bản được 15 đầu sách có giá trị như : 50 năm mê hát (1968) ; Thú chơi cổ ngoạn (1971) ; Sài Gòn năm xưa (tái bản lần thứ 4 vào năm 1994) ; Khảo về đồ sứ cổ Trung hoa (1971,1972) ; Khảo về đồ sứ men lam Huế (1993,1994) …. Cuối đời, với lòng mong muốn sưu tập cổ vật của mình được bảo tồn lâu dài, trải qua những năm tháng gian khổ, đấu tranh với chính bản thân mình và gia đình,  với bệnh tật hiểm nghèo và vượt lên tất cả, ôâng đã quyết định lập di chúc hiến tặng toàn bộ cổ vật và nhiều sách qúy hiếm cho Nhà nước.

Sau khi ông qua đời, theo quyết định của Uûy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, toàn bộ 815 trong tổng số 849 cổ vật đã được đưa về bảo quản và nghiên  cứu tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh. Là một thành viên trong qúa trình tiếp nhận bộ sưu tập cổ vật trên từ gia đình cố học giả Vương Hồng Sển theo di chúc, chúng tôi đã có một số thời gian nhất định để phân loại, sắp xếp, thống kê, đo vẽ, chụp ảnh, đối chiếu với những công trình nghiên cứu và sổ tay ghi chép cổ vật của ông. Suốt qúa trình ấy, những cổ ngoạn trong bộ sưu tập này như có sức hút kỳ lạ chúng tôi. Mỗi chiếc đĩa, tô, chén, bát, chậu, bình, ấm trà… đều là một tác phẩm nghệ thuật, là thời khắc lịch sử…

Trong sưu tập gốm sứ của cố học giả Vương Hồng Sển, có một số hiện vật thuộc loại gốm men trắng hoa lam được sản xuất tại Trung quốc do Việt nam đặt làm vào thế kỷ XVIII. Những sản phẩm này có kiểu dáng, hoa văn trang trí độc đáo và thường ghi một số chữ Hán : “Nội phủ thị trung”, “Nội phủ thị đông”, Nội phủ thị nam”, “Nội phủ thị bắc”, “Nội phủ thị đoài”, “Nội phủ thị hữu” và “Khánh xuân thị tả” (trong bài viết, chúng tôi gọi tắt là:”Nội phủ…” và “Khánh xuân…”). Những hiện vật kể trên cùng với hơn 200 hiện vật khác thuộc sưu tập Vương Hồng Sển đã được trưng bày tại một số nơi như Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hà nội… thu hút đông đảo công chúng, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

Để người quan tâm đến bộ sưu tập Vương Hồng Sển có những thông tin cụ thể hơn, trong phạm vi bài này, chúng tôi xin giới thiệu về một sưu tập nhỏ trong bộ sưu tập của ông, đó là sưu tập đồ gốm hoa lam “Nội phủ…” và “Khánh xuân…”.

  1. 1. Hiện vật trong sưu tập gốm sứ :

Đồ gốm sứ Việt nam đặt Trung quốc sản xuất ở thế kỷ XVIII (thuộc bộ sưu tập Vương Hồng Sển) lưu tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh đều có ghi  “Nội phủ…” hoặc “Khánh xuân…”  tất cả có 19 món, phân loại như sau :

Nội phủ thị trung  : 2                                  Nội phủ thị bắc   : 2

Nội phủ thị nam   : 2                                   Nội phủ thị hữu  : 7

Nội phủ thị đông  : 2                                  Khánh Xuân            : 4

Để bạn đọc có một cái nhìn bao quát về loại gốm này, chúng tôi xin giới thiệu một số hiện vật cụ thể :

1.1 Đồ gốm sứ ghi “Nội phủ…”

– Tô “Nội phủ thị trung” (mang ký hiệu BTLS.15124) có đường kính miệng 19cm, cao 7cm. Chiếc tô này ông Vương Hồng Sển mua năm 1962 tại Sài Gòn. Bên trong lòng tô vẽ chữ “Thọ” hình tròn ; ngoài tô vẽ rồng 4 móng một con long mã, trên lưng con long mã có một cuốn thư và thanh bảo kiếm. Các nét vẽ trơn tru, khéo léo, chính xác ; men sáng trong ; xương gốm mỏng. Dưới đáy ghi 4 chữ Hán “ Nội phủ thị trung”.

– Tô “Nội phủ thị trung” (BTLS.15123) có đường kính miệng 17cm, cao 6,5cm, mua năm 1966. Da tô trơn, không rạn ; trong lòng vẽ chữ “Thọ” hình tròn; thành ngoài vẽ rồng 4 móng đạp chân lên đụn mây (tản vân) và một con long mã trên lưng chở cuốn thư  và kiếm, dưới chân có mây. Hai con vật linh chầu nhật. Dưới đáy tô ghi chữ Hán “Nội phủ thị trung”.

– Đĩa “Nội phủ thị trung” (BTLS.15177) có đường kính miệng 11cm, cao 2,7cm. Trong lòng đĩa vẽ đề tài “lưỡng long chầu nhật”, cảnh hai con rồng đang vờn quanh một qủa cầu lửa, cạnh đó là những đám mây. Bên ngoài đĩa cũng vẽ đề tài trên, nhưng hai con rồng uốn khúc quanh co, tạo thành một vòng xung quanh thành ngoài đĩa. Dưới đáy ghi 4 chữ Hán “Nội phủ thị Trung”.

– Bộ đĩa, chén “Nội phủ thị hữu” (BTLS.15158-15161) là một bộ đĩa chén uống trà có 4 món : đĩa đựng, chén tống, hai chén quân (1) : đĩa đường kính miệng 17,5cm ; chén tống đường kính miệng 7,5cm, cao 4,5cm ; chén quân đường kính miệng  6 cm, cao 3,5cm. Các họa tiết trang trí trong mỗi cái đều vẽ hình rồng và phượng chầu chữ “Thọ” hình tròn. Con rồng được thể hiện 5 móng rất rõ ràng. Nghiên cứu về bộ trà này, Vương Hồng Sển cho rằng, đây là bộ chén trà ngự dụng do Chúa và Tuyên phi sử dụng, về sau những bộ tương tự như vậy nhường lại cho vua Lê và Hoàng hậu. Bộ chén uống trà chỉ có 2 chén quân cho 2 người là đúng nghi lễ theo cách “đối ẩm”, “song ẩm”? (2).

– Tô lớn “Nội phủ thị hữu” (BTLS.15128)  là một chiếc tô khá lớn. Đường kính miệng 29,5cm, cao 8cm. Chiếc tô này ông Vương Hồng Sển mua ngày 1/1/1965 tại Sài Gòn. Tô đã bị rạn, nứt đôi chỗ. Cả hai mặt trong và ngoài vẽ rồng và phượng chầu nhật (mặt trời). Rồng 5 móng đang bay lượn ẩn  hiện trong những cụm mây. Dưới đáy tô ghi chữ Hán “ Nội phủ thị Hữu”. Kích thước của tô khá lớn. Do vậy, nhiều người không đồng ý với tên gọi là “tô”. Ông Vương Hồng Sển gọi nó là “Quán tẩy” (chậu rửa mặt).

– Đĩa “Nội phủ thị đông” (BTLS.15483) có đường kính miệng 19cm, cao 2,4cm mua ngày 30/6/1960. Chiếc đĩa vẽ cả mặt trong và thành ngoài. Đề tài trang trí được thể hiện là hình ảnh của hai con lân đang vờn nhau giữa đám mây sòi. Nét vẽ điêu luyện, giúp người xem cảm tưởng như từng đường gân, bắp thịt của con lân cuộn lên, cảnh sống động, vui tươi. Dưới đáy ghi chữ Hán “Nội phủ thị đông”. Nhiều người nghiên cứu loại hình này, hầu hết cho rằng những đồ dùng ghi “Nội phủ thị đông” được dùng trong Đông cung của phủ Chúa, mà Đông cung là nơi ở của Thái tử, người sẽ thay thế ngôi vị sau này.

– Đĩa “Nội phủ thị đông” (BTLS.15484) có đường kính miệng 10,5cm, cao 2,4cm được vẽ đề tài “Mai – điểu” (chim và hoa mai). Trên gốc mai già hoa nở kín, có con chim đang đậu và nhòm ngó bắt sâu. Hai câu thơ chữ Hán rõ nét, sắc sảo :

“Vị kinh tam bạch hậu

Tiên chiếm bách hoa khôi”

(ý thơ ca ngợi vẻ  đẹp của hoa mai trước trăm hoa)

– Chén “Nội phủ thị bắc” (BTLS.15119) có đường kính 9,5cm, cao 4,2cm. Ông Vương Hồng Sển mua ngày 5/10/1960. Trong lòng chén để men trắng, các đề tài trang trí được thể hiện ở thành ngoài chén : phong cảnh gồm 2 tòa lâu đài, phía trước có 2 cây tùng ;  hai người cưỡi ngựa, theo sau có 2 tiểu đồng, tất cả đều từ phía lâu đài đi ra. Phía trước đoàn người, ngựa có một cây cầu bắc qua sông, bên kia sông xa xa là một dãy núi. Bên bờ sông, cạnh chiếc lều nhỏ, một ông già đang cất vó. Câu thơ chữ Hán ghi :

“Hoa cảng quan ngư

Giang sơn trình tú lệ

Hương thấn mã đề khinh”

(ý thơ ca ngợi vẻ đẹp của non sông đất nước)

– Đĩa “Nội phủ thị nam” (BTLS.15129) có đường kính miệng 12cm, cao 2,8cm. Trong lòng đĩa vẽ 2 con cua, 2 bông sen, 2 lá sen và một nhánh cỏ lau vươn lên cao. Thành ngoài vẽ 1 con cua, 1 lá sen và 2 nhánh cỏ lau vươn cao hơn lá sen. Đáy ghi chữ Hán : “Nội phủ Thị Nam”. Trong lòng đĩa cũng có câu thơ :

“Thanh hương trần bất nhiễm

Hoạt động y vô cùng”

(ý thơ ca ngợi vẻ đẹp và hương thơm của hoa sen)

Những đồ sứ men lam có vẽ cua, sen  và đề hiệu “Nội phủ thị nam”, có phải  là những đồ vật dùng trong Nội phủ mà vị trí của nó là nhà bếp của Chúa?

1.2 Đồ gốm sứ ghi “Khánh Xuân…”

Đồ gốm sứ men trắng vẽ lam có hiệu “Khánh xuân…” đặt làm tại Trung quốc vào thế kỷ XVIII cũng tương đồng về thời gian với các loại hiệu “Nội phủ” nhưng muộn hơn một chút. Sản phẩm gốm hiệu Khánh Xuân xinh xắn hơn bởi dáng, hoa văn, nét vẽ do bàn tay các nghệ sĩ tài ba. Trong sưu tập gốm sứ Vương Hồng Sển đang bảo quản và gìn giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh có 4 món. Các đề tài trang trí thường là rồng, sư tử, lân, chữ thọ, khánh… Chúng tôi xin giới thiệu 2 hiện vật tiêu biểu sau :

– Đĩa “Khánh Xuân thị tả” (BTLS.15139) có đường kính miệng 26,5cm, cao 3,8cm. Ông Vương Hồng Sển mua ngày 3/6/1959 do một người mang từ Huế vào Sài Gòn bán . Chiếc đĩa này khá lớn, nguyên vẹn. Trong lòng đĩa vẽ hình rồng 5 móng ẩn hiện trong mây và chữ “Thọ” ỡ giữa. Mặt sau của đĩa vẽ đề tài thủy ba rợn sóng. Trên sóng nước cuồn cuộn có một con long mã lớn, đầu có gạc có sừng ; phía sau long mã lớn có hai long mã khác nhỏ hơn đang chạy theo con lớn. Dưới đáy ghi chữ Hán  “Khánh Xuân thị tả”.

Khi nghiên cứu hiện vật này, ông Vương Hồng Sển cho rằng, Trịnh Sâm khi đặt làm những sản phẩm này đều có dụng ý về chính trị, âm mưu thoán quyền Vua Lê. Trịnh Sâm coi mình có quyền thống soái (rồng 5 móng). Hàm ý của đề tài long mã lớn và 2 long mã nhỏ chỉ Chúa Trịnh Sâm và hai con trai, ngầm hiểu ý là Thái sư, Thiếu sư trong triều ? (4).

– Chén tống “Khánh Xuân thị ta”û (BTLS – 15118) có đường kính miệng 7cm, cao 5cm. Dáng của chén thanh thoát, vẽ màu lam hơi đậm. Đề tài trang trí là rồng, sóng nước, mây. Một con rồng lớn có 5 móng đang bay trên không trung có những làn mây. Một con rồng khác nhỏ hơn đang từ dưới biển vạch sóng trồi lên chào đón rồng lớn (không rõ mấy móng vì thân rồng còn ở dưới nước). Dưới đáy chén có chữ Hán “Khánh xuân Thị tả”.

  1. 2. Một vài nhận xét

– Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu một số hiện vật gốm sứ hiệu “Nội phủ…” và “Khánh xuân…” trong tổng số 19 món đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt nam – TP.HCM. So sánh, đối chiếu giữa số lượng hiện vật trên thực tế với số lượng mà ông Vương Hồng Sển đã viết trong sách “Khảo về đồ sứ men lam Huế” (tập thượng), chúng tôi thấy có sự chênh lệch : có 31 món(5). Để tiện theo dõi, chúng tôi lập bảng sau :

TT

HIỆU ĐỀ

SỐ LƯỢNG HIỆN VẬT TRONG SÁCH

SỐ LƯỢNG HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG

1

2

3

4

5

6

7

Nội phủ thị trung

Nội phủ thị hữu

Nội phủ thị đông

Nội phủ thị đoài

Nội phủ thị bắc

Nội phủ thị nam

Khánh Xuân thị tả

07

07

04

03

03

01

06

31 hiện vật

02

07

02

0

02

02

04

19 hiện vật

 

Sở dĩ có sự chênh lệch về số lượng trên đây, chúng tôi cho rằng, cuốn sách mà ông Vương Hồng Sển đã viết và hoàn thành vào năm 1972 theo lời tựa ghi ở đầu sách thì “…cuốn bản thảo cứ nằm trơ trên bàn”, do đó, qua mấy chục năm, số lượng hiện vật có sự thay đổi : đổi món này, lấy món kia của những người chơi cổ ngoạn ; bán món này, mua món khác thích hơn. Cuối đời, số cổ vật của ông thường bị con trai và con dâu lấy trộm đem bán như trong cuốn sổ tay của ông đã ghi rõ (5). Do vậy, chúng tôi thấy rằng, một số hiện vật có ghi chép, mô tả trong sách nhưng hiện tại không có, hoặc hiện vật có nhưng lại không ghi trong sách.

– Về niên đại của những loại đồ gốm này, Vương Hồng Sển và một số nhà nghiên cứu khác như : Trần Đình Sơn, Phạm Hy Tùng, Trần Đức Anh Sơn… đều cho rằng đã được làm vào thế kỷ XVIII tại Trung quốc. Niên đại này còn được khẳng định thêm bởi Hội đồng Giám định cấp Nhà nước vào đầu năm 1997 do Giáo sư Hà Văn Tấn làm Chủ tịch.

– Việc xác định chủ nhân của những đồ gốm kể trên là một việc làm khó khăn. Theo sử liệu về tình hình xã hội Việt nam thế kỷ XVIII, chúng tôi đồng ý với Vương Hồng Sển và một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là những sản phẩm do các chúa Nguyễn đặt làm tại Trung quốc để làm đồ dùng trong phủ chúa. Nhưng nói món này dùng ở chỗ này, món khác dùng ở chỗ kia… cũng cần cân nhắc thấu đáo thêm.

– Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt nam suốt hơn hai trăm năm, họ Trịnh đã mượn tiếng phò Lê để dần dần lấn lướt, tiếm quyền. Ban đầu, nhìn bên ngoài, có lẽ các chúa chưa dám đoạt ngôi vua nên đã lập ra “phủ” ; không dám xưng “cung”, xưng “điện” nhưng thực ra, mọi quyền hành hầu như đã thâu tóm hết về tay. Các chúa đã tước hết mọi thực quyền của vua Lê, quy định chế độ bổng lộc của nhà vua…Từ chỗ thành lập 3 phiên (Binh , Hộ, Thủy sư) đến chỗ thành lập 6 phiên ( Lại, Hộ, Lễ, Binh , Hình,  Công) và chịu trách nhiệm cai trị đất nước. Khi mọi quyền lực chính trị, kinh tế, quân sự ở xứ Đàng Ngoài đều tập trung vào phủ chúa, họ Trịnh đã ra sức tác oai, tác quái, sống xa xỉ trên mồ hôi nước mắt của nhân dân. “Ruộng đất rơi hết vào nhà hào phú, còn dân nghèo thì không có một miếng đất cắm dùi”(7). Nội chiến liên miên, thuế khóa nặng nề, quan lại nhũng nhiễu làm cho đời sống nhân dân ngày càng sa sút nghiêm trọng.

Sau 248 năm với 11 đời chúa trị vì, năm 1786 với việc vua Lê Chiêu Thống ra lệnh đốt hoàn toàn phủ chúa đã chấm dứt vai trò của thế lực họ Trịnh ở Đàng Ngoài. Từ đây, phủ chúa đã đi vào dĩ vãng. Ngày nay, tuy không còn biết phủ chúa hình dáng, kiến trúc, vị trí các khu vực trong phủ ra sao… nhưng qua những món đồ sứ ghi bằng chữ Hán và các biểu tượng hoa văn mà các chúa đã đặt làm ở Trung quốc như : “Nội phủ thị trung”, “Nội phủ thị đông”, “Nội phủ thị hữu”, “Nội phủ thị nam”, “Nội phủ thị bắc”, “Nội phủ thị đoài” và “Khánh xuân thị tả”û đã giúp chúng ta hình dung được một phần sơ đồ cùng lối sống xa hoa ở nơi phủ chúa.

Tuy chưa đồng ý với nhau nhiều vấn đề khi nghiên cứu loại gốm này, nhiều tác giả như Vương Hồng Sển, Trần Đình Sơn, Trần Đức Anh Sơn, Phạm Hy Tùng… (8), Phạm Hữu Công (9) đã có những phác họa một sơ đồ đơn giản về Nội phủ theo kiểu đăng đối như sau:

Nội phủ

thị bắc

Nội phủ         Nội phủ             Nội phủ      Khánh xuân                   Nội phủ

thị tây (Đoài)           thị hữu               thị trung           thị tả                thị đông

Nội phủ

thị nam

Theo sơ đồ trên, Vương Hồng Sển ; Trần Đình Sơn… cho rằng, những mô típ, hình thức trang trí, đồ dùng nơi phủ chúa có những nét riêng nhất định:

Nội phủ thị trung (tập trung chính điện) là nơi sinh hoạt của chúa, đề án trang trí là rồng 5 móng và mây.

Nội phủ thị hữu (điện bên phải) là nơi dành cho Chánh phi, các đề án trang trí thường là rồng và phượng.

Nội phủ thị đông (điện phía đông) là nơi ở của các Hoàng tử, các đề án trang trí thường là lân, chim, hoa, mây.

Nội phủ thị nam (điện phía Nam) là nơi trù viện (bếp), thường được trang trí các đề án có hoa sen, cua, vịt…

Nội phủ thị đoài (điện phía Tây) dùng để trang trí phong cảnh.

Nội phủ thị bắc (điện phía Bắc) là nơi ở của các phi tần, trang trí bằng các đề án hoa cúc.

Khánh xuân thị tả (điện mừng xuân) thường dùng các đề án trang trí như rồng và 2 con lân…

Việc đoán định và đặt vị trí cho từng loại kể trên, tôi cho là có cơ sở. Nhưng trên thực tế, trong một vài sưu tập tư nhân có những món đồ gốm với đặc diểm về dáng, men ,đề tài trang trí, nét vẽ… thuộc về những loại kể trên, nhưng chỉ ghi hai chữ “Nội phủ” hoặc không ghi chữ nào?

– Những sản phẩm gốm sứ mang hiệu “Nội phủ…” và “Khánh xuân…” được làm vào thế kỷ XVIII, lúc đó là những đồ dùng cao cấp xa xỉ nơi phủ chúa. Những vật dụng này đã được các chúa Đàng Ngoài đặt làm vào đúng thời kỳ thịnh đạt huy hoàng của các lò gốm sứ Trung quốc.  Mỗi sản phẩm là sự kết hợp tài tình của các nghệ nhân bởi những bộ óc sáng tạo và bàn tay khéo léo. Gần ba trăm năm qua đi, những sản phẩm độc đáo ấy hiện nay còn quá ít (kể cả trong hai bảo tàng lớn của Việt Nam là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà nội) và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh. Một phần (có lẽ không nhỏ), những cổ vật quý giá này hiện vẫn nằm rải rác trong dân và một số nhà sưu tập tư nhân ở trong và ngoài nước. Những cổ vật mà chúng tôi giới thiệu trong bài này cũng là một phần rất nhỏ (cả về số lượng và loại hình), nhưng đã góp phần quan trọng cho việc vẽ ra một mảng màu cho bức tranh gốm Việt Nam trong lịch sử.

– Cái đẹp của gốm “Nội phủ…” và “Khánh xuân…” trong sưu tập này, trước hết phải nói về dáng. Việc tạo dáng cho gốm loại này có xu hướng nhỏ, gọn, xinh xắn. 19 cổ vật kể trên không có cái nào to lớn, cồng kềnh. Hơn nữa, dáng của gốm không có những chi tiết phụ hay đắp nổi cầu kỳ, rườm rà. Gốm được tạo dáng đơn giản, các góc không gãy đột ngột mà mở rộng và lượn vòng, cung độ lớn. Nhìn phong cách tạo dáng của gốm sứ  trong sưu tập của Vương Hồng Sển, thoạt nhìn ta thấy cảm giác gần gũi với gốm hoa lam thời Lê. Tuy nhiên, có thể nói, gốm loại này về kiểu dáng có chứa đựng những nét tinh tế của dáng gốm Trung hoa và Việt : hài hòa, giản đơn…

– Sau yếu tố tạo dáng phải kể đến các hoạ tiết trang trí trên gốm “Nội phủ…” và “Khánh xuân…”. Các đề tài trang trí thường là rồng, phượng, lân, vịt, chim, mây, sóng nước, hoa mai, hoa sen… Đặc biệt, hình tượng rồng, phượng, lân… có nhiều trong các cổ vật trên đây. Con rồng có thân hình mềm mại, ẩn hiện trong mây trời. Hình dáng, râu tóc, mặt mũi, nanh vuốt và đuôi rồng rất giống với rồng trang trí ở triều Nguyễn sau này, khác hẳn với rồng Trung quốc. Rồng trong sưu tập gốm sứ này có 2 loại 4 móng và 5 móng – biểu tượng của vương quyền.

– Nghệ thuật trang trí được sử dụng bằng cách vẽ trực tiếp trên xương gốm. Đây là cách vẽ rất khó về bố cục, đường nét. Một nét vẽ xuống là vĩnh viễn không bao giờ thu lại được. Do vậy, đòi hỏi nghệ nhân phải có tay nghề cao, điêu luyện và tất nhiên sản phẩm ra đời không cái nào giống cái nào. Đó mới là điều độc đáo, có giá trị cao trong nghệ thuật. Các nét vẽ sau khi nung chảy, chỗ thì mờ nhạt, chỗ thì đậm nét… làm cho gốm cứ lung linh, huyền ảo.

– Sản phẩm gốm “Nội phủ…”û và “Khánh xuân…” trong sưu tập Vương Hồng Sển tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh cũng như ở các bảo tàng khác và các nhà sưu tập đều thuộc những cổ vật qúy giá bởi giá trị lịch sử,  văn hoá  và nghệ thuật của nó. Những sản phẩm này có lẽ chỉ được đặt hàng vài lần và có số lượng không nhiều, kể cả trong các sách nghiên cứu gốm của Trung quốc cũng không thấy đề cập đến gốm “Nội phủ…”û và “Khánh xuân…”(9)ï. Và có lẽ cũng vì thế mà các loại đồ gốm nói trên đến nay đã trở nên rất hiếm hoi. Trước thực tế đó, việc sưu tầm, giữ gìn, bảo quản các hiện vật thuộc loại gốm “Nội phủ…” và “Khánh Xuân…” lại càng cần thiết. Có được sưu tập hiếm hoi đồ gốm thuộc loại trên đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt nam – TP.HCM, chúng ta thêm trân trọng cố học giả Vương Hồng Sển – người đã dành nhiều thời gian và công sức cho việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc.

Chú thích:

(1) : Khi uống trà, trà được rót từ bình trà vào chén tống, sau đó từ chén tống lại rót vào các chén quân – chén quân nhỏ hơn chén tống.

(2) : Vương Hồng Sển – Khảo về đồ sứ men lam Huế – Quyển thượng – NXB TP. Hồ Chí Minh – TP. Hồ Chí Minh, 1993, trang  134.

(3) : Vương Hồng Sển – Đã dẫn, trang 142.

(4) : Vương Hồng Sển – Đã dẫn, trang 144,145.

(5) : Gồm có 14 cuốn sổ ghi chép cổ vật, hiện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP. Hồ Chí Minh đang lưu.

(6) : Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập I. NXB Giáo dục. H. 2000. Trang 395.

(7) Trong cuốn : “Đồ sứ men lam Huế” , những trao đổi học thuật, NXB Thuận hóa, Huế, 1997, tr. 181,182 ; 202,203 ; 232,233 ; 254,258.

(8) : Phạm Hữu Công – Thông báo khoa học số 2 – Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.137.

(9) Trong bài viết, cúng tôi có sử dụng “Đề cương trưng bày” và “Tóm tắt thuyết minh sưu tập Vương Hồng Sển” của Bảo tàng LSVN – TP. HCM.


(*) Nghiên cứu sinh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Bài viết của một người mang “tâm tư Huế” về Đồ sứ men lam Huế

sumenlamhue

Cách đây 15 năm, đã có những cuộc tranh luận khá sôi nổi về một loại hình cổ vật được gọi là “Les Bleus de Hué – Đồ sứ men lam Huế”. Cuộc tranh luận tự phát trên các tạp chí Sông Hương, Huế Xưa Và Nay… tuy đã không đem lại một kết luận thống nhất nào, nhưng hệ quả của nó đã cho ra đời một quyển sách rất hay là “Đồ sứ men lam Huế, những trao đổi học thuật” (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1997), tuyển tập tất cả các bài viết liên quan đến cuộc tranh luận này…

Năm năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã từng tham gia cuộc tranh luận trên, với phương hướng cá nhân, lần lượt cho ra đời những công trình riêng như tác giả Trần Đình Sơn thì có sách “Tản mạn Phú Xuân”, “Những nét đan thanh” “Thưởng ngoạn đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn (1802-1945)” (Nhà xuất bản Văn nghệ); tác giả Phạm Hy Tùng thì có sách “Cổ vật gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa” (Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2006); còn tác giả Trần Đức Anh Sơn thì cho ra sách “Đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn” (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008) trên cơ sở luận án tiến sĩ sử học của mình… Ngoài ra, cũng còn rất nhiều nhà nghiên cứu khác trên thế giới với nhiều bài viết công bố rải rác…

Tuy vậy, đọc các sách chuyên khảo riêng của từng nhà nghiên cứu, độc giả vẫn không thỏa mãn, thích thú, hài lòng, mà người ta vẫn thích những bài trong tuyển tập các cuộc tranh luận ngày nào… Bởi gạt bỏ các thành kiến về sự căng thẳng gay gắt đôi lúc nẩy lửa trong tranh luận, thì các bài này đã cung cấp cho độc giả một khối lượng lớn kiến thức sâu để bảo vệ quan điểm của mình; chứ không phải là lối viết thuần một chiều, ít biện giải đa chiều để đi đến những nhận định mang tính lý luận như các công trình sách sau này…

Tôi là người ngoại đạo, nhưng đã từng tham gia cuộc tranh luận ấy, vì không có điều kiện tìm hiểu sâu hơn, nay nhân Festival Huế – 2009 (12-14/6/2009) trưng bày chuyên đề gốm sứ, xin có mấy lời thưa lại như sau:

1. Về vấn đề thuật ngữ:

Cho đến nay, chủng loại sứ đặc biệt này được giới nghiên cứu dùng nhiều thuật ngữ khác nhau, chưa có ai thống nhất, mỗi người gọi một kiểu, nhưng ta có thể điểm một số thuật ngữ chính…

1.1. Về cách gọi “Les Bleus de Hué – Đồ sứ men lam Huế”:

– Trong bài “Bleus de Hué, trả lại tên cho em” (trong tuyển tập tranh luận đã kể), tôi đã chứng minh thuật ngữ này được ông Dumoutier dùng để chỉ các đồ sứ men trắng của châu Âu được đem sang Việt Nam và vẽ thêm hoa văn xanh thời Minh Mạng. Trong khi thuật ngữ “Đồ sứ men lam Huế” lại chỉ dòng đồ sứ đặc chế ngự dụng, quan dụng của các triều đình Việt Nam đặt làm tại Trung Quốc thì khác hẳn: người Việt Nam chỉ thảo mẫu theo ý thích, còn công nghệ sản xuất thì lại của Trung Quốc.

– Rõ ràng hai dòng sứ “Les Bleus de Hué” và “Đồ sứ men lam Huế” là 2 chủng loại khác nhau, không thể đánh đồng được. Tiến sĩ khảo cổ Đặng Văn Thắng (Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh), trong một bài viết về đồ sứ, cũng đã tán đồng quan điểm này.

1.2. Về cách gọi “Đồ sứ ký kiểu”:

– Thuật ngữ này, đầu tiên được cố học giả Vương Hồng Sển dùng chính thức trong công trình “Khảo về đồ sứ men lam Huế” của mình xuất bản năm 1993, sau này được nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn phân tích và sử dụng trong luận án tiến sĩ của mình; và cũng được nhiều người quen dùng với nghĩa là “đồ sứ đặt làm”…

– Trong bài viết “Cách hiểu các thuật ngữ của một chủng loại sứ đặc biệt” cũng được tuyển tập trong tập sách đã nói, tôi cũng đã phân tích ngay từ thời Pháp mà cố học giả Vương Hồng Sển đã nói trong sách của mình, người ta cũng đã hiểu hai chữ “ký kiểu” cũng còn có nghĩa là đồ giả. Bởi cả hàng thế kỷ trước đó, giới buôn cổ vật vẫn “đặt làm” những đồ sứ giả nhái lại các chủng đồ sứ quý hiếm thời trước, cho nên những đồ giả này vẫn được gọi chung là “ký kiểu”, vấn đề này, tôi sẽ nói thêm ở phần dưới…

– Cho nên, dùng thuật ngữ “Đồ sứ ký kiểu” vẫn hay, nhưng để có sự chính xác của khái niệm thì khi sử dùng cần thêm yếu tố nội hàm chính xác để loại trừ ý nghĩa “đồ giả”. Ví dụ, khi ta nói “Đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn” thì ngoại diên bao hàm đồ ngự dụng, quan dụng, dân dụng (mà trong đồ dân dụng thì vẫn bao hàm luôn cả đồ giả do các thương gia đặt làm); vậy nên chăng, đổi là “Đồ sứ ký kiểu của triều Nguyễn” thì chỉ còn là đồ ngự dụng và quan dụng, như vậy, hai chữ “ký kiểu” mới thể hiện vai trò “triều đình đặt làm” của mình !

1.3. Về cách gọi “Đồ sứ đặc chế”:

– Như trên đã nói, thuật ngữ nào cũng có chỗ hở để có thể hiểu một khái niệm nhưng lại có nhiều đối tượng liên quan, do vậy, các thuật ngữ cũng cần minh bạch bằng sự chú giải ! Cho nên, nhà nghiên cứu Phạm Hy Tùng mới dùng tiếng Việt trong sáng là “gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa”. Nhưng nói cho cùng thì thuật ngữ này vẫn “rộng” quá, dễ hiểu hơn thì có thể nên thêm nội hàm là “ngự dụng, quan dụng…” để ngoại diên hẹp lại, sẽ dễ hiểu hơn.

– Song làm như vậy tất nhiên cũng đã chú giải. Cho nên tôi vẫn thường nghe và thích và đã đề nghị dùng thuật ngữ “đồ sứ đặc chế”, tức là đồ sứ được chế tạo đặc biệt; và tất nhiên thế nào là “đặc chế” (?) thì phải chú giải thêm là đồ ngự dụng, quan dụng của triều đình Việt Nam đặt Trung Hoa làm. Thế mà vẫn có tác giả có ý kiến rằng “ông Huy viết sai chính tả”: đáng lẽ phải viết là “đặt chế”, nhưng ông Huy viết là “đặc chế” !, nhưng qua đó cho thấy vẫn có người thích dùng thuật ngữ này ! Bởi các nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ “ký kiểu” thì hiểu theo lối “đặc chế”; nhưng phần lớn các nhà sưu tập, khi giới thiệu đồ sưu tập thì để tránh hiểu nhầm về “ký kiểu” là “đồ giả”, người ta thường nhấn mạnh chữ “đồ đặc chế” để biểu thị “chất lượng” của món đồ…

2. Về vấn đề nghiên cứu: rất cần đi sâu vào lý luận:

2.1. Hai dòng đồ sứ khác nhau:

– Như trên đã nói, “Les Bleus de Hué” và “Đồ sứ men lam Huế” là hai dòng sứ hoàn toàn khác nhau, thế nhưng ngày nay các nhà nghiên cứu hầu như tập trung vào đối tượng đồ sứ đặt làm tại Trung Hoa, chứ hầu như chưa đặt vấn đề về đồ sứ châu Âu vẽ lại thời Minh Mạng.

– Những đồ “Les Bleus de Hué” châu Âu này, ngày nay thỉnh thoảng vẫn còn hấy nhiều cái chén dưới đáy ghi “Minh Mạng niên chế”, vẽ rồng đơn sơ chứ không chi tiết như rồng vẽ tại Trung Hoa trên các tô Thiệu Trị niên chế, và có nước men trắng đục khác hẳn đồ làm tại Trung Hoa…

2.2. Về sự việc đặt làm đồ sứ tại Trung Quốc:

– Mặc dù các nhà sưu tập, nghiên cứu đã tìm thấy có sự tương ứng năm ghi trên đồ sứ với năm có phái đoàn đi sứ nhưng nhận định này không phải hoàn toàn đúng 100%.

– Sự ghi chép của sử liệu Việt Nam các đoàn đi sứ cho biết có “mua” đồ sứ, nhưng các nhà nghiên cứu cũng cho biết chưa tìm thấy văn bản nào cho biết rõ việc đặt làm đồ sứ tại Trung Quốc như thế nào (?), nên theo thiển kiến, chúng ta nên tìm sự việc này trong sử Trung Quốc như Đại Thanh thực lục chẳng hạn thì may ra có thể biết rõ hơn.

2.3. Phân loại, ý nghĩa các hoa văn…

– Người ta thường xì xào về các sưu tập có đồ giả, mà ngay cả đôi lúc “hội đồng thẩm định chuyên môn” đồ sứ phải ngậm đắng nuốt cay vì bị con buôn lừa một vố đậm đà khó quên bán cho đồ giả. Do vậy, về phương pháp nghiên cứu, rất cần đưa ra các tiêu chí để phân biệt đồ giả và đồ thật…

– Để làm được tiêu chí này, rất cần nghiên cứu so sánh quá trình làm đồ thật (đã xảy ra trong lịch sử trên cơ sở hiện vật thật) với quá trình làm đồ giả hiện tại, từ đó, tìm được tính đặc trưng của từng thời đại… thì mới xây dựng được tiêu chí để phân biệt. Đây thường là những kinh nghiệm cá nhân từng trãi đôi khi đã phải trả giá đắt mới có được, thành ra người ta thường “giấu nghề”; nhưng với nhà khoa học chân chính thì những kinh nghiệm này rất cần được “khoa học hóa”, và tôi đã được đọc một bài loại này của nhà nghiên cứu cổ vật Phạm Hy Tùng.

– Quan trọng bậc nhất là vấn đề niên đại của đồ sứ, ngoại trừ được giám định qua chất liệu nước men, nhưng các tiêu chí về hoa văn cũng rất quan trọng, do vậy rất cần có sự đối chiếu và quy nạp…

– Các đồ sứ mang niên hiệu thời Minh như “Thành Hóa niên chế” đã được một số nhà nghiên cứu gom vào “Đồ sứ men lam Huế” tức đã được gọi là đồ sứ “ký kiểu”; tất nhiên những đồ mang niên hiệu Minh này không phải là niên đại Minh mà là đời sau giả lại thời trước, thì hóa ra chữ “ký kiểu” vẫn hàm nghĩa đồ giả như người ta từng hiểu ?! Vậy những đồ sứ mang niên hiệu Minh này có phải là “Đồ sứ men lam Huế” không ?

2.4. Góp phần tái tạo lịch sử:

Đọc phần lớn các sách viết về đồ sứ đặc chế, chúng ta thấy phần lớn là các sách giới thiệu hiện vật sưu tập, thậm chí có sách in toàn là hình cho đẹp mắt chứ xem không thu nạp được kiến thức nào cả ! Mà nhu cầu của nhà nghiên cứu, người đọc sách… chủ yếu là muốn có kiến thức mới, do vậy, việc giải mã các hoa văn, minh văn trên đồ sứ là vấn đề quan trọng…

– Như trong cuộc tranh luận từ năm 1994 đã nói, việc giải thích hiệu đề “Nội phủ” trên đồ sứ là điện của vua Lê hay phủ của chúa Trịnh (?) đã trở thành một vấn đề nhiêu khê “Đường vô nội phủ loanh quanh”… Thế nhưng, phần lớn các nhà khảo cổ rất thích bài “Vóc dáng phủ Trịnh vương qua đồ sứ cổ” của nhà nghiên cứu Phạm Hy Tùng, vì bài này đã tái kiến trúc phủ chúa Trịnh đã bị xóa sổ nay không còn dấu vết gì thực tế ngoại trừ những hình vẽ còn sót lại trên đồ sứ. Đây là những “thông tin” quý báu góp vào việc dựng lại kinh đô Thăng Long nghìn năm văn hiến…

– Cũng như phủ chúa Nguyễn ở Kim Long, nay không còn dấu vết gì ngoài một vài bức họa đồ của hải quân châu Âu…, do vậy, người ta vẫn ước mong có được một bài khảo cứu tựa tựa “Vóc dáng phủ chúa Nguyễn qua đồ sứ cổ” để từ đó có cơ sở dựng lại phủ chúa Nguyễn ! Không biết có thể có chuyên khảo này không ?

– Giới sử học rất thích bài “Tư liệu mới về vua Gia Long qua chiếc ấm trà cổ” của nhà nghiên cứu Phạm Hy Tùng. Bài này cho một hệ quả, từ việc tìm hiểu hình dáng một chiếc âm, đã nói lên được nội tâm của nhân vật lịch sử Gia Long. Băn khoăn nhiều năm trời, khi giải mã được ý nghĩa hai chữ “Thái Bình” trên lưng đồng tiền “Gia Long thông bảo”, tôi mới hiểu được “cái sướng” của nhà nghiên cứu Phạm Hy Tùng khi giải mã được chiến ấm nói trên… Và rất nhiều di vật vô tri vô giác như đồ sứ, đồng tiền… hội tụ để góp phần nhận định sự “ghê gớm” trong thâm tâm Nguyễn Phúc Ánh…

– Hoặc Phạm Hy Tùng cũng có một bài viết giải mã một cái đĩa thời Tự Đức vẽ cảnh hái thuốc. Tác giả cho rằng vua Tự Đức không phải là “vô cảm” trước cảnh nước mất nhà tan, mà ông vẫn đi tìm “vị thuốc” để chữa bệnh nan y (mất nước). Những cách lý giải này, tuy chúng ta không hiểu sự thật của lịch sử ra sao (?), nhưng dù sao đó cũng là những tiếng nói có cơ sở để đánh giá nhân vật lịch sử…

– Hoặc hai câu thơ Nôm “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, hạc là người xưa” trên đồ sứ Mai Hạc, thường được cho là thơ của Nguyễn Du đầu thế kỷ XIX, nhưng nhà nghiên cứu Phạm Hy Tùng lại công bố cái đĩa điển tích trên có niên đại thế kỷ XVIII. Điều này đặt lại vấn đề tác giả của hai câu thơ Nôm trên có phải là Nguyễn Du không (?)…

Trên đây chỉ là một vài ví dụ, tôi tuy chưa được đào tạo qua chuyên ngành, nhưng cho rằng dựa vào những di vật vô tri để đưa ra những nhận định sử học, thì đây mới chính là mục tiêu của khảo cổ học !

3. Về vấn đề bảo tồn:

3.1. Ngày nay, việc sưu tập, sưu tầm đồ sứ đặc chế này hầu như khắp năm châu. Ở trong nước, do nạn săn lùng nên loại đồ sứ này trở nên quá đắt đỏ. Lại thêm mong manh dễ vỡ nên ngày càng hiếm hoi…

– Các bảo tàng cũng có lưu trữ một số loại này, nhưng về sự phong phú đôi khi không thể bằng các sưu tập tư nhân. Do vậy, để có được sưu tập đa dạng, các bảo tàng rất cần có cơ chế mở để dễ mua lại từ các nhà sưu tập tư nhân. Và Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế nên lấy đây làm mũi nhọn, ưu tiên cho sưu tập đồ sứ men lam Huế.

– Cần xây dựng thư mục, hình ảnh tất cả các sưu tập có thể có về đồ sứ này. Việc này, tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn đã bước đầu xây dựng thư mục giới thiệu trên Nghiên Cứu Huế, và rất cần cập nhật…

– Và cũng rất cần làm một bảo tàng số hóa các hình ảnh về đồ sứ này để phục vụ nghiên cứu, sưu tập, cũng như phục vụ công tác phục chế…

3.2. Về vấn đề phục chế:

– Do nhu cầu trang trí di tích, ngày nay Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế cũng có dự án phục chế dòng đồ sứ này. Nhưng theo thiển kiến, các hiện vật phục chế rất cần nên có ký hiệu riêng hoặc đóng dấu phục chế để tránh những lẫn lộn về sau…

– Và như trên đã nói, phải nghiên cứu sâu chủng loại sứ đặc biệt này mới tìm ra được các tiêu chí, đặc điểm… thì trên cơ sở đó sự phục chế mới có hiệu quả cao…

3.3. Về vấn đề thành lập Hội cổ vật Huế:

– Hiện tại Huế đã có nhiều nhà sưu tập tham gia làm hội viên Liên Hiệp hội UNESCO Việt Nam và đã có nhiều đóng góp tích cực cho công tác trưng bày, triển lãm…trên bình diện cả toàn quốc. Nhưng oái ăm thay, các tỉnh bạn đều có Hội Cổ vật hoạt động mạnh mẽ thì đất Cố đô lại không có một hội cổ vật nào để các nhà sưu tập có được một diễn đàn quy tụ… Sự việc thành lập hội này, nhiều nhà sưu tập tâm huyết đã lên tiếng cả hơn chục năm qua, nhưng chẳng có lãnh đạo nào của tỉnh quan tâm, cho nên các nhà sưu tập tư nhân vẫn bơ vơ và khó có thể phát huy vai trò của mình được. Do vậy, nhân đây, tôi cũng xin đề nghĩ lãnh đạo tỉnh quan tâm đến công tác bảo tồn của các nhà sưu tập mà xúc tiến thành lập Hội Cổ vật Huế trên cơ sở các hội viên Liên Hiệp hội UNESCO.

– Và trụ sở sinh hoạt của Hội Cổ vật Huế này nên đặt tại Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng tỉnh Thừa Thiên – Huế, là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên khách quan để Hội có thể phát huy vai trò của mình…

Vài ý nghĩ thô thiển, rất mong được đóng góp.

Huế, chào mừng Festival 2009

BS NGUYỄN ANH HUY

220, Chi Lăng- Huế

# Bài này được đăng trên Khoa Học@Đời Sống  với tựa là “MẤY Ý NGHĨ VỀ VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY ĐỒ SỨ MEN LAM HUẾ” ngày 11 tháng 06 năm 2009.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

Một bài viết về thú chơi gốm sứ cổ ở Việt Nam

Trải bao biến thiên, vật đổi sao dời, những đồ gốm sứ còn lại đến nay đã trở thành một phần di sản vật thể của từng đất nước, qua đó giúp cho người đời sau nghiên cứu từ lịch sử, thơ văn, nghệ thuật đến phong tục, tập quán, ngôn ngữ của các thế hệ cha ông. Và chính những yếu tố đó đã cuốn hút bao nhiêu người đến với việc sưu tầm đồ cổ.

Ở miền Nam, nói đến thú chơi đồ cổ thì không thể không nhắc đến cụ Vương Hồng Sển (1902-1993) người từng tự nhận mình ham thích đồ xưa còn hơn khách hào hoa mê gái đẹp và hơn người đánh bạc mê trò đỏ đen. Vào năm 90 tuổi, đoán rằng sắp đến lúc phải từ giã vĩnh viễn những cổ vật thân thương của mình, cụ Vương có thảo một di ngôn chép thành 5 bản. Ngoài một bản do cụ giữ thì các bản còn lại được ân cần trao cho bốn người bạn mà cụ xem là tri âm tri kỷ. Nay thì hai người trong số ấy cũng đã qua đời, người thứ ba – ông Lâm Võ Hoàng, một chuyên viên kinh tế – vì nhiều lý do đã gác tay rửa kiếm.

Người thứ tư, cho đến nay vẫn còn đeo đẳng cuộc chơi, chính là anh Trần Đình Sơn, tuy sinh sau cụ Vương gần nửa thế kỷ mà lại vinh dự được cụ xem là người bạn vong niên thân thiết. Điều gây ấn tượng hơn cả là cụ Vương đã ghi trong sổ nhật ký của mình – hiện do người cháu gái của cụ cất giữ – lời nhận xét anh bạn vong niên như sau: ”Một người chơi đồ cổ, nếu tôi còn sống, sẽ là thầy tôi”.

Đôi bạn vong niên

Xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc – cụ cố giữ chức Thượng thư Bộ Hình qua hai triều vua Duy Tân và Khải Định – có truyền thống yêu chuộng cổ vật, ngay từ nhỏ anh Trần Đình Sơn đã được đắm mình trong một không gian cổ kính và sống trong môi trường đầy cổ vật, lại được ông nội – vốn là một vị thâm nho – dạy học chữ Hán từ bé để có thể chiêm nghiệm hết cái hay nét đẹp trong những câu thơ ghi lại trên đồ sứ.

Đến năm 1968, khi vào Sài Gòn tiếp tục theo bậc đại học, người đầu tiên anh mong muốn được diện kiến chính là cụ Vương Hồng Sển, vốn đã nổi danh qua các bài viết về khảo cổ rất nhẹ nhàng, dí dỏm mà sâu sắc đăng trên các báo thời bấy giờ.

Anh Trần Đình Sơn bồi hồi nhớ lại:

– Khi đó cụ Vương đã 66 tuổi còn tôi chưa đầy 20. Chuẩn bi đi gặp vị tiền bối trong ”nghề”, tôi hỏi mượn ông nội hai cái tô gia bảo-một vào đời vua Lê và một vào đời Minh bên Trung Hoa – để có cớ đến gặp cụ Vương. Rất may ông đồng ý tiếp. Tôi rụt rè trình bày gia đình mình có hai cái tô cổ mà không hiệu rõ giá trị, nên đến xin lĩnh hội cao kiến. Không ngờ ông chỉ ngắm nghía sơ qua hai cái tô rồi quay sang nói gọn lỏn: ”Em định bán giá bao nhiêu?”. Tôi còn đang chưng hửng, chưa biết trả lời sao thì cụ Vương lặp lại câu hỏi. Đến khi tôi ấp úng nói rằng mình không có ý định bán, ông bèn đứng dậy nói dứt khoát: “Em muốn bán bao nhiêu cứ nói, liệu được thì qua mua, chớ qua không có thời giờ để giải thích dông dài”. Lúc ấy tôi vừa ngỡ ngàng vừa buồn giận, không ngờ người mà mình vẫn ngưỡng mộ lại có cách xử sự lạ kỳ như thế. Trước khi ra về, bầu máu nóng thanh niên bốc lên xui tôi quay lại nói thêm một câu cho… đã nư: ”Thưa cụ, cháu vẫn nể danh cụ là người có mắt ngọc để nhìn cổ vật. Giờ đây cháu biết thêm là cụ chỉ ưa nhìn cổ vật mà không nhìn được người”. Nói xong tôi quày quả bỏ đi. Nhưng vừa ra tới cổng thì cụ Vương đã kịp theo để gọi tôi trở lại và ân cần mời vào nhà. Chừng đó tôi mới biết sở dĩ cụ có thái độ như thế chẳng qua là vì sau chiến sự Tết Mậu Thân, khá nhiều người miền Trung tản cư vào Sài Gòn đã liên tiếp mang đồ cổ đến gạ bán cho ông. Chính vì vậy mà cụ lầm tưởng tôi đến cũng không ngoài mục đích ấy. Rồi cụ sốt sắng bảo tôi đưa cho xem lại hai cái tô và giải thích cặn kẽ lai lịch của chúng. Từ đó tôi được cái may lui tới thăm viếng, đàm đạo thường xuyên cùng cụ, nhờ vậy mà có mối quan hệ ngày càng gắn bó với một bậc tiền bối uyên thâm”.

Vốn là người theo Tây học và không biết chữ hán, cụ Vương chỉ chuyên nghiên cứu các tài liệu khảo cổ bằng tiếng Pháp. Nay quen biết anh Sơn có được vốn liếng Hán văn, có thể bổ túc cho cụ trong việc dịch nghĩa các câu thơ chữ Hán Nôm, hầu có thể xác định rõ hơn gốc gác hay giá trị những món đồ cổ nên cụ cũng vui. Đổi lại, cụ hướng dẫn anh sinh viên trẻ mới nhập môn phân biệt các nước men, màu sắc, niên hiệu của từng món đồ. Hai người trở thành đôi bạn vong niên từ đó.

Chơi đồ cổ – đôi nét chấm phá

Những đồ sứ cổ thông dụng hiện nay tại miền Nam đa phân là do người Việt xưa đặt làm bên Trung Hoa và gồm hai loại. Một là của triều đình đặt làm đồ ngự dụng gọi là đồ ”Ký Kiểu”. Những đồ sứ này có các họa tiết, thơ văn bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm xuất phát từ ý tưởng của vua chúa Việt Nam, hầu hết có màu lam đặc trưng và có ghi rõ niên đại (như Tự Đức niên chế, Minh Mạng niên chế).

Hai là những đồ sứ do các gia đình trâm anh thế phiệt tự vẽ kiểu rồi đặt hàng với những thương nhân Trung Hoa có mở cửa hiệu buôn Hán tại Việt Nam thường xuyên qua lại giữa hai nước để làm ăn. Ngoài ra còn có những mặt hàng do các Hoa kiều đặt làm từ nước họ, theo đúng thị hiếu và sở thích của người Việt, rồi mang sang bán cho dân ta. Nói chung, tuy hầu hết những đồ sứ cổ trên đây đều do người Tàu chế ra nhưng đều mang đậm phong cách Việt Nam.

Sang đến thời Pháp thuộc, từ đời các vua Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định, thì triều đình lại đặt đồ sứ làm bên Pháp sử dụng trong cung đình.

Tại Sài Gòn, ngay từ thời Pháp thuộc đã có những nhà buôn đồ cổ rất quy mô, nhất là trên đường Catinat (nay là Đồng Khởi). Và đặc biệt từ sau năm 1963, đồ cổ bước vào thời hoàng kim tại miền Nam. Đó là giai đoạn chế độ Ngô Đình Diệm vừa bị lật đổ và quân đội Hoa Kỳ tham gia trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, từ đó xuất hiện một tầng lớp trưởng giả mới gồm các thương gia, viên chức, sĩ quan ít nhiều có liên hệ với người Mỹ. Phú quý sinh lễ nghĩa, các nhà giàu mới đua nhau mua sắm đồ cổ để trưng bày, thế là giá cổ vật tăng vọt và ngày càng cao vì cung không đủ cầu. Để cung cấp cho thị trường Sài Gòn, giới buôn đồ cổ phải sang tận Hồng Kông tìm mua đồ cổ Trung Quốc hay sang Pháp mua cổ vật Âu châu mang về. Đồng thời các món giả cổ cũng xuất hiện ngày càng nhiều,vàng thau lẫn lộn, để bán cho những người thích chơi đồ cổ mà không đủ khả năng, hoặc để lừa những người mới tập tễnh bước vào thú chơi này.

Nghề chơi nào cũng lắm công phu, riêng thú chơi cổ ngoạn lại càng… đa đoan hơn. Để phân biệt thật giả, người sưu tập phải chịu khó nghiên cứu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, địa lý… để tích lũy một ít kiến thức nhất định, bởi mỗi món cổ vật đều có chứa đựng những tiêu chí đó. Hiểu biết càng sâu sắc thì niềm vui cảm nhận càng lớn lao.

Cổ thi Ấn Độ viết rằng: ”Những gì kích thích lòng ham muốn thì không bao giờ thỏa mãn lòng ham muốn”, do đó kẻ sưu tập nào cũng có lòng tham không đáy cứ ráng tìm mua thêm mãi, lại thêm máu bá quyền cố theo kịp người, rồi ráng… hơn người. Tiếp theo phải tìm bạn tri âm, hễ có được rồi nhiều khi khắng khít với nhau còn hơn vợ kèo con cột.

Truân chuyên cổ vật

Trong mười năm – từ 1975 đến 1985 – kể từ sau ngày đất nước thống nhất, đây có thể coi là thời kỳ chảy máu cổ vật ở miền Nam. Một số gia đình tại chỗ lâm vào hoàn cảnh túng thiếu phải bán đi những vật gia bảo để sống qua ngày. Mặt khác, một suy nghĩ nặng phần thành kiến lúc bấy giờ cho rằng toàn bộ những gì thuộc về vua chúa đều là tàn dư phong kiến khiến nhiều người hoang mang ngần ngại, người có đồ cổ lo đem cất giấu, người chưa có thì không muốn mua sắm mang về e rước họa vào thân.

Thời kỳ đó, những tay máu mê sưu tập như cụ Vương, anh Sơn thường rủ rê nhau ngày ngày dạo vòng quanh các chợ trời, thôi thì tha hồ mà ngắm, hầu như nơi nào cũng có ít nhiều đồ cổ bày bán với giá chưa đến một nửa trước đây. Nhưng trong hoàn cảnh khó khăn chung lúc bấy giờ, ai nấy cũng đành thở dài và bấm bụng… đi không rồi lại về không.

Trong một chuyến dạo chợ như thế, anh Sơn thình lình gặp lại một ống đựng tranh hiệu Ất Dậu Niên chế, vốn là vật gia bảo của nhà Tổng đốc Phương ở Chợ Lớn mà anh đã mê mẩn hồi trước năm 1975 nhưng không tài nào rớ đến nổi, vì nhà bán đồ cổ hét giá lên đến khoảng 20 lượng vàng, bằng l5 tháng lương của anh lúc ấy. Nhưng nay ống tranh này được bày bán với giá thấp đến không ngờ. Thế nhưng, so với cố nhân đang lăn lóc ở chợ trời thì bản thân anh bấy giờ cũng đang trôi nổi giữa chợ đời, nào có khác chi nhau! Tương lai người còn chưa biết ra sao, hơi đâu mà thương hoa tiếc… ống, thế là anh đành ngậm ngùi quay đi. Tuy vậy, từ hôm đó anh cứ thẫn thờ, tiếc nuối, đêm đêm trằn trọc thao thức, ngày ngày buồn bã vấn vương. Ngó tới ngó lui, trong nhà còn mỗi chiếc xe Honda, anh sáng mắt tự nhủ: thôi thì đem bán quách để mua ống tranh, từ nay đi xe đạp lại càng… hợp thời hơn!

Nhưng trường hợp trên thuộc loại hiếm, còn thì hầu hết các cổ vật đã lần lượt vào tay những người nước ngoài gồm du khách, nhân viên các sứ quán, lãnh sự… thoải mái mang ra khỏi nước, vì lúc bấy giờ Chính phủ chưa có quy đinh hay chính sách đối với cổ vật.

Từ sau thời kỳ đổi mới vào năm 1986, đời sống ngày càng được cải thiện, xã hội dần dà có thêm một số doanh nhân, cán bộ, viên chức có cuộc sống sung túc, xây dựng nhà cửa đồ sộ nguy nga, nhu cầu mua sắm đồ cổ bắt đầu xuất hiện và phát triển nhanh chóng. Đặc biệt đến năm 2004 thì có đột biến về giá cả đồ cổ và hiện đã vượt cao gấp đôi so với trước ngày giải phóng.

Hiện nay, đường Lê Công Kiều tại TPHCM vẫn còn giữ truyền thống phố đồ cổ từ xưa của mình. Tại các quán cà phê ven đường này, mỗi sáng chủ nhật các tay “nghiện” trong nghề vẫn tụ họp trao đổi, bàn luận và mua bán. Ngoài ra trên đường Nguyễn Văn Trỗi (quận 3), Mạc Thị Bưởi (quận 1) cũng là nơi có các cửa hàng đồ cổ.

Bài học đáng ghi nhớ

Liệu thú chơi đồ cổ có tính… kế thừa cha truyền con nối hay không. Vừa nghe câu hỏi, một tia sáng hiện ra trong ánh mắt làm gương mặt điềm đạm rạng rỡ hơn lên, anh Sơn bày tỏ niềm hạnh phúc khi hai cậu con trai của mình đều say mê đồ cổ giống cha. Bởi theo anh, không kể đến giá trị vật chất ngày càng tăng với thời gian, các bộ sưu tập được trao lại cho các con sau này còn mang giá trị tinh thần lớn hơn nhiều, với công sức mấy mươi năm chắt chiu góp nhặt, bởi ý thức gắn giữ những bảo vật mang giá trị văn hóa của dân tộc. Anh tâm sự: “Tôi rút được bài học từ kinh nghiệm đáng buồn của người đi trước. Tôi vốn lớn hơn con trai của cụ Vương – anh Vương Hồng Bảo – chỉ một tuổi mà thôi. Hồi đó, mỗi khi tôi đến nhà đều được cụ thân mật tiếp trong thư phòng, trong khi cậu con trai lại rất hiếm khi bước vào đây. Về sau mới biết hóa ra do trong thư phòng chứa toàn đồ cổ quý giá nên ngay từ khi con còn nhỏ, cụ đã cấm ngặt không được léo hánh vào nơi cha làm việc.

Điều này đã khiến cha con dần dà xa cách với nhau. Cho đến khi thấy mình già yếu, cụ nghĩ đến việc trao lại tất cả cho con trai thì anh tỏ ra hoàn toàn hờ hững. Hình như anh có mối hận lòng đối với cổ vật, bởi vì nó mà cha con đã không được gần gũi nhau”.

Rút kinh nghiệm đau lòng đó, anh Sơn đã sớm tạo cho các con cơ hội tiếp xúc với không gian cổ, mỗi dịp hè cho con về quê, đưa đi thăm lăng tẩm, các viện bảo tàng, truyền cho các con lòng yêu văn hóa, thi ca dân tộc và quan trọng hơn cả là cha con có nhiều dịp gắn bó, thân mật với nhau hơn.

***

Cứ theo những gì vừa nghe thì quả thú chơi đồ cổ mang lại nhiều niềm vui lẫn lợi ích, trước mắt cũng như lâu dài. Thế nhưng hình như nó lại không dành cho những người có thu nhập khiêm tốn, như công nhân – viên chức chẳng hạn?

Qua kinh nghiệm bản thân, anh Sơn khẳng định, không cần phải là… tỉ phú mới có thể chơi đồ cổ (anh cho rằng thật ra có những tỉ phú tuy sở hữu nhiều đồ cổ nhưng vẫn không phải là người chơi đồ cổ thật sự, mà nói cho chính xác hơn thì việc mua sắm cổ vật cũng chỉ là một cách đầu tư đồng tiền của họ để sinh lợi về sau mà thôi).

Theo anh, một sinh vien, một viên chức, dù với thu nhập khiêm tốn vẫn có thể đeo đuổi trò chơi này, với điều kiện là có niềm say mê và sự kiên nhẫn tích lũy về dài. Ngoài ra cũng nên chọn cho mình một loại nào phù hợp với sở thích và điều kiện tài chính, chẳng hạn có người chuyên sưu tầm các đồng xu, hay bình vôi ăn trầu, hoặc chung uống trà cổ…

Hiện nay, một chung trà cổ có giá khoảng hai ba trăm ngàn đồng một cái, như thế người mới bắt đầu chơi đồ cổ có thể tiết kiệm tiền để mỗi tháng mua một chiếc. Rồi cứ hàng tuần, hàng tháng lại ra công sục sạo, năm này sang năm nọ tìm tòi mua thêm từng chiếc một để bổ sung dần. Sau đôi ba chục năm sẽ hình thành được một bộ sưu tập vô cùng giá trị, xứng đáng với công khó bỏ ra, mà trong suốt thời gian đó lại còn được hưởng niềm vui vô tận của việc chiêm nghiệm những câu thơ sâu sắc, ngắm phong cảnh nên thơ khắc họa trên các chung trà, qua đó cả một bề dày văn hóa của nhiều thời đại quá khứ hiển hiện lại trước mắt người đời nay.

Quế Phương

Read Full Post »

Bài này đọc đã lâu trên Thanh Niên, nội dung cũng có một ít sử liệu đọc thấy vui vui, nhất là “ma” ở đây có hai nghĩa lận. Post lên không biết bỏ vào nội dung mục lục nào , bỏ vào mục Thư giãn – giải trí vậy.

Đồ cổ có “ma” ?

Xem hình
Pháp lam thời Nguyễn

Cả nhà ông ta nhiều đêm mất ngủ vì thỉnh thoảng trong tủ gỗ quý ấy nửa khuya nghe có tiếng chuông vọng ra, như chừng có ai lấy chiếc đũa gỗ gõ nhẹ vào. Bật đèn và đến gần tủ vẫn thấy cửa tủ đóng, tiếng chuông im hẳn và không có ai cạnh đó. Nhiều lần như thế người nhà đâm hoang mang, lo sợ cái “chuông ma”.

Từ sau lễ hội Vu lan đến 30 tháng bảy âm lịch, người ta thường bày những mâm cúng cô hồn ra ngõ. Trong nhà, gia chủ cũng có thể nhân tiện dọn thêm mâm rượu, để người sống họp mặt ngẫm lại sự đời và tích xưa chuyện cũ.

Bên một mâm như thế, hồi đầu tuần này, một nhóm bạn thích chơi cổ ngoạn tụm năm tụm ba bên góc phố chuyên bán “đồ mỹ nghệ” Lê Công Kiều ở TP.HCM để nói chuyện đông chuyện tây… Lúc ngà ngà hơi men câu chuyện chợt xoay quanh các loại ma “truyền thống” xứ ta như ma da (nhận chết người dưới nước), ma trơi (lập lòe trên bờ), ma dú (giấu người trong bụi tre), rồi cao hứng có ông vọt miệng hỏi: “Thế đồ cổ có ma không?”.

Phù điêu hình người Mâm đồng chạm thủng “Phúc Lộc Thọ Khang” của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu

Bậy nào! Các lâu đài, cung điện, bảo tàng và những địa chỉ văn hóa trong nước ngoài nước xưa nay chứa đầy cổ vật, có ai sợ chúng lôi ma kéo quỷ tới hù dọa ta đâu? Nên câu hỏi “đồ cổ có ma không?” là câu hỏi “giả”, không thể đem lại lời đáp “thật” cho hợp lý được. Ừ, cho là không hợp lý, song nếu “hợp tình” hãy phải lắng nghe đã chứ – có người bẻ lại và dẫn chứng lời trăn trối của cụ Vương Hồng Sển rằng, sau ngày nhắm mắt cụ nguyện một nửa linh hồn sẽ ở lại giữ ngôi nhà cũ mang tên Fondation Vương Hồng Sển của mình (nhưng đến nay Fondation đó vẫn chưa được thiết lập). Còn một nửa kia xin quanh quẩn nơi Viện Bảo tàng Sài Gòn (tức Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM hiện nay) là nơi trước kia cụ đảm trách quản lý, cũng là nơi đang lưu giữ ngót nghét khoảng 1.000 món đồ cổ do cụ hiến tặng Nhà nước mà lúc sinh thời cụ rất cưng quý chúng.  Lời ấy được Ban giám đốc Bảo tàng lặp lại rõ ràng trước công chúng trong lễ khai mạc trưng bày chuyên đề đồ gốm Vương Hồng Sển. Vậy nếu cụ Vương phân linh để về hai nơi ấy như ước vọng thì chẳng phải là điều xa lạ so với quan niệm tâm linh của ông bà ta xưa.

Trầm tư (cố vật đá Óc Eo)

Cho đến nay, con cháu theo đó vẫn mở rộng cửa để vong linh tổ tiên và những người khuất mặt trong thân quyến “vào tới nhà mình” những ngày giỗ, ngày Tết. Các cụ hiện về để chung vui và phù hộ con cháu ăn nên làm ra, thăm lại nhà xưa chốn cũ, chứ không phải để hù dọa, phá phách như các loại ma mà người ta hay sợ nhưng lại thích nghe kể về chúng, chẳng hạn chuyện cái ấm trà, tráp đựng trầu và quả chuông quái lạ dưới đây. Hồi đó, khoảng giữa thập niên 1960, có hai người lạ mặt từ Đà Nẵng đi xe đò vào phố cổ Hội An, mang theo ba món đồ cổ trên, đến gõ cửa chào mời các vị chủ nhà có tiếng quanh xóm Chùa Cầu như bác Thoại, bác Hoàng, bác Cửu Can, Bảy Thạnh, Ba Quý, cả những người Hoa cư trú lâu đời sát chùa Quảng Triệu như ông bà Xú bán tạp hóa, ông bà Xường chủ lò bánh mì. Người bán giới thiệu đây là những món đồ cổ ở hoàng cung và tôn miếu vua Gia Long, Minh Mạng, bị quân Pháp vơ vét rớt dọc đường, hoặc chưa kịp biển thủ phải để lại phát tán ra ngoài dân sau biến cố “kinh đô thất thủ” năm 1885 và ông bà họ mua lại, nay họ túng quá đem bán với giá 500.000 đồng (thời giá lúc ấy khoảng 900 đồng một tạ gạo).   “Dường như sau mỗi món đồ cổ đều có linh hồn của những người đã chết theo đuổi vì say mê. Khó biết được chính xác một món đồ quý lâu đời đã qua tay của bao nhiêu người chủ cũ. Nếu tìm hiểu cặn kẽ gốc gác ấy thiết tưởng sẽ góp phần bổ sung tiểu sử cổ vật cũng như soi sáng thêm dấu vết giao lưu văn hóa, mỹ thuật, thương mại qua các thời”. TS Thông Thanh Khánh (Nhà nghiên cứu văn hóa Chăm)

Rẻ mắc chưa nói, chỉ riêng lai lịch món đồ rao bán đã rất thu hút rồi. Nhưng đồ giả hay đồ thật quả phải nhờ tới “tay chơi” thứ thiệt mới rành. Đến cuối ngày, một phú gia gần cửa hàng Phi Yến bên chợ Hội An đã mua với giá rẻ chỉ còn 1/3 giá nêu trên. Người mua mang cái ấm trà và tráp đựng trầu cất vào chỗ riêng, còn quả chuông đồng có khắc chữ được để trong tủ gỗ quý. Cũng từ hôm đó, cả nhà ông ta nhiều đêm mất ngủ vì thỉnh thoảng trong tủ gỗ quý ấy nửa khuya nghe có tiếng chuông vọng ra, như chừng có ai lấy chiếc đũa gỗ gõ nhẹ vào. Bật đèn và đến gần tủ vẫn thấy cửa tủ đóng, tiếng chuông im hẳn và không có ai cạnh đó. Nhiều lần như thế người nhà đâm hoang mang, lo sợ cái “chuông ma”.

Hư thực mức nào chưa rõ, chỉ biết không lâu sau ông phú gia ấy lại mang cái chuông kia ra Đà Nẵng để bán đổ bán tháo cho xong, nhưng tiếng xầm xì về đồ cổ có ma vẫn còn lưu truyền quanh xóm chợ. Số người tin dị đoan bảo đồ cổ có ma là do sự luyến tiếc của người chủ cũ đã chết. Người này khi sống quá đam mê món đồ, nên không rời nó được, hồn cứ lởn vởn đi theo. Hoặc túng thiếu phải bán rẻ. Hoặc bị kẻ khác dùng thủ đoạn cướp đoạt.

Thần đầu voi Tượng đồng (Văn hoá châu Á)

Tất cả gây nên “ma sự” quanh các món đồ cổ để trong nhà. Về phía người sống, không thiếu những kẻ lừa lọc làm giàu bằng cách bán đồ cổ giả và thi thố mánh khóe để sát phạt nhau. Vì thế khi nói đến thị trường đồ cổ nhiều người nghĩ ngay tới một “thế giới ngầm” lạnh lùng, ma mãnh, đầy tiêu cực. Theo bà Tú Anh, một người quen biết trong thế giới ấy, bảo rằng đừng nghĩ phải có rất nhiều tiền mới chơi đồ cổ được vì: “Hiện nay với 50 ngàn đồng là bạn có thể sở hữu một chiếc rìu đồng chế tác cách đây hơn 2.000 năm và vài ba chục ngàn thôi cũng tìm mua được một món đồ gốm làm từ mười mấy thế kỷ trước. Đừng sợ thế giới đồ cổ. Đó không chỉ là thế giới mà những người giàu có mới bước vào được. Đó cũng không chỉ là thế giới của toàn những kẻ suốt ngày sát phạt nhau hoặc tìm cách lừa lọc nhau”.

Cần bàn thêm với bà Tú Anh về nội dung trên. Nhưng rõ ràng thế giới ấy không chỉ “lắm ma”, mà còn có mặt những nhà sưu tập, nhà nghiên cứu và những tâm hồn đam mê cái đẹp, hoài cổ và hoài cảm mênh mang…

Nhiều bảo vật triều Nguyễn nay lưu lạc về đâu?

Tượng Phật bằng ngà tại Bình Thuận

Tài liệu lưu trữ chưa xuất bản ở Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp (Paris) do Nguyễn Xuân Thọ dẫn, Nguyễn Ngọc Cư dịch và nhà nghiên cứu Phan Thuận An trích in trong bài viết của mình trên Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn do Sở Khoa học-Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên – Huế kết hợp Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế xuất bản trước đây, ghi rằng khi vua Hàm Nghi và hoàng gia xuất bôn khỏi kinh thành sau biến cố “thất thủ kinh đô” năm 1885, thiếu tướng Prudhomme đã để thuộc hạ cướp bóc bảo vật ở hoàng cung trong rất nhiều ngày.

Một chứng nhân của cuộc cướp bóc ấy kể cho J.Chesneaux nghe và Chesneaux ghi lại chi tiết sau: “Người Pháp đã lấy trong trại cấm vệ quân 113 lạng vàng, 742 lạng bạc, 2.627 quan tiền; tại cung bà Thái hậu Từ Dũ 228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương, hạt trai, hạt ngọc, 271 đồ bằng vàng, 1.258 nén bạc, 3.416 lạng vàng; tại các tôn miếu thờ vua Thiệu Trị, Minh Mạng, Gia Long, chứa đầy vật phẩm riêng của các tiên đế dùng lúc sinh thời, hầu hết những thứ có thể tiện mang đi như: mũ miện, đai áo, thảm, đệm, triều phục, long sàng và bàn tròn xoay chạm trổ, hoành treo vũ khí, tráp trầu, ống phóng, chậu thau, hỏa lò, đỉnh trầm, bình pha trà và khay chén…

Kho tàng trong hoàng cung đã mất đi gần 24 triệu quan vàng và bạc. Cuộc cướp cạn ấy kéo dài trong hai tháng còn gây tai tiếng hơn cuộc cướp phá lâu đài nghỉ mát của hoàng đế nhà Thanh ở Bắc Kinh…”. Sau này vua Đồng Khánh nhiều lần đòi Pháp trả lại kho tàng quý giá đã bị cướp đoạt nhưng không được đáp ứng.

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Thứ Hai, 13/04/2009, 14:03 (GMT+7)

Hoang tàn nhà cổ cụ Vương!

Chúng tôi tìm đến Vân đường phủ của cụ Vương tại số 9/1 Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, quận Bình Thạnh- TPHCM vào những ngày đầu tháng 4, sau gần 13 năm cụ Vương Hồng Sển tạ thế. Ông đã để lại ngôi nhà cổ hơn 100 tuổi cùng những cổ vật có giá trị với di chúc hiến tặng cho Nhà nước để xây dựng nhà lưu niệm Vương Hồng Sển.

Sân vườn có 7 gốc mai đã bị bứng, dãy sáo trước nhà bị vẹt ra để làm lối đi, nơi chứa hàng hóa..., quang cảnh nhà cổ cụ Vương quá tiêu điều - Ảnh: T.HIỆP

Sân vườn có 7 gốc mai đã bị bứng, dãy sáo trước nhà bị vẹt ra để làm lối đi, nơi chứa hàng hóa..., quang cảnh nhà cổ cụ Vương quá tiêu điều - Ảnh: T.HIỆP

Cảnh vật tiêu điều

Quyết định số 140/2003/QĐ-UB của UBND TPHCM ghi rõ: “Xếp hạng di tích cấp TP đối với: Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ dân dụng truyền thống của ông Vương Hồng Sển, số 9/1 Nguyễn Thiện Thuật, P.14, Q.Bình Thạnh- TPHCM. Nghiêm cấm mọi hoạt động xây dựng khai thác trong những khu vực di tích đã khoanh vùng bảo vệ”.

Khó khăn lắm chúng tôi mới thuyết phục những người tạm trú ở đây mở cổng cho vào bên trong để tham quan ngôi nhà. Khung cảnh tiêu điều vắng vẻ khiến những ai đã từng một lần đến nhà cụ Vương đều không khỏi chạnh lòng. Vườn cây nhà cụ Vương được xem là độc nhất vô nhị tại TPHCM với nhiều gốc mai quý (loại mai bảy cánh nở suốt bốn mùa) đã được cụ Vương trồng từ khi có ngôi nhà này – nay đã không còn. Sân trước ngôi nhà đã trở thành kho chứa đồ; lều bạt của những người vô gia cư mọc lên.

Xót xa nhất là ngôi nhà đang xuống cấp nghiêm trọng. Cột, kèo, đòn tay nhiều nơi bị mối đục thủng. Cây đòn dông của gian nhà chính đã mục nát từ lâu. Mái ngói hư hỏng nặng nên những khi mưa lớn nền nhà ngập nước. Những cánh cửa được chạm khắc tinh vi đã bị cong vênh, mỗi lần mở đóng rất khó khăn. Dải hành lang trở nên chật hẹp, mái ngói hành lang bị  xiêu vẹo, lối đi ngổn ngang gạch ngói. Hàng hiên trước của ngôi nhà bị biến thành kho chứa đồ, những tấm song bằng gỗ đã bị đập gãy để làm lối ra vào.

Nội thất gian nhà chính ngổn ngang sách

Nội thất gian nhà chính ngổn ngang sách

Bên trong nhà mùi ẩm mốc xông lên nồng nặc; những cuốn sách bị rơi vãi khắp nơi. Buồn nhất là bàn thờ của cụ Vương và bà Năm Sa Đéc – vợ của cụ – một nghệ sĩ tiên phong của sân khấu cải lương- nhạc tài tử Nam Bộ, nằm ở gian chính, nguội lạnh khói hương. Ngôi nhà đã hoàn toàn xuống cấp và sớm muộn sẽ sụp đổ vì không ai chăm sóc đã gần 13 năm nay.

Mái ngói bị thủng, nên mỗi khi trời mưa gian nhà bị ngập nước

Một di sản vô giá đang thoi thóp

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu: “Ngôi nhà của cụ Vương Hồng Sển là dạng nhà cổ xưa có niên hạn hơn 100 năm. Qua nghiên cứu, tôi được biết ở Thủ Dầu Một – Bình Dương hiện nay vẫn còn một số ngôi nhà cổ tương tự được giữ gìn cẩn thận, được nâng cấp, sửa chữa mỗi năm”.

Khác với những ngôi nhà cổ khác, ngôi nhà này còn có những giá trị phi vật thể khác. Đó là cụ Vương Hồng Sển và những di sản quý giá khác của cụ đã để lại cho đời.

Nhà nghiên cứu cổ vật Trần Đình Sơn, người được cụ Vương Hồng Sển nhận là học trò, sát cánh bên cụ hơn 50 năm, đã cho biết: “Sau năm 1975, nhiều nhà sưu tập khác có dính dáng đến việc mua bán cổ vật đã không giữ được nguyên vẹn bộ sưu tập của mình, nhưng cụ Vương đã giữ gìn được vì cụ là một nhân sĩ có uy tín và cho đến năm cụ 90 tuổi, cụ vẫn hết lòng say mê nghiên cứu cổ vật, xem đó là đời sống thiêng liêng của cụ”.

Mái ngói bị thủng, nên mỗi khi trời mưa gian nhà bị ngập nước

Mái ngói bị thủng, nên mỗi khi trời mưa gian nhà bị ngập nước

Căn nhà cổ cùng những giá trị của nó đủ sức hấp dẫn bất kỳ ai khi đến TPHCM, nhất là đối với du khách ngoài nước. Thay vì khai thác ngôi nhà cụ Vương để phát huy giá trị của nó, người ta đã lạnh lùng để mặc nó sống thoi thóp như hiện trạng hôm nay.

Nét đẹp tiêu biểu kiến trúc cổ

Sinh thời, cụ Vương đặt tên khu nhà cổ này là Vân đường phủ. Nơi đây hơn 30 năm trước, nhà nghiên cứu mỹ thuật James D.Hollan đã đến viếng và khen Vân đường phủ là một điển hình về thẩm mỹ của nền kiến trúc cổ truyền Việt Nam, với các chi tiết mỹ thuật mang giá trị lịch sử văn hóa.

Khi về nước, Hollan đã viết một bài báo đăng trên tạp chí Arts of Asia, số tháng 3 và 4- 1972, mô tả lại cách bài trí những đồ cổ quý giá tại khu nhà này, từ vị trí đặt để cái độc bình, ấm trà, chén đĩa bằng sứ, hoặc bằng ngà ngọc, được chế tác từ Việt Nam và Trung Quốc, đến các loại bàn ghế, giường tủ, các đĩa cẩn ngọc trai lớn; tất cả đều theo một nghệ thuật sắp xếp tinh tế, sao cho người xem không có cảm giác chủ nhân là người khoe của, giăng đồ xưa ngồn ngộn khắp nơi. (Hồng Hạc)

Theo THANH HIỆP – Người Lao Động

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Older Posts »