Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Truyện ngắn về cổ vật’

Những chiếc ấm đất

Bóng nắng gần tới đỉnh đầu. Sư cụ chùa Đồi Mai thủng thẳng trở về trai phòng. Nhà sư già gỡ chiếc nón tu lờ, sắp ngồi vào thụ trai thì có tiếng con trẻ gọi ở ngoài cổng chùa. Một chú tiểu lễ phép bước lên tam cấp:

– Bạch cụ, có người con trai cụ Sáu xin vào.

– Vậy chú vẫn đóng cửa chùa đó à? Chú ra mở mau không có người ta phải đứng nắng lâu. Cổng nhà chùa bao giờ cũng nên để ngỏ. Từ giờ chú nên nhớ: sáng sớm tụng kinh nhật tụng và thỉnh chuông xong là phải mở rộng cửa chùa và tối đến, lúc nào học xong kệ thì mới đóng. Kẻo nữa khách thập phương họ kêu đấy.

Tiểu ra được một lát thì một người con trai trạc mười bảy tuổi xúng xính trong chiếc áo dài thâm, chân xéo lấm, tay bưng cái khay tiến vào tăng xá, vái sư cụ:

– Bạch cụ, thầy con cho con mang xuống biếu cụ bình trà đầu xuân. Và xin phép cụ cho ra giếng chùa nhà gánh một gánh nước.

Nhà sư già đã quen với những việc biếu và xin mượn này ở dưới cụ Sáu, khẽ cất tiếng cười. Trên khuôn mặt khô xác, nụ cười không có gì là ấm áp thiết tha. Nó chỉ đủ là hiền lành thôi.

– Thế cháu đựng nước bằng cái gì?

– Dạ có người nhà quẩy nồi và gánh đi theo còn chờ ở ngoài.

– Ai di đà phật? Nắng này mà đi từ làng trên xuống tận đây lấy nước, cụ Sáu nhà có công quá. Cháu ngồi nghỉ chân đã. Để già bảo chú tiểu đưa tên bộc ra giếng. Cháu đi từ sớm, chắc bây giờ đã ngót dạ rồi; sẵn oản chuối vừa hạ xuống, già ép cháu thụ một ít lộc Phật.

– Bạch cụ, cháu ăn mặn ở nhà vẫn còn lửng dạ.

Sư cụ chùa Đồi Mai không nài thêm và vẫn chỉ cười rất thuần hậu.

– Cháu có biết cụ Sáu nhà đến xin nước ở chùa đây đã mấy năm nay rồi không? Gần mười năm. Uống trà tàu như thầy cháu thì cũng có một. Cứ nước giếng chùa đây mới chịu pha trà. Lắm lúc già tự hỏi về cái tiền thân của thầy cháu xem là như thế nào. Nghĩ đến cái nhân duyên của thầy cháu với nhà chùa đây, thực cũng là bền và kỳ lắm cháu ạ.

Thoáng thấy tên lão bộc đã quảy xong gánh nước đang ngơ ngác tìm mình và làm ướt cả khoảng giữa sân chùa lát toàn đá tảng xanh, người con cụ Sáu, với cái từ tốn của một thư sinh ngồi hầu chuyện bực phụ chấp đã xuất gia, liền vội vàng đứng dậy xin phép về.

– Bạch cụ, cháu vội phải về, vì ở nhà hôm nay có khách uống trà. Có lẽ thầy cháu ở nhà đang chờ nước về.

Nhà sư già cũng vội theo bọn xin nước ra tới thềm ngoài. Sư cụ rút trong tay áo vải rộng ra một chiếc quạt thước, xòe rộng hết cả nan quạt, nghiêng che đầu cho đỡ nắng và bảo chú tiểu:

– Chú chạy mau ra vườn, bẻ mấy cành lá đào.

Rồi cụ giữ con cụ Sáu lại:

– ấy, ấy, thong thả một chút. Thả mấy cành đào có lá vào nồi nước, lúc gánh đi đường xa nó đỡ sóng ra ngoài và về đến nhà, nước vẫn mát.

Bọn xin nước vái chào nhà sư. Trên con đường đất cát khô, nồi nước tròng trành theo bước chân mau của người đầy tớ già đánh rỏ xuống mặt đường những hình ngôi sao ướt và thẫm màu. Những hình sao ướt nối nhau trên một quãng đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài bò sát. Ví buổi trưa hè này là một đêm bóng trăng dãi, và ví cổng chùa Đồi Mai là một cửa non đào thì những giọt sao kia có đủ cái thi vị một cuộc đánh dấu con đường về của khách tục trở lại trần.

ánh nắng già dặn buổi trưa nung đốt mặt cánh đồng dưới chân đồi, làm rung rinh lớp không khí bốc từ mặt đất. Giống như vệt khói nhờ, nắng vờn qua những màu xanh bóng loáng của một dãy xóm làng cây cối im lìm. Đứng trong cổng chùa từ bề cao nhìn xuống cái thấp dưới chân mình, nhà sư già nheo nheo cặp mắt, nhìn cái nắng sáng lòa. Bọn người xin nước chỉ còn là mấy cái chấm đen, mỗi chuyển động lại làm tung lại phía sau mình một chùm cát bụi mờ mờ. Gió nồm thổi mạnh, nhiều cơn, đã đem cả mảnh bụi trần kia vào lọt cổng ngôi chùa cao ráo. Nhà sư nghĩ đến cụ Sáu, thở dài tỏ ý tiếc cho một kiếp chúng sinh còn vướng mãi vòng nghiệp chướng.

Cụ Sáu vốn đi lại với chùa đây kể ra đã lâu. Từ trước cái hồi nhà sư già tới trụ trì. Mấy pho tượng Phật Tam thế bằng gỗ mít đặt ở trên bệ và mấy pho Kinh in giấy đại thừa là của cụ Sáu cúng đấy. Cái chuông treo ở trên nhà phương trượng cũng là của ông cụ Sáu cúng vào hồi trùng tu lại chùa. Và mỗi lần nhà chùa lập phả khuyến thì ông cụ Sáu đứng đầu sổ. Chùa Đồi Mai ở xa làng mạc biệt lập trên một khu đồi nên cũng ít bị phiền nhiễu bởi đám tạp khách. Thỉnh thoảng trong bọn khách đến chơi, ông cụ Sáu được sư cụ biệt đãi nhất. Tháng một lần, nhà sư già lại giữ ông cụ Sáu lại ăn một bữa cơm chay và lần nào từ biệt, nhà sư cũng chân thành tặng khách một rò lan Chu Mặc. Thường thường mỗi lần gặp gỡ, thể nào hai ông già cũng kéo nhau ra cái giếng nước mà chuyện vãn rất lâu. Nhà sư ít nhời, trầm tĩnh ngắm bóng cụ Sáu trong lòng đáy giếng sâu. Cái bóng nhà sư già ít khi được đậu hình cho lâu trên phiến gương nước giếng mát lạnh: chốc chốc một vài giọt nước ngọt lại rời mạch đá tổ ong, thánh thót rớt xuống, tiếng kêu bì bõm. Ông cụ Sáu tỳ tay vào thành giếng nhờn mịn rêu xanh, chỉ ngón tay xuống lòng giếng sâu thẳm gần hai con sào mà nói: “Chùa nhà ta có cái giếng này quý lắm. Nước rất ngọt. Có lẽ tôi nghiện trà tàu vì nước giếng chùa nhà đây. Tôi sở dĩ không nghĩ đến việc đi đâu xa được, cũng là vì không đem theo được nước giếng này đi để pha trà. Bạch sư cụ, sư cụ nhớ hộ tôi câu thề này: “Là giếng chùa nhà mà cạn thì tôi sẽ lập tức cho không người nào muốn xin bộ đồ trà rất quý của tôi. Chỉ có nước giếng đây là pha trà không bao giờ lạc mất hương vị. Mà bạch cụ, chúng tôi không hiểu tại sao ngọn đồi này cao mà thủy lại tụ. Địa thế chùa này, xem ra còn dụng võ được…”. Chừng như sợ cụ Sáu bàn rộng tới những chuyện không nên trao đổi với kẻ tu hành đã lánh khỏi việc của đời sống rồi, sư cụ vội nói lảng sang chuyện mấy cây mít nhà chùa năm nay sai quả lắm. Rồi kéo cụ Sáu vào trai phòng dùng một tuần nước. Theo một ước lệ rất đáng yêu đặt ra từ ngày mới làm quen với nhau, đã mươi năm nay, bao giờ uống nước trà của nhà chùa, ông cụ Sáu cũng được cái vinh dự pha trà và chuyên trà thay nhà chùa.

Dạo này, chắc ông cụ Sáu bận việc nhiều nên đã mấy tuần trăng rồi mà không thấy vãn cảnh chùa uống nước thăm hoa, để cho sư cụ cứ nhìn mấy chậu Mặc lan rò trổ hoa mà tặc lưỡi. Cùng bất đắc dĩ phải ngắt cắm vào lọ con vậy. Dạo này cụ Sáu chỉ cho người nhà xuống xin nước giếng thôi. Và trưa hôm nay lúc lặng ngắm hai thầy trò người con ông cụ Sáu đem nước ra khỏi chùa, lúc trở vào, nhà sư già thở dài cùng sư bác chờ đấy: “Ông cụ Sáu này, nếu không đam mê cái phong vị trà tàu, đam mê đến nhiều khi lầm lỗi, nếu ông ta bỏ được thì cũng thành một ông sư tại gia. Danh và lợi, ông ta không màng. Phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại, ông ta thực đã coi cái phú quý nhỡn tiền không bằng một ấm trà tàu. Nhưng một ngày kia, nếu không có trà tàu mà uống nữa thì cái ông cụ Sáu này sẽ còn khổ đến bực nào. Phật dạy rằng hễ muốn là khổ. Biết đâu trong bốn đại dương nước mắt chúng sinh của thế giới ba nghìn, sau đây lại chẳng có một phần to nước mắt của một ông già năng lên chùa nhà xin nước ngọt về để uống trà tàu. Mô Phật!”.

Ông cụ Sáu, hôm nay lấy làm thích cái người khách lạ đó lắm. Người khách lạ vừa kể cho chủ nhân nghe một câu chuyện cổ tích. Lê trôn chén vào lợi chiếc đĩa cổ vài ba lần, người khách kể:

“Ngày xưa, có một người ăn mày cổ quái. Làm cái nghề khất cái là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Hắn toàn vào xin những nhà đại gia thôi và cố làm thế nào cho giáp được mặt chủ nhân rồi có xin gì thì hắn mới xin. Có một lần hắn gõ gậy vào đến lớp giữa một nhà phú hộ kia, giữa lúc chủ nhà cùng một vài quý khách đang ngồi dùng bữa trà sớm. Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả, để xem tên ăn mày định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người đang khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái khi hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng. Thấy mặt mũi người ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm thừa hay là canh cặn, hay là hơn nữa, hắn lại muốn đòi xôi gấc, như kiểu người trong phương ngôn. Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho hắn “uống trà tàu với!”. Mọi người tưởng hắn dở người. Nhưng tại sao không nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngỏ ý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, giở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định đùa định xược với bọn họ đến lúc nào mới chịu thôi. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà: “Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương xuống, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca lên nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài cho nó lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa được lấy gì làm khoái hoạt lắm”. Hắn lạy tạ, tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái lạy chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đường. Mọi người cho là một thằng điên không để ý đến. Nhưng buổi chiều hôm ấy, cả nhà đều lấy làm kinh sợ người ăn mày vì, ở lọ trà đánh đổ vung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu”.

Ông cụ Sáu nghe khách kể đến đấy, thích quá, vỗ đùi mình, vỗ đùi khách, kêu to lên:

– Giá cái lão ăn mày ấy sinh vào thời này, thì tôi dám mời anh ta đến ở luôn với tôi để sớm tối có nhau mà thưởng thức trà ngon. Nhà, phần nhiều lại toàn là ấm song ấm quý.

– Cổ nhân cũng bịa ra một chuyện cổ tích thế để làm vui thêm cái việc uống một tuần nước đấy thôi. Chứ cụ tính làm gì ra những thứ người lạ ấy. Ta chỉ nên cho nó là một câu giai thoại.

– Không, có thể như thế được lắm mà. Tôi chắc cái lão ăn mày này đã tiêu cả một cái sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới sành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy. Chắc những thứ trà Bạch Mao Hầu và trà Trảm Mã hắn cũng đã uống rồi đấy ông khách ạ. Nhưng mà, ông khách này, chúng ta phải uống một ấm trà thứ hai nữa chứ. Chẳng nhẽ nghe một câu chuyện thú như thế mà chỉ uống với nhau có một ấm thôi.

Thế rồi trong khi cụ Sáu tháo bã trà vào cái bát thải rộng miệng vẽ Liễu Mã, ông khách nâng cái ấm quần ẩm lên, ngắm nghía mãi và khen:

– Cái ấm của cụ quý lắm đấy. Thực là ấm Thế Đức màu gan gà. “Thứ nhất Thế Đức gan gà; – thứ nhì Lưu Bội; – thứ ba Mạnh Thần”. Cái Thế Đức của cụ, cao nhiều lắm rồi. Cái Mạnh Thần song ẩm của tôi ở nhà, mới dùng nên cũng chưa có cao mấy.

Cụ Sáu vội đổ hết nước sôi vào ấm chuyên, giơ cái ấm đồng cò bay vào sát mặt khách:

– Ông khách có trông rõ mấy cái mấu sùi sùi ở trong lòng ấm đồng không? Tàu, họ gọi là kim hỏa. Có kim hỏa thì nước mau sủi lắm. Đủ năm cái kim hỏa đấy.

– Thế cụ có phân biệt thế nào là nước sôi già và nước mới sủi không?

– Lại “ngư nhãn, giải nhãn” chứ gì. Cứ nhìn tăm nước to bằng cái mắt cua thì là sủi vừa, và khi mà tăm nước to bằng mắt cá thì là nước sôi già chứ gì nữa.

Chủ khách cả cười, uống thêm mỗi người hai chén nữa. Cụ Sáu tiễn khách ra cổng với một câu:

– Thỉnh thoảng có đi qua tệ ấp, xin mời ông khách ghé thăm tôi như một người bạn cũ. Mỗi lần gặp nhau, ta lại uống vài tuần nước. Hà, hà.

Năm ấy nước sông Nhĩ Hà lên to. Thảo nào mấy nghìn gốc nhãn trồng trên mặt đê quanh vùng, vụ đó sai quả lạ. Cái đê kiên cố đã vỡ. Nhưng vốn ở cuối dòng nước chảy xiết, nhà cửa cụ Sáu chưa đến nỗi bị cuốn phăng đi. Lúc nước rút, ở cái cổng gạch nguyên vẹn, hai mảnh giấy hồng điều đôi câu đối dán cửa vẫn còn lành lặn và nét chữ vẫn rõ ràng:

Họ lịch sự như tiên, phú quý như giời, quất con ngựa rong chơi ngoài ngõ liễu

Ta trồng cỏ đầy vườn, vãi hoa đầy đất, gọi hề đồng pha nước trước hiên mai*.

Năm sau, quãng đê hàn khẩu, chừng hàn không kỹ, lại vỡ luôn một lần nữa. Cái cổng gạch nhà cụ Sáu vẫn trơ trơ như cũ. Nhưng lần này thì đôi câu đối giấy hồng điều, gió mưa đã làm bợt màu phẩm mực, ngấn nước phù sa đã phủ kín dòng chữ bằng những vạch bùn ngang dày dặn.

Ông khách năm nọ – cái người kể câu chuyện ăn mày sành uống trà tàu – đi làm ăn xa đã mấy năm, nhân về qua vùng đấy, nhớ nhời dặn của cụ Sáu, đã tìm tới để uống lại với ông già một ấm trà tàu nữa. Nhưng người khách hỏi nhà ông đến, người khách đã bùi ngùi thấy người ta bảo cho biết rằng nhà cụ Sáu đã bán rồi. Thấy hỏi thăm tha thiết, người vùng ấy mách thêm cho ông khách: “Có muốn tìm cố Sáu thì ông cứ xuống Chợ Huyện. Cứ đón đúng những phiên chợ xép vào ngày tám thì thế nào cũng gặp. Chúng tôi chỉ biết có thế thôi”.

Phải, bây giờ ông cụ Sáu sa sút lắm rồi. Bây giờ ông cụ lo lấy bữa cơm cũng khó, chứ đừng nói đến chuyện uống trà. Thỉnh thoảng có xin được người nào quen một vài ấm, cụ lấy làm quý lắm: gói giấy giắt kỹ trong mình, đợi lúc nào vắng vẻ một mình mới đem ra pha uống. Vẫn còn quen cái thói phong lưu, nhiều khi qua chơi ao sen nhà ai, gặp mùa hoa nở, cụ lại còn cố bứt lấy ít nhị đem ướp luôn vào gói trà giắt trong mình, nếu đấy là trà mạn cũ.

Những buổi có phiên chợ, cụ Sáu ngồi ghé vào nhờ gian hàng tấm của người cùng làng, bày ra trên mặt đất có đến một chục chiếc ấm mà ngày trước, giá có giồng ngay cọc bạc nén cho trông thấy, chửa chắc cụ đã bán cho một chiếc. Có một điều mà ai cũng lấy làm lạ, là cụ bán lũ ấm đất làm hai lớp. Mấy kỳ đầu, cụ bán toàn thân ấm và bán rất rẻ. Còn nắp ấm cụ để dành lại. Có lần vui miệng, cụ ghé sát vào tai người bà con: “Có thế mới được giá. Có cái thân ấm rồi, chẳng nhẽ không mua cái nắp vừa vặn sao? Bán thân ấm rẻ, rồi đến lúc bán nắp ấm, mới là lúc nên bán giá đắt. Đó mới là cao kiến”.

Cụ Sáu cười hề hề, rồi vội quay ra nói chuyện với bạn hàng đang mân mê những cái thân ấm đất đủ màu, cái thì dáng giỏ dâu, cái thì múi na, hình quả vả, quả sung, quả hồng. Cụ đang bảo một ông khách:

– Thế nào tôi cũng tìm được nắp cho ông. Cứ phiên sau lại đây thế nào cũng có nắp. Không, đúng ấm tàu đấy mà. Nếu không tin ông cứ úp ấm xuống mặt miếng gỗ kia. Cho ấm ngửa trôn lên. Cứ xem miệng vòi với quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng miếng gỗ thì biết. Nếu muốn thử kỹ nữa, quý khách thả nó vào chậu nước, thấy nó nổi đều, cân nhau không triềng, thế là đích ấm tàu.

Rút từ tập truyện ngắn Vang bóng một thời,

Nxb Mai Lĩnh, Hà Nội, 1940

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Advertisements

Read Full Post »

Viên phi công và chiếc đĩa cổ

Truyện ngắn của Phạm Xuân Hiếu

Tên phi công cao to từ trong hang rón rén bước ra trong bộ đồ bay màu xám. Tóc bù xù, râu lởm chởm vàng đen, đầu cúi xuống nhìn lá cờ trắng đeo trước ngực, tay hắn cầm bát, tay cầm đĩa chìa ra như xin ăn. Hắn chịu đầu hàng lực lượng dân quân, bộ đội sau bảy ngày lẩn trốn. Con béc-giê vàng óng dũng mãnh như con hổ của bộ đội biên phòng chồm lên cổ, quật hắn ngã lăn mấy vòng trước cửa hang.

Hắn là Gionsale, phi công hoạ tiêu bay trên chiếc F4 đã nhiều lần ném bom miền Bắc. Lần này hắn từ hạm đội 7 bay vào đất liền ném bom cầu Phú Lương, nhằm cắt đứt đường giao thông huyết mạch từ cảng Hải Phòng lên Hà Nội. Máy bay của Gionsale đã bị dính đạn trước khi tới mục tiêu, buộc phải cắt bom bừa bãi rồi bỏ chạy. Nhưng hắn không thoát, máy bay đã bốc cháy trên bầu trời biên giới Việt Trung.

Gionsale nhảy dù xuống khu rừng già, giữa núi cao hiểm trở, trốn trong một cái hang cách bản Vàng Tè nửa ngày đường. Gần năm ngày sau, lực lượng truy tìm mới phát hiện ra cửa hàng hắn lẩn chốn, nhờ con Ních, dày dạn kinh nghiệm của bộ đội biên phòng. Hai ngày bao vây, kêu gọi đầu hàng, Gionsale dứt khoát không chịu ra. Lực lượng vây bắt đã quây kín khu vực hang. Lệnh trên, không ai được vào, Ních cũng không cho vào, sợ nguy hiểm, hy sinh không cần thiết. Không ai biết được địa hình trong hang sâu, rộng thế nào. Cửa hang thì bé, khó tấn công nên lực lượng bao vây kiên trì phục kích bắt sống.

Trong hang, Gionsale nghe thấy tất cả nhờ tiếng vọng của vách đá. Gionsale đã biết thế nào cũng có ngày này, nhưng hắn chưa chịu đầu hàng vì còn lương thực, thực phẩm và một phần vì danh dự một quân nhân, một sĩ quan cường quốc trên thế giới. Bây giờ giữa đầu hàng bảo toàn sinh mạng và tự sát danh dự như sĩ quan Nhật Hoàng thời đại chiến thứ hai đều vô nghĩa. Bởi Gionsale nghĩ nhiều về tương lai của cái hang hơn là số phận bị bắt. Trời xui khiến thế nào mà Gionsale lại hữu duyên biết được một bí mật trong hang, được cầm trên tay hai thứ mà cả đời Gionsale mơ cũng không bao giờ thấy.

Lòng kiên trì thay đổi khi không có tương lai. Sức khoẻ rồi cũng lụi tàn khi không được chăm sóc. Đường cùng phải tìm lối thoát, dẫu rằng không biết tại sao? Năm ngày chui lủi, hai ngày thi gan không ngủ làm người Gionsale rời rã, không đủ sức để mà ngoan cố. Gionsale tính toán kỹ mọi chuyện rồi quyết định đầu hàng.

Bốn giờ chiều ngày thứ tám, Gionsale được áp giải về trường tiểu học Vàng Tè, bị tạm giam ở văn phòng ông hiệu trưởng, chờ ôtô huyện đội về đưa đi. Gionsale bị trói bằng sợi dây rừng. Hai mu bàn tay lông vàng sưng to, đỏ tấy. Đôi lúc đau đớn quá, hắn chỉ nhăn nhó mà không dám kêu. Cả chiều đi bộ, chắc khát nước nên các anh bộ đội bảo Nụ, cô giáo của trường lấy nước lá đắng bê lên miệng Gionsale. Nhìn bát nước đen ngầu, Gionsale sợ sệt chưa dám uống. Nụ hiểu ý, uống một hớp nhỏ, Gionsale mới yên tâm uống ừng ực một hơi mãn nguyện. Đôi mắt xanh nhoè lệ. Nụ nhìn búi dây rừng trói tay Gionsale chuyển màu tái tím mà thấy tội nghiệp, liền chạt về phòng mình lấy sợi dây dù pháo sáng đưa cho anh biên phòng thay sợi dây rừng. Gionsale nhìn Nụ, miệng lắp bắp: “Thanhkyou…Thanhkyou”. Vừa lúc đó có mấy phóng viên dựa vội xe đạp trên sân chạy vào, đưa máy ảnh chụp lia lịa. Rồi phỏng vấn Nụ cùng với mấy anh Bộ đội Biên phòng…

Hai giờ sau, một chiếc xe com măng ca đến áp giải hắn về Hà Nội. Trước khi xe lăn bánh, các anh biên phòng mang tất cả những thứ thu được ra bàn giao gồm: đồ bay, dao, súng, thuốc các loại, giấy tớ, đồng hồ, nhẫn, ví tiền… Các anh định bỏ lại hai thứ: một bát, một đĩa màu trắng nhưng viên phi công cứ lạy xin. Hắn cúi khom người nói như mếu: “Cái này là của mẹ tôi đưa cho khi sang Việt Nam, dặn nhiều lần: Khi nào con đi ném bom miền Bắc, nhớ mang theo, chẳng may bị bắn rơi thì đưa bát đĩa ra cúi khom người như xin ăn. Với lòng nhân đạo, thương người của dân tộc Việt Nam, con sẽ không bị chết đói và sẽ được tha thứ”. Nghe cậu phiên dịch nói lại và nhìn dáng vẻ tiều tuỵ, lênh khênh cúi lom khom ngửa tay xin bát, đĩa của Gionsale, nhiều người không nín được cười.

Về đến trại giam Hoàng Tử, viên phi công Gionsale lại xin mang bát đĩa theo làm kỷ niệm. Gionsale nằn nì mãi. Thấy lạ, ban quản giáo không cho và đặt vấn đề: “Tại sao vậy”?. Và họ đưa đi nghiên cứu kiểm tra xem có phải là phương tiện điện tử liên lạc trá hình không?

Chiếc bát, đĩa được gửi đi Viện Khoa học giám định, cuối cùng viện kết luận: “Đó là bát, đĩa sứ bình thường nhưng có hoa văn đẹp”. Viện trả lại trại làm hồ sơ lưu giữ tang vật. Viên phi công biết thế của mình, đành ngậm tăm, tính chuyện lâu dài…

Bởi Gionsale đang là tù binh, kẻ thù của một đất nước bên Đông bán cầu, khác dân tộc, khác màu da và tiếng nói. Tội của Gionsale nặng lắm, khó có thể tha thứ được bởi đã thả bao nhiêu tấn bom, phá hoại bao công trình và giết không biết bao người vô tội. Gionsale không có lý do gì để được sống, bởi bàn tay Gionsale đã gián tiếp ấn nút nhuộm máu người già, trẻ em trên mảnh đất nghèo nàn, lạc hậu, nhưng thừa dũng cảm, giàu lòng nhân ái vị tha này.

Gionsale tự nhủ: Nếu được tha, hắn sẽ làm lại cuộc đời, chuộc lại lỗi lầm, trở lại vị trí là nhà khảo cổ học đi nghiên cứu khai quật cho đất nước này, đất nước đang phải đánh đổi mọi thứ để lấy hoà bình. Đồ cổ, văn hoá cổ đại chả là cái gì đối với con người nghèo khó đang cần lương thực, thực phẩm, súng đạn để chiến đấu giành độc lập tự do. Những thứ sành sứ, lọ chai chưa giúp gì cho hoà bình. Nhưng nó lại giúp cho nhân loại sớm nhận ra giá trị văn hoá của lịch sử.

Với Gionsale – một sinh viên xuất sắc khảo cổ học mới ra trường, đã từng đi nghiên cứu, khai quật nhiều cổ vật trên thế giới, hiểu những đồ kia giá trị hơn vàng. Gionsale tiếc cho đời làm lính, oán hận chiến tranh. Liệu hắn có còn sống để trở về với vợ con? Gionsale nghĩ nát óc mà chưa có lời giải. Đêm Gionsale mơ thấy một đàn chim hung dữ phá tan cửa hang tranh cướp báu vật: lấy Vương Miện, Long Bào, khênh vàng bạc, ngọc ngà, bê chum vại mang đi. Gionsale rút khẩu súng bên mình bắn đến hết đạn mà không con chim nào chết. Giật mình tỉnh dậy, Gionsale thấy mình vẫn trong bốn bức tường phòng giam. Người giám thị đứng bên cửa gọi đi cung.

Sau một thời gian giam giữ, bây giờ Gionsale là tên tù binh được hưởng mọi quyền lợi theo luật tù binh chiến tranh trong trại giam Hoàng Tử. Một thời gian dài suy nghĩ, Gionsale xin được gặp cán bộ cao cấp. Đại tá Thanh có mặt tại phòng lấy cung. Gionsale nhìn vị đại tá bệ vệ trong bộ trang phục màu xanh cỏ úa, nét mặt nghiêm nghị nhưng vẫn toát lên sự cởi mở nhân từ. Ngồi ghế đối diện ông, Gionsale cúi mặt trầm tư suy tính. Lát sau Gionsale nhìn đại tá, mạnh dạn hơn:

– Thưa ngài. Tôi muốn trao đổi một thông tin liên quan đến cuộc chiến này. Nhưng tôi cần sự bảo lãnh của ngài cùng với sự tha thứ khoan hồng của đất nước ngài để đổi lấy tự do cho tôi sớm hơn. Nếu ngài đồng ý:

Vị đại tá chau mày: “Chuyện gì đây”?. Rồi ông thư thả nói như ra lệnh: “Luật pháp nước chúng tôi luôn độ lượng khoan hồng với những kẻ thù biết ăn năn hối cải, thành thật khai báo giúp chúng tôi nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh tàn khốc này”. Gionsale như thanh minh: “Thưa ngài, những điều tôi khai báo với ngài lần này không nằm trong lĩnh vực quân sự, kinh tế, nó vượt ra ngoài cuộc chiến tranh. Nhiều năm sau các ngài mới hiểu ra giá trị văn hoá, kinh tế của nó. Nếu tôi không báo với ngài, tôi sẽ ân hận, không xứng đáng là một nhà khảo cổ học mà tôi đã khai với các ngài. Chúng tôi làm nghiên cứu văn hoá không phải cho tôi, đất nước tôi, đất nước ngài, mà cho toàn nhân loại”. Đại tá Thanh như hiểu ra một phần cuộc hỏi cung. Ông thư thả: “Tôi đảm bảo quyền lợi chính đáng của anh”. Gionsale cảm ơn ông đã nhận lời. Rồi từ từ kể:

“Chuyện nhảy dù và ẩn nấp trong hang tôi đã thành thật khai hết, các ngài cũng đã thấy rất hài lòng. Riêng chuyện cái bát, đĩa thì không như vậy, chuyện là do tôi đặt ra. Thực tình hai thứ đó tôi lấy ở trong hang”.

Vị đại tá sực nhớ đến cái bát cái đĩa đã đưa đi giám định, có văn bản trả lời hẳn hoi, chỉ là cái bát ăn cơm bình thường. Có khác dáng mỏng đẹp hơn so với bát sứ Hải Dương mà ông vẫn dùng. Gionsale dừng một lát, nhếch mép cười như chế nhạo, đoán biết ông đại tá không hiểu gì về đồ cổ, kho báu mà bao nhiêu nhà sưu tầm cổ vật trên thế giới đều mơ ước.

Mà cũng phải thôi, ông là nhà chiến lược quân sự nòi, nhập ngũ đánh Pháp từ hồi mới lớn. Chỉ quen với chiến trường, bom đạn, nào đã được học gì về văn hoá cổ đại và khảo cổ học đâu? Bây giờ nghe Gionsale nói về đề tài này, ông không biết tính sao. Gionsale ngước đôi mắt xanh trong như mắt mèo nhìn ông như hỏi: “Ông có muốn hiểu không” rồi y nói tiếp:

“Tôi cuốn dù, chôn sâu xuống đất cùng các thứ không cần thiết, xoá sạch dấu vết rồi đưa ống nhòm quan sát xung quanh. Trên vách núi, một đàn sóc chạy, nhảy trong bụi cây. Đoán biết ở gần đó thế nào cũng có hang to, nhỏ, tôi đến gần, quả nhiên là như vây.

Tôi nhẹ nhàng vạch dây leo, soi đèn pin chui vào trong. Hang lạnh lẽo tối om, tạo cho tôi cảm giác yên tâm vì cửa hang bé lại kín, đã lâu không có dấu chân người. Tôi tranh thủ tìm nơi cất giấu trang bị bay càng kín càng tốt vì biết mình đang bị truy lùng. Hang nhiều góc ngách sâu thẳm. Tôi chọn một tảng đá bằng phẳng trong một ngách sâu để nghỉ. Xung quanh nhiều nhũ đá đẹp như tranh điêu khắc, đầu nhũ xanh trắng lóng lánh. Nước chảy róc rách tạo nên âm thanh huyền ảo.

Đêm trong hang, tôi sợ hãi lo âu về số phận của mình rồi tôi thiếp đi… Tôi thấy mình đang nằm trong lò nung toàn cổ vật, ngọn lửa xanh đỏ quyện xung quanh: Tiếng đàn ông oang oang, tiếng đàn bà nhỏ nhẹ lao xao như tiếng chim, rì rào như tiếng gió. Tôi lắng tai nghe, rình theo họ, không thấy họ ở đâu, không hiểu chuyện gì? Tôi choàng tỉnh dậy với khẩu Côn. Soi đèn pin khắp hang, rồi dừng lại ở những vạch khác lờ mờ trên trần, có thể nói đó là một bức tranh khắc. Một vầng trăng, một con chim đang xoè cánh. Đúng rồi con cú mèo đang đứng trên bệ đá, bệ đá có khắc chữ, chữ gì nhỉ? Chữ Hán.

Người tôi như có sức mạnh, tỉnh táo lạ thường, quên ngay mình là viên phi công đang lẩn trốn. Tôi trở lại mình, người đam mê sưu tầm nghiên cứu khảo cổ học, với bao kiến thức đã học ở trường Khảo cổ học nhân loại Hoa Kỳ cùng với kho tàng hiện vật cổ đại mấy đời dòng họ nhà tôi truyền lại.

Với kiến thức và bề dày kinh nghiệm, tôi không mấy khó khăn để kết luận trong đây có nhiều điều bí ẩn. Tôi bắt đầu giải mã những gì đã nhìn thấy. Bắt đầu từ những vách đá xanh trơn, khe đá nông sâu vòng vèo, rêu cáu mốc meo, những vết tích lớn nhỏ: Đâu là nhân tạo, đâu là thiên tạo. Tất cả kiến thức hiện có tôi đều mang ra áp dụng phân tích, suy tìm nhưng chưa có hy vọng.

Đêm trăn trở, tôi lại soi đèn pin lên trần hang, ngắm chim, ngắm trăng. Đúng rồi, trăng lưỡi liềm đầu tháng, tức là trăng không sáng. Con chim cú mèo là loài thú ăn đêm, mắt nó sáng như đèn. Nó đang xoè cánh bay, tức là nó đã nhìn rõ con mồi hay hướng bay, bay trong ánh trăng mờ. Còn dưới chân nó là chữ Nhân. Đúng rồi: Nhân là người. Người trong bóng tối phải nhìn sáng như sao. Sao là đèn. Đèn soi hướng nào? Con cú mèo nhìn về đâu? Bay đi đâu? Phải có dụng ý. Không ngẫu nhiên trên trần lại có bức tranh kỳ quặc như vậy. Tôi tập trung phân tích kỹ những khắc hoạ trên đó, tự đặt giả thiết, tự tìm tòi lời giải. Bế tắc, lo âu vì các ông đang bao vây kêu gọi đầu hàng.

Cạnh phiến đá chỗ tôi nằm có một giếng nước nhỏ hơi méo mó, nửa như nhân tạo, nửa như thiên tạo, rất nông, nước trong veo nhìn rõ đáy giếng nhẵn bóng như gương. Tôi vẫn lấy nước ở đó uống, rửa mặt. Bên cạnh giếng là bộ xương người đã bị vôi hoá, chỉ còn chiếc đầu lâu là nhận ra. Tôi đoán là người cuối cùng biết chuyện trong hang. Chiếc bát chiếc đĩa tôi lấy được là trên miệng giếng. Đó là loại bát, đĩa quý dành riêng cho vua chúa. Có niên đại trên dưới ngàn năm”.

Nói đến đây Gionsale dừng lại với cốc nước, uống một hớp rất tự tin, ngước nhìn mọi người, nhìn Đại tá Thanh như khẳng định: “Các ông có tin không? Trong đó có kho báu. Nếu các ngài cho tôi ra, tôi xin nghiên cứu khai quật giúp các ngài”.

Gionsale trình bày những nghiên cứu, suy đoán của mình như trình bày luận chứng khoa học, nhưng chưa thuyết phục được Đại tá Thanh. Ông nghe xong gật gù: “Tôi ghi nhận những suy đoán của anh. Buổi giao ban ngày mai tôi sẽ báo cáo lên cấp trên”.

Ông hiểu rằng lời thỉnh cầu của Gionsale không có câu trả lời. Vì kho báu cổ vật chưa có cơ sở để khẳng định. Hồ sơ tìm kiếm trong hang đã ghi rõ. Việc này chắc phải để mai sau. Còn bây giờ, nếu là kho súng đạn, tài liệu chiến tranh thì ông sẽ thi hành ngay.

Chuyện qua đi, Gionsale không nhận được hồi âm dù nhiều lần đề đạt với quản giáo. Rồi hiệp định Pari được ký kết. Gionsale được trở về đoàn tụ với gia đình sớm hơn những gì mà Gionsale nghĩ. Ngày được nhận trả tư trang giấy tờ, ảnh vợ con, nhẫn cưới, có chiếc bát, chiếc đĩa. Gionsale giật mình, hoa mắt, không tin mình còn được nhìn thấy báu vật chứ đứng nói được sở hữu mang về nước. Mọi chuyện ngoài sức tưởng tượng của Gionsale.

Dẫu rằng được sở hữu hai báu vật độc đáo trong kho tàng cổ vật, nhưng Gionsale không thấy tự hào, không dám công bố với bạn bè. Sau những năm tháng dài suy nghĩ, Gionsale quyết định trả lại sự thật cho lịch sử, cho dân tộc Việt Nam. Một dân tộc yêu chuộng hoà bình, chịu mất mát nhiều thứ vì chiến tranh mà lãng quên kho tàng văn hoá. Bây giờ hoà bình, họ đáng được hưởng những gì họ có. Nghĩ vậy Gionsale quyết định xin trở lại Việt Nam trả lại báu vật.

Gionsale đi theo đoàn cựu chiến binh Mỹ trở lại Việt Nam. Một lần nữa với tư cách là nhà khảo cổ học, Gionsale xin được chứng minh giá trị của hai hiện vật cổ kính, thần bí mà Gionsale đã lấy ở trong hang, mang được về nước, nay mang trở lại.

Trong buổi giao lưu, trước sự chứng kiến của nhà chức trách và các nhà khoa học, Gionsale cầm chiếc bát hình chóp nón, màu bạch định đường kính 13 cm đưa lên soi qua ánh mặt trời. Mọi người đều thấy hoa văn cúc dây nối tiếp nhau chìm sâu trong lớp men trắng ngà như gạo nếp. Nhiều bông hoa cúc điểm xung quanh. Bên trong bát một lớp men lờ mờ óng ánh, đứt đoạn, chắp nối vẽ trên lớp men hoa văn cúc dây.

Gionsale múc một bát nước để trên bàn cho mọi người nhìn rõ. Nước vẫn trong, bát vẫn trắng đẹp như thường. Gionsale cho một ít thạch tín (thuốc độc) vào nước, lập tức lớp hoa văn cúc dây mờ nhạt óng ánh chuyển thành màu đen hiện hình đầu lâu, xương ống. Mọi người chứng kiến đều kinh hoàng thán phục chiếc bát, đĩa chống độc của các vua chúa thời xưa. Đó là một công trình chế tác đồ sư khoa học có từ ngàn năm trước, hiện nay đã thất truyền.

Sau khi chứng minh suy đoán lô gích có kho báu trong hang, Gionsale xin được góp một phần kinh phí cho dự án nghiên cứu thăm dò cổ vật tại Việt Nam.

P.X.H

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »