Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘truyền thuyết’

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 5: HỌA TIẾT HÌNH THÚ – CON RỒNG

Trong số các con vật trang trí của người An Nam, bốn con vật siêu nhiên gọi là tứ linh chiếm vị trí đầu tiên.. Đó là long (rồng), ly (lân), qui (rùa) và phụng (phượng). Chúng là một biểu trưng của tín ngưỡng với những phẩm chất huyền bí. Bên cạnh còn thấy những con vật khác như hạc, sư tử, dơi, cá cũng mang ít nhiều đặc điểm tín ngưỡng. Con hổ cũng có tính chất rất đặc thù, nó đôi khi được thắp hương thờ cúng và dùng làm bùa chú để hóa giải và xua đuổi tà ma. Vã lại, chúng ta đã thấy trái cây cũng có tính chất ít nhiều như vậy, dùng làm lời cầu chúc mang mán tín ngưỡng và siêu nhiên.

Con rồng tiếng Hán Việt là long (龍) rất được ưa dùng trang trí mỹ thuật An Nam. Trong cung đình nó có vị trí riêng vì là biểu tượng của hoàng đế, nhưng cũng thấy rồng ở chùa chiềng và tư gia; đặt trên mái nhà, đầu hồi, đòn tay, trên đồ gỗ và hoa văn vải; có cả ở những cấu kiện tàu thuyền, cho đến những miếng ván trang trí cũng chạm khắc hình rồng.

Nói cho đúng, rồng không được người An Nam cúng bái, nhưng chúng lại được cho có một quyền năng siêu nhiên: vừa là long vương vừa là chúa tể trên đất liền, mang lại hạnh phúc cho người sống và sự an lành cho người chết. Trong vô thức người An Nam hẳn xem con rồng như vị thần bảo trợ nên hình ảnh rồng có mặt khắp nơi.

Theo truyền thuyết Trung Hoa rồng “có sừng hươu, đầu lạc đà, mắt quỷ, cổ rắn, bụng cá sấu, vảy cá, móng vuốt chim ưng, lỗ tai bò, sừng chính là cơ quan để nó nghe”. Hình rồng của nghệ sĩ An Nam có nhiều điểm khác nằm ở: sừng, đôi mắt sáng rực, vảy phủ toàn thân, bờm tua tủa, móng sắc, đuôi soắn ốc (hình CXIX, CXXI, …).

Như tôi đã nói rồng là biểu tượng của hoàng đế, ai cũng rõ trong trường hợp này rồng có năm móng. Di vậy khi thấy trên đồ gỗ, rương hòm , gốm sứ, … có rồng năm móng tức là những món đồ ít nhiều trực tiếp do vua dùng (hình CXXIII, CXXVII, …). Còn dành cho những hạng người khác rồng chỉ có bốn móng.

Rồng còn là biểu tượng cho người chồng, vị hôn phu, và thường hơn dùng để chỉ người đàn ông. Phụ nữ được biểu tượng bằng con phụng. Các bài ca dao hay dùng cáchình tượng này để ám chỉ nam giới và phụ nữ; và khi thấy trên tấm biển, tấm thêu có hình con rồng và con phụng thì đó là hôn nhân mà người ta muốn ám chỉ. Thường nghĩa bóng của thể hiện này là chữ ‘hỉ’dính đôi (song hỉ), có nghĩa là chung vui, hạnh phúc lứa đôi.

Rồng được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau. Khi thì là hình nguyên con rồng nhìn ngang như trên gờ nóc mái nhà, lan can cầu thang, trên vải thêu, trên bức chạm hay bức họa, nói tóm lại trên rất nhiều món (hình CXXIII, CXXV, …) ; khi thì chỉ thấy nguyên mặt nhìn chính diện với đầu và hai chân giạng ra gọi là ‘tàng long’ (rồng trong hang ổ) như ở mặt cổng lớn vườn hoa, đền miếu, dinh thự, …(hình CXXXV). Cũng có khi với đầu rồng và hai cân giạng lại gọi là ‘mặt rồng’ hay ‘mặt nả’ (hình CXXXVI, CXXXVII, …), thường thấy ở đầu hồi tam giác ở chùa chiềng và dinh phủ của người An Nam và để đối với hình con dơi trên trán bia, ở mặt trước khung chân tủ, … Hình đầu rồng chính diện ở trán có chữ vương (vua) như là vết nhăn trên mặt. Cũng có khi đó là chữ ‘thọ’ cách điệu, trường hợp này thường nằm trong nửa hình chữ nhật có góc dưới bẽ quặp xuống, viền vài đường kỷ hà (hình CXXXVIII). Người An Nam gọi hình này là ‘rồng ăn chữ thọ’, một dấu hiệu điềm lành và cũng là sự cầu mong trường thọ.

Trên gờ nóc mái, rồng được thể hiện dạng kỷ hà hai con (song long) ở hai đầu gờ. Ở giữa gờ nóc người ta để hỏa châu đề hi con rồng chầu vào. Toàn bộ hình hai con rồng và hỏa châu gọi là ‘lưỡng long triều nguyệt’ (hình CXXIX, CL). Hình tượng trên gờ nóc này thể hiện một sức mạnh thần bí, sự cầu mong có mưa vì hỏa châu tượng trưng cho sấm sét còn hai con rồng là long vương làm mưa.

Một thể hiện gần gủi với nó là ‘lưỡng long tranh châu’ theo cách gọi của người An Nam. Rất thường hai chủ đề này được trộn lẫn vào nhau, hoặc là theo thiết kế của người nghệ sĩ hoặc là theo lý giải của dân gian. Ở chủ đề sau làm ra vẽ đánh nhau hơn là đánh nhau giành quả châu; và quả châu này không có các ngọn lửa bao quanh (so sánh hai hình CXXI và CXXXIII).

Nếu có điều kiện, dù trong chủ đề nào con rồng cũng có mây bao quanh, mây có dạng trãi ra như dãi lụa hay cuộn lại trang nhã (hình CXXI, CXXV, …) Ẩn trong mây hay kết hợp với mây có những sợi lửa rời rạc (hình CXIX). Cũng thường thấy rồng cỡi trên sóng nước ngoài biển (hình CXLIII). Nhưng sóng, sợi lửa và mây luôn được cách điệu.

Trang trí mây cũng cho ra một thể hiện đặc biệt gọi là ‘long ẩn vân’ (rồng ẩn trong mây); rồng uốn khúc trong các guột mây và lần lượt lộ ra từng phần con rồng. Nhiều chén gốm đời Thiệu Trị có mô-típ này.

Rồng kết hợp với cá cho ra ‘ngư long hí thủy’ nghĩa là rồng và cá đùa nước (hình CXXIX). Con cá ghếch mõm đón luồng nước từ miệng con rồng ẩn trong mây phun ra. Theo dân gian An Nam con cá đó là con cá chép.

Không phải chỉ có một con vật duy nhất gọi là rồng. Ngoài con rồng đúng nghĩa còn thấy có con giao và con cù.

Theo từ điển của P. Couvreur con giao hay giao long là ‘rồng không sừng’ mang dáng dấp con rắn, cái cổ nhỏ nhắn, bốn chân và râu trắng ở dưới cổ. Còn theo Eitel, con giao là ‘rồng uốn gập, có bốn chân’, theo Giles là là ‘rồng có vảy’; cuối cùng theo Génibrel là ‘con cá sấu’.

Con cù hay cù long cũng mơ hồ không kém. Couvreur thì nói đó là ‘con rồng có sừng’, nhiều người lại nói là ‘rồng không sừng’. Với Eitel là ‘rồng non có sừng’, Giles cho dó là ‘rồng vàng’, Génibrel thì là ‘con rồng, con quái vật thần thoại, chẳng ai bảo nó có sừng’. Paulus Của: ‘Loài rồng không có sừng, dân gian cho rằng nó sống dưới đất và khi trồi lên xẻ đất tạo thành sông’.

Các nghệ sĩ An Nam thì xác định một điều: cả giao lẫn cù đều không có sừng. Chúng cũng không có bờm, cũng chẳng có râu như P. Couvreur nói. Tôi cũng cho rằng chúng không có vảy. Vậy có chân không? Điều này còn nghi ngờ vì theo tôi biết giao và cù không bao giờ được thể hiện nguyên hình dạng, lại luôn luôn biến cách; người ta chỉ thấy được đầu và cổ của chúng thôi. Dù thế nào đi nữa giao và cù được xếp vào loại rồng cấp thấp. Một viên quan đại thần nói với tôi về món đồ gỗ lâu đời trong nhà ông ta là nó thể hiện hình con giao chứ không phải con rồng thông thường vì dân gian nhiều lúc không dám thể hiện hình con rồng đích thực.

Tuy nhiên phải thừa nhận người ta hay pha trộn con rồng thông thường với con giao trong họa tiết mỹ thuật. Nhìn vào một bức chạm, người An Nam, thậm chí đó là nhà điêu khắc, có người bảo đó là con rồng và có người bảo đó là con giao. Do vậy tôi chỉ dùng chữ rồng để chỉ một hình ảnh dù đó là rồng hay giao. Tuy nhiên có lúc tôi dịch chữ giao là rồng-rắn (serpent-dragon).

Đối với con cù, nó có nét chuyên biệt, nếu không ở hình dáng hay và thuộc tính thì cũng ở cách dùng và vị trí người ta đặt nó: tay tỳ của ngai đá để ngoài trời dành cho một số nữ thần có trang trí đầu cù long. Chi tiết sườn nhà bên ngoài nối cột và bên trong nối lỗ đòn tay gọi là ‘xà cù’ có thể lấy tên từ con cù, đuôi chi tiết này đôi khi trang trí hình đầu con rồng.

Biến cách của con rồng rất đa dạng.

Rồng nguyên con, hoặc là rồng đích thực hay con giao, thường là hồi văn hóa long (hình XXIII, XXV, ..); lá và dây lá là lá hóa long (hình CXI và các hình kế tiếp); hóa long thấy ở mây và trúc (hình CLII, CLIII) và một số loài cây khác như: tùng, mẫu đơn, cúc, loa kèn[1], … (hình CLV)

Rồng chính diện biến cách gọi là ‘mặt nả’. Người ta hay giải thích mặt nả có nghĩa là mặt rồng., tôi chẳng rõ chữ ‘nả’ nghĩa là gì. Họa tiết tạo mặt rồng nhìn chính diện có nhiều thứ khác nhau tùy theo từng nghệ sĩ. Có khi là lá lật, có khi là hoa mẫu đơn, lại có khi là bông tây, lá hay dây lá (hình CXXXVII). Người ta cũng dung quả phật thủ và hoa sen biến cách thành đầu rồng nhìn chính diện (hình CIX, CIII, CIV). Chùm và tràng hoa biến cách thành họa tiết giao-hoa (hoa hóa giao)

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 6: Họa tiết hình thú – con lân)


[1]Tác giả dùng chữ amaryllis, chữ này có nghĩa là hoa loa kèn đỏ, nhưng phần phụ lục lại chú kế bên chữ Việt là hoa lan. Có lẽ tác giả nhầm lẫn vì hai hoa này khá giống nhau. Trong mỹ thuật Việt không thấy trang trí hoa loa kèn đỏ mà dùng hoa lan rất nhiều. Cây phong lan tiếng Pháp là orchidée. ND

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Advertisements

Read Full Post »

Tì Hưu (Thiên Lộc) – Linh vật cầu tài (bài 2)

Tì Hưu một trong những linh vật có giá trị thu hút tiền tài của người Trung Quốc

pixiu3

Sau khi nhà Thanh sụp đổ vào năm 1911, các cổng thành của ngoại thành dần dần bị phá bỏ để thành phố phát triển. Ngày nay chỉ còn lại hai cổng duy nhất đó là Đức Thắng Môn ở phía nam và Thiên An Môn ở phía bắc. Sở dĩ Đức Thắng Môn còn tồn tại là vì nó nằm đúng địa điểm quan trọng trong phong thủy và là vì nó có giữ một trong những con Thần Thú quan trọng của người Trung Quốc: con Tì Hưu (Pixiu)

Người Nhật có chú mèo ngậm đồng tiền vàng, người Châu Âu có chú ếch vàng thì người Trung Quốc có tượng Di Lặc, có Cá Vàng và có Tì Hưu để “dụ dỗ” tiền bạc về tay mình.

pixiu4

Tì Hưu là một trong ba thần thú của Trung Quốc, cũng là một trong chín con của Rồng. Tì Hưu có hình dạng như con chó nhưng miệng rộng, có cánh, có sừng vào không có hậu môn. Theo người Trung Quốc, con Tì Hưu: có sừng là để bảo vệ chủ, có miệng rộng là để gom tiền tài vào người, không có hậu môn là vì không có chỗ cho tiền tài thoát ra, có cánh là để cho chủ mau thăng quan tiến chức.

Qua nhiều triều đại, con Tì Hưu cũng dần dần thay đổi. Vào thời nhà đường, con Tì Hưu có cái mông rất to — vào lúc bấy giờ, nhà Đường cho là phải tròn trịa nẫy nở mới là đẹp.

Con Tì Hưu để trong Đức Thắng Môn cũng tương đối to, cỡ bằng một con cọp con, được canh giữ rất kĩ và cấm chụp ảnh.

Mọi người đều có thể xoa con Tì Hưu để có được sự trù trợ của nó. Cách thức xoa con Tì Hưu cũng cầu kỳ:

+ Trước nhất là xoa tai để nói cho nó nghe nó biết chủ là ai

+ Sau đó là xoa xuống miệng như là cho nó ăn cho nó thương chủ

+ Xoa xuống cánh để nó phù trợ cho mình mau thăng quan tiến chức

+ Xoa xuống chân tượng trưng cho sự nhanh nhẹn vững chải

+ Xoa xuống lưng cuối cùng là xuống mông rồi sau đó nắm hai tay lại bỏ vào túi. Coi như là đem tài lộc bỏ vào túi mình.

Tất nhiên là ở gian phòng bên cạnh là có các con Tì Hưu cho du khách thỉnh về để cầu tài. Theo hướng dẫn viên, muốn cho con Tì Hưu linh nghiệm thì con Tì Hưu phải hội đủ bốn yếu tố:

Thứ nhất là phải làm từ Đức Thắng Môn theo đúng kích thước phong thủy đo bằng thước Lỗ Ban. Thứ hai là phải làm bằng ngọc thật, làm bằng cái vật liệu khác không linh nghiệm. Thứ ba là phải để trong chùa 49 ngày sau đó (thứ tư) là đem trở lại Đức Thắng Môn để thầy địa lý viết chữ vào bụng nó. Sau đủ bốn điều kiện trên thì con Tì Hưu trở thành linh nghiệm có thể thỉnh về cầu tài.

Một điều kỳ thú nữa là con Tì Hưu luôn luôn phò trợ chủ nó. Dù chủ nó là ăn cướp, đâm thuê chém mướn nó cũng phò trợ tuốt tuồn tuột. Vì vậy những nơi kiếm tiền không hoàn toàn chính đáng như sòng bài, vũ trường ở Bắc Kinh luôn có con Tì Hưu phò trợ vì họ biết có thờ Phật thì trời phật cũng chả chứng dám cho đám cờ gian bạc lận.

Người Trung Quốc tin mấy chuyện lạ kỳ. Họ nói là sau khi thỉnh con Tì Hưu về thì nên lấy khăn sạch tắm cho nó, đánh răng cho nó. Rồi để nó vị trí nào có thể xoay mặt ra cửa sổ hay ra cửa chính để nó hút tiền tài phía ngoài vào. Nhà ai có cửa sổ nhìn ra ngân hàng thì coi như là trúng số độc đắc.

Ly kỳ không kém cách xoa con Tì Hưu là những câu chuyện Tì Hưu phò trợ chủ. Có một câu chuyện như thế này:

Hôm đó có một cặp vợ chồng tới Đức Thắng Môn thỉnh một con Tì Hưu thật to mang về nhà. Khi về đến Đài Loan thì mới thấy 1 bên tai của con Tì Hưu bị sứt mộng miếng. Vậy là hai ông bà lập tức quay lại Bắc Kinh khiếu nại. Khi tới Bắc Kinh, hai ông bà nằm trong khách sạn coi tin tức thì mới biết ở bên Đài Loan ngay gần nhà họ mới bị động đất. Như vậy là con Tì Hưu phò trợ họ đi ra khỏi khu vực đó để bảo vệ chủ.

Cũng có một chuyện ly kỳ không kém là: Chủ Ngân Hàng Xây Dựng từ khi đem hai còn Tì Hưu to nhất Trung Quốc về chưng ngay trước ngân hàng thì ngân hàng ăn nên làm ra. Từ một ngân hàng nhỏ đã trở thành một trong bốn ngân hàng lớn nhất Trung Quốc. Còn ông chủ thì tiến chức không ngừng lên tới bộ trưởng.

Người Trung Quốc rất mê tín, và những linh vật chiếm vị trí không nhỏ trong tín ngưỡng của họ. Tuy vậy, Phật tại tâm và nếu bạn làm ăn chính đáng bằng sức mình, cần cù, chăm chỉ thì Thần Tại sẽ luôn mỉm cười, còn nếu kiếm tiền không chân chính thì Tì Hưu cũng phải nứt vỡ hết để che chở cho chủ nhân. Như vậy thì thật khổ thân cho Tì Hưu lắm lắm !

Nguồn: Tô Thành

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Kho tàng Champa


Vương quốc Champa đã sáng tạo ra một nền văn hóa độc đáo, mang đậm sắc thái riêng biệt mà không một dân tộc nào nào có được. Đến nay tỉnh Bình Định đã phát hiện khoảng 117 cổ vật thời Champa và 414 sản phẩm làm bằng gốm cổ của nhiều giai đoạn khác nhau. Đáng chú ý là kỹ thuật xây dựng tháp Champa – một trong những đề tài được đưa ra khảo luận khoa học

Văn minh của vương quốc Champa…

Theo Viện khảo cổ học Việt Nam, di tích văn hóa Champa được phân bổ đều khắp trên dải đất các tỉnh duyên hải miền Trung, từ vĩ tuyến 11 đến 18, từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận. Ở Tây Nguyên, các di tích Champa cũng xuất hiện rải rác ở các địa phương như: Gia Lai, Kontum, Dăk-Lăk, Lâm Đồng. Bình Định xưa kia từng là kinh đô của Vương quốc Champa, hiện ở đây vẫn còn lưu lại 14 ngôi cổ tháp. Những cuộc khai quật tự phát của cư dân đã tìm thấy nhiều di vật cổ có giá trị như buồng cau, lá trầu và những vật dụng thờ cúng bằng vàng… nằm sâu dưới lòng đất từ cả ngàn năm nay. Bình Định thuộc vùng Vijaya từ thế kỷ 11 đến 15, từng là kinh đô của Champa (1000-1471). Cùng với thành “Chà Bàn”, hàng loạt các công trình tôn giáo cũng đã được xây dựng ở đây. Khác với di tích Champa ở Quảng Nam rất tập trung, các di tích ở Bình Định lại được xây dựng rải rác khắp nơi.

Hiện có 14 công trình kiến trúc tập trung tại 8 địa danh như: Bánh Ít; Dương Long; Hưng Thạnh; Cánh Tiên; Phú Lốc; Phú Thiện; Bình Lâm và Hòn Chuông. Ngoài ra còn có 4 tòa thành cổ gồm Thị Nại, Đồ Bàn, An Thành, Uất Trì và hàng loạt các tác phẩm điêu khắc, những phế tích của tháp Champa như giếng cổ hình vuông; rắn Naga; trụ văn bia; tượng thần điểu Garuda; phù điêu Lăng Ông; tượng tu sĩ; khu mộ cổ… đều được phát hiện tại Bình Định. Trong tất cả các cổ vật phát hiện được, đáng chú ý là di vật tượng tu sĩ ở chùa Linh Sơn, thuộc thôn Hải Giang, xã Nhơn Hải, Tp. Quy Nhơn. Những cư dân ở đây trong lúc đang canh tác đã phát hiện bức tượng chôn sâu dưới lòng đất và đã đào lên đem hiến cho chùa. Dân địa phương gọi là chùa “Phật lồi”. Ở Quy Nhơn hiện vẫn còn dấu vết các lăng mộ cổ của người Champa tại xã đảo Nhơn Châu. Lịch sử Vương quốc Champa từ thời hoàng kim đến lúc suy vong đã trải dài trên 2000 năm đã lưu lại cho hậu thế hàng chục ngôi cổ tháp với những kiểu kiến trúc, chạm trỗ độc đáo, bí hiểm. Ở khu vực duyên hải miền Trung hiện có trên 19 khu tháp với hơn 40 ngôi thấp cổ lớn nhỏ.

Huyền thoại về con tàu chở kho báu Champa…

Ch. Lemire đã mô tả các tháp cổ Champa được phân bố ở tỉnh Bình Định trong tác phẩm “Les Tours Kiames de la Province de Binh Dinh” (Sài Gòn 1980) như sau: “Trong các tháp có các tượng, rất có thể chúng bằng vàng hoặc bằng bạc, có mắt bằng ngọc và răng bằng kim cương. Chúng đã bị lấy mất ngay từ đầu. Những tượng bằng đá có thể bị lấy đi ngay sau đó. Người ta đã đào các bức tượng để bóc gỡ các tranh thánh đã được gắn vào đó. Các tháp Bạc (người Việt Nam quen gọi là tháp Bánh Ít) phô bày hàng loạt công trình đáng lưu ý, phần lớn các tượng đều bằng vàng hoặc bằng đá thếp vàng. Tượng cuối cùng che vòm đã được mang sang Pháp năm 1886. Gần 80 tấn đá chạm được dành cho Bảo tàng Lyon đã được tàu Mêkông chuyển về Pháp dưới sự coi sóc của Tiến sĩ Maurice. Tàu Mêkông bị đắm ở Hồng Hải và những người Somalis tưởng rằng đã tìm thấy kho báu nên đã đem vào bờ một số lớn những hòm nặng này, nhưng họ chỉ tìm thấy đá và đá…”

Bức màn bí mật bao quanh số phận của con tàu Mêkông đã thách đố các nhà khoa học, giới săn lùng cổ vật và cả những kẻ hiếu kỳ hơn 100 năm. Trong số những người tìm cách sở hữu kho báu trên tàu Mêkông có giáo sư Robert Stenout (Pháp) và sau hơn 30 năm mày mò nghiên cứu ở hàng trăm thư viện, sở lưu trữ văn khố, các hải cảng, nhiều hãng tàu biển… Đến tháng 10.1995, R.Stenout đã khoanh vùng một cách chính xác vị trí mà tàu Mêkông bị đắm tại mũi Guadaqui ở biển Hồng Hải. Theo R.Stenout, Mêkông là một con tàu lớn được thiết kế với hai chức năng chở khách và chở hàng nhưng điều này không làm ảnh hưởng đến sự thanh nhã của nó. Những năm đầu thế kỷ, do còn hạn chế về kỹ thuật, hành trình Đông Dương-Pháp là một hành trình dài, mất nhiều ngày, nên Mêkông được xây dựng, bài trí hoàn hảo, sang trọng và nguy nga như một cung điện di động trên mặt biển. Chuyến tàu viễn dương định mệnh của tàu Mêkông vào năm 1906 chở theo 180 sĩ quan thủy thủ, 66 hành khách cùng với rất nhiều tấn cổ vật bằng và và một khoang bí mật chứa đầy hàng mà theo khảo sát ban đầu của đội thợ lặn thuộc tàu Scorpio do thuyền trưởng Campell chỉ huy (tàu Scorpio là con tàu mà Stenout sử dụng trong cuộc khai quật của mình) thì hàng trăm nghìn thoi vàng có trong khoang hàng bí mật này như huyền thoại về Mêkông đã lan truyền là có thật.

Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau khi định vị được tàu Mêkông và kho báu bí mật thì nước có chủ quyền trên vùng lãnh hải mà tàu Mêkông bị đắm đã xảy ra một cuộc nội chiến khốc liệt, việc thu hồi kho báu trên tàu Mêkông đành dừng lại… kho báu mà tàu Mêkông có nhiệm vụ đưa về Pháp chủ yếu được thu gom trên khu vực Vijaya từ Quảng Nam đến Bình Thuận và chắc chắn đây chưa phải là kho báu duy nhất của vương quốc Champa.

Tháp Champa được trang trí bằng vàng ròng

Theo một truyền thuyết thì trên chóp đỉnh của Tháp Đôi, cụm tháp gồm hai chiếc nằm ở TP. Quy nhơn có 2 quả cầu lớn làm bằng vàng ròng. Cả hai khối vàng này đã bị các thủy thủ người da trắng của một chiếc tàu châu Âu đến cướp đoạt và mang xuống tàu sau một cuộc tấn công chớp nhoáng. Người Champa cổ không quá đề cao giá trị của vàng và sử dụng chúng với khối lượng lớn một cách khá phổ biến trong các công trình kiến trúc đền tháp của mình. Có thể lý giải rằng đó là do dân tộc này được tạo hóa ưu đãi quyền sở hữu nhiều mỏ vàng có trữ lượng phong phú. Vàng được đem đi đúc tượng thần để thờ, đúc phù điêu và dát lên các tượng thờ để trang trí… Truyền thuyết cũng cho biết rằng người Champa sau khi dựng tượng vàng ở các đền tháp thường quét lên thân tượng một lớp sơn đặc chế. Kho báu Champa được nhắc đến từ khá lâu bởi các nhà khoa học Pháp. Kho báu cuối cùng, nơi lưu giữ những gì còn lại của Vương triều Champa đã được đề cập trong tác phẩm Un Royaume Disparu – Les Chams et Leur Art-1923 (Pháp). Sự giàu có đầy bí ẩn của Vương quốc Champa có thể đúng như các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố. Nhưng ngay cả khi sự thật không phải là như thế thì với việc thừa hưởng 14 quần thể tháp Champa cổ còn lại đến nay, có thể khẳng định rằng – Bình Định đang sở hữu một phần kho báu của nhân loại.

Ngàn năm còn một chút này…

Ở Tp. Quy Nhơn có 2 ngọn tháp đứng kề nhau, dân gian gọi là Tháp Đôi. Các tư liệu xưa còn ghi chép Tháp Đôi là tháp Hưng Thạnh. Vào ngày 10.7.1980, Tháp Đôi được nhà nước xếp hạng vào danh mục những di tích lịch sử-văn hóa quốc gia. Tháp Đôi được tiến hành trùng tu đầu tiên ở Bình Định và được các nhà nghiên cứu xếp vào loại di sản độc đáo của nghệ thuật kiến trúc Champa. So với các ngọn tháp khác trong tỉnh, trong vùng Tháp Đôi không hề giống bất kỳ một ngôi tháp cổ nào hiện có. Thế nhưng các nhà khoa học đến nay vẫn chưa tìm ra lý do khác thường nầy. Tháp Đôi xây dựng vào khoảng cuối thế XII.

Cùng với di tích Tháp Đôi, chúng ta ngược lên vùng “Tây Sơn hạ đạo”, để chiêm ngưỡng cụm tháp Dương Long. Ngày xưa người Pháp gọi đây là “Tháp Ngà”, dân địa phương thì gọi là tháp An Chánh. Tháp Dương Long có 3 tòa tháp cổ với chiều cao từ 29 đến 36 mét. Các hệ thống cửa giả phần lớn đã bị sụp đổ, hư hỏng. Tuy vậy nhìn vào các tác phẩm điêu khắc còn sót lại giúp ta liên tưởng đến những nghệ nhân Champa đã từng dày công sáng tạo một nền văn hóa độc đáo. Nhiều nhà nghiên cứu hiện nay đã xác định niên đại của tháp vào khoảng nửa sau thế kỷ 12. Đây là cụm di tích thứ 2 được Bộ văn hóa xếp hạng cùng lúc với Tháp Đôi Quy Nhơn. Sau hai cụm Tháp Đôi và tháp Dương Long, là tháp “Cánh Tiên” và tháp “Bánh Ít”. Tháp Cánh Tiên được người Champa xây dựng ngay ở trung tâm thành Đồ Bàn, nay thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

Được biết vào tháng 11.2004 vừa qua, tháp Cánh Tiên đang được Chính phủ CHLB Đức tài trợ 100.000 Euro để trùng tu, khôi phục. Theo tài liệu của người Pháp thì tháp Cánh Tiên còn được gọi là “Tháp Đồng”, nhưng vì sao có tên gọi nầy thì vẫn chưa xác định được nguồn gốc. Tháp cao khoảng 20 mét, trông xa giống như đôi cánh của nàng tiên trong chuyện cổ tích đang bay lên trời xanh. Khác với các tháp Champa khác, tháp Cánh Tiên được xây dựng một phần bằng chất liệu đá sa thạch, xung quanh có nhiều phù điêu chạm khắc tạo cho ngôi cổ tháp một dáng vẻ độc đáo.

Khác với “Cánh Tiên”, cụm tháp “Bánh Ít” có đến 4 tòa tháp lớn nhỏ khác nhau. Gọi là tháp Bánh Ít bởi vì khi đứng xa trông cụm tháp giống như những chiếc bánh ít lá gai-một sản vật thường thấy trong các dịp cúng lễ, giỗ chạp ở miền Trung. Người Pháp gọi đây là “Tháp Bạc”. Tất cả đều nằm trên một đỉnh đồi thuộc địa phận xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, cách TP. Quy Nhơn khoảng 20 km. Bốn ngôi cổ tháp đều có các tượng thờ, hình vũ nữ đang múa, hình voi, hình các vị thần linh. Kiểu trang trí làm cho ta có cảm giác như đang lạc vào thế giới thần bí của người Champa cổ xưa. Cũng tại Bình Định còn có tháp Bình Lâm nằm ở xã Phước Hòa (Tuy Phước). Người dân ở đây kể lại rằng: thôn Bình Lâm là nơi có những cư dân người Việt lần đầu tiên đến đây khai phá mở mang vùng đất phì nhiêu này. Trong hệ thống tháp Champa Bình Định, thì tháp Bình Lâm là nhóm tháp cổ có niên đại sớm nhất.

Một cụm di tích khác có tên là tháp Thủ Thiện, còn gọi là “Tháp Đồng” hiện đang tồn tại ở xã Bình Nghi (Tây Sơn) nằm bên Quốc lộ 19. Năm 1995 ngọn tháp nói trên được xếp hạng di tích Nhà nước. Tuy vậy, cũng giống như các cụm di tích tháp Champa khác ở Bình Định, ngọn tháp Thủ Thiện hiện đang bị đổ nát nghiêm trọng. Nhiều di tích, cấu trúc của ngọn tháp đã bị thời gian và con người phá hủy. Di tích cuối cùng được xếp hạng cùng lúc với tháp Thủ Thiện là tháp Phú Lốc. Người Pháp đặt tên là “Tháp Vàng”. “Phú Lốc” nằm giáp giới giữa 2 huyện An Nhơn và Tuy Phước. Tháp nằm trên đỉnh một quả đồi cao 76 mét so với mực nước biển. Ngọn tháp đã bị đổ nát khá nhiều, tuy vậy nhìn một cách tổng quát vẫn thấy được dáng vẻ bề thế, uy nghi của một công trình kiến trúc cổ. Ngoài 7 cụm tháp ở Bình Định đã được Nhà nước xếp hạng, hiện nay vẫn còn một số di tích tháp cổ khác chỉ còn chân đế, hoặc đã bị sụp đổ do người dân đào bới tìm vàng, trong đó có tháp “Hòn Chuông” ở huyện Phù Cát. Ngôi tháp này cùng nhiều tháp Champa khác đang chờ Nhà nước trùng tu.

Có thể nói rằng, 8 cụm tháp với tổng số 14 tòa tháp cổ còn lại trên đất Bình Định được xem như một loại tài sản vô giá mà lịch sử đã ban tặng cho miền Trung nước ta. Những bí ẩn về tháp Champa mặc dù đã được tìm hiểu nghiên cứu từ cả chục năm nay, tuy vậy cũng chỉ là những nghiên cứu bên ngoài. Chúng ta tin rằng còn khá nhiều điều kỳ lạ, nhiều huyền thoại lý thú cần làm sáng tỏ…

(Nguồn: http://www.ueh.edu.vn)

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Truyền thuyết về Tỳ Hưu – Con vật linh thiêng

Gần đây giới sành chơi thường sắm cho mình một con Tỳ Hưu để mang trên người hoặc đặt trong nhà. Tỳ Hưu có thể được làm nhẫn đeo tay, mặt dây hoặc để trong người với mong muốn mang lại may mắn và lợi lộc. Hoặc đặt trong nhà để tránh tà khí và sinh lợi. Thế nhưng Tỳ Hưu là gì? Và tác dụng của nó ra sao thì chắc ít người biết được.

Tỳ Hưu hai sừng thời xưa

Tỳ Hưu hai sừng thời xưa

Nguồn gốc của Tỳ Hưu

Truyền thuyết về Tỳ Hưu được xuất phát từ chin loại con của Rồng. Rồng sinh ra chín con, là chín loài thần thú nhưng không phải là rồng. Chín loài ấy, có 2 thuyết khác nhau, với thứ tự cũng khác nhau:

Thuyết 1: Tỳ hưu – Nhai xế – Trào phong – Bồ lao – Toan nghê – Bí hí – Bệ ngạn – Phụ hí – Si vẫn.

Thuyết 2: Bí hí – Si vẫn – Bồ lao – Bệ ngạn – Thao thiết – Công phúc – Nhai xế – Toan nghê – Tiêu đồ

Đặc điểm của các loài này được cho là như sau:

1. Tỳ Hưu (Tu Lỳ): Tỳ Hưu đầu như Kỳ Lân, có một sừng, thân của gấu, có cánh trên lưng. Tỳ Hưu một sừng là giống cực kỳ hung dữ, chuyên cắn hút tinh huyết của các loài yêu quái, ma quỷ nên còn gọi là con Tịch Tà. Loại Tỳ Hưu hai sừng là loài chuyên hút vàng bạc, châu báu trong trời đất nên được cho là con vật giữ tài lộc hay còn gọi là Thiên Lộc. Khi đó Tỳ Hưu có đặc điểm miệng to, ngực to, mông to nhưng không có hậu môn (chỉ để hút vào mà không làm mất đi cái gì). Nếu thỉnh một cặp Tỳ Hưu thì con cái là Tỳ, con đực là Hưu.

Tu Lỳ là kiện tác của Tỳ Hưu, với tư thế cuộn tròn, lưỡi cong, răng sắc đón lộc và giữ của. Khi mua Tỳ Hưu rất dễ bị nhầm thành Chó Trời , không hề có tác dụng tốt cho gia chủ.

Tỳ Hưu cũng có đặc điểm là thích âm nhạc, có tài thẩm âm. Vì thế nên Tỳ Hưu thường được khắc trên đầu cây đàn hồ cầm, nguyệt cầm, tì bà.

2. Nhai Xế (Nhai tí): loài mình rồng, đầu chó sói, cương liệt hung dữ, khát máu hiếu sát, thích chém giết chiến trận. Vì thế Nhai Xế được khắc ở thân vũ khí: ngậm lưỡi phủ, lưỡi gươm đao, trên vỏ gươm, chuôi cầm khí giới để thêm phần sát khí.

3. Trào Phong: có thân phượng, có thể hóa thành chim, đặc điểm thích sự nguy hiểm, nhìn ra vọng rộng. Do đó Trào Phong được tạc ngồi trên nóc nhà, đầu mái nhà nhìn về phía xa.

4. Bồ Lao: thích tiếng động lớn, âm thanh vang dội, vì thế quai chuông khắc hình Bồ Lao hai đầu quay ra hai bên ôm chặt quả chuông.

5. Toan Nghê: hình thù giống sư tử, thích khói lửa, mùi thơm, nuốt khói phun sương. Do đó Toan Nghê được khắc trên các lư hương, đỉnh trầm, ngồi trầm mặc trên đỉnh hay bám hai bên.

6. Bí Hí còn gọi là Quy Phu: giống con rùa, thích mang nặng, có thể cõng được tam sơn ngũ nhạc không bao giờ mỏi. Vì thế Bí Hí cõng bia, trụ đá, nhiều người nhầm với rùa.

7. Bệ Ngạn (Bệ hãn) còn gọi là Hiến chương: như con hổ, thích nghe phán xử, phân định; vì thế Bệ Ngạn được tạc ở công đường, nhà ngục, trên các tấm biển công đường.

8. Phụ Hí: mình dài giống rồng, thích văn chương thanh nhã, lời văn hay chữ tốt. Vì thế Phụ hí tạc trên đỉnh hoặc hai bên thân bia đá.

9. Si Vẫn (Li vẫn, Si vĩ): miệng trơn họng to, rất thích nuốt các vật lớn, lại có thể phun nước làm mưa. Vì thế Si Vẫn được tạc trên nóc nhà để phòng hỏa hoạn, khác với Trào Phong là đầu quay vào trong, nuốt lấy xà nhà hoặc bờ nóc.

10. Thao Thiết: thích ăn uống, càng nhiều đồ ăn càng tốt. Vì thế được khắc trên các vạc lớn, lại tượng trưng cho việc thu lấy tài lộc giống Tì Hưu.

11. Công Phúc (Bát phúc, Bát hạ): thích nước, nên được khắc tạc ở chân cầu, đê đập, cống nước để canh giữ.

12. Tiêu Đồ (Thúc đồ, Phô thủ): đầu giống sư tử, thích sự kín đáo yên tĩnh. Vì thế được tạc ngoài cửa, ngụ ý giữ yên cho ngôi nhà. Đầu Phô Thủ ngậm thêm cái vòng để khách đến dùng nó mà gõ.

Tương Truyền về Tỳ Hưu

Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.

Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.

Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.

Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy.Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.

Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung vua và hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.

Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng với sự linh nghiệm của con vật này khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.

Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.

Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Trung Quốc quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.

Truyền thuyết về loài Tỳ Hưu

Liên quan tới con vật linh thiêng Tỳ Hưu có nhiều truyền thuyết đáng để ta phải lưu ý. Nó có thể làm mất một triều đại hoặc làm bại một gia đình.

tỳ hưu-1

Chuyện Tỳ Hưu với Hoà Thân

Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại. Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường. Thời vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật “dưới một người trên triệu triệu người”. Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổ tiếng “Những gì nhà vua có thì Hoà Thân có, còn những gì Hoà Thân có thì vua chưa chắc đã có”.

Đến khi Hòa Thân bị giết quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có. Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ. Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có con Tỳ Hưu, mà con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua. Ngọc để tạc con Tỳ Hưu của Hoà Thân là ngọc phỉ thúy xanh lý mát rượi, trong khi vua chỉ dám tạc bằng bạch ngọc. Bụng và mông con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông con Tỳ Hưu của vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn vua.

Sau khi tịch thu con Tỳ Hưu, nhà vua không thể tịch thu chữ “Phúc” kia được bởi chữ Phúc đã được gắn chết vào đá hồng ngọc; nếu đập đá ra lấy chữ thì đá sẽ vỡ, như thế thì phúc tan. Mà chữ thì do vua Khang Hy viết nên không ai dám phạm thượng. Thế là đành để “Phúc” lại cho nhà Hòa Thân, có lẽ vì thế nên dù phạm nhiều tội tày đình nhưng Hòa Thân chỉ chết một mình, thay vì phải bị tru di tam tộc.

Chuyện Tỳ Hưu với nhà Thanh

Trước khi quân đội nhà Thanh nhập quan ải tiến chiếm giang sơn Đại Minh (hồi đó còn là Mãn Châu – tộc Nữ Chân dòng Đại Kim) đã nghiên cứu rất kĩ về văn hóa, phong thủy, biết rằng nhà Đại Minh long mạch đế vương còn thịnh lắm, nếu không phá được phong thủy của Bắc Kinh thì không thể nào chiếm chọn Trung Nguyên được, mà có chiếm được cũng không thể giữ được vì Trung Nguyên rộng lớn, Mãn Châu sẽ nhanh chóng bị nuốt chửng và bị đồng hóa. Trong truyền thuyết, Lưu Bá Ôn đã từng để lại lời dặn cho nhà Minh rằng muốn Đại Minh trường tồn thì phải giữ gìn đặt con Tỳ Hưu trên lầu thành Đức Thắng Môn, mặt ngoảnh về phía Vạn Lý trường thành để trấn áp dân Hung Nô, dân Nữ Chân. Chừng nào mặt Tỳ Hưu còn ngoảnh về phương ấy thì Đại Minh còn.

Mãn Châu biết được truyền thuyết ấy, biết được Sùng Chinh rất tin tưởng vào con Tỳ Hưu này, nên nghĩ ra 1 kế, cho 1 đại sư về phong thủy của mình, lập kế chiếm được lòng tin tưởng của Sùng Chinh, sau đó mới xui Sùng Chinh xoay lại con Tỳ Hưu vào, hướng về nội đô. Vận khí nhà Minh đã hết , Sùng Chinh đã nghe lời xui khiến, và giặc giã nổi lên khắp nơi, đầu tiên là Sấm Vương Lý Tự Thành (cũng là 1 anh hùng áo vải), và sau đó là sự cố Ngô Tam Quế mở ải Sơn Hải Quan, dẫn quân Thanh nhập quan ải. Nhà Minh tuyệt diệt, Sùng Chinh phải tự tay chém Trường Bình công chúa rồi treo cổ tự vẫn.

Bài do TS Phạm văn Long sưu tầm

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »