Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘triển lãm’

Tháng 11/2005, Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được công nhận là “Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại”.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê,Jrai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng… Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ.

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

Để chào mừng kỷ niệm 67 năm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9; nhân ngày truyền thống của Ngành Văn hoá, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên phối hợp với các cơ quan trung ương và Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ đạo tổ chức “Những ngày văn hoá Tây Nguyên” tại Hà Nội.

Đây là lần thứ hai, chương trình được tổ chức với quy mô lớn về văn hoá – con người – sự kiện của một vùng đất cao nguyên phía tây nam Tổ quốc với mục đích: giới thiệu với nhân dân thủ đô và nhân dân cả nước, bạn bè quốc tế những giá trị văn hoá và sức sống mãnh liệt, sự trường tồn của bản sắc Tây Nguyên trong nền văn hoá dân tộc Việt Nam , tôn vinh các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên , khai thác và phát triển kinh tế, du lịch trên nền tảng văn hoá truyền thống.

Với Sự tham gia của 05 tỉnh khu vực Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng với các thành phần dân tộc Jarai, Bahnar, Ê đê, Xêđăng, Mơnông, Cơho, Mạ, Churu, Giẻtriêng, Brâu, Rơmăm… Các đơn vị thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ,  các đơn vị thuộc UBND Thành phố Hà Nội.  Binh đoàn 15 – Bộ Quốc phòng ,  Uỷ ban Dân tộc  , Hội đồng Dân tộc Quốc hội , Ban Tuyên giáo Trung ương , Làng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, Viện Nghiên cứu văn hoá, Hội Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam  . Các Hội chuyên ngành, các nhà nghiên cứu về văn hoá và lịch sử; các văn nghệ sĩ, nghệ nhân. Các nhà quản lý, các chuyên gia về văn hoá folklore cùng các cơ quan, đơn vị có liên quan. Cùng nhau phối hợp và thực hiện ngày hội văn hóa Tây  Nguyên tại hà Nôi lần II – 2012 với chủ đề chung của chương trình  : TÂY NGUYÊN  – TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  .

Được trưng bày thành hai khu vực với nội dung :

-Tây Nguyên – Bản sắc văn hoá truyền thống

-Tây Nguyên – Hội nhập và Phát triển

Tại không gian trưng bày của các  tỉnh Tây Nguyên , đồng bào các dân tộc còn mô phỏng lễ hội đâm trâu , mừng lúa mới kể sử thi hát khan; trình diễn cồng chiêng…Cùng với triển lãm, hội chợ sẽ giới thiệu, bày bán đặc sản, nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm du lịch đậm chất Tây Nguyên phục vụ công chúng.

Đặc biệt trong không gian trưng bày triển lãm lần này đã giới thiệu đến công chúng một bộ sách ‘’ KHO TÀNG SỬ THI TÂY NGUYÊN ‘’ mà trước đây chúng ta thường gọi  Trường Ca , Anh Hùng Ca , một thể loại tự sự dân gian truyền miệng , cho đến nay vẫn được Lưu giữ trong trí nhớ của người dân và thường được diễn xướng trong các dịp sinh hoạt cộng đồng . Việc phát hiện , sưu tầm và công bố các tác phẩm sử thi là cố gắng của nhiều thế hệ  các nhà sưu tầm và nghiên cứu văn hóa dân gian gần một thế kỷ qua .

Năm 2001 chính phủ giao cho viện khoa xã hội VN chủ trì phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận thực hiện dự án điều tra , sưu tầm , bảo quản , biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên một cách quy mô , bài bản và đồng bộ . Dự án này cho thấy Tây Nguyên và các vùng phụ cận là vùng đất đã tồn tại và đang lưu giữ  một kho tàng sử thi vào loại phong phú , đồ sộ vào loại hiếm có trên thế giới .

Trong khuôn khổ của ngày hội với chủ đề TÂY NGUYÊN – BẢN SẮC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG  . Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam  với hơn 400 tài liệu hiện vật  , hình ảnh triển lãm giới thiệu về bản sắc văn hóa truyền thống mang tính đặc trưng của vùng  : địa vực cư trú , đời sống sinh hoạt , nghề thủ công , văn hóa cồng chiêng , nhạc cụ , lễ hội , tín ngưỡng tộc người … nhằm góp phần giới thiệu  tôn vinh giữ gìn , phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các tộc người ở Tây Nguyên trong cộng đồng các dân tộc VN . Cùng với những hình ảnh triển lãm vì màu xanh Tây Nguyên của Binh đoàn 15  đã cho thấy được một Tây Nguyên HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN  .

Bảo Tàng Mỹ thuật Việt Nam là một trong những bảo tàng được đánh giá có vị trí quan trọng nhất trong việc lưu giữ

và phát huy kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật của cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Trong khuôn khổ những ngày văn hóa Tây Nguyên lần II – 2012 tại Hà Nội . Bảo Tàng Mỹ Thuật VN giới thiệu với công chúng hơn 60 tác phẩm hội họa và điêu khắc của gần 30 họa sĩ , nhà điêu khắc . Trong đó có nhiều họa sĩ nổi tiếng là người dân tộc Tây Nguyên . Với các chất liệu được sử dụng phong phú : phấn , bột màu , màu dàu , nàu nước , lụa , sơn mài …được các họa sĩ  Xu man , Nguyễn Vĩnh Nguyên , Hoàng Kiệt , Hà Xuân Phong , Sều Y Lun , Y Nhi , Kso  , Dinh Rú , Hồ Uông …. thể hiện qua các tác phẩm về đề tài Tây Nguyên .

Cùng Những hình ảnh Tây Nguyên Sắc màu Bazan được thể hiện qua những tác phẩm ảnh nghệ thuật thật sống động và mãnh liệt  của Hội Văn Học Nghệ Thuật Các Dân Tộc Thiểu Số .  Những tác phẩm trên  chứa đựng những cảm xúc chân thành với vùng đất và con người Tây Nguyên trong chiến tranh và trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới của các tộc người Tây Nguyên  .

Trung tâm  Unesco nghiên cứu , bảo tồn cổ vật VN  với không gian  CỔ VẬT TÂY NGUYÊN tập trung giới thiệu bản sắc văn hóa truyền thống mang tính đặc trưng của các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên thông qua các hiện vật , hình ảnh công cụ lao động sản xuất , sinh hoạt ,  ….những nét văn hóa độc đáo giàu bản sắc văn hóa của vùng đất Tây Nguyên .

NST Khánh Hòa Thúy Nga – Tp Hồ Chí Minh triển lãm bộ sưu tập ‘’ NÉT VĂN HÓA TÂY NGUYÊN ‘’ Đây là những hiện vật được sưu tầm từ vùng đất Tây Nguyên  , là những hiện vật đặc trưng sinh hoạt thường ngày và văn hóa của các dân tộc bằng các chất liệu da , đồng , gốm , đá  , gỗ …. những vật dụng này gắn bó với đời sống thường nhật nhưng mang những giá trị tinh thần tâm linh và tính thẩm mỹ của con người vùng đất Tây Nguyên .

Hiện vật được sắp xếp thành các chủ đề bộ săn bắn trên cạn ( nỏ , cung tên , lao ) bộ dụng cụ sản xuất và đồ dùng thường ngày của các dân tộc . Bộ dệt với những đường nét hoa văn tinh tế và màu sắc hấp dẫn , bộ nhạc cụ ( trống , goong tốc lốc , đàn gió … ) đặc biệt là chiêng , một đặc trưng văn hóa của đồng bào Tây Nguyên  , là một loại nhạc cụ ‘’ thiêng ‘’có vị trí rất quan trọng đến đời sống tinh thần , tâm linh của các dân tộc ở Tây Nguyên …. hy vọng bộ sưu tập hiện vật ‘’ NÉT VĂN HÓA TÂY NGUYÊN sẽ phần nào cung cấp cho công chúng những hiểu biết sâu sắc về nền văn hóa và lịch sử của các dân tộc Tây Nguyên .

Tây Nguyên là đề tài vô tận trong các loại hình nghệ thuật , trong đó có nhiếp ảnh . Đất và con người Tây Nguyên đẹp đến nỗi  tưởng chừng như ở góc máy nào cũng tìm thấy những bức ảnh đẹp khiến ta rung động . Không phải là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp , cũng không phải là một nhà nghiên cứu . Tác giả  Lâm Tứ Khoa  ở Đà Nẵng chỉ có may mắn được nhiều lần đến vùng đất Tây Nguyên  đem theo một chút đam mê và tình cảm  . Rồi khi bắt gặp được những hình ảnh sinh động , anh đã ghi lại những khoảnh khắc ấy đem về sắp xếp lại theo một trình tự  , từ đó dựng lên một không gian TÂY NGUYÊN TỰ TÌNH để chúng ta cùng nhau ngắm nhìn và cùng nhau cảm nhận .

Đến từ vùng đất Gia Lai Họa sĩ Hồ Thị  Xuân Thu   đã đem đến cho ngày hội văn hóa Tây Nguyên một ‘’ SẮC MÀU TÂY NGUYÊN ‘’ thật đậm nét , với hơn 30 tác phẩm sơn mài về hình ảnh người phụ nữ Tây Nguyên trong hầu  hết các sinh hoạt trong cuộc sống từ lao đông bình thường đến các lễ hội và tâm tư tình cảm , bằng đường nét dân gian , người xem sẽ thực sự xúc động trước một Tây Nguyên kỳ diệu , bí ẩn hoang sơ và mộc mạc .

Như vậy , sau mười năm Những Ngày văn Hóa Tây Nguyên lần II – 2012  lại được tổ chức tại Hà Nội  . Đây là chương trình được tổ chức với quy mô lớn , giới thiệu văn hóa – con người  – sự kiện và những giá trị văn hóa , sức sống mãnh liệt cũng như sự trường tồn của bản sắc Tây Nguyên trong nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, tôn vinh các giá trị  văn hóa vật thể, phi vật thể của vùng đất đỏ cao nguyên, nổi bật là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Khanhhoathuynga

Hình ảnh : Khanhhoathuynga

This slideshow requires JavaScript.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Mời các độc giả blog thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật thị giác do các em học sinh trường mù Nguyễn Đình Chiểu thực hiện được trưng bày tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Hà Nội Ngày  19/  11 / 2011 .

Để chuẩn bị cho sự kiện này , 12 thành viên của House of Art  – giáo viên Đào Ngọc   Huỳnh &  Đỗ Quốc Vi  đã chuẩn bị từ đầu năm 2011 . Và cũng được sự hỗ trợ rất nhiều từ các nghệ nhân làng gốm Bát Tràng (Hà Nội ) – Cây ( Hải Dương ) – Ngòi ( Bắc Giang ) .

Trong cuộc triển lãm đã được trưng bày các tấm tranh với nhiều kích cỡ  và 150 sản phẩm nhỏ các loại  . Hầu hết các tác phẩm đều do các học sinh trường mù làm.

Cuộc triển lãm mang ý nghĩa và thông điệp  ” Người mù có thể làm việc như những người bình thường ” . và tìm kiếm cơ hội cho học sinh khiếm thị .

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ

Read Full Post »

Triển lãm “Bảo vật Hoàng cung”: Tận mắt thấy ấn, kiếm triều Nguyễn

(TT&VH) – Một cơ may đặc biệt với những khán giả đang có mặt tại Hà Nội trong dịp Đại lễ này: sau gần nửa thế kỷ lưu giữ, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam sẽ cho người xem có cơ hội tận mắt chiêm ngưỡng những ấn vàng, kiếm vàng, sách vàng… của vương triều nhà Nguyễn.>> Nhật ký Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội

Cuộc triển lãm có tên gọi Bảo vật hoàng cung khai mạc tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam từ 9/10/2010. 13 bảo vật trưng bày đều có chất liệu chính bằng vàng khối và ngọc quý, được chọn ra từ hàng trăm bảo vật vương triều Nguyễn đang lưu giữ tại đây.

Kiếm vàng triều Nguyễn đúc vào TK 19, nặng 1,25 kg

Bảo vật triều Nguyễn

Trong số đó, đang chú ý nhất là 3 chiếc kim ấn bảo tỷ – vốn được gọi là bảo vật tượng trưng cho quyền lực tối thượng của vương triều Nguyễn và được chuyển giao qua những triều đại khác nhau. Ngoài chiếc ấn ngọc Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ, 2 chiếc ấn còn lại đều bằng vàng ròng, được đúc vào tháng 10 năm Minh Mạng 8 (1827). Trong đó, chiếc kim ấn Sắc mệnh chi bảo nặng 8,5 kg, gồm hai cấp, có hình vuông, trên ấn có hình rồng đầu ngẩng, 2 sừng dài, đuôi xòe 9 dải hình ngọn lửa, lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán: “Thập tuế hoàng kim nhị bách nhị thập tam lạng lục tiền – Minh Mạng bát niên thập nguyệt cát nhật tạo”. (Vàng 10 tuổi nặng 223 lạng 6 tiền – đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mạng thứ 8, 1827).

Ấn vàng Hoàng đế tôn thân chi bảo nặng 8,7 kg

Chiếc kim ấn còn lại – Hoàng đế tôn thân chi bảo – có kích thước to hơn, nặng 8,7 kg, khắc hai dòng chữ: “Thập bát kim, trọng nhị bách tam thập tứ lạng tứ tiền tam phân – Minh Mệnh bát niên thập nguyệt cát nhật tạo” (Nặng 234 lạng 4 tiền 3 phân, khoảng 8,7 kg) đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 8, năm 1827).

10 bảo vật còn lại bao gồm kiếm vàng (2 chiếc), mũ vàng (2 chiếc), sách vàng (1 chiếc), ấm chén vàng (2 bộ)… Trong số đó, chiếc mũ bình thiên bằng vàng khối, chế tác trong thế kỷ 19, có trọng lượng 0,66kg, chiếc kiếm vàng An dân bảo kiếm có trọng lượng 0,58 kg, cuốn sách vàng chế tác năm Gia Long thứ 5 (1806) có trọng lượng 2,1kg… Như nhận xét của các chuyên gia trong ngành, đây là những bảo vật chế tác rất tinh xảo và được các vua Nguyễn sử dụng khá thường xuyên.

Mũ bình thiên đúc trong TK 19, nặng 0, 66 kg

Cơ hội 50 năm mới trở lại

Đây không phải là lần đầu tiên các bảo vật triều Nguyễn được trưng bày tại Hà Nội. Năm 1961, nhân dịp Quốc khánh 2/9, một số ít trong số các bảo vật này cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, khoảng thời gian gần 50 năm từ đó tới nay là quá lâu đối với sự háo hức của người dân Hà Nội. Đa phần, những thế hệ sinh ra sau đó chỉ được biết tới những bảo vật này qua sách vở và những câu chuyện đậm màu sắc kỳ bí.

Sách vàng thời Gia Long đúc năm 1806, nặng 2,1 kg

Được biết, số bảo vật triều Nguyễn được Bộ Tài chính của chính quyền cách mạng tiếp quản vào tháng 8/1945. Tiếp đó, kho bảo vật này được đưa về lưu giữ tại nhà Viễn Đông bác cổ (nay là Bảo tàng Lịch sử VN). Năm 1961, khi trưng bày tại Hà Nội, một chiếc ấn vàng đã bị kẻ gian lấy cắp. Mặc dù đã tìm ra và kịp thu hồi, BTLSVN vẫn chuyển kho bảo vật quốc gia này sang lưu trữ tại Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo an toàn. Những năm sau đó, kho bảo vật được đưa đi cất giữ lần lượt tại nhiều địa phương khác nhau, trước khi được Bảo tàng Lịch sử VN tiếp nhận lại.

Theo đại diện Bảo tàng Lịch sử VN, trong thời gian tới, khi Bảo tàng Lịch sử quốc gia hoàn thành, toàn bộ kho bảo vật này sẽ được trưng bày phục vụ công chúng.

Ra mắt cuốn sách Cổ vật Việt Nam

Trong dịp khai mạc triển lãm Bảo vật Hoàng cung, BTLSVN cũng sẽ giới thiệu cuốn sách Cổ vật Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu được thực hiện từ năm 2008 bởi BTLSVN và Bảo tàng Bắc Kinh (Trung Quốc), cung cấp những nghiên cứu và tư liệu về cổ vật tiêu biểu của Việt Nam qua nhiều thời kỳ, bao gồm đồ đá, đồ đồng, đồ gỗ, đồ gốm, đồ kim hoàn… Sách được in bằng hai thứ tiếng Trung – Việt.

Cúc Đường
Đọc thêm:

PHILIPPE TRUONG – TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Sau khi thực dân Pháp tấn công vào Kinh Thành Huế vào tháng 7.1885, kế đến là sự cáo chung của triều Nguyễn do thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhiều cổ vật quý báu của vương triều này đã bị thất thoát ra nước ngoài vì nhiều lý do và bằng nhiều con đường khác nhau. Trong khi các bảo tàng và các sưu tập tư nhân ở Việt Nam hiếm có cơ hội để lưu giữ, trưng bày các bảo vật của vương triều Nguyễn, nhất là các món vàng bạc châu báu, thì nhiều bảo tàng và các sưu tập tư nhân ở ngoại quốc đang sở hữu những cổ vật này. Những năm gần đây, bảo vật triều Nguyễn được mua bán công khai trong các phiên đấu giá cổ vật ở London, Paris, New York… hay được rao bán trên các trang web thương mại như eBay hay Spin. Đây quả là điều đáng buồn cho những ai quan tâm và yêu quí cổ vật Việt Nam nói chung và bảo vật của triều Nguyễn nói riêng.

Thời Nguyễn (1802 – 1945), kim vật (vật bằng vàng) của các triều vua: Minh Mạng (1820 – 1841), Thiệu Trị (1841 – 1847) và Tự Đức (1848 – 1883) luôn được coi trọng bởi giá trị lịch sử, nghệ thuật, cũng như bởi kích thước và trọng lượng của chúng. Kim vật triều Nguyễn có thể phân thành ba nhóm: vật thờ cúng (nén vàng để thờ, lọ hoa thờ, đồ dâng rượu cúng…); vật biểu thị cho quyền lực của vương triều (kim bảo, kim sách) và đồ ngự dụng (đồ dành cho vua dùng như: khay, mâm, bình rượu, cơi trầu, ống nhổ, chậu rửa mặt…). Kim vật của triều Nguyễn hiện còn rất ít tại Việt Nam do bị mất mát, thất lạc hoặc bị cướp bóc trong các cuộc chiến tranh trước đây.

Sau khi ký hòa ước Nhâm Tuất (1862) với thực dân Pháp, vua Tự Đức phải thu gom gần như toàn bộ vàng thoi, bạc nén trong quốc khố để bồi thường chiến phí cho liên quân Pháp và Tây Ban Nha. Khi số vàng này được chuyển về Pháp, chính phủ Pháp cho chọn mỗi loại một món đưa vào bảo quản trong các bảo tàng quốc gia để làm kỷ vật. Nhờ vậy nên tại các bảo tàng Pháp quốc như Hotel de la Monnaie (Paris) vẫn còn giữ được những nén vàng của triều Nguyễn, trong đó, có một nén vàng nặng 3,8 kg từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765).

Do quốc khố không có đủ vàng thoi để bồi thường chiến phí nên vua Tự Đức phải thu hồi một số bảo vật bằng vàng và bằng bạc đang trưng bày trong các cung điện, đúc thành thoi vàng và nén bạc trả để trả cho người Pháp và người Tây Ban Nha. Năm 1869, vua ra lệnh cho các hoàng thân, hoàng tử, công chúa… nộp lại kim ấnkim sách mà triều đình đã ban cho họ trước đây, đúc thành 135 đĩnh vàng để triều đình tiêu dùng. Sau đó, vua Tự Đức đã cải cấp (cấp lại) cho họ những kim ấn và kim sách làm bằng đồng.

Ngày 5.7.1885, quân Pháp đánh chiếm Kinh Thành Huế, vua Hàm Nghi và hoàng gia xuất bôn ra Quảng Trị, rồi ra Hà Tĩnh, đem theo một số vàng bạc, châu báu để tiêu dùng. Trong lúc ấy, quân Pháp tràn vào cướp bóc tất cả đồ đạc quý giá đang trưng bày và thờ tự trong các cung điện ở trong Đại Nội. Theo ghi chép của linh mục Siefert, người đã có mặt tại Huế lúc bấy giờ, khi đối chiếu với bảng kiểm kê tài sản của hoàng gia lập trước ngày 5.7.1885 với những gì đã mất, thì quân Pháp đã cướp “228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương, hại trai, hạt ngọc, 271 đồ bằng vàng trong cung của bà Từ Dũ… Tại các tôn miếu thờ các vua: Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị thì hầu hết các thứ có thể mang đi như mũ miện, đai áo, thảm đệm, triều phục, long sàng và bàn  xoay có chạm trổ, các giá treo vũ khí, hộp đựng trầu để thờ, ống nhổ, chậu quán tẩy bằng vàng; hỏa lò, mùng và màn thêu hoa, đỉnh trầm, ấm trà và khay chén, tăm xỉa răng… đều bị cướp” (J. Chesneaux, Contribution à l’histoire de la nation vietnamienne, Paris, Éditions Sociales, 1955, p. 134). Phần lớn những bảo vật cướp bóc trong đợt này đã được người Pháp chuyển về Paris.

Sau khi Đồng Khánh lên ngôi (tháng 9.1885), người Pháp đã trả lại cho triều đình nhà Nguyễn một số kim bảo, ngọc tỷ và kim sách. Sau đó, triều đình cho chuyển những bảo vật còn lại về thờ tự và cất giữ trong điện Phụng Tiên. Trong số đó có một cuốn kim sách khắc bài Tự chế mạng danh thi của vua Minh Mạng và một nén vàng lớn, gồm hai nửa, nặng gần 2 kg, trên đó có khắc dòng chữ Hán: Thế tổ Đế hậu, Quý Mão bá thiên thời tín vật. Đây là nén vàng mà Nguyễn Ánh đã chặt làm đôi, rồi ông và bà Tống Thị Lan, vợ cả của ông mỗi người giữ một nửa, để làm tín vật, trước khi ông trốn ra đảo Phú Quốc vì bị quân Tây Sơn truy đuổi.

Thời Duy Tân (1907 – 1916), triều đình lại chuyển các bảo vật này về cất giữ trong điện Cần Chánh tọa lạc bên trong Tử Cấm Thành. Ngoài kim bảo, ngọc tỷ, kim sách, ngân sách của vua, hoàng phi, hoàng tử và công chúa, còn có một hổ phù bằng vàng, gồm hai nửa, gọi là Phủ tín. Khi vua xuất cung thường phải mang theo nửa mảnh hổ phù này. Đến lúc trở về, vua phải đưa nửa mảnh hổ phù này cho lính canh để ráp với nửa còn lại, nếu thấy khớp với nhau thì nhà vua mới được nhập cung. Tuy nhiên, trong lần kiểm kê tài sản trong điện Cần Chánh do ông Paul Boudet thực hiện vào năm 1942, thì không thấy kê tên hổ phù bằng vàng này. Có thể nó đã bị thất lạc. Cuộc kiểm kê này còn cho biết: vào lúc bấy giờ trong điện Cần Chánh còn lưu giữ 46 kim ấn và ngọc tỉ, 26 kim sách, trong đó có 3 kim sách khắc các bài Thánh chế mạng danh kim sách và nhiều kim sách khác đề niên hiệu các vua: Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân và Khải Định. Ngoài ra, còn có một số sách phong bằng bạc mạ vàng do triều đình tấn phong cho các hoàng thái hậu và thái tử. Tất cả những bảo vật này đã biến mất sau ngày nhà Nguyễn cáo chung.

Sau nhiều thập kỷ “im hơi lặng tiếng”, hiện nay nhiều bảo vật triều Nguyễn lại xuất hiện khá nhiều trong các bảo tàng và trong các cuộc bán đấu giá ở châu Âu. Bài viết này giới thiệu một số bảo vật bằng vàng của triều Nguyễn mà chúng tôi đã diện kiến hoặc có được thông tin và hình ảnh từ những hành trình theo dấu cổ vật Việt Nam ở hải ngoại mà chúng tôi đã theo đuổi trong nhiều năm qua:

 

Hiện vật thứ nhất là thanh kiếm, được cho là của vua Gia Long, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Quân đội (Musée de l’Armée) thuộc Điện Quốc gia Phế binh (Hôtel National des Invalides) ở Paris. Thanh kiếm gồm có hai phần: phần lưỡi dài khoảng một thước và phần chuôi ngắn bằng một phần năm lưỡi kiếm. Đầu chuôi kiếm tạo hình một đầu rồng (hay đầu con giao) làm bằng vàng có chạm trổ rất tinh xảo. Đầu rồng này nối với đốc kiếm làm bằng một dãy gồm bảy vòng ngọc thạch giống bảy đốt tre dính liền với nhau, thông qua những gờ nỗi bằng vàng và cuối cùng là một chiếc vòng vàng nằm giữa bốn chuỗi san hô và trân châu. Miệng rồng ngậm một băng mạ vàng, uốn hình vòng cung nối với bốn chuỗi san hô và trân châu ở cuối đốc kiếm, tạo thành cánh của đốc kiếm. Phía cuối cánh đốc kiếm có chạm trổ hình những chiếc lá bằng vàng và nạm những hạt kim cương. Lưỡi kiếm hơi uốn cong, làm bằng thép sáng ngời. Trên lưỡi kiếm, sát với phần đốc kiếm có khảm ba chữ Hán Thái A Kiếm bằng vàng, là tên của thanh kiếm. Theo nhà nghiên cứu Dominique Rolland, đây là thanh kiếm bảo kiếm của vua Gia Long, vốn được trưng bày trong Đại Nội Huế, nhưng đã bị người Pháp cướp đi trong sự kiện Kinh đô thất thủ vào tháng 7.1885. (Dominique Rolland, “Le sabre de l’Empereur Gia Long”, Bulletin de la Nouvelle Association des Amis du Vieux Hué, 9.2005, pp. 3-17).

 

Hiện vật thứ hai là chiếc chậu quán tẩy làm bằng vàng được đưa ra trưng bày trong cuộc triển lãm của nhà buôn bán đồ cổ Roger Keverne (London) vào mùa đông năm 2008. Đây là chậu dùng để cho vua rửa tay trước khi cử hành những đại lễ trong tông miếu triều Nguyễn. Chậu có đường kính 31,7cm. Vành trên miệng chậu có khắc dòng lạc khoản gồm 18 chữ Hán: Bát ngũ tuế kim, tam thập ngũ lượng lục chỉ bát phân, tượng tác tượng tứ phụng tạo, nghĩa là: làm bằng vàng 8,5 tuổi, nặng 35 lượng 6 chỉ 8 phân, do thợ ở đội 4 trong tượng cục vâng mệnh làm ra. Trong lòng khắc hình rồng 5 món cuộn tròn (đoàn long), mặt trời và mây. Vành miệng khắc chìm bốn đồ án long vân xen kẽ các dãi hồi văn hình hoa thị. Đường nét chạm trổ trên chậu rất tinh xảo, diệu nghệ, càng làm tăng giá trị của bảo vật. Theo ghi chép trong catalogue, chậu quán tẩy này có xuất xứ từ Hoàng cung Huế vào năm 1887, trước khi được bán cho ông Ralph Marty vào năm 1926. Theo khảo cứu của chúng tôi, thực ra, chiếc chậu bằng vàng này đã bị quân Pháp cướp khi họ tràn vào Đại Nội trong ngày 5.7.1885. Căn cứ vào ghi chép của linh mục Siefert thì có thể đây là một trong các bảo vật bị người Pháp lấy đi từ miếu nơi thờ các vua nhà Nguyễn trong Đại Nội Huế.

Hiện vật thứ ba là một sách phong bằng bạc mạ vàng, trước đây thuộc sưu tập của ông Hồ Đình Xuân ở Pháp, được đưa ra bán đấu giá ở Paris vào ngày 12.12.1996 với giá 9.500 francs. Đây là sách phong do vua Thiệu Trị tấn phong cho vợ là bà Vũ Thị Viên, từ hạng Lương tần lên hạng Lương phi vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Sách gồm 5 tờ 10 trang, kích thước 23cm x 14cm. Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội các triều Nguyễn biên soạn, thì sách phong cho các phi được làm bằng bạc mạ vàng, dài 5 tấc 4 phân (21,60 cm), rộng 3 tấc 2 phân 4 ly (12,96 cm), với hai tờ bìa khắc hình rồng mây, bên trong có 3 tờ sách khắc sách văn. Như thế, sách phong cho Lương phi Vũ Thị Viên có kích thước lớn hơn. Đây là một điều khá

đặc biệt. Nội dung sách văn tạm dịch như sau: “Thiệu Trị năm thứ 6, Bính ngọ, tháng Giêng, vượt qua ngày mồng Một,  Đinh tị, được 20 ngày (tức là ngày Bính tí). Thừa thiên hưng vận, Hoàng đế ban rằng: Trẫm nghĩ: Vương gia giáo hóa ưu tiên lấy biểu nghi làm chuẩn mực. Khánh lễ quốc gia, theo phép ra ân lớn tự bên trong. Chọn được ngày lành. Ban ra ân chiếu. Đoái nghĩ Lương tần họ Vũ: Con nhà danh giá, công lao. Tư cách đằm thắm thận trọng. Đoan trang tốt đẹp hết sức trợ giúp cung cấm, dạy bảo thuận hòa. Cung kính nết hạnh, dốc lòng phụng thờ bề trên, dịu dàng khuôn phép. Vui vẻ chiều ý đức Từ (tức bà Thuận Thiên Cao hoàng hậu). Khéo khôn nhận đầy sủng mệnh. Đúng dịp Trẫm mới lên tuổi sơ thọ (Lúc này vua Thiệu Trị đúng 40 tuổi, nên mới dùng sơ thọ), nên ân ban khắp chốn đất trời. Nay đang cậy đức lớn đức Từ, cần lớn lao để thêm long trọng. Dựa theo phép tắc. Để ngợi khen riêng. Nay đặc biệt tấn phong ngươi là Lương phi. Phi hãy: Cung nhận tiếng khen. Kính tuân giáo huấn. Thuận kính đúng theo khuôn mẫu, không có điều lầm lẫn, Phúc lành mới được nương nhờ, còn mãi chở che. Kính thay(Vĩnh Cao dịch). Theo sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, Lương phi Vũ Thị Viên là vợ thứ của vua Thiệu Trị và con gái của Phó vệ úy Vũ Hữu Lĩnh, người huyện Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên). Bà sinh ra 4 hoàng tử: Nguyễn Phúc Hồng Hưu (Gia Hưng vương), Nguyễn Phúc Hồng Kiện (An Phúc quận vương), Nguyễn Phúc Hồng Bàng, Nguyễn Phúc Hồng Thụ, và 2 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Ý Phương (Đồng Phú công chúa), Nguyễn Phúc Minh Tư. Cho đến nay, sách phong Lương phi Vũ Thị Viên là sách phong duy nhất bằng bạc mạ vàng vẫn còn tồn tại, vì ở Việt Nam và hải ngoại, người ta chỉ còn trông thấy một số đồng sáchthể sách (sách lụa) mà thôi, chủ yếu mang niên hiệu từ đời Tự Đức trở về sau.

 

Hiện vật thứ tư là trấn phong kích thước 20cm x 19cm, trước đây thuộc sưu tập của hoàng thái tử Bảo Long, được đưa ra bán đấu giá ở London vào năm 2008. Trấn phong làm bằng vàng, nặng 11,9 lượng. Phần trên trấn phong chạm lộng đồ án lưỡng long triều nhật (hai rồng chầu mặt trời); phần dưới chạm lộng đồ án long hàm thọ (rồng ngậm chữ Thọ); còn hai trụ ở hai bên trấn phong thì chạm hình rồng đoanh, đặt trên thân hai con kỳ lân làm bằng bạc, nặng 2,2 lượng. Thân của trấn phong khắc dòng chữ Hán: Vạn thọ tứ tuần đại khánh tiết, nổi trên nền hồi văn chữ Vạn liên hoàn. Trấn phong này là món quà của dân chúng An Nam mừng thọ vua Khải Định nhân dịp sinh nhật lần thứ 40 của vua (1924).

Hiện vật thứ năm cũng là một tấm trấn phong, nhưng gồm 4 tấm vàng liên kết với nhau, có tổng chiều dài là 57,50 cm, cân nặng 1,66 kg. Mặt trước trấn phong chạm nổi hình bản đồ Việt Nam (tấm thứ 1), cảnh chùa Thiên Mụ (tấm thứ 2), cảnh Phu Văn Lâu và Kỳ Đài Huế (tấm thứ 3); đồ án rồng mây và văn thủy ba (tấm thứ 4). Mặt sau trấn phong khắc những dòng chữ Hán, cho biết, đây là quà tặng của dân chúng An Nam cho hoàng thái tử Vĩnh Thụy vào năm 1923. Nội dung văn tự trên mặt sau trấn phong tạm dịch như sau: “Kính mong Hoàng thái tử sức khoẻ dồi dào, học hành thành đạt ở nơi trời Tây, sau này về nước kế vị vua cha, cai trị đất nước, xây dựng một đất nước Việt Nam tự do, thống nhất từ Bắc đến Nam, có sức mạnh và bình đẳng với các quốc gia khác trên thế giới. Đồng thời dân chúng cũng cầu chúc Hoàng đế Khải Định, Hoàng thái tử Vĩnh Thụy trường thọ, chúc triều Nguyễn trường tồn”.Trấn phong này thuộc bộ sưu tập của Cựu hoàng Bảo Đại, nhưng vừa được đưa ra bán đấu giá ở London vào năm 2008.

Cuối cùng là những chiếc kim bàikim khánh vừa được eBay rao bán đấu giá trên mạng internet cách nay vài tháng. Kim bài của vua Khải Định, làm bằng vàng, chính giữa khắc 4 chữ Hán Đại bang duy bình, xung quanh có gắn 10 viên hồng ngọc và các đường viền chạm hình lưỡng long. Kim khánh cũng làm bằng vàng, hai mặt đều chạm hình lưỡng long triều nhật, bao quanh các chữ Hán Khải Định ân tứ (mặt trước) và Báo nghĩa thù huân (mặt sau). Phía dưới kim khánh là hình vân khánh nối với những dãi tua, tất cả đều được kết bằng những hạt cườm ngũ sắc.

 

Kim khánh này được đặt trong một chiếc hộp bằng bạc, có khắc hoa văn lưỡng long triều nhật bao quanh một ô hình trái xoan ở giữa, có khắc bốn chữ Hán Khải Định niên tạo kèm theo chữ ký của nghệ nhân ở phía dưới, bên trái. Cuối cùng là một chiếc kim khánh hạng hai, cũng làm bằng vàng, có khắc ba chữ Hán An Tĩnh công. Cách nay một tháng, kim khánh An Tĩnh công này đã được bán với giá 1919 euro. Tất cả những kim khánh và ngọc khánh này đều thuộc quyền sở hữu của nhà sưu tập Andrè Hüsken ở Hamburg (Đức). Ngoài ra, trong sưu tập huy chương của đại sứ Ý Antonio Benedetto Spada, hiện đang trưng bày tại bảo tàng Légion d’Honneur (Paris), cũng có trưng bày 8 kim bài, 6 ngân bài cùng nhiều kim khánh, ngân khánh, kim bội và kim tiền. Các kim bài, kim khánh, ngọc khánh… này vốn là những vật tùy thân, cũng là các món trang sức của các bậc đế vương và thành viên trong hoàng gia. Đồng thời đó cũng là những vật thể hiện địa vị và đẳng cấp của người sở hữu chúng. Ngoài ra, các vua triều Nguyễn còn dùng kim bài, kim khánh, ngọc khánh làm vật phong tặng, quà kỷ niệm hay để ân thưởng cho quý tộc và quan lại cao cấp trong những dịp đặc biệt. Tất cả đều là bảo vật truyền gia của vương triều Nguyễn, nhưng nay đang lưu lạc nơi đất khách quê người. Thật là đáng tiếc lắm thay.

P.T. – T.Đ.A.S.

Chú thích ảnh:

Bảo vật 01: Thái A kiếm của vua Gia Long đang trưng bày ở Bảo tàng Quân đội (Paris)Bảo vật 02: Chậu quán tẩy làm bằng vàng.

Bảo vật 03: Sách phong Lương phi Vũ Thị Viên bằng bạc mạ vàng.

Bảo vật 04: Trấn phong bằng vàng, tặng vật nhân dịp Tứ tuần đại khánh của vua Khải Định vào năm 1924.

Bảo vật 05: Trấn phong bằng vàng, tặng vật của dân chúng An Nam cho hoàng thái tử Vĩnh Thụy vào năm 1923.

Bảo vật 06: Kim khánh của vua Khải Định, mặt trước khắc dòng chữ Khải Định ân tứ, do nhà sưu tập Andrè Hüsken rao bán trên eBay.

Bảo vật 07: Kim bài khắc dòng chữ Đại bang duy bình của vua Khải Định, do nhà sưu tập Andrè Hüsken rao bán trên eBay.Bảo vật 07b: Kim khánh của vua Khải Định, mặt sau khắc dòng chữ Báo nghĩa thù huân, do nhà sưu tập Andrè Hüsken rao bán trên eBay.

Bảo vật 08: Kim khánh khắc hai chữ Sắc tứ bằng vàng nạm ngọc trai, trong sưu tập của đại sứ Ý Antonio Benedetto Spada, hiện đang trưng bày tại bảo tàng Légion d’Honneur (Paris).

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

Kỷ niệm và triển lãm 100 hiện vật tiêu biểu văn hóa Sa Huỳnh

100namsahuynh

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội) hôm nay (8-7-2009) đã khai mạc triển lãm 100 hiện vật tiêu biểu của văn hoá Sa Huỳnh nhân kỷ niệm 100 năm phát hiện nền văn hoá này.

Mộ nồi úp bình được phát hiện tại di chỉ văn hoá Sa Huỳnh ở Hà Tĩnh.

Mộ nồi úp bình được phát hiện tại di chỉ văn hoá Sa Huỳnh ở Hà Tĩnh.

Từ năm 1909 đến nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều hiện vật quý làm sáng tỏ nguồn gốc, niên đại, chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh. Qua đó chứng minh nét bản địa của nền văn hoá này, cũng như sự giao lưu, tiếp biến với các nền văn hoá khác trong và ngoài nước.

Nhân dịp này, một hội thảo quốc tế mang tên “100 năm phát hiện, nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh” sẽ được tổ chức tại tỉnh Quảng Ngãi, từ ngày 20 đến ngày 24-7. Hội thảo do Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Khoa học xã hội Việt Nam và UBND tỉnh Quảng Ngãi thực hiện.

100 năm phát hiện di tích văn hóa Sa Huỳnh

Đã 100 năm kể từ ngày một người Pháp tên là M. Vinet có thông báo ngắn và sớm nhất về sự có mặt của di tích Sa Huỳnh trong tập san của Trường Viễn Đông Bác cổ. Từ đó đến nay, nền văn hóa mang tên một địa danh của huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, đã được xác lập, nghiên cứu sâu.

Sưu tập hiện vật gốm tập trung và điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh

Sưu tập hiện vật gốm tập trung và điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh

Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học, cho biết từ những tư liệu của các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước, có thể xác định về mặt niên đại đây là nền văn hóa thuộc thời đại Kim khí, khi con người đã biết đến việc chế tác và sử dụng kim loại.

Văn hóa Sa Huỳnh có niên đại vào khoảng 500 năm trước Công nguyên đến đầu Công nguyên. Đây là 1 trong 3 đỉnh của tam giác văn hóa Việt Nam cổ: Đông Sơn-Sa Huỳnh-Óc Eo.

Về địa bàn phân bố, văn hóa Sa Huỳnh phân bố chủ yếu ở miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Khu vực tìm được đậm đặc nhất di tích Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh chính là hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Các địa điểm có di tích thường tập trung ở ven biển, nhất là khu vực cửa các con sông lớn đổ ra biển như sông Trà Bồng, Trà Khúc hoặc các vịnh biển như Sa Huỳnh, Cam Ranh. Các di tích gồm có các khu mộ táng lớn, thường chôn trong các mộ vò hay chum mà các nhà khảo cổ Pháp gọi là “bãi mộ chum”.

Đồ gốm Sa Huỳnh có những loại hình đồ gốm khá phát triển như nồi, bát, bình con tiện, chậu, vò… Đồ gốm được trang trí rất đẹp bằng cách tô màu, khắc vạch, in vỏ sò, tô ánh chì đen.

Sa Huỳnh còn có chum gốm để chôn người chết. Những chum này có nắp đậy và tô màu đỏ, trang trí hoa văn khắc vạch ngoài thân. Đặc biệt, người Sa Huỳnh đã sáng tạo ra các loại khuyên tai độc đáo và có sức giao lưu lan tỏa khá rộng khắp các vùng Đông Nam Á.

Họ còn sáng tạo nhiều đồ trang sức thủy tinh như các loại hạt cườm, hạt chuỗi rất đẹp, trang sức mã não đỏ…

Vào khoảng đầu Công nguyên, cách đây khoảng 2.000 năm, văn hóa Sa Huỳnh có sự chuyển biến thành nền văn hóa Chăm. Khi đó, tộc người vẫn là người Chăm cổ, tức người Sa Huỳnh trước đó, nhưng nền văn hóa đã có sự thay đổi, tự thân vận động mà cũng có giao lưu mạnh mẽ với những nền văn hóa khác như Đại Việt ở miền Bắc, Hán ở phương Bắc, với Ấn Độ và các văn hóa đến từ phía tây như Thái Lan.

Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải cho biết trải qua 200 năm, vẫn có thể thấy được một số nét văn hóa Sa Huỳnh vẫn còn được lưu giữ tới ngày nay. Một số đồ trang sức của đồng bào dân tộc miền núi của miền Trung nước ta vẫn thích đeo đồ trang sức như cư dân Sa Huỳnh đã từng đeo. Đó là các loại hạt chuỗi mã não màu đỏ óng ánh.

Một số dân tộc ở tỉnh Quảng Nam ưa loại mã não này, thậm chí gần đây, một vài hạt mã não có thể đổi được cả một con trâu. Một số tộc người như người H’Rê ở Quảng Ngãi hiện còn đeo khá nhiều hạt cườm và hạt chuỗi giống hệt như cách đây hai ngàn năm.

Một số phong tục tập quán thể hiện trong cách chôn cất của người Sa Huỳnh có thể gặp được ở một số dân tộc Tây Nguyên trước đây. Việc người Sa Huỳnh rất thạo công việc luyện sắt cũng được một số dân tộc ở Tây Nguyên tiếp thu sau này.

Hình ảnh hiện vật triển lãm:

100namsahuynh-3

100namsahuynh-4

100namsahuynh-5

100namsahuynh-6

Khuyên tai 3 vầu

Khuyên tai 3 vầu

Khuyên tai 2 đầu thú

Khuyên tai 2 đầu thú

KhanhHoaThuyNga tổng hợp tin

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

tlth03

Một số bộ sưu tập cổ vật tư nhân trưng bày tại Thanh Hóa nhân kỷ niệm 30/4 và 1/5 2009

tlth01

tlth02

Nguồn tin: Tuấn Dần

Một số hình ảnh trưng bày cổ vật, của các nhà sưu tầm cổ vật Thanh Hóa , nhân ngày kỉ niệm 205 năm thành lập tỉnh lị,  15 năm thành lập Thành phố Thanh Hóa. Kỉ niệm ngày chiến thắng 30-4 và ngày quốc tế lao động 1-5-09 tại quảng trường Lam Sơn ,thanh hóa từ ngày 28/4 đến 5/5/2009: ( click trên ảnh để xem fullsize)

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

Festival Biển 2009: Sẽ có nhiều hoạt động triển lãm
Nguồn: Báo Khánh Hòa
Festival Biển 2009 sẽ có nhiều hoạt động triển lãm văn hóa – nghệ thuật như: tranh, ảnh, cổ vật, đồ gốm… Tuy không phải là chương trình “đinh”, nhưng những hoạt động triển lãm luôn tạo được dấu ấn trong các kỳ Festival, góp phần giới thiệu bản sắc văn hóa xứ Trầm Hương. Hiện nay, các đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) Khánh Hòa đang tích cực chuẩn bị cho các triển lãm này.

Theo kế hoạch, Festival Biển 2009 sẽ có nhiều hoạt động triển lãm như: Triển lãm gốm và dệt thổ cẩm Chăm (tại Tháp Bà Ponagar), triển lãm gốm mỹ nghệ Chăm (công viên bờ biển đầu đường Nguyễn Chánh – Trần Phú) của Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Gốm mỹ nghệ Nhất Chi Lan, triển lãm ảnh “Nét đẹp xứ Trầm Hương” (công viên bờ biển cạnh Quảng trường 2-4), triển lãm thư pháp (Hội quán Hòn Chồng), triển lãm cổ vật (Bảo tàng tỉnh, 16 Trần Phú, Nha Trang)…

Để chuẩn bị cho triển lãm ảnh “Nét đẹp xứ Trầm Hương”, mới đây, lãnh đạo Sở VH-TT-DL cùng Trung tâm Văn hóa – Thông tin tỉnh đã có buổi họp mặt với các nghệ sĩ nhiếp ảnh xứ Trầm Hương, kêu gọi các nghệ sĩ gửi tác phẩm tham gia triển lãm (hạn cuối gửi tác phẩm là ngày 15/5). Về vấn đề này, ông Nguyễn Hữu Bài – Phó Giám đốc Sở VH-TT-DL cho biết: “Chúng tôi đã có buổi gặp mặt các nghệ sĩ nhiếp ảnh để nói rõ mục đích, ý nghĩa của triển lãm trong dịp Festival Biển 2009; kêu gọi các tác giả gửi tác phẩm để Ban tổ chức tuyển chọn… Triển lãm ảnh “Nét đẹp xứ Trầm Hương” đã trở thành một thương hiệu của Khánh Hòa, đó là đề tài “mở” nên tác phẩm tham gia triển lãm rất phong phú, có cái nhìn đa chiều về thiên nhiên – con người – văn hóa xứ Trầm Hương. Bởi thế, tôi tin rằng triển lãm sẽ thành công”. Được biết, triển lãm “Nét đẹp xứ Trầm Hương” sắp tới sẽ có khoảng 200 tác phẩm của các nghệ sĩ nhiếp ảnh ở Khánh Hòa. Ngoài ra, triển lãm còn có 50 tác phẩm của các nghệ sĩ nhiếp ảnh đến từ tỉnh Morbihan (Pháp).

Bên cạnh triển lãm nhiếp ảnh, triển lãm cổ vật ở Bảo tàng tỉnh cũng là một hoạt động đáng chú ý. Những năm gần đây, do Bảo tàng tỉnh vẫn đang trong quá trình sửa chữa nên hoạt động trưng bày, triển lãm có phần bị hạn chế. Vì thế, việc tổ chức một cuộc triển lãm cổ vật trong những ngày diễn ra Festival Biển 2009 là một nỗ lực đáng ghi nhận của Bảo tàng tỉnh. Theo ông Nguyễn Hữu Bài: Bảo tàng tỉnh sẽ phối hợp với Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh tổ chức triển lãm. Trong đó, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh sẽ tham gia trưng bày 200 cổ vật quý hiếm được trục vớt từ các con tàu đắm trên các vùng biển Việt Nam; phía Khánh Hòa sẽ có các hiện vật quý được phát hiện qua các đợt khai quật từ các di chỉ khảo cổ học trong tỉnh như: Xóm Cồn, Hòa Diêm, Văn Tứ Đông… và một số trống đồng được tìm thấy trên đất Khánh Hòa.

Một hoạt động triển lãm khá mới ở Festival lần này là Hội chợ tranh nghệ thuật. Theo kế hoạch của Sở VH-TT-DL, Hội chợ tranh nghệ thuật sẽ có khoảng 20 gian hàng tranh của các họa sĩ, nhà điêu khắc xứ Trầm Hương. Ngoài việc trưng bày, giới thiệu mỹ thuật Khánh Hòa, tại Hội chợ tranh sẽ có một số họa sĩ vẽ ký họa chân dung cho khách du lịch. Có thể nói, việc tổ chức Hội chợ tranh nghệ thuật là một nét mới của Festival biển 2009. Đó là tiền đề để Khánh Hòa xây dựng một hội chợ tranh có tầm cỡ quốc gia.

Các triển lãm gốm như: triển lãm gốm mỹ nghệ Chăm của DNTN Nhất Chi Lan, triển lãm gốm và dệt thổ cẩm Chăm của đồng bào Chăm ở Tháp Bà Ponagar cũng góp phần giới thiệu bản sắc văn hóa xứ Trầm Hương – một vùng đất có sự giao lưu, hòa quyện văn hóa Việt – Chăm. Theo kế hoạch DNTN Gốm mỹ nghệ Nhất Chi Lan trình bày với Sở VH-TT-DL, triển lãm gốm Chăm của DN này sẽ có khoảng 200 sản phẩm được trưng bày theo từng chủ đề: gốm làm tiểu cảnh, gốm trang trí ở sân vườn, gốm trang trí nội thất…

Có thể nói, các hoạt động triển lãm (tranh – ảnh – gốm nghệ thuật – thư pháp) là một mảng quan trọng trong tổng thể các hoạt động Festival Biển 2009. Các hoạt động triển lãm không chỉ tạo nên một điểm vui chơi cho du khách đến với Festival, mà qua đó còn góp phần giới thiệu vẻ đẹp thiên nhiên, con người, bản sắc văn hóa xứ Trầm Hương. Hy vọng, với sự chuẩn bị nghiêm túc, kỹ lưỡng của Sở VH-TT-DL và những đơn vị liên quan, các hoạt động triển lãm sẽ là điểm nhấn của Festival Biển 2009.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »