Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘trà cụ’

 

Viết theo nhiều nguồn tư liệu sưu tập

Quyển ba: Trà phong. (Biên khảo)

Lời tựa 2

1.- Trà nghi Nhật Bản. (Nghi thức trà Nhật Bản)

2.- Trà pháp Trung Hoa. (Khuôn phép trà Trung Hoa)

3.- Trà phong Việt Nam. (Phong thái trà Việt Nam)

4.- Panyaro: Trà lễ Hàn Quốc. (Nghi lễ trà Hàn Quốc)

5.- Tập quán uống trà ở một số nước khác.

Phụ lục 4: Bản dịch Panyaro (dịch theo bản tiếng Pháp, có đối chiếu bản tiếng Anh)

Phụ lục 5: Tư liệu khoa học về trà

Tài liệu tham khảo.


 

Một hôm trong lúc trà dư tửu hậu có người hỏi: “Việt Nam mình có trà đạo không?”.

Thế là tranh cãi om xòm, đúng là “tản mạn chuyện trà, la cà chuyện rượu”. Bất chợt tôi nói: “Thế Đạo là gì? Hiểu được chữ này mới nói Việt Nam có trà đạo hay không chứ!”. Chủ đề chuyển sang định nghĩa thuần túy chữ “đạo” thay vì bàn “Trà đạo là gì?”.

Rồi lại ồn ào chẳng kết luận được gì!?

Vậy đạo là gì? Đành tìm định nghĩa trong sách vở thôi!. Rồi cũng tìm thấy trong cuốn “Từ Điển Tiếng Việt” do giáo sư Hoàng Phê chủ biên như sau: Đạo là có ba phạm trù:

–               Đường lối, nguyên tắc mà con người phải giữ gìn và tuân theo trong cuộc sống xã hội như đạo làm người, đạo vợ chồng, ăn ở cho phải đạo …

–               Nội dung học thuật của một học thuyết được tôn sùng ngày xưa, như tầm sư học đạo, mến đạo thánh hiền …

–               Một tổ chức tôn giáo, như đạo Thiên chúa, đạo Phật, đạo Hồi, đi đạo …

Nghe qua thì thấy đủ, nhưng trường hợp như võ đạo, hoa đạo, … thì không có trong định nghĩa này. Càng không phù hợp với khái niệm ‘Đạo” của Lão Tử. Võ đạo và hoa đạo là một khái niệm hòa điệu của nghệ sĩ với nghệ thuật hay của người võ sĩ với võ học, mà xưa kia dùng cụm từ “tâm thân hợp nhất” để chỉ. Nên ở tầm cao nào đó, Trà đạo đòi hỏi một khái niệm như võ đạo hay hoa đạo mới chính xác; nếu không chỉ là kỹ năng nghệ thuật và phẩm cách văn hóa uống trà mà thôi. Nếu hiểu như vậy chẳng thể nào bàn về Trà đạo, chỉ có thể luận về trà mà thôi.

Trà theo định nghĩa thứ nhất của Hoàng Phê chỉ mới là văn hóa trà, ở đó có những đường lối và nguyên tắc chế biến và thưởng thức mà trà nhân tuân theo. Với định nghĩa thứ hai, trà không phải là thứ tự thân có học thuyết buộc thiên hạ tôn sùng. Còn định nghĩa thứ ba lại càng không phải, vì trà không phải là vật thiêng để người ta sùng bái như thờ cúng một thần linh. Vậy trà đạo là gì? Bản thân một mình trà chỉ là loài thảo mộc bình thường như muôn vàn cây cỏ khác, nó được trở thành cái gọi là “trà đạo” vì trong nghệ thuật chế biến và thưởng dụng trà người ta lồng vào một triết lý. Ví dụ 4 chữ “Hòa, Kính, Thanh, Tịch” của Lợi Hưu mà hồn nó đang mất dần.

Còn luận là xem xét, biện biệt một vấn đề để rút ra cái hay cái dở, cái đúng cái sai trên nền tảng lý thuyết cao hơn của vấn đề được đề cập. Do vậy luận không tránh khỏi va chạm những quan niệm đã biến thành thành kiến xã hội, nhất là khi quan niệm đó xuất ra từ một hay nhiều “đại thụ” trong cùng một lãnh vực. Điều này đã xảy ra rồi: khi Daisetz Teitaro Suzuki viết bộ Thiền Luận đã vấp phải sự chống đối của giới tăng lữ Nhật Bản đương thời. Nhưng khi tác phẩm được giới Phương Tây ca ngợi thì nó trở thành “cây đa, cây đề”. May mà Daisetz Teitaro Suzuki không là bản sao của Copernicus hay Galileo của thời Trung Cổ ở Phương Tây.

Điều đáng lo là khi viết luận mà run sợ trước những “cây đa, cây đề”; cứ nhắm mắt theo đó mà bàn, lúc đó nó trở thành bài tán thán chứ không còn là luận nữa. Nó giống như thắp thêm một cây nhang cho cây đa đã có thần ngự và trở thành linh thiêng từ lâu rồi.

Đức Chính

Mùa Xuân năm Canh Dần   -2010


I.- Trà nghi Nhật Bản

Trà khởi đầu du nhập vào Nhật qua đường Thiền tông như đã giới thiệu nhiều lần ở các chương trước. Lúc đó hẳn lối uống trà của Nhật khác với bây giờ chỉ mang tính chất thành kính tưởng niệm đến sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma theo tập quán Hoa Nam. Các thiền sư Hoa Nam thường uống trà trước tượng của vị sơ tổ này sau một lúc tưởng niệm .

Hai thiền sư du nhập trà-thiền vào Nhật đựơc ghi nhận sớm nhất là Tối Trừng (Saicho – 最澄) và Không Hải (Kukai – 空海). Cũng cần nhắc qua Tối Trừng là người du nhập Thiên Thai Tông qua Nhật, và quan niệm muốn đạt Phật quả hành giả phải sống một đời sống trong sạch và tu tập chỉ quán (chỉ là dừng tâm thức vào vô phân biệt tức bất nhị và quán là xem xét sự thật). Còn Không Hải du nhập Chân Ngôn Tông vào Nhật, cũng là người khởi xướng kết hợp Thần Đạo với Phật giáo. Hai dòng phái này chắc chắn có ảnh hưởng đến thời kỳ đầu của Trà đạo Nhật, nhưng nay bị phai mờ mất nhiều.

Đến thế kỷ 16, thiền sư Lợi Hưu (Rikyu – 利休) đề ra bốn chữ “Hòa, Kính, Thanh, Tịch” (wa kei sei jaku – 和敬清寂) nghĩa là đòi hỏi bốn nguyên tắc: hòa điệu với môi trường, tôn kính muôn vật, tinh khiết sạch sẽ, và vắng lặng tịch mịch. Bốn chữ này mang dấu ấn của Thiền Nam Tông. Trong đó chữ tịch (sabi – 寂) được Daisetz Teitaro Suzuki bình: “Để kết luận: tinh thần Vĩnh Tịch (viviktadharma), tức tinh thần của Thiền tự bộc lộ dưới danh hiệu “Sabi” (Tịch) trong các bộ môn nghệ thuật khác nhau của đời sống, như thuật làm vườn cảnh, trà đạo, hội họa, cắm hoa, trang phục, trang trí, trong cách sống, trong vũ điệu nô, thi ca, vân vân. Tinh thần này bao gồm những yếu tố như: giản dị, tự nhiên, không câu nệ, tế nhị, tự do, thân thiện nhưng tỏ ra hững hờ kỳ lạ, và cái chung đụng thường nhật được bao phủ tuyệt diệu với làn sương mù hướng nội siêu việt.” (Thiền Luận – 19).

Nhưng các thiền sư Nhật Bản mang từ Trung Quốc về không chỉ chừng ấy. Các ngài mang cả tinh thần và phương pháp thiền của vùng Hoa Nam, đầy đủ những thâm trầm và tinh tế vốn có của dòng thiền này. Bản thể của Thiền Nam Tông và mối liên quan đến trà như thế nào đành để nói ở chương “Trà pháp Trung Hoa” có lẽ sẽ phù hợp hơn, ở đây chỉ muốn nhìn lại dòng tư tưởng đó như thế nào ở Thiền Nhật Bản.

Ví dụ cuốn Góp Nhặt Cát Đá trích trong Thiền truyện mẫu chuyện sau: Thiền sư Ikkyu từ lúc bé đã rất thông minh. Thầy của Ikkyu có một cái tách trà xưa rất quí và hiếm có. Ikkyu lỡ tay đánh vỡ tách trà, lòng rất xao xuyến. Nghe tiếng chân thầy đến gần, Ikkyu nhanh nhẹn giấu những mảnh vỡ ra đàng sau. Khi thầy đến, Ikkyu hỏi: “Thưa thầy, tại sao người ta phải chết?”. Ông thầy già cắt nghĩa: “Đó là lẽ tự nhiên. Mọi vật đều phải chết vì đã sống lâu rồi.” Ikkyu đưa cái tách vỡ ra nói: “Thế là đã đến lúc cái tách của thầy phải chết.”

Nếu thừa nhận chân lý trong câu chuyện này, thì câu chuyện người võ sĩ đạo hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ bức tranh quý vẽ Bồ Đề Đạt Ma là phi lý.

Cũng với nguồn viện dẫn như trên có câu chuyện sau: Nan-in, một Thiền sư Nhật sống vào thời Minh Trị (1868-1912), tiếp một giáo sư đại học đến hỏi về Thiền. Nan-in mời trà. Ông đã rót đầy tách của khách nhưng vẫn tiếp tục rót thêm. Vị giáo sư ngồi nhìn nước trong tách tràn ra cho đến khi không kiềm mình được nữa: “Đầy quá rồi. Xin đừng rót nữa”. Nan-in nói: “Giống như cái tách này, ông cũng đầy ắp những quan niệm, những tư tưởng của ông. Làm sao tôi có thể bày tỏ Thiền cho ông được, trừ phi ông cạn cái tách của ông trước?

Phải chăng Trà nghi Nhật bản vốn đã đầy ắp mà cứ vẫn rót thêm chăng?! Câu hỏi này lôi chúng ta ngược dòng lịch sử của văn hóa trà Nhật Bản.

*****


Theo tư liệu trà du nhập vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ 9, do công của các thiền sư, nổi bật là thiền sư Tối Trừng (Saicho – 最澄) năm 805 và tiếp liền sau đó là thiền Không Hải (Kukai – 空海) năm 806.[1] Lúc đó cách thức dùng trà của Nhật chịu ảnh hưởng nặng của thiền phái Trung Hoa được các thiền sư Nhật tham học và cũng có một ít trà thư được viết ra trên nền tảng cuốn Trà Kinh của Lục Vũ (dấu vết lưu lại đến hiện nay là món mạt trà vẫn còn dùng). Lúc đó là thời kỳ Nại Lương (Nara), Phật giáo được sùng kính với nhiều danh lam được xây dựng như chùa Pháp Long Tự (Hôryuji) hiện vẫn còn. Giới tăng sĩ theo đó mà phát triển trào lưu uống trà. Nhưng thời đó trà chỉ phổ biến trong giới tăng lữ và hoàng tộc vì còn phải nhập từ Trung Hoa về và dùng như một thứ dược phẩm. Mãi đến cuối đời Đường mới chuyển thành thức uống, nhưng tiếp đó sóng gió trong quan hệ hai nước Nhật-Trung khiến trà trong suốt hai thời kỳ Phật giáo Nại Lương và Phật giáo Bình An (Heian – 794-1192) là thứ hàng quý hiếm, nên tập quán uống trà càng co hẹp. Có thể nói thời này chưa thể coi Nhật Bản có nền văn hóa trà.

– Thời kỳ Phật giáo Liêm Thương (Kamakura): Năm 1187, thiền sư Minh Am Vinh Tây (Myoan Eisai – 明菴榮西: 1141-1215) qua Trung Hoa nghiên cứu đạo học và mang về Nhật hạt giống trà. Ban đầu ông chỉ trồng với mục đích tôn giáo và tự dạy môn sinh chế thứ mạt trà theo truyền thống đang dùng bấy giờ ở Trung Hoa, dựa vào tác phẩm Đại Quan Trà Luận của hoàng đế Tống Huy Tông. Đến năm 1211 Minh Tây Vinh Am mới viết cuốn Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký (kissa yōjōki – 喫荼養生記) đề cao cây trà có lợi cho sức khỏe và trị được một số bệnh như kém ăn, phong thấp, bại sụi, … và nhiều chứng rối loạn khác. Trà từ đó nổi tiếng và lan truyền rộng trong nước, dĩ nhiên một phần nhờ đã trồng được ở nhiều nơi. Sau ông còn có Không Dã Thượng Nhân (Myoe Shonin – 空也上人) mang về giống trà khác trồng và phát triển thành trà Vũ Trì (Uji).

– Trà vào thế kỷ 13 và giai cấp võ sĩ đạo (Samurai): Bấy giờ trà rất phổ biến nên nhu cầu tiêu dùng thúc đẩy các vườn trà mọc lên khắp nước Nhật. Thời đó người Nhật rất tôn kính tầng lớp võ sĩ đạo (samurai), và tầng lớp này lại có thái độ sùng kính nền văn hóa Tống của Trung Hoa. Vậy nên, môn uống trà cũng rất yêu thích. Nghi thức trà Trung Hoa được truyền bá và phát triển thành một thứ nghi lễ trà.

Năm 1333, Liêm Thương thất thủ, chiến tranh loạn lạc khắp nước Nhật. Một giai cấp mới nổi lên gọi là giai cấp Gekokujou. Tầng lớp quý tộc mới này thường tổ chức các buổi tiệc trà (Toucha) chiêu đãi bè bạn, gây nhiều sự chú ý của công chúng. Thường trong các buổi tiệc trà này chủ và khách thường thách đố nhau về sự sành sõi các loại trà, người có tài nếm trà giỏi trở thành trọng tâm đầy vinh dự của buổi tiệc. Rồi người ta đua nhau xem ai uống nhiều và uống giỏi, trà trở thành một mốt thời thượng và đua đòi, mất đi nếp văn hóa cũ. Sau một thời thác loạn, người ta bắt đầu nhìn lại vấn đề và chấn chỉnh lại. Giai cấp chấn chỉnh và lưu lại tập quán Trà nghi đến ngày nay là giai cấp võ sĩ đạo (samurai).


– Trà nghi vào thời kỳ Thất Đinh (Muromachi – 室町时代): trong thời ký này kiến trúc Nhật chuyển từ phong cách đền đài đồ sộ của thời kỳ Bình An (Heian) qua phong cách giản đơn hơn dành cho các võ sĩ đạo (samurai), rồi lại chuyển từ phong cách võ sĩ đạo qua phong cách Shoin (Thần đạo) mang dáng dấp đền thờ. Trà nghi Nhật Bản kế thừa một số thành tố trong kiến trúc đền thờ, chẳng hạn sàng gian (Tokonoma – 凹間), đôi kệ (Chigaidana) ở một bên sàng gian, còn bên kia kê cái bàn (Tsuke-shoin). Dĩ nhiên trong phong cách Thần đạo đó có chiếu tatami trải sàn thuộc ảnh hưởng Thiền tông. Giới võ sĩ đạo quý tộc có sở thích riêng trong trang trí sàng gian: hai kệ ở một bên sàng gian, bàn Shoin đặt cố định và trên đó để những vật dụng nhỏ một cách có mỹ thuật.


– Thôn Điền Châu Quang (Murata Jukō – 村田珠光) 1423-1502: là người khai sinh ra trà thang Chanoyu. Đến thời kỳ này trà thang được các võ sĩ đạo (samurai) tổ chức trong gian phòng nhỏ và ít xa hoa hơn. Gian trà thất đó có tên là Kakoi do thiền sư Thôn Điền Châu Quang (Murata Jukō – 村田珠光) thiết kế ra. Thiền sư này sau được tôn xưng ông tổ trà nghi vì nghi thức và tinh thần thưởng trà do sư đề ra.

Sự kiện này có nguyên do kể sau thời gian tu học Phật và tiếp xúc trà-thiền Hoa Nam, sư bắt đầu bén mùi trà thiền và dành trọn cuộc đời còn lại cho trà: dựng trà thất ở Nại Lương (Nara) để hoàn thiện trà nghi và truyền dạy nghệ thuật này. Phong cách trà của sư là tìm sự thân tình trong gian phòng nhỏ và tự tay hầu trà cho khách, nơi đó chỉ chừng 5-6 người. Với lượng khách như thế trà thất chỉ có 4 tấm chiếu rưởi và tạo một không khí tĩnh lặng trong lễ trà thang. Triết lý của sư động ở sự giản lược tinh tế và ý nghĩa của màu trang nhã nơi bộ trà cụ. Nền tảng đó là tinh yếu cho các nghi thức trà sau này.

Từ đó về sau trà được nghi thức, như một “giới luật” cho một thứ tôn giáo; lâu dần khắt khe chẳng kém “Thanh quy của Bách Trượng[2] chốn Thiền môn. Có giới quy là tốt, nhưng cũng có mặt trái của nó. Cái gì cũng vậy, khi quá trọng hình thức thì phải hy sinh nhiều về mặt tinh thần. Các nghi thức trà của Nhật cũng vậy, khi quá cứng ngắt, nặng nề thì hình như tôn chỉ ban đầu của người đưa văn hóa trà vào Nhật Bản bị lợt lạt đi nhiều.

Một khi đã có tôn ti thì hình như cũng có sự biệt hóa. Từ tinh thần ban đầu, trà nghi Nhật Bản chia ra nhiều trường phái[3] mà dễ dàng thấy có hai trường phái lớn sau đây: OmotesenkeUrasenke; mỗi trường phái có nghi lễ riêng. Rồi trong mỗi trường phái vừa nói lại chia ra nhiều phái nhỏ có những biến thể riêng về thời điểm thực hiện lễ nghi, cách pha chế trà, đến cả những thứ trà cụ dùng trong nghi lễ.

Hiện nay các câu lạc bộ uống trà tại Nhật thường theo phái Trà nghi của địa phương mình. May sao các phái lớn phái nhỏ trong Trà đạo Nhật Bản vẫn còn giữ lại một số nét chung: chủ nhà dù đàn ông hay đàn bà đều phải mặc bộ kimono truyền thống trong buổi lễ nghi thức trà, buổi trà nghi được tổ chức trong trà thất (có thể là một căn nhà nhỏ trong vườn hay một gian phòng trong nhà), khách mời dự phải chờ ngoài vườn cho đến khi chủ nhà mời vào, tập quán vệ sinh đồ dùng và cơ thể khi uống trà, …

Trong phạm vi cuốn sách này chỉ có thể giới thiệu những nét chung nhất còn giữ lại của các trường phái trà Nhật Bản nhằm bổ sung những điểm Okakura Kakuzo chưa nói hay nói sơ lược. Qua đó chúng ta thấy rõ chủ đề chính của tác giả cuốn « The Book of the tea » muốn vươn đến là tinh thần Trà đạo hơn là hình thức của nó, và cũng là lý do cuốn sách đó được dịch làm thành quyển 2.


Trà thất: tiếng Nhật gọi là Chashitsu (茶室), có liên quan với chữ chasekinơi uống trà”, bao gồm bất kỳ nơi nào người ta ngồi uống trà được. (trà tịch – 茶席), nghĩa rộng là “

Xưa kia các thiền tăng Nhật có tập quán uống trà nơi thiền đường, trước tượng Bồ Đề Đạt Ma. Thiền đường là nơi thanh tịnh tu tập không giống như bái đường của chùa chiền ; thiền đường là nơi bài trí đơn sơ vừa làm chỗ tu tập vừa làm chỗ nghỉ ngơi cho thiền sinh. Daisetz Teitaro Suzuki mô tả thiền đường trong cuốn Thiền Luận như sau: “Chẳng hạn như ở Chùa Viên Giác[4], tại Liêm Thương, Thiền đường dài độ 65 bộ Anh và ngang 36. Hai dãy sàn, ngang độ 8 bộ, và cơi cao lên 3 bộ, chạy dài suốt hai bên, còn ở giữa thì để trống trơn. Đó là khoảng trống dành cho khóa lễ gọi là kinh hành. Giới han dành cho mỗi tăng sĩ trên sàn nhà không quá diện tích của một chiếc chiếu 3 bộ trên 6,[5] trong khoảng ấy họ nằm ngồi, tham thiền, và ngủ luôn ban đêm.” (Luận 7 – Thiền đường và Thanh quy). Mặt bằng của trà thất cũng chiếu theo quy cách một thiền đường. Do vậy trà thất là dấu ấn rõ nhất của Thiền tông trong văn hóa trà Nhật Bản. Một gian trà  thất có số tatami[6] (Hán Việt: điệp tịch – 疊蓆) tùy theo lớn nhỏ, nhỏ thì 1,5 tatami, lớn thì 10 hay hơn nũa; nhưng thường một trà thất lý tưởng rộng 4,5  tatami. Trà thất có thể đơn giản là một gian phòng trong nhà dành để trà thang; nếu có điều kiện trà thất nên là một căn nhà nhỏ trong vườn. Nhưng nếu là nhà nhỏ trong vườn thì phải có lối đi gọi là roji (lộ địa – 露地; lối đi có sương). Tùy theo ý thích của chủ nhân trà thất có nhiều tên riêng như : Mugai-an (Vô Ngoại Am 無外庵, có nghĩa am nhỏ không cho người lạ vào), Mokurai-an (Ngữ Lôi Am 黙雷庵, am nhỏ ở nơi sấm dậy im lìm), Tokyū-dō ( Đông Cầu Đình 東求堂, có nghĩa cái đình tạ hướng tìm về phương đông), Shō-an (Tùng Am 松庵, có nghĩa am nhỏ ở nơi có cây tùng), Ichimoku-anRokusō-an (Lục Song Am 六窓庵, có nghĩa am nhỏ có 6 cửa sổ), Bōji-tei (Nhất Mộc Am 一木庵, có nghĩa am nhỏ nơi chỉ có một cây mọc), (Vong Lộ Đình 忘路停, có nghĩa đình tạ làm người ta quên mất đường về), …

Còn theo cuốn “Phố Thị Sơn Trú Cư”, sử gia Nhật Moriya Takeshi cho rằng trà thất xuất hiện vào Thời Đại Thất Đinh (Muromachi – 室町时代), lúc đó có dạng một túp lều tranh sơn dã. Còn trước thời đó lễ trà thang Chanoyu tổ chức trong những căn phòng kiến trúc theo phong cách shoin-zukur.  Trà thất dạng căn nhà xuất hiện lần đầu tiên vào thời Sengoku (giữa thế kỷ 15 đến trước thế kỷ 17), thời kỳ chính quyền trung ương chẳng có quyền hành thực tế nào, đất nước xáo trộn, chiến tranh loạn lạc triền miên. Trước tình hình đó, giai cấp võ sĩ đạo rất bận rộn nào lo bảo vệ lãnh thổ, khuếch trương mậu dịch, giám sát nông trang, nhà máy và hầm mỏ, … còn những người nghèo chỉ mong muốn tìm sự cứu độ nơi Phật giáo. Vì thế các trà thất được các thiền sư lập ra giúp các giới này thực hành nghi thức trà thang, tìm sự yên bình tạm thời nơi thiền học. Về sau truyền thống này duy trì và phát triển đến ngày nay.


Như vậy, Muromachi nghĩ ra trà thất nhằm mục đích tìm nơi cho tâm hồn thanh thản. Với ý nghĩa đó mà về sau Lợi Hưu đề ra chữ “thanh”, chữ này không đơn thuần chỉ có nghĩa sạch sẽ nơi uống trà mà thôi.

Hiện nay người ta coi một trà thất lý tưởng nằm trong một khu vườn nhỏ gọi là lộ địa (roji – 露地), có con đường dẫn đến gian trà thất. Dọc theo con đường này có những băng ghế cho khách ngồi chờ. Trong vườn còn có một hồ nước gần trà thất, nơi đây khách sẽ rửa tay và xúc miệng trước khi vào trà thất thông qua một cái cửa nhỏ gọi là nijiriguchi (có nghĩa cúi người bước vào). Gian trà thất có trần thấp và chẳng có đồ đạc chi cả : khách và chủ nhân phải ngồi đúng chỗ của mình trên sàn nhà (gọi là chính tọa – seiza). Mọi vật dụng có trong này đều đơn sơ và quê mùa một cách có chủ ý. Ngoài cửa vào của khách có thể có nhiều cửa khác (các cửa đều là cửa lùa), ít nhất phải có một cửa khác dành cho chủ nhân gọi là sadōguchi và cửa này dẫn đến mizuya (Thủy ốc – 水屋). Các cửa sổ đều nhỏ và dán giấy shoji nên ánh sáng tự nhiên chiếu được vào gian trà thất, nhưng không thể nhìn từ trong ra ngoài; nhờ vậy khách dự không mất tập trung khi uống trà. Trong gian trà thất có một bếp lò (tiếng Nhật gọi là ro, 炉)[7] đặt trên tatami sát bên tatami của chủ nhân, chủ yếu dùng sưởi vào tháng lạnh hay dùng thay cho bếp lò chính (furo – 風炉). Một nơi trong gian trà thất gọi là tokonoma (sàng gian – 凹間) treo những bức thư pháp hay thư họa, cũng có thể có một lọ hoa hoa nhỏ giản đơn cắm theo lối gọi là chabana (Trà hoa – 茶花), ngoài ra không trang trí gì thêm.

Gian trà thất – Chashitsu rộng hay hẹp tùy theo diện tích mặt bằng lớn hay nhỏ hơn 4,5 tatami, sai biệt về diện tích này có ảnh hưởng đến nghi thức hành lễ trà thang, dụng cụ dùng trong đó và cách trang trí, số lượng khách, … Nếu chashitsu rộng hơn 4,5 tatami gọi là hiroma (nghĩa là phòng lớn), nhỏ hơn gọi là koma (nghĩa là phòng nhỏ); còn Hiroma thường là phòng theo phong cách shoin, không làm giới hạn lễ trà thang chanoyu. Các yếu tố khác có ảnh hưởng đến gian trà thất là những ràng buộc về mặt kiến trúc như vị trí cửa sổ, các lối vào, bếp lò sưởi và tokonoma (sàng gian – 凹間), đặc biệt khi gian trà thất không nằm tách biệt nhà ở. Do vậy không phải gian trà thất nào cũng giống như sơ đồ mặt bằng ở hình vẽ.


Trà đạo cụ: tiếng Nhật đọc là chadōgu (茶道具) hay còn gọi là trà khí (khác với nghĩa trà khí ở dưới)

Nếu người «ngoại đạo» vốn đã choáng váng trước những trà cụ đầy công phu và cầu kỳ của người Trung Hoa rồi, ắt hẳn khó tránh khỏi kinh ngạc trước trà cụ của người Nhật. Mỗi món khi dùng đều có một quy định chặt chẽ không được phép sai sót và không đem dùng việc khác. Sơ lược thấy một số món chủ yếu sau đây:

Trà sương: tiếng nhật gọi là Chabako (茶箱), có hai loại natsume (táo – 棗) và Cha-ire (Trà nhập – 茶入). Chẳng qua tên gọi khác nhau vì hình dáng bên ngoài của chúng mà thôi. Hộp natsum có hình quả táo và tiếng Nhật từ này có nghĩa là “quả táo”; hộp trà này thấp và có nắp bằng, đáy tròn, thường làm bằng sơn mài. Còn hộp cha-ire thường ốm và cao, bằng sứ, nắp bằng ngà và bên trong lót một lá vàng. Tùy loại lễ Chanoyo mà người ta đem natsume hay Cha-ire ra dùng. Tuy nhiên có một giỏ đồ pha trà gọi là trà lộng (chakago – 茶籠), trong đó đã có sẵn ngăn đựng trà, không cần đến trà sương.

Tetsubin (鉄瓶), là ấm đun nước, thường làm bằng sắt, có quai xách ở trên và vòi rót đằng trước. Còn phủ, tiếng Nhật đọc là Kama (釜) là ấm sắt chứa nước nóng để giữ cho trà không nguội.

Bính tiêu: tiếng nhật đọc là Hishaku (柄杓), có nghĩa là gáo múc nước, dùng múc nước nóng từ trong ấm đun vào trà oản và múc nước lạnh cho vào ấm đun. Bính tiêu có cán dài bằng tre, nhưng hình dáng của nó tùy vào từng loại chanoyu có khác nahu;

Trà oản : tiếng nhật đọc là chawan (茶碗), là loại chén dùng trà lớn như chén sành uống nước vối của Việt Nam. Đây là nét khác biệt so với  văn hóa trà Trung Hoa. Dùng cho trà đậm koicha (nồng trà – 濃茶) và cho trà lạt usucha (bạc trà – 薄茶). Rồi cũng tùy mùa mà kiểu trà oản có đổi khác: trà oản nông làm trà mau nguội thì dùng vào mùa hạ, trà oản sâu giữ nóng được thì dùng vào mùa đông;


Trà khí: tiếng Nhật đọc là chaki (茶器) là một chiếc hộp có nắp dùng để  đựng trà bột;

– Bếp lò dùng trong Chanoyu có bốn loại: Furo (風炉), là bếp nấu nước, thường làm bằng kim loại hay gốm sứ; Binkake (瓶掛) dùng đun loại ấm đun có tên tetsubin; Ro (炉) là từ ròng Nhật có nghĩa là bếp lò xây ngay trong gian trà thất và dùng vào mùa đông để sưởi, nó được dùng để đun nuớc với ấm đun kama, và loại bếp tiếng Nhật gọi là Okiro là loại bếp Ro di chuyển được, dùng để thay thế khi bếp Ro bận sử dụng.

Trà tiêu: tiếng Nhật đọc là chashaku (茶杓) là cái môi nhỏ dùng xúc trà từ trong hộp ra pha (Việt Nam gọi là cóng xúc trà). Trà tiêu thường làm bằng tre, nhưng cũng thấy làm bằng gỗ hay ngà;

Trà tiễn: tiếng Nhật đọc là chasen (茶筅) là cây quậy trà khi pha: trà bột được cho vào chén và châm nước nóng, rồi lấy trà tiễn khuấy cho tan trà. Thường trà tiễn dài khoảng 18 cm. Các trà sư không thích sắm trà tiễm mà thích tự tay mình vót tre làm.

Bồn: tiếng Nhât đọc là bon (盆) là khay đựng ấm và oản trà. Người Nhật có nhiều loại bồn như: Hakkebon (bát quái bồn – 八卦盆) là khay sơn mài tròn màu đen, Yamamichibon (sơn đạo bồn – 山道盆) là khay có rìa uốn lượn như đường trên núi, Yohōbon (tứ phương bồn – 四方盆) là loại khay vuông, …


– Về khăn túi dùng trong trà thang có: Chakin (trà cân – 茶巾) là  tấm vải lanh hay gai dầu hình vuông dùng lau trà oản; Fukusa (bạch sa – 帛紗) là miếng lụa vuông may hai lớp vuông vắn có cạnh chừng 30 cm, một góc may gấp lại, dùng lót tay tránh bị phỏng khi nhấc ấm đun nước hay mở nắp ấm trà (đàn ông thường dùng màu tím, phụ nữ thường dùng màu cam, đỏ); Kobukusa (cổ bạch sa – 古帛紗) là khăn vuông 15×15 cm, có thêu hình, được dùng tương tự như khăn Fukusa; Shifuku (sĩ phú – 仕覆) là túi đựng trà cụ,

– Dụng cụ để hút thuốc trong trà thất có: Tabakobon (yên thảo bồn – 煙草盆) là khay đựng thuốc lá thường đem mời khách khi đang đợi buổi trà thang hay khi uống trà lạt, Hiire (hỏa nhập – 火入) là lọ sành nhỏ có than hồng bên trong và được đặt trên Tabakobon, Haifuki (hôi xuy – 灰吹) là ống tre để gạt tàn thuốc, Kiseru (yên quản – 煙管) là cái dọc tẩu tẩu dài để sẳn trên Tabakobon.

– Đồ gỗ trong trà thất có thể kể: daisu (đài tử – 台子) là cái kệ xách tay dùng trong lễ trà thang, nagaita (trướng bản – 長板) là phiến gỗ sơn mài để bày trà cụ khi uống trà; Shikiita (phu bản – 敷板) miếng gỗ có nhiều hình dạng khác nhau để kê hỏa lò (furo); Tana (bằng – 棚) là gọi chung những kệ dùng pha trà (mỗi tana có một tên riêng như    shitsukedana, tsuridana, okidana, ōdana, kodana)


Ngoài ra còn rất nhiều vật dụng khác như: Gotoku (ngũ đức – 五徳) là cái kiềng ba chân để đỡ ấm đun khi nó không đun, Kensui (kiến thủy – 建水) là giá để ráo nước trà cụ sau khi rửa, mizusashi (thủy chỉ – 水指) và vại đựng nước lạnh trong trà thất dành cho chủ nhà châm thêm nước vào ấm đun, Sumitori (hôi đầu 炭斗 hay hôi thủ 炭取) dùng đựng than và vật dụng liên quan đến nó, Habōki (vũ trửu – 羽箒) là chổi quét bếp lò, Hibashi (hỏa trợ – 火箸) là cái gắp than, …

Rồi trong hoa đạo, trà thất, thư pháp, … lại có một số dụng cụ riêng nữa.

Nghi thức trà: Tiếng Nhật gọi buổi tiệc trà theo nghi thức là Chanoyu (trà thang), nguyên thủy ban đầu Chanoyu nhằm giúp tinh thần đi đến chỗ vắng lặng theo nghĩa chữ “tịch” của Lợi Hưu. Mọi hành động trong lễ trà nghi Chanoyu phải thật nhẹ nhàng, chuyện trò có qui định riêng, giữ tịch lặng khi uống trà như một thiền sư đang tham thiền.

Mỗi năm chia làm hai mùa Chanoyu: mùa ro là những tháng lạnh (tháng 11 đến tháng 4) và mùa furo là những tháng nóng (tháng 5 đến tháng 10). Trà pha có hai loại: trà đậm gọi là koicha (nồng trà – 濃茶) và trà lạt gọi là usucha (bạc trà – 薄茶).

Nghi thức Trà thang Chanoyu của Nhật không đơn thuần chỉ có một, mà ít ra có đến bốn loại nghi thức tùy theo ý của chủ nhà. Bốn nghi thức đó là : Chabako demae (trà sương (tương) điểm tiền 茶箱点前), Hakobi demae (Vận nhật điểm tiền 運び点前), Obon Temae (Vĩ bồn điểm tiền お盆点前) và Ryū-rei (Lập lễ – 立礼).

Chabako demae: trà cụ dùng trong lễ này được đựng trong một chiếc hộp đặc biệt gọi là chabako, do đó mới thành tên.

Hakobi demae: trà nghi này có liên quan đến trà nghi ryū-rei (xem bên dưới), nhưng chỉ dùng trong trà Chính tọa (seiza). Từ Hakobi thực ra là tên bộ trà cụ dùng bên trong và bên ngoài trà thất và theo đó mà gọi tên nghi thức trà này.

– Obon Temae: chủ nhân để trà oản, trà tiễn, bính tiêu (gáo múc nước nóng), chakinnatsume trên một cái khay đặc biệt gọi là obon, phía trên có phủ chiếc khăn fukusa. Trà lạt (bạc trà) được pha ngay trên khay này phục vụ khách mời ngồi quỳ theo kiểu nhật nơi chính tọa của mình ở quanh bàn.

Ryū-rei : trà được dọn trên một loại bàn đặc biệt, khách mời ngồi quanh bàn đó hay ở bàn khác để tách biệt chiếc bàn này. Trong nghi thức trà này sau lưng chủ nhân luôn có một người trà tá (phụ giúp việc pha trà) làm nhiệm vụ di dời chiếc ghế đẩu của chủ nhân khi đứng dậy hay ngồi xuống; người này cũng làm công việc phục vụ trà bánh cho khách dự.

Ngoài ra còn một số loại buổi trà thang Chanoyu khác nữa được phân loại theo thời thức thực hiện, như : Akatsuki-no-chaji – 暁の茶事 (Rạng nãi trà sự: dịch thoáng là trà thang lúc rạng sáng mùa đông), Yuuzari-no-chaji – 夕ざりの茶事 (Tịch tọa lợi dã nãi trà sự: dịch thoáng là trà thang buổi chiều vào tháng nóng), Asa-cha – 朝茶 (Triều trà: dịch thoáng là trà thang rạng sáng mùa hè), Shoburo – 初風炉 (Sơ phong lô: dịch thoáng là trà thang khai hỏa lò trong năm), Shougo-no-chaji – 正午の茶事 (Chính ngọ nãi trà sự: dịch thoáng là trà thang giữa ngày), Yobanashi – 夜咄 (Dạ đốt: dịch thoáng là trà thang chiều mùa đông), ….

Do lễ nghi nhiều như thế nên trong Trà nghi Nhật bản (Chanoyu) vai trò chủ khách và có những quy định bắt buộc. Xưa kia quy định người dự ChanoyuChanoyu, vị trí ngồi của từng người trong trà thất có qui định hẳn hoi, gọi là seiza (chính tọa; có nghĩa là chỗ ngồi đúng), ngôi vị của khách cũng phân thứ bậc mà đại diện là vị khách trưởng tôn;  lối vào của chủ trà thất và khách mời tách biệt nhau như sơ đồ chiếu khách chiếu chủ ở hình vẽ. phải mặc kimono, ngày nay có chế bớt chỉ bắt buộc điều này với chủ nhà. Trong


Khác với phong tục Việt Nam và Trung Hoa, khách dự Chanoyu không được tự tiện vào ngay trà thất nếu không có sự chào mời vào của chủ nhà, khi tiệc trà chưa khai mạc khách phải chờ ở roji (lộ địa – 露地; có nghĩa lối đi có sương). Khách làm nghi lễ tẩy trần bằng cách rửa tay và xúc miệng với nước trong một hồ đá nhỏ, rồi đi dọc từ lộ địa đến trà thất. Khách cởi bỏ giày dép và đi vào trà thất bằng một cái cửa nhỏ, rồi tiến về sàng gia (tokonoma), ngồi vào đúng vị trí chiếu tatami của mình (chính tọa – seiza), không được phép sai vị trí đã định theo tôn ti. Chủ nhân nổi lửa nấu nước pha trà khi  khách đã hiện diện trong trà thất.

Khi đó khách được mời dùng bữa ăn nhẹ gọi là “tenshin”, hay bữa ăn chính gọi là “kaiseki” (Hoài Thạch – 懷石) hay “chakaiseki” (Trà Hoài Thạch – 茶懷石); nếu dùng bữa ăn chính sẽ kèm theo thứ rượu nếp của Nhật gọi là rượu sake. Rồi ngồi chờ đến khi chủ nhân mời lại. Nếu không được phục vụ bữa ăn như vừa nói ở trên, khách sẽ dùng món ngọt đựng trên một loại giấy đặc biệt gọi là kaishi.

Mỗi món trà cụ – kể cả trà oản, trà tiễn và trà tiêu – đều được chủ nhân rửa theo nghi thức trà thang trước sự chứng kiến của khách. Sau đó dụng cụ được xếp ra theo một quy cách riêng của từng quy trình pha trình. Chuẩn bị trà cụ xong, chủ nhân múc cho vào mỗi trà oản một lượng trà bột và châm nước sôi vào, rồi dùng trà tiễn khuấy đều lên. Khi trà pha xong, người trà tá ngồi sau lưng chủ nhân trà thất sẽ bưng đến cho khách tận chỗ.

Khi nhận oản trà khách nâng cao lên kính cẩn chào chủ nhân. Khách xoay nhẹ oản, nhấp một ngụm rồi cho lời bình phẩm trà với chủ nhân. Nếu là trà lạt (bạc trà), khách uống một hơi cạn oản rồi trả oản về chủ nhân, chủ nhân sẽ pha tiếp oản khác vào cùng oản đó. Nếu là trà đậm (nồng trà), khách uống một hai ngụm và đưa ra lời bình phẩm. Còn dùng bạc trà, khách uống cạn oản và trả ngay oản lại cho chủ nhà, chủ nhà pha tiếp oản khác cho khách. Quy trình này cứ lặp đi lặp lại.

Trà đậm (koicha) dùng xong chủ nhân mới dọn lên món trà lạt hay bạc trà (usucha). Khay thuốc lá Tabakobon (yên thảo bồn – 煙草盆) và vài loại mứt quả gọi là higashi (Can quả tử – 干菓子) được dọn cùng với trà lạt. Cách mời bạc trà chẳng khác cách mời nồng trà, nhưng bầu không khí trà thất được xả bớt đi. Chẳng hạn khi uống trà đậm thì câu chuyện trao đổi chỉ là vài câu bình luận xã giao giữa chủ nhân và vị khách trưởng tôn, còn khi dùng trà lạt sau khi có vài câu xã giao khách dự tùy ý chuyện vãn mọi đề tài, dĩ nhiên vẫn còn khuôn phép giới hạn trong nghi thức trà thang.


Khi tiệc trà mãn, chủ nhân rửa trà cụ thật sạch. Vị khách trưởng tôn (khách đại diện các khách dự) xin phép chủ nhân cho giám xét trà cụ đã rửa sạch chưa. Các món đồ dùng trong tiệc trà đều được chủ nhân mang ra cho xem xét rồi mất, vị khách trưởng tôn có xác thực đã sạch sẽ mới được cất vào chỗ quy định của chúng.

Lúc đó tiệc trà Charoyu mới thật sự kết thúc, khách cúi người bước ra khỏi trà thất. Mỗi tiệc như vậy thường kéo dài vài giờ đồng hồ, tuy nhiên thời gian có thay đổi tùy theo số khách dự và tiệc trà có phục vụ những món ăn và loại trà gì.

Món ăn trong buổi trà thang Chanoyu: tiếng Nhật gọi chung các món ăn phục vụ trong tiệc trà là cha-kaiseki (Trà Hoài Thạch – 茶懷石)

Tên này lấy từ tục các thiền sư thường lấy gạch hơ ấm để dằn bụng lúc đói. Thường các thiền sư ở Nhật thời xưa, theo Thanh Qui Bách Trượng, chỉ điểm tâm qua loa với cháo vào buổi sáng, còn bữa ăn chính là bữa ngọ, chiều chỉ ăn tạm thức ăn gì còn sót lại ở buổi trưa. Do vậy nhiều buổi chiều thiền tăng thường hay đói bụng, không dám trái thanh quy họ lấy gạch hơ nóng dằn vào bụng cho đỡ đói. Nên cách gọi tên như thế này cũng là dấu ấn của thiền tông trong văn hóa trà Nhật Bản. Người đầu tiên dùng tên này để chỉ những món ăn đạm bạc trong buổi trà thang là thiền sư Lợi Hưu (1522-1591)

Xưa kia các món cha-kaiseki đều là món chay, ngày nay có thể dọn lên các món thịt cá nữa.

Món cha-kaiseki, chỉ dùng những thực liệu tươi theo từng mùa, được chế biến với mục đích làm tăng thêm hương vị của chúng. Thực liệu được lựa chọn rất cầu kỳ và món ăn được trang trí rất công phu nhằm tạo vẻ mỹ quan và phù hợp với chủ đề từng mùa nên bày biện rất phức tạp. Thường các loại hoa lá dùng làm rau củ được lựa chọn sao cho góp phần tăng thêm hương vị của món ăn.

Công thức chung của cha-kaisekiichijū sansai (nhất trấp tam thái – 一汁三菜), có nghĩa là “một chén canh, ba dĩa rau”, kèm theo có cơm và một vài món bổ sung thêm như: suimono, hassun, yutō, and kōnomono (các món ngọt khi dùng trà lạt không kể vào đây). Món canh thường là canh miso, còn ba món rau thực ra là ba món sau đây:

  • Mukōzuke (Hướng phó – 向付): món ăn bày trên chiếc dĩa để cách xa mâm thức ăn phục vụ khách, nên gọi mukōzuke (dịch sát nghĩa là “để ở xa”). Thường là món sashimi.
    • Nimono (Thái vật 煮物): món hấp, đựng riêng cho từng người trong một cái một chén có nắp đây.
    • Yakimono (….. vật – 焼物): món nướng (thường làm từ cá), dọn ra dĩa mời khách tự dùng;

Còn dưới đây là mấy món bổ sung thêm:

  • Suimono (hấp vật – 吸物): loại cháo loãng đựng trong cái chén có nắp đậy (chữ hấp này nghĩa là dễ tiêu, dễ hấp thụ) và đặt trong chiếc hộp sơn mài.
    • Yutō (sương dũng – 湯桶): bình đựng thứ cháo loãng màu nâu nhạt, món này khách tự phục vụ lấy.
    • Kōnomono (hương vật – 香物): dưa chưa để dùng kèm món yutō.

Và nhiều món khác nữa.

Trà và hoa đạo: tiếng Nhật là Chabana (Trà hoa – 茶花)

Trong tác phẩm The Book of the Tea, tác giả Okakura Kakuzo có nêu: Các vị Phật thấy các bông hoa bị gió bão làm rơi rụng, lòng từ bi thương xót của các Ngài đối với hoa, một loài chúng sinh, đã đem hoa đặt vào bình nước. Từ đó nghệ thuật cắm hoa ra đời. Và còn nhấn mạnh: Các hoa nhân trong trà đạo chẳng bao giờ hái dư thừa một bông hoa nào dùng trong nghệ thuật này. Dưới con mắt của một nghệ sĩ, Okakura Kakuzo nhìn vào hoa đạo bằng con mắt thưởng giám của Lão-Trang, hơn là thấy tinh thần chữ “kính” theo nghĩa Phật giáo.

Lợi Hưu đã dùng một thái độ mang tính phản luận (paradoxe) để chứng minh điều này; tác giả Okakura Kakuzo có kể : Vào thế kỷ 16, Lợi Hưu có cả một vườn hoa hiếm quý của thời đó: loài hoa Triệu Nhan. Thái Cáp (Taiko) muốn thưởng ngoạn loài hoa này nên Lợi Hưu đành mời đến viếng nhà mình. Khi dạo trong vườn, Thái Cáp chẳng thấy còn một bông hoa Triệu Nhan nào cà, chỉ thấy toàn đá cuội và cát. Khi vào trà thất bất ngờ Thái Cáp thấy có một bông hoa Triệu Nhan duy nhất cắm trong bình đồng đời Tống. Vì sao Lợi Hưu tàn phá hết vườn hoa quý của mình chỉ vì Thái Cáp muốn thưởng ngoạn hoa? Để trả lời được câu này khó chẳng khác gì hiểu được ý thâm trầm trong câu phản luận của Lão Tử : “Dứt bỏ thánh hiền và kẻ mưu trí, dân lợi gấp trăm; dứt bỏ nhân nghĩa, dân lại hiếu từ; dứt bỏ tài trí và mưu lợi, không có trộm giặc” (Tuyệt thánh, khí trí, dân lợi bách bội. Tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ. Tuyết xảo khí lợi, đao tặc vô hữu) [Đạo Đức Kinh 19].

Qua cách hành xử đó, Lợi Hưu muốn đánh thức sự phản hồi nhận thức của Thái Cáp về chữ “kính”. Kính không chỉ có nghĩa nâng niu trân trọng, mà còn là sự coi trọng sự tồn vong của đối tượng. Sinh mệnh của một sinh linh không là thú vui cho một sinh linh nào khác, đó là tư tưởng “như như bình đẳng”. Lối hành động tréo ngoe này là một trong những độc đáo của thiền tông. Như vậy, sâu xa trong chữ “kính” của Lợi Hưu có nghĩa là lòng trân trọng sinh mệnh của mọi sinh linh, trong đó hoa là một sinh linh dễ bị tổn thương nhất. Nếu không hiểu như thế này thì tư tưởng thiền trong Trà đạo biến mất. Vì kính theo sự ngộ nhận của chúng ta chính là một trong những lễ của Nho giáo (trong nghi thức Chanoyu lâu nay hiểu theo nghĩa này). Từ đó, hoa trà lâu dần biến thành thú thưởng ngoạn và biểu diễn nghệ thuật trong Trà nghi Nhật Bản, gọi là Chabana.

Chabana (Trà hoa – 茶花) là lối cắm hoa giản dị dùng trong trà thang Chanoyu. Chabana có nguồn gốc từ môn cắm hoa ikebana, môn này lại có nguồn gốc từ Thần Đạo và Phật giáo. Chabana gợi lại một kiểu cắm hoa tự do trong nghệ thuật ikebana có tên là nageire (có nghĩa là phương pháp “ném vào”) mà các trà sư thuở ban đầu hay áp dụng. Nguồn cung cấp hoa cũng tự nhiên, bất kỳ loài hoa nào trong vườn mọc vào mùa của buổi trà thang cũng được dùng chứ không cầu kỳ tìm kiếm nơi xa xôi. Như vậy không phải nghệ thuật cắm hoa nào trà đạo cũng dung nạp, nhưng nay tinh thần này hầu như không còn nữa.

Hoa nhân trà đạo chẳng bao giờ dùng hoa trái tự nhiên và trái mùa. Cũng chẳng cần thứ gì làm giá đỡ hay bình hoa cả. Vật dụng trong chabana (trà hoa) thường gọi là hanaire (trà nhập – 花入). Nghệ thuật tiêu biểu của Chabana (trà hoa) ít chủ đề, và cũng ít vật liệu cần dùng đến. Chỉ vào mùa thu ở Nhật hoa nở nhiều mới thấy cắm thành giỏ gọi là lộng hoa nhập (籠花入; kago-hanaire).


Không như hoa đạo ikebana cắm trên dĩa cạn và rộng vành, trà nhập hanaire có dáng thon ốm hanaire thường thấy trong nghệ thuật habana (trà hoa). Hoa nhập dùng trong các trà thất thường lấy từ vật liệu tự nhiên như tre trúc, có khi dùng kim loại hay gốm sứ, nhưng hiếm khi thấy dùng thủy tinh.

Chabana (trà hoa) được cắm đơn giản đến mức chỉ độc một nụ hoa, nụ hoa này phải hướng về các khách mời.

Trà và thư họa

Thư họa đến với thiền và trà bắt nguồn từ dòng nghệ thuật “mặc hội” (sumiye – 墨會) hồi thế kỷ 12-13. Mặc hội là phép vẽ dùng mực tàu vẽ trên giấy mỏng, vì thế nét bút đòi hỏi phải nhẹ nhàng, thanh thoát, không tẩy xóa hay đồ nét vì làm như thế sẽ thủng giấy. Mặc hội không là sự sao chép lại sự vật như hội họa, mà là sự phóng xuất cảm xúc ngoại giới của tâm hồn ra ngoài, thứ cảm xúc đã tích tụ trong tiềm thức chứ không phải trong ý thức. Khi phóng bút tác giả và ngọn bút hòa nhau làm một, thân ý hợp nhất. Mặc hội chính là chữ “hòa” của Lợi Hưu.

Trong cuốn Góp Nhặt Cát Đá có kẻ câu chuyện về tấm biển đề “Đệ Nhất Đế” ở đền Obaku, Kyoto. Người phóng bút viết ba chữ đó là nhà thư họa trứ danh Kosen, sau đó người ta mới chạm. Khi viết ba chữ này, người học trò của ông mài mực hầu thầy luôn lên tiếng khen chê. Kosen kiên nhẫn viết từ tấm này sang tấm khác đến tám mươi bốn tấm “Đệ Nhất Đế” chồng chất lên nhau thành đống vẫn không thấy chú học trò mình có lời khen. Một lúc sau cậu ta bước ra ngoài, Kosen nghĩ: “Bây giờ là lúc ta tránh được con mắt sắc bén của nó”, và Kosen viết nhanh với cái tâm không lo lắng: Đệ Nhất Đế. Cậu học trò từ ngoài bấy giờ bước vào, đột nhiên thốt to: “Một kiệt tác, quả xuất thần

Văn hóa trà của Nhật Bản thuở ban đầu muốn tìm trạng thái xuất thần như thế! Thế mới là thiền.

Mặc hội sau phát triển thành thư pháp rồi thư họa. Môn này nhằm khi dùng trà xong trà nhân thị hiện sự hòa điệu nghệ thuật của mình qua sự phóng xuất tâm hồn. Ngày nay thư họa trong trà thất trở thành môn nghệ thuật sưu tập các bức hoành, bức liễn để cùng nhau thưởng ngoạn. Không biết tôi có nhầm lẫn gì không, tôi cho rằng văn hóa trà của Nhật ban đầu là phương tiện thị hiện thiền tâm chứ không phải thưởng giám nghệ thuật. Nhưng dù sao thưởng giám theo phong vị thiền cũng xóa đi bớt nhiều áp lực trong cuộc sống, giới võ sĩ đạo Nhật là người hưởng lợi lớn ở khía cạnh này. Lịch sử cho thấy họ thực sự đã hưởng lợi. Và có lẽ cũng chính vì thế thư họa dần dần trở nên thành tố thưởng giám hơn là sáng tạo trong văn hóa trà Nhật bản.


Bây giờ quay về thực tại. Thư họa trong trà thất hiện nay là những bức liễn và là trọng tâm của trà thất. Những bức liễn đó được chủ nhà sưu tập từ các tay thư họa nổi tiếng và của các trà sư, rồi treo ở tokonoma (sàng gian – 凹間) vị trí trung tâm của trà thất. Liễn thư họa được tuyển chọn theo mùa, ngày giờ hay chủ đề của trà thang mới được treo. Câu chữ trong các liễn thư pháp gắn với ý nghĩa của Phật giáo, Thi ca, Thắng cảnh hay có liên quan đến Trà nghi; ví dụ như bốn chữ wa kei sei jaku (hòa kính thanh tịch – 和敬清寂). Có những bức thư pháp chỉ có một chữ duy nhất như chữ kaze (phong – 風; nghĩa là gió) và nó thích hợp cho trà thang mùa hè. Cũng có khi liễn thư pháp có kèm theo hình vẽ, gọi là thư họa nhưng hình vẽ đó phải thích hợp với câu chủ đề thư pháp và buổi trà thang. Chằng hạn hình con thỏ (lấy từ tích thỏ ngọc trên cung Hằng) phù hợp cho buổi trà thang về đêm.  Người ta còn thấy có trường hợp liễn thư pháp không treo ở tokonoma (sàng gian- 凹間) mà treo áp vách trà thất.

*****

Chúng ta dễ dàng nhận thấy trong sự câu nệ và phiền trược của nghi thức Chanoyu, tâm người dùng trà khó đạt được bốn chữ “Hòa, Kính, Thanh,Tịch” đúng với tinh thần ban đầu do Lợi Hưu đề ra. Lợi Hưu là nhân vật của thế kỷ 16, ông đề ra quy luật đó vì có sự dung tục trong văn hóa trà vào thời đại Thất Đinh. Giống như một ẩn dụ của Phật Thích-ca, bốn chữ đó như chiếc xuồng chở chúng ta qua bên kia bờ, qua được bờ bên kia rồi thì chớ cõng chiếc xuồng trên vai mà đi. Trà nghi Nhật Bản đang cõng chiếc xuồng tứ bản “Hòa, Kính, Thanh,Tịch” (chứ không phải xuồng tam bản) ư!?

Rõ ràng, khách mời khó đạt được chữ “hòa” khi còn ở lộ địa roji, chủ nhà khó đạt được chữ “thanh” (với nghĩa thanh tịnh trong lòng) trước nỗi lo thiếu sót nghi lễ. Chữ “kính” và chữ “tịch” có thể thấy rõ ở biểu lộ hình thức bên ngoài giữa chủ và khách. Nhưng với chữ “kính” thật sự như Bá Nha kính cây đàn Long Môn, chữ “tịch” thật sự như Lợi Hưu bình thản đón nhận cái chết với bài thơ “Bảo Kiếm” thì có lẽ còn xa lắm mới đạt được, nếu không muốn nói có quá nhiều rào cản chắn lối đi đến hai chữ này.

Triền phược đến mức ngày nay ở Nhật trong trường học người ta phải dạy trà nghi cho học sinh. Nếu không học không biết cách hay không được vào trà thất. Sự tự tại hướng nội của Lợi Hưu được nghi thức thay bằng phiền triệt ngoại giới. Hình thức trà Lợi Hưu còn đó (thậm chí rườm rà hơn) nhưng hồn trà Lợi Hưu đã mất tự bao giờ rồi.

Chắc hẳn với nghi thức uống trà như thế này trà nhân Nhật Bản khó hưởng được cái thú uống trà như Phạm Đình Hổ: “Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn uống rượu làm thơ cùng làm chủ khách mà ung dung pha ấm chè Tàu ra thưởng thức thì có thể tỉnh được mộng trần, sửa được lòng tục.” (Vũ Trung Tùy Bút). Phạm Đình Hổ là một danh nho chứ không phải một thiền sư hay đạo sĩ, nhưng lúc uống trà tâm hồn ông có lẽ đã đạt được chữ “tự tại” của ông Lão và chữ “chân như” của ông Thích. Mới hay, dù ai và dù bất cứ giáo thuyết nào, khi đạt được cái “thần” của nó đều như nhau cả.

Đề ra nghi thức là chấp ngã hay chấp pháp!? Mượn một câu chuyện ngộ nghĩnh trong Thiền học để thấy bốn chữ này không phải chỉ áp dụng cho có hình thức bên ngoài:

Hòa thượng Triệu Châu đang quét sân chùa thì một ông tăng hỏi: Cớ sao chốn thanh tịnh già lamlại có bụi? Sư đáp: Lại một hột bụi nữa kia kìa. Lần khác, Triệu Châu cũng đang quét chùa một ông tăng khác hỏi: Hòa thượng là bậc thiện tri thức, cớ sao còn bụi?. Sư đáp: Ở ngoài đến.

Lợi Hưu cần quét bụi vì đời vốn là bụi và biết rằng khó quét hết nên đề ra bốn chữ trên. Đời sau không biết giữ tinh thần đó để tư tưởng hình thức bên ngoài len vào chẳng khác nào để bụi bay thêm vào. Câu chuyện Lợi Hưu sai con quét sân là một ẩn dụ.

Nhưng dù gì cũng phải thừa nhận tinh thần trà Thiền-Lão bị trà pháp Khổng Mặc lấn át ở Trung Hoa được người Nhật bảo tồn phần nào ở xứ Phù Tang.


[1] Trà do hai vị này đưa vào Nhật đã là văn hóa trà chưa còn cần xem xét nhiều, lúc ấy trà chỉ dùng trong một số rất ít thiền sư và giới quý tộc. Có lẽ sang thế kỷ 14 hay 15 mới thực sự có văn hóa riêng vì đến đời Minh Tây Vinh Am (cuối thế kỷ 12 và đầu thế kỷ 13) cũng chỉ coi là một vị thuốc.

[2] Thanh qui (清規): có nghĩa ‘giới luật rõ ràng’. Trong Thiền tông mỗi chùa đều có thanh quy, nhưng thanh quy của Bách trượng Hoài Hải nổi tiếng khắt khe. Câu nói của thiền sư  này là: “một ngày không làm, một ngày không ăn” (一日不作一日不食; nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực).

[3] Hiện nay ít nhất người ta đếm được các trường phái như sau: Enshū-ryū (Viễn Châu Lưu – 遠州流), Fujibayashi-ryū (Đằng Mộc Lưu -藤林流), Fuhaku-ryū (Phi Bạch Lưu – 不白流), Fumai-ryū (Phi Muội Lưu – 不昧流), Hayami-ryū (Tốc Thủy Lưu – 速水流), Higo-koryū (Phì Hậu Cổ Lưu – 肥後古流), Hisada-ryū (Lưu – 久田流), Hosokawasansai-ryū (Lưu – 細川三斎流), Horinouchi-ryū (Lưu – 堀内流), Kogetsuenshū-ryū (Cửu Điền Lưu – 壺月遠州流), Matsuo-ryū (Tùng Vĩ Lưu – 松尾流), Mitani-ryū (Tam Cốc Lưu – 三谷流), Nara-ryū (Nại Lương Lưu – 奈良流), Rikyū-ryū (Lợi Hưu Lưu – 利休流), Sōwa-ryū (Tông Hòa Lưu – 宗和流), …

[4] Chùa Viên Giác 圓覺寺: là một ngôi chùa danh tiếng ở Nhật (tiếng Nhật gọi là Engaku-ji;)  nhưng lại do một vị Thiền sư Trung Quốc là Vô Học Tổ Nguyên khai sáng. Ngôi chùa lịch sử này bị tiêu hủy trong cuộc động đất năm 1923.

[5] Tiếng Nhật gọi chiếu này là tatami.

[6] Tatami (Hán Việt gọi là điệp tịch – 疊蓆): là một tấm sàn của nhà Nhật Bản, có kích thước theo quy định là 910mm×1820mm, dày 55mm, làm bằng rơm ép chặt. Khi dùng để tính diện tích gianphòng gọi là jo.

[7] Ro (炉) là từ thuần Nhật có nghĩa bếp lò

Các bài đã đăng :

 

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Advertisements

Read Full Post »

Phụ Lục : Giai thoại và tản mạn chuyện trà

Có những thứ không chép nghiêm túc thành sách, nó nằm tản mác đâu đó trong mẫu chuyện hay câu thơ, nhưng không thể nói không phải là văn hóa. Trà cũng vậy, có những văn hóa riêng xoay quanh nó, nếu ai đó tập hợp lại gầy dựng nên một triết lý khi uống trà thì gọi đó là ‘Trà đạo’ cũng không phải là sai. Việt Nam chưa hề có một triết lý hoàn chỉnh về trà, nhưng bất chợt đó đây trong quán trà sang trọng hay quán cóc vỉa hè chúng ta đều có thể bắt gặp man man hồn trà trong những câu chuyện phiếm, vì vậy có câu:”Tản mạn chuyện trà, la cà chuyện rượu”. Không kể lại vài giai thoại hay chuyện tản mạn e rằng đã mất đi một phần hồn trà của người Việt.

Giai thoại trà

Uống trà, nói chuyện trà mà thiếu những giai thoại về trà quả mất đi phân nửa hồn trà. Bao quanh những huyền thoại trà có những giai thoại nửa hư, nửa thực để ca tụng trà. Cái thú của giai thoại là cho chúng ta một nụ cười hóm hỉnh, một triết lý thâm trầm hay một câu thi phú đối đáp xuất thần. Dưới đây là một số giai thoại lượm lặt được:

1.- Người ta tương truyền vua Càn Long có tuổi thọ cao nhờ uống trà, vua thọ đến 88 tuổi. Khi bước vào tuổi 85, trong một dịp khuyên vua nên hạn chế việc chu du thiên hạ, một lão quan ngự y ra câu đối: “Quốc bất khả nhất nhật vô quân” (Nước không thể một ngày không vua); vua Càn Long dí dõm đối lại: “Quân bất khả nhất nhật vô trà” (Vua không thể một ngày thiếu trà). Câu đối không chỉnh, nhưng thể hiện rất rõ cá tính một vị vua mang máu giang hồ này.

2.- Độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân trong truyện “Những Chiếc Ấm Trà” để lại một giai thoại khá ngộ nghỉnh qua miệng một nhân vật trong truyện kể: “Ngày xưa, có một người ăn mày cổ quái. Làm cái nghề khất cái là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Có một lần hắn gõ gậy vào nhà kia, giữa lúc chủ nhà cùng một vài quý khách đang ngồi dùng bữa trà sớm. Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả, để xem hắn định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người đang khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái khi hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng. Thấy mặt mũi người ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm canh hay là hơn nữa, hắn lại muốn đòi xôi gấc, như kiểu người trong phương ngôn! Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho phép hắn “uống trà tàu với!” . Mọi người tưởng hắn dở người. Nhưng không nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngỏ ý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, dở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định ăn vạ đến lúc nào mới chịu thôi. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà : “Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương xuống, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca lên nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài cho nó lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa lấy gì làm khoái hoạt lắm” . Hắn tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đuờng. Mọi người cho là một người điên không để ý đến . Nhưng buổi chiều hôm ấy, cả nhà đều lấy làm kinh sợ người ăn mày vì ở lọ trà đánh đổ tung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu .” Tưởng đấy là một giai thoại lý thú, nào ngờ nhân vật “cụ sáu” trong chuyện còn ghê gớm hơn nữa. Cụ bán những chiếc ấm gia bảo của mình với giá rẻ mạt nhưng không bán nắp; sau đó bán nắp ấm với giá trên trời. Ai đã mua ấm thiếu nắp rồi đành bấm bụng mua cái nắp vậy.

3.- Còn trà Đại Hồng Bào danh tiếng của tỉnh Phúc Kiến cũng có một giai thoại. Thời vua Khang Hy nhà Thanh có một học trò nghèo lên kinh ứng thí; sau khi vượt ngọn núi Vũ Di sơn thì đói và mệt ngất xỉu. May nhờ có một vị sư đi ngang cho uống một thứ nước nên chàng sĩ tử này khỏe lại. Kỳ thi đó chàng thi đậu và được bổ làm quan. Nhớ nghĩa cũ chàng về nơi thọ nạn tìm kiếm nhà sư đó. Trong câu chuyện tạ ơn, chàng được biết đã được cứu mạng nhờ một loại trà. Xin được một ít, chàng hồi kinh nhậm chức và tiến vua lá trà đó. Đúng dịp đó hoàng thái hậu lâm bệnh nặng, các ngự y đều bó tay. Vua cho dùng thử lá trà đó thì thấy hiệu nghiệm và bệnh tình dần dần bình phục. Vua cảm kích ban thưởng cho một chiếc áo bào đỏ và từ đó trà này mang tên Đại Hồng Bào (Chiếc Áo Đỏ). Trong câu chuyện này có nhắc đến núi Vũ Di Sơn; và tên núi này cũng là một giai thoại. Vũ và Di là tên hai anh em bỏ hết cả gia tài để đi tìm và thửong thức trà quý. Hai anh em này vào vùng núi này tìm trà và tìm ra loại trà độc đáo sau này được vua Minh tặng cho Hồng Bào như đã kể ở trên. Sau để nhớ công người ta gọi núi này là núi Vũ Di.

4.- Trong Thiền học có một giai thoại khá lý thứ về trà, phản ảnh khá sâu sắc tư tưởng thiền của tổ Bồ đề Đạt Ma.

Ba thiền sư Nam Tuyền, Qui Tông và Bảo Triệt đến yết kiến thiền sư Cảnh Sơn, đi đường gặp một bà già bán quán trà, ngài Bảo Triệt hỏi thăm đường. Sau một hồi hỏi thăm đường và đối đáp qua lại, ba vị thiền sư này vào quán uống nước. Bà già nấu một bình trà, bưng ba chén chung đến nói: Hòa thượng nào có thần thông thì uống trà. Cả ba chưa biết đối phó thế nào thì bà già nói tiếp: Xem già này trình thần thông đây. Nói xong, bà cầm chung nghiên bình rót trà rồi đi.

Giai thoại này sau trở thành một đề tài tham cứu cho các thiền sinh.

5.- Một giai thoại bên cạnh trà mang hơi hướm huyền thoại là câu chuyện về một ấm pha trà ngự dụng. Ngày xưa có một vị hoàng đế Trung Hoa thích uống trà, vua cho sai một lò gốm sứ nổi tiếng trong nước làm một cái ấm hìng rồng từ loại đất và men quý hiếm. Dù là những người thợ lão luyện nổi tiếng cả nước, nhưng hàng chục lần đưa vào lò nung ấm đều bị nứt rạn. Chờ đợi quá lâu, vị hoàng đế này không còn kiên nhẫn ra lệnh: “Nếu trong tháng không làm ra được chiếc ấm sẽ chém đầu tất cả môi người trong vùng.”. Ai nấy đều sợ hãi. Một người thợ gốm tên là Tống Bình bèn thắp hương bàn thờ tổ cầu nguyện, trai giới nhiều ngày. Đến ngày đốt lò nung mẽ gốm cho vua, người thợ này nhảy vào lửa hy sinh tế tổ. Quả nhiện mẽ gốm thành công và mọi người thoát chết.

Giai thoại này na ná huyền thoại hai thanh gươm Can Tương và ………

6.- Huyền thoại Trung Hoa về trà có kể: Khi xưa Tần thủy Hoàng xuất quân chính phạt gặp phải cường địch là Sát Cáp Nhĩ. Viên tướng này bách chiến bách thắng nhờ có con thần mã chẳng kém gì con Xích Thố của Quan Công. Muốn thắng trước tiên Tần Thủy Hòang phải diệt con tuấn mã này trước. Nghĩ mãi vua mới ra kế sách: sai Lâm Phi, một ái phi sũng ái của ông, cải trang làm cô gái bán cỏ ngựa, lân la quyến rũ Sát Cáp Nhĩ. Viên tướng này quả nhiên say mê sắc đẹp của Lâm Phi. Khi được sũng ái, Lâm Phi mới bày ra chuyện cho ngựa ăn lá trà rồi mổ bụng lấy loại trà tuyệt hảo mà uống. Trúng kế Sát Cáp Nhĩ giết chết con ngựa của mình và kết cuộc là bại trận.

7.- Lục Vũ, tác giả cuốn Trà Kinh Trung Hoa, nổi tiếng là người pha trà giỏi; còn thiền sư Thái Chúc (cha nuôi của Lục Vũ) là người nổi tiếng biết thưởng trà. Nghe danh đã lâu, hoàng đế nhà Đường cho vời hai người đến nhưng không cho gặp mặt. Nhà vua mời nhà sư một ly trà. Nhà sư đưa lên miệng nhắp một ngụm, nhà vua hỏi “Trà này có pha ngon bằng trà của Lục Hồng Tiệm không?”. Nhà sư đặt tách xuống không nói gì. Đến tách thứ hai, do chính Lục Vũ pha, nhà vua lại hỏi như trước. Vừa nhấp một ngụm nhà sư vui mừng lên tiếng “Muôn tâu hoàng thượng, tuyệt, tuyệt hảo, Lục vũ chỉ có thể như thế này thôi…”. Vua cho là tài.

8.- Một giai thoại khác rất có vẽ thực liên quan đến một loài cây cũng gọi là trà nhưng thường người ta gọi là sơn trà hay trà mi . Giai thoại này liên quan đến một nhà thơ nổi tiếngViệt Nam là cụ Nguyễn Khuyến.

Vào năm 1905, tuần phủ Hưng Yên tên là Lê Hoan có tổ chức cuộc thi thơ “Vịnh Kiều”. Dù không muốn tham gia nhưng nhiều lần quan tuần phủ triệu mời nên cuối cùng đành tham dự ban giám khảo.

Trong cuộc thi này Chu Mạnh Trinh có gửi hai chục bài đến dự thi và đoạt giải nhất kỳ thi này. Tuy nhiên khi chấm thi Nguyễn Khuyến thấy thơ Mạnh Trinh có hai câu:

Làng nho người cũng coi ra vẽ,

Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay!

Là một nhà nho, cụ Nguyễn Khuyến rất nghiêm trong ý tứ câu đối, phê ngay:

Rằng hay thì thật là hay,

Đem nho đối xỏ lão này không ưa.

Tuy đoạt giải nhất nhưng lời phê này lọt đến tai Chu mạnh Trinh, Trinh để bụng không vui. Về sau khi làm án sát Hưng Yên, lúc đó Nguyễn Khuyến mắt đã lòa, Mạnh Trinh biếu cụ Nguyễn một chậu hoa trà (loài hoa chỉ có sắc mà không có mùi hương) với dụng ý châm biếm cụ Nguyễn không biết thưởng thức văn. Cụ Nguyễn Khuyến cũng hiểu và viết một bài thơ gửi Chu Mạnh Trinh như sau:

Tết đến người cho một chậu trà,

Đương say còn biết cóc đâu hoa!

Da mồi tóc bạc, ta già nhỉ,

Áo tía đai vàng, bác đó a?

Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá,

Gió to luống sợ lúc rơi già!

Lâu nay ta chỉ xem bằng mũi,

Đếch thấy hơi thơm, một tiếng khà!

Chu Mạnh Trinh đọc xong mới thấy hổ thẹn lòng nhỏ nhen của mình và càng khâm phục phẩm chất cụ Nguyễn.

Tản mạn chuyện trà

Bên cạnh những giai thoại truyền khẩu, người uống trà xưa nay cũng có những tản mạn không kém phần thú vị.

– Ngày xưa ở Sài Gòn – Chợ Lớn có nhiều quán trà (bán thuần nước trà chứ không phải bán cà phê cho khách uống thêm trà như bây giờ) gọi là trà gia. Người nghèo lao động trong giây phút nhàn tản thường ngồi uống tách trà. Uống hết nước lại xin thêm nước sôi châm vào. Xin nhiều lần qua thì tiểu nhị (còn gọi theo âm Quảng Đông là phổ ky, tức người hầu bàn) than phiền, nhưng vẫn châm: “Pạt đầu trà a!”(Bạc đầu trà: trà đã lợt nước rồi). Không biết học lóm từ đâu, người công nhân này nói rất triết lý: “Nị có biết Lâm Ngữ Đường chứ lị” Người tiểu nhị ngớ người chưa kịp hiểu, người khách thuộc giai tầng thấp trong xã hội thời trước nói luôn: “Lâm Tiên sinh có nói: Trà nước thứ nhất tựa như ấu nữ mười hai, mười ba, trà nước thứ hai như nữ lang đang độ mười sáu, trà nước thứ ba đã là thiếu phụ, vv và vv …”. Xin thêm nước sôi cũng triết lý đấy chứ!?

– Lại có chuyện phiếm vui vui như sau: Một anh chàng nọ ngồi chung bàn với tía vợ. Vốn giữ phép con rễ anh chàng châm nước trà vào chén cho mọi người ngồi chung bàn. Sơ ý thế nào không biết, anh chàng này rót cho mọi người trước còn cha vợ ngồi kế bên rót cuối cùng. Trong bàn ấy người cha vợ cao tuổi và vai vế lớn nhất, nên bị mắng. Nhanh trí anh chàng này chữa lỗi bằng cách nói nhỏ với tía vợ của mình: “Tía ơi, con rót trước là rót nước rữa trà đó. Tía đừng buồn”

– Anh chàng sinh viên gốc Hà Nội vừa vô nam quen được cô bạn gái dễ thương. Sau một hồi tán tỉnh mời được cô bạn đi uống nước, nhưng trong lòng thắc thỏm vì túi tiền quá mỏng. Tìm được một quán nước vỉa hề, hai người ngồi uống nước hàn huyên. Anh chàng vốn bệnh sĩ Hà Nội cao giọng kêu cô chủ quán: “Chị ơi cho xin hai ly chè”. Hai người tiếp tục hàn huyên nhưng chờ quá lâu mà chẳng thấy mang trà ra. Anh chàng hỏi lại. Cô quán nhiệt tình trả lời: “Dạ, em nhờ đứa em đi mua chè cho anh chị rồi”. Anh chàng chẳng hiểu gì, còn cô bạn gái phá lên cười. “Chè này là chè đậu nấu đường, thôi anh nán một chút ăn cho vui”, cô gái nói. Anh chàng trong bụng rầu thúi ruột nhưng ngoài mặt cố làm vui. Ngày mai lại ăn mì tôm mất rồi.

– Một ông vào quán trà tươi ven làng, kêu một bát nước chè. Quán nghèo sạp lá chỏng trơ, bà quán rót một chén trà tươi, chiếc bát mẽ miệng. Ông khách thầm nghĩ, chỗ chén mẽ ít người ghé miệng vào đấy, mình uống ở đó là sạch nhất. Ông khách nâng chén và ghé miệng vào đấy uống một hơi. Thoải mái quá. Chợt nhìn qua thấy đứa con trạc 10 tuổi của bà chủ quán đứng nhìn mình cười. Ông khách ngạc nhiên hỏi: “Sao mày nhìn tao cười?”. Đứ abé tiếp tục cười, nói: “Cháu tưởng chỉ có mình u cháu uống vào chỗ mẽ thôi, nào ngờ hôm nay lại có thêm bác nữa”

*****

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ


Read Full Post »

V.- Thú chơi trà

Theo dòng lịch sử, cách thu hái và chế biến trà của Trung Hoa có nhiều thay đổi. Vào đời Nhà Đường, cách thức thu hái vào chế biến được ghi chép khá đầy đủ trong cuốn Trà Kinh của Lục Vũ, nhưng phương pháp chế biến này hiện nay ít dùng. Mạt trà dùng ở Nhật Bản trong nhi thức trà đạo và trà bánh ở những xứ như Tây Tạng chế biến món trà bơ. Vì đến đời Minh Hồng Vũ, triều đình cấm chế biến mạt trà và đoàn trà; từ đó về sau thói quen dùng yêm trà hay tiễn trà, tức thứ trà rời chúng ta đang dùng ngày nay. Do vậy, những điều ghi chép trong Trà Kinh của Lục Vũ hiện nay chỉ còn mang tính tham khảo lịch sử, nhưng đôi điều ông để lại không phải không đáng suy gẫm cho thú uống trà. Ông nói trong nghệ thuật uống trà có chín điều khó sau[1]: một là chăm chút trồng loại trà ngon, hai là biết phân biệt và lựa chọn khi thu hái, ba là có đủ các thiết bị trong việc pha trà, bốn là lửa, năm là nước, sáu là chế biến, bảy là nghiền nhuyễn (trong trường hợp trà bột vào đời Đường), tám là pha trà, và chín, thưởng thức trà.

Còn Phạm Đình Hổ thì tinh tế viết: “Uống chè ấm chén cốt cho nhỏ, mỏng, khi pha mới nổi hương vị. Vòi ấm thẳng thì nước không đọng, mặt dĩa phẳng thì đặt chén không nghiêng, rế lò dày mà lỗ thưa thì than lửa không bốc nóng quá, lòng ấm siêu lồi lên và mỏng thì sức lửa dễ thấy chóng sôi. Ấy, cái cách pha chè uống nước mới đầu còn thô, sau lại tinh dần mãi ra…” (Vũ Trung Tùy Bút). Cũng có người có thú chơi trà hơi khác người như nhà văn Võ Phiến: “Bỏ một vốc lá chè khô vào om, đổ nước vào, nổi lửa lên. Nước sôi, sắp trào ra, thì lập tức chế thêm tí nước lã vào để trấn nó xuống. Một chốc nó lại sôi lên lại tí nước lã nữa. Ba bốn bận như thế… Cần phải kiên nhẫn : lửa không nên cháy hỗn quá, nước chế thêm không nên nhiều quá, mỗi lần chút ít thôi. Có thế chè pha ra bát mới tắt bọt được” theo kiểu om chè Huế thời xa xưa  (Hạt bọt trà – Tùy bút).

Quả là tinh tế trong công phu nghề chơi.

(Click trên hình để zoom)

 

Chế biến trà

Trước khi nói đến thu hái và chế biền cần nói sơ đôi nét về trồng trà theo truyền thống cổ truyền. Trà thường được trồng trên những vạt đồi thấp, đất pha cát, cày sâu để rễ trà dễ bám luồn và bón phân chuồng phơi hoai. Vào tháng 9 khi trà đã kết quả hái hạt trà, sang xuân gieo vào luống cày vừa nói cứ 8 tấc một vài hạt. Xong phủ cành lá lên và tưới nước ngày 2 lần sáng chiều cho đến khi cây trà nhô lên. Khi trà đã lớn trộng, vào mùa khô nên xới váng quanh gốc để rễ trà hút ẩm và không khí. Trà ngon khi thu hoạch mỗi búp chỉ 2-3 lá non, gọi là ”một tôm hai lá”. Cây trà khi sâu bệnh thì nhổ bỏ, tuyệt đối không dùng thuốc trừ sâu; phân bón chỉ được dùng phân hữu cơ, tốt nhất bánh dầu đậu nành, tránh dùng phân hóa học để đảm bảo trà có hương vị thơm ngon.

Thu hái là khâu đầu tiên và cũng là khâu quyết định đầu tiên cho chén trà ngon sau này. Nơi trồng trà, người hái trà, thời điểm hái trà và kỹ thuật hái trà là những bí quyết đầu tiên cho ra loại lá trà tuyệt hảo; sau đó mới đến các công phu chế biến. Lục Vũ cho rằng trà trồng không ngon bằng trà hoang, trà hoang còn cao thấp ở thổ dưỡng nơi nó mọc. Bởi vậy, nhiều tay uống trà điêu luyện thuê cả người đến những vùng đặc biệt leo những cây trà cổ thụ hái đọt về sao chế theo bí quyết riêng. Thời vụ thu hái trà nên trước tháng ba và không nên kéo dài quá 2 tháng; trà thu hoạch trước tiết Thanh Minh gọi là trà Tiền Minh (thuộc loại thượng hảo hạng). Khi hái trà nên đi sớm lúc mặt trời chưa ló dạng hẳn và kết thúc khi mặt trời gác sào (thời điểm này trà ít chát nhất), nên một người hái trà để tuyển thường chỉ hái được khoảng 600 g búp trà mỗi ngày. Ở Chiết Giang và Phúc Kiến sản xuất hai loại danh trà Long Tỉnh và Thiết Quan Âm còn phân chia ra: trà hái vào lúc 2-3 giờ sáng đến khi mặt trời mọc gọi là “quý nươing trà” giá đắt gấp nhiều lần loại trà hái sau lúc mặt trời mọc (gọi là “lão bà trà”)

Trái lại, hái trà để om chè xanh có kinh nghiệm dân gian khác. Cây trà thuhái phải chọn chỗ “dại nắng”, nghĩa là nơi ấy lá nhỏ, dày, màu vàng và giòn (gập lại gãy đôi). Hái cũng tránh giập lá và khi rữa tránh không vò lá (vì nấu lên cho vị đắng). Loại trà này om lên xanh trong, mới uống hơi chát miệng, sau có vị ngọt nơi cổ họng, người ta gọi là chè “có hậu”. Còn những lá trà ở trong bóng râm (gọi là “trà bóng”) cho lá to bản, mỏng, mềm dai nhưng nước trà vị nhạt, không có hậu.

Trảm mã trà là một minh chứng, chỉ có Từ Hy Thái Hậu mới đủ khả năng dùng và hình như chỉ nhắc đến dùng trong bửa tiệc mừng xuân mời các sứ thần Phương Tây thôi. Rõ là một chén trà đạt đến trình độ đó còn tốn kém hơn cả các món ăn chơi của các đại gia ngày nay. Theo lời đồn thổi hiện nay (cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21) một số quan chức sành trà ở Việt Nam uống một thứ trà hoang quý hiếm hái ở miền núi có địa danh là Lũng Phín, nên gọi là trà Lũng Phín và ở Trung Quốc có những “vườn trà cấm” dành thu hái và chế biến cho quan chức cao cấp. Điều này còn cần tìm hiểu rõ hơn.

Tùy theo loại trà cách chế biến có thể bỏ qua một hay vài công đoạn, nhưng nhìn chung cách thu hoạch và chế biến trà có các công đoạn sau:

1.- Hái lá: trà thường được hái lá vào đầu xuân (cho chất lượng tốt nhất) cho đến đầu hạ, ít khi hái vào mùa thu hay đông. Trà hái thủ công luôn cho chất lượng tốt hơn hái cơ giới hóa vì hái cơ giới một phần búp trà có thể bị giập. Búp trà hái nên mới lú hai lá, người hái kéo búp ra rồi ngắt, tránh vặn đứt vì như thế làm giập trà khiến sau này mất chất lượng.

Theo truyền thống trà thường được hái vào buổi sáng sớm mới ngon và dừng lại khi mặt trời hơi chếch lên cao. Lại nữa, trà ở sườn hướng đông được cho là ngon hơn trà sườn hướng tây, và trà nên để phụ nữ hái mới đạt.

Qua đến đời nhà Tống nghi thức thu hái trà mang tính thần bí: trước khi thu hái trà, người ta phải cúng tế sơn thần; ngày hôm sau người tá mới lên núi hái trà theo nhịp trống chiêng nghi lễ. Người hái trà phải là những cô gái trẻ, chỉ được phép dùng móng tay gắt trà và tránh để trà chạm vào phần khác của cơ thể. Lá trà sau đó được phân loại, loại tốt nhất đem tiến vua. Cũng có cách hái trà mang tính cầu kỳ thành huyền thoại như Trinh nữ trà hay còn gọilà Thanh nữ trà. Lối hái trà này cho thấy trà thời này chưa là món ăn chơi vượt ra khỏi cung đình nhà vua.

2.- Làm héo: trà hái xong nên làm héo ngay để tránh bị các enzym thúc đẩy quá trình oxy-hóa. Khi làm héo xong, một lượng lớn nước đã thoát ra khỏi lá trà nên khả năng oxy-hóa còn rất ít. Có thể làm héo bằng cách phơi nắng hay cho vào phòng thổi gió mát để đẩy hơi ẩm ra khỏi lá. Qua quá trình làm héo lượng nước trong lá trà thoát ra đôi khi tương đương ¼ trọng lượng lá tươi.

3.- Làm giập: Là quá trình thúc đẩy oxy hóa áp dụng cho một số loại trà đen. Lá trà có thể làm giập bằng cách vò trong rỗ hay dùng vật nặng chà lăn. Quá trình này làm một lượng dịch trong lá trà chảy ra, và chính lượng dịch đó sẽ hỗ trợ quá trình oxy-hóa sau này và làm thay đổi vị trà. Loại trà trắng tuyệt đối không qua công đoạn này.

4.- Oxy-hóa: đối với loại trà đòi hỏi chế biến có công đoạn oxy-hóa này, lá trà cho ủ trong phòng kín để chuyển dần qua màu sậm. Trong qua 1trình này chất diệp lục tố trong lá bị enzym là vở ra, và chất tanin trong lá tiết ra rồi biến chất. Công đoạn này gọi là cho lên men, dù rằng sự oxy-hóa không thật sự xảy ra cho đến khi phát sinh nhiệt (công đoạn này không có sự tham gia của vi sinh vật mà oxy-hóa bằng enzym; ở một số công đoạn khác, như công đoạn làm già trà, vi sinh vật mới tham gia quá trình lên men). Người sản xuất trà chủ động được khi nào dừng quá trình oxy-hóa (tức chủ động được mức độ oxy-hóa). Đối với trà ô long loại nhạt màu, lá trà bị oxy hóa 5-40%; loại sậm màu lên đến 60-70%; còn trà đen oxy-hóa 100%.

5.- Sấy tươi hay Sái thanh (殺青): là thuật ngữ chuyên môn chỉ việc dừng quá trình oxy-hóa lá trà ở mức độ mong muốn. Công đoạn này nói vậy chứ đơn giản: xử lý nhiệt để các enzym oxy-hóa trong trà mất tác dụng mà hương vị trà vẫn giữ nguyên. Cách truyền thống trà được sao trên chảo lớn hay đem hấp, nhưng cũng có thể áp dụng công nghệ trong công đoạn này như sấy trong trống quay.

6.- Nhuộm vàng: chỉ áp dụng cho hoàng trà (trà vàng). Sau khi sái thanh trà được làm ẩm bằng nước ấm trong một buồng kín, nó làm trà xanh chuyển màu vàng.

7.- Tạo dáng hay định hình: lá trà được làm ẩm rồi được tạo thành dãi có nếp nhăn. Công đoạn này như sau: lá trà ẩm cho vào một cái bao vải rồi dùng tay hay máy nhào trộn cho đến khi có dáng mong muốn. Sự nhào trộn làm nhựa trong lá tươm ra càng làm tăng hương vị trà. Dãi trà có thể mang nhiều dạng, chẳng hạn như hình cuộn xoắn, viên tròn, …

8.- Sấy: sấy là công đoạn “hoàn tất” của trà thương phẩm. Thực ra còn một số công đoạn nữa như: sàng sẩy, phơi nắng lại, phơi gió, …

9.- Xử lý để bảo quản: tùy theo yêu cầu trà có thể được yêu cầu làm già thêm, lên men phụ, hay phun thêm hương liệu.

Người sành điệu vốc một nhúm trà lên tay, chẳng cần đưa lên mủi ngữi củng biết trà ngon hay trà dỡ. Trà mà sờ vào thấy mấ tay mềm mại là trà búp và chế biến đúng cách, sạm tay không là trà lá già thì cũng chế biến quá già lửa; trà có điểm vài lấm tấm vàng hẳn là trà thu hái trái mùa hay hái lẫn nhiều lá già.

Trà cụ (dụng cụ uống trà)

Người Trung Hoa luận theo thuyết Ngũ hành cho rằng trong một chén trà hội đủ năm hành kim, mộc, thủy, hỏa thổ; trong đó lá trà là mộc, nước là thủy, ấm đun nước bằng kim loại là kim, lửa đun là hỏa và ấm pha trà bằng gốm sứ là thổ. Do vậy, ngoài lá trà và nước pha trà có nhiều công phu chọn lọc, các vật dụng khác dùng uống trà cũng không kém phần phức tạp để đạt đến cái mà người Trung Hoa cho là “công phu trà”.

Món đầu tiên cần nói là bếp lò đun nước pha trà (trà táo – 茶灶). Làm hỏa lò cũng là một nghệ thuật sao cho lửa vừa đủ để nước sôi và ít cần thêm than mới vào. Hỏa lò phải được tính toán cẩn thận: ít lỗ thì lửa không bốc đủ, nhiều lỗ thì than mau tàn.

Đáng chú ý đến cuối đời Nam Tống, Chu Hy (1120-1200) mới đưa hỏa lò đun trà vào thi ca[2]. Nhưng đó là giai đoạn cuối đời của ông sau gần 40 năm sống ở núi trà Vũ Di Sơn (thuộc vùng Hoa Nam chứ không phải Hoa Bắc), nơi đã có tập tục uống trà. Bài Thơ viết:

仙翁遺石灶  – Tiên ông di thạch táo, (Ông tiên dời bếp đá,)

宛在水中央  – Uyển tại thủy trung ương (Ngay chính giữa dòng sông)

飲罷方舟去  – Tuy bãi phương chu khứ, (Uống trà mặc thuyền trôi)

茶煙裊細香  – Trà yên niểu tế hương. (Hương trà thơm phảng phất)

Có lẽ đây là lần đầu tiên thi nhân Trung Hoa gắn trà với tiên ông.

Thứ đến là ấm đun nước: ấm của người Trung Hoa thường làm bằng đồng, của Nhật làm bằng gang. Người Trung Hoa thích dùng ấm đồng vì đó là yếu tố ‘kim’ trong Ngũ Hành của thú uống trà. Ấm đun phải có kim hỏa dưới đáy mới mau sôi.

Luận về hai thứ này Phạm Đình Hổ viết: “rế lò dày mà lỗ thưa thì than lửa không bốc nóng quá, lòng ấm siêu lồi lên và mỏng thì sức lửa dễ thấy chóng sôi.” và “Gần đây lại có chế ra thứ siêu đồng cũng khéo, nhưng kim khí bị hỏa khí nó hấp hơi, thường có mùi tanh đồng, không bằng dùng siêu đất nung, pha chè tốt hơn. Song các nhà quyền môn phú hộ khi uống chè lại lười không muốn pha lấy. Thường thường họ giao cho tiểu đồng pha phách tất cả, dùng siêu đồng cho tiện và lâu vỡ, như thế không phải bàn làm chi nữa.” (Vũ Trung Tùy Bút) Quả đúng như Phạm Đình Hổ nhận xét, ngày nay một số tay chơi trà Trung Hoa có khuyên nên dùng ấm đất hay thủy tinh để tránh mùi hôi kim loại.

Trong Trà Kinh của Lục Vũ có câu dịch ra là: “nước là trà hữu, lửa là trà sư“. Lửa đun nước cũng là một một nghệ thuật pha trà. Phạm Đình Hổ còn nói thêm: “Khoảng năm Cảnh Hưng, ở Tô Châu có chế ra một thứ hỏa lò và một thứ than tàu đem sang bên ta bán, đều là những đồ dùng của khách uống chè cần đến, người ta đua nhau mua. Song gần đây đã có người biết cách chế ra, cũng bắt chước luyện than mà hầm lửa, nắm đất mà nặn lò, so với kiểu của Trung Hoa chẳng khác gì, người ta cũng ưa chuộng. Ta nhân thế lại tiếc cho người cầm quyền nước, xưa nay không biết lưu ý đến việc công nghệ dân ta. Tiếc thay!”. Té ra kỹ thuật hỏa lò cũng chỉ có bấy nhiêu và chẳng qua huyền thoại làm nó “huyền bí” thêm thôi.

Đi đôi với hỏa lò là than. Than phải chắc để đượm lửa, ít phải cho than mới vào gây khói ám vào nước. Than cây nhãn dùng rất tốt nhưng người Việt thời trước còn có loại than rất đặc biệt: trái ổi xanh phơi khô dùng để đun. Người Quảng Đông lại thích dùng hạt ô-liu làm chất đốt khi đun nước pha trà.

Kế đến là ấm pha trà. Ở Việt Nam chúng ta nên lưu ý có hai thú uống trà: thú của giới bình dân uống trà xanh chan chát và thú của giới trung lưu trí thức uống trà tàu (tức tiễn trà). Mỗi thú nên dùng một loại bình riêng: trà xanh nên dùng bình to loại lam xanh của Việt Nam, trà tàu nên dùng ấm sứ theo kiểu đời Minh-Thanh. Ngay cả dùng thứ trà bột (mạt trà) dùng đồ lam Huế của Việt Nam mới ngon, do vậy có một thời giới trà đạo Nhật Bản nhập gốm sứ lam Huế về phục vụ cho nghi thức uống trà của mình; lam Huế lừng danh thế giới từ đó. Loại trà tươi mà người Việt quen gọi là trà xanh được nấu từ nguyên nhánh trà tươi nấu lên hay từ nụ vối, lá vối nên uống bát sành mới thấy thú. Ngày xưa trên đầu môi người Việt luôn có chữ “bát chè xanh” tức là loại trà này, nó được bán ở đầu chợ đầu làng mà nay ít còn thấy. Loại trà này uống vào có vị chát nhưng sau đó trong cổ có hậu ngọt. Khi phong trào uống trà xanh có lợi cho sức khỏe khởi đầu vào thập niên cuối của thế kỷ 20, các chợ ở Việt Nam có bán trà tươi nguyên nhánh và nhiều người mua về tự nấu tại nhà.

Không biết có phải vì cái bóng của nhà văn Nguyễn Tuân quá lớn không, khi nói đến ấm pha trà người Việt hiện thời nhớ ngay câu: “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Nhưng hỏi ngược lại ấm Thế Đức gan gà, ấm Lưu Bội, ấm Mạnh Thần như thế nào thì nhiều người ấp úng. Ngay cả Nguyễn Tuân cũng chẳng giải thích gì thêm. Chẳng biết có phải ông chỉ nghe nói thế và kể lại hay không? Thực ra ba loại này là ba chủng loại của ấm Nghi Hưng, thích hợp dùng cho những loại trà đã oxy-hóa nhiều như trà ô long, hồng trà; không nên dùng cho trà xanh hay trà trắng. Khi các cụ thời xưa ca tụng ba loại ấm này hẳn là giới trung lưu quen dùng trà tàu. Trong Vũ Trung Tùy Bút Phạm Đình Hổ cũng lưu ý “trà Ô-long, trà thường được pha trong bình chu sa gan gà”. Chỉ Nghi Hưng mới có loại đất sét chu sa, tử sa.

Về ấm Thế Đức hiện chưa rõ chủ nhân của tên này, chỉ biết ấm đất đó màu gan gà (là màu gan gà luộc chín, tức nâu pha vàng) dưới đáy có ghi chữ Thế Đức. Còn ấm Lưu Bội cũng là ấm Nghi Hưng do Thiệu Cảnh Nam, hiệu Lưu Bội (1821-1850), đời Đạo Quang nhà Thanh sáng tạo ra và truyền cho lò của mình, Mạnh Thần (1589-1684) cũng là tên của một nghệ nhân sáng tạo ra loại ấm này (tên đầy đủ là Huệ Mạnh Thần, hiệu Kinh Khê. Ngày xưa các nghệ nhân hay ghi tên mình cùng đời vua dưới đáy ấm nên thành tên.

Ấm trà tử sa Nghi Hưng (Nghi Hưng Tử Sa Hồ  – 宜興紫砂壺) đã nổi danh trên thế giới. Nghi Hưng xưa là một vùng quê (nay đã thành phố thị) của tỉnh Giang Tô cách Thượng Hải khoảng 120 cây số về hướng Tây-Bắc, bên cạnh dòng trường Giang. Ấm Nghi Hưng ra đời theo loại trà ngâm từ đời nhà Minh, theo truyền thuyết Trung Hoa kể lại do Vũ Kỳ Sinh sáng tạo ra. Nhưng ấm Nghi Hưng thực sự lên đến đỉnh cao là đời nhà Thanh với những nghệ nhân làm ấm trà lừng danh như Huỳnh Mẫn Chương, Trần Minh Quang, … Sự nổi tiếng của ấm Nghi Hưng ngoài việc nó được làm bằng tay nên mỗi chiếc như một tác phẩm nghệ thuật (như ấm có tên Bách nhi đồ chạm nổi hình 100 đứa trẻ), mà còn vì loại đất sét ở đây rất đặc biệt, hiếm thấy nơi khác. Một số tác phẩm còn để lại tuyệt bút của một số nhà thư pháp nổi tiếng đương thời (có ấm viết trọn bài kinh Bát Nhã Tâm Kinh trên thành ấm).

Ngay thứ đất này cũng được người Trung Hoa cũng dệt nên huyền thoại: Xưa thôn Nghi Hưng nghèo khó có một ông sư hình dung cổ quái đi rao: “Ai mua đầt phú quý không?” (Mại phú quý thổ). Ai cũng cho là điên khùng trừ một ông lão nhà nghèo. Nhà sư dẫn ông lên vùng núi Tinh Sơn, dậm chân xuống đất rồi biến mất. Ông lão bèn đào sâu xuống tìm “phú quý” và ông gặp lớp đất ngũ sắc, đó chính là tử sa. Đất sét làm gốm sứ đây có đặc biệt gồm ba loại: đất sét tử sa (紫砂) có màu nâu sậm; chu nê (朱泥) có màu nâu đỏ, và  đoàn nê (鍛泥) có nhiều màu khác nhau từ màu be, lam, lục đến màu đen.

Giá trị của ấm Nghi Hưng ở chỗ không có tráng men nên hấp thụ nước trà khiến càng lâu ngày trà càng có hương vị thơm hơn; cũng chính vì vậy ấm đất Nghi Hưng không được dùng chất tẩy rửa để làm vệ sinh. Thường ấm dùng xong người ta chỉ tráng nước nóng rồi úp cho ráo. Hình thức bên ngoài ấm Nghi Hưng cũng rất đa dạng, có thể vuông, lục giác, tròn, thậm chí hình trái phật thủ, sừng tê giác, … Hiện Trung Quốc xem nghệ thuật làm ấm đất tử sa một trong bốn quốc bảo cần bảo tồn, ba thứ còn là kinh kịch, tranh thủy mạc, và lụa Tô Châu. Do vậy, trên trường quốc tế khi nói đến ấm pha trà thiên hạ nghĩ ngay đến ấm Nghi Hưng.

Nói như vậy chỉ mới phớt qua về chủng loại ấm, thật ra một chủng loại ấm như thế vẫn còn có cái đạt, cái chưa đạt vì tài nghệ của từng nghệ nhân có khác nhau. Trong truyện “Những cái ấm đất” Nguyễn Tuân có đề ra tiêu chuẩn lựa ấm: “Nếu không tin ông cứ úp ấm xuống mặt miếng gỗ kia. Cho ấm ngửa trôn lên. Cứ xem miệng vòi với quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng miếng gỗ thì biết. Nếu muốn thử kỹ nữa, quý khách thả nó vào chậu nước, thấy nó nổi đều, cân nhau không triềng, thế là đích ấm tàu.” (Những chiếc ấm đất). Thực ra bấy nhiêu chưa đủ, vì chỉ là chiếc “ấm Tàu” chứ không phải chiếc ấm pha trà tốt. Một ấm pha trà tốt còn cần thêm hai tiêu chuẩn sau: 1.- Vỏ ấm phải cứng, cầm ấm lên dùng ngón tay gõ nhẹ vào thành ấm nghe boong boong càng trong càng quý; 2.- Nắp ấm phải kín, thử bằng cách đổ ¾ nước vào ấm rồi đậy nắp lại (tay ghì giữ nắp ấm cho chặt) và nghiêng vòi nếu nước không chảy ra thì nắp ấm kín. Vỏ càng cứng càng ít thẩm thấu và nắp càng kín càng ít thoát hơi nước, có như vậy trà mới ấm lâu và ít bay thoát hương vị.

Những tay cự phách trong làng trà thường không thích ấm mới vì còn hôi mùi đất, ấm càng cũ và trong lòng ấm có gợn lớp bợn trà mới cho trà ngon. Do vậy các tay sành trà ít dùng chất tẩy rữa bên trong ấm trà, chỉ tráng qua nước nóng sau khi dùng rồi úp để ráo. Tập quán này trái ngược với nghi thức trà của Nhật. Thậm chí có người mua ấm mới về không đem ra dùng ngay, họ dùng vật nhám chà trong ngoài cho hết bụi đất lò nung gốm bám dính vào, rồi rửa sạch. Kế đó cho bã trà vào nấu nhiều giờ cho hơi trà ngấm vào gốm, có người nấu như vậy mấy ngày đêm, Lúc đó ấm có hơi trà và mùi đất nung biến mất, hương vị trà không bị át mất.

Rồi ấm trà còn phân chia theo số người uống: ấm độc ẩm chỉ để một người uống, ấm song ẩm dùng cho hai người đối ẩm với nhau, hay nhiều người thì dùng ấm quần ẩm.

Kế đến là chén trà. Người xưa có câu “ấm đất Nghi Hưng, chén sứ Cảnh Đức”; nói chén uống trà phải nói đến Cảnh Đức Trấn. Trấn này nguyên trước chỉ là một vùng đất thôn dã mang tên Xương Nam (昌南), đến niên Cảnh Đức (1004 – 1007) thời vua Tống Thần Tông (960 – 1279), chọn nơi này làm xưởng sản xuất đồ gốm dành cho vua và triều đình dùng (gọi là Ngự Diêu 龙窑) nên đổi tên thành Cảnh Đức Trấn (景德鎮). Nếu Nghi Hưng có loại đất sét đỏ gọi là tử sa làm ra loại ấm đất lừng danh, thì Cảnh Đừc có loại đất sét trằng gọi là cao lanh làm ra loại chén sứ có tên tuổi không kém phần lừng lẫy. Sứ Cảnh Đức đặc sắc ở điểm có lớp men ngọc nhiều màu và men ngọc bích (celadon), men chén mỏng và nhẹ, tiếng gõ vang trong và ngân rất dài. Với đặc điểm này làm chén dùng trà khiến trà trở nên tươi ngon hơn.

Bắt đầu từ đời Tống, đồ sứ Cảnh Đức chỉ dùng cho triều đình và làm vật phẩm của triều đình ban cho các nước chư hầu; nhưng qua đến đời Minh số lượng thợ gốm sứ tăng lên và nhiều lò mọc ra, nên trừ một số hàng ngự dụng độc đáo, thừa sức cung ứng cho dân chúng và bán ra nước ngoài.

Thực tế ít nhất từ đời Lý-Trần Việt Nam đã làm ra những sản phẩm sứ dùng trà rồi. Dĩ nhiên vào thời nhà lý chén trà vẫn còn hơi nặng, dù đã tạo ra men ngọc nhưng men chưa được mỏng, tiếng gõ chưa trong và ngân như chén của người Trung Hoa. Qua đời Trần thì có những sản phẩm không thua kém nhiều, gốm Chu Đậu về kỹ thuật đã đạt nhưng vấn đề nguyên liệu sản xuất rõ ràng còn thua kém đất của Cảnh Đức vốn lừng danh. Đến đời Lê-Mạc, gốm Chu Đậu được giới chuyên môn hiện nay đánh giá “mỏng như giấy, trong như ngọc, trắng như ngà, kêu như chuông” nên có thể nói không còn thua kém nữa. Gốm Chu Đậu hiện đã được thế giới biết đến dù số lượng trưng bày trong các viện bảo tàng khá hiếm hoi. Theo tác giả Khánh Hưng, bình gốm Chu Đậu đang trưng bày ở Viện Bảo Tàng Topkapi Sarayi (Istanbul – Thổ Nhĩ Kỳ) có giá lên đến 1 triệu đô-la mỹ [Nguồn trang web Eastern Culture]. Một chiếc bình Chu Đậu khác (trước kia thuộc gia sản của sứ quân Yoshiharu Tokugawa – 1737-1786) hiện đang được bảo quản Viện Bảo Tàng Quốc Gia Nhật và được đánh giá là Tài sản Văn hóa Trọng yếu (Important Cultural Property).

Tuy nhiên. một số tác giả có tinh thần dân tộc hơi “quá nhiều” viện dẫn cuốn Dư Địa Chí, Nguyễn Trải viết: “Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Cầu thuộc huyện Văn Giang. Hai làng ấy cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là 70 bộ bát dĩa, 200 tấm vải thâm.” [Nguyễn Trải Toàn Tập – NXB Khoa Học Xã Hội 1998 – Trg. 225] để chứng minh Việt Nam có lò sản xuất ấm trà ở Bát Tràng. Nhưng đó chưa phải là chứng cứ cho thấy chén uống trà sản xuất tại đây vào thời ấy. Chúng ta cần khách quan hơn và tìm hiểu chứng cứ khảo cổ nữa.

Dù vậy cũng nên thấy tinh thần của triều đình Việt Nam luôn có quan niệm đồ của Thiên Quốc luôn là tốt, xứng đáng cho vua chúa dùng; nên thường đặt hàng ở Cảnh Đức gọi là ký kiểu, tức thuê làm theo kiểu dáng và ghi niên hiệu vua Việt Nam. Quy trình ký kiểu như sau: các hoạ công triều đình theo ý của vua vẽ các mẫu về kiểu dáng, hoạ tiết và thơ văn trên giấy; các bản vẽ này trình lên nhà vua phê duyệt chuẩn rồi sau đó sai sứ bộ sang Trung Quốc đặt làm. Việc ký kiểu đồ sứ được khởi xướng bởi vương triều Lê – Trịnh ở Đàng và trở nên thịnh hành dưới triều Nguyễn. Trong 13 đời vua của nhà Nguyễn, chỉ có 5 đời vua có ký kiểu đồ sứ là: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và Khải Định. Do vậy, một số quan lại người Việt khi đi sứ sang Trung Hoa hay mua về nên chén sứ Cảnh Đức là điều dễ hiểu.

Chén trà có hai loại: chén tống (trại âm từ chữ tướng) và chén quân. Chén tống dùng chuyên trà từ ấm ra, rồi rót vào chén quân để uống. Theo Vương Hồng Sển thì miền Bắc dùng một chén tống và bốn chén quân; miền Trung trở vào Nam dùng một chén tống với ba chén quân nên mới có thành ngữ “nhất tống tam quân”.

Bộ chén trà lại chia làm bốn loại để dành dùng cho từng mùa: xuân ẩm, hạ ẩm, thu ẩmđông ẩm. Hình dạng bốn bộ chén này cỡ vừa (không lớn không nhỏ, không dày không mỏng) vào xuân thu gọi là kiểu xuân ẩm và thu ẩm; nhưng kiểu Hạ ẩm dùng cho mùa Hạ chén nhỏ thành mỏng giúp nước nhanh nguội, kiểu Đông ẩm thì chén trà dày và lòng chén sâu giữ cho trà lâu nguội.

Nhưng bộ đồ trà nổi tiếng nhất Việt Nam phải nói bộ đồ trà vẽ mai hạc, đề hai câu thơ chữ Nôm “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ hạc là người quen”. Bộ đồ trà này do vua Tự Đức ký kiểu cho lò gốm Trung Hoa làm nên có ghi “Tự Đức Niên Chế”, hiện bảo tồn tại Viện Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế. Tuy nhiên du khách vẫn có dịp nâng trên tay bộ chén này để uống trà, dĩ nhiên bộ đồ trà phục chế, nếu có khả năng thanh toán dịch vụ Buổi Uống Trà Cung Đình cho công ty du lịch.

Vương Hồng Sển từng thăm một bà mệnh phụ có bộ đồ trà quý, ông viết “Còn đây là bộ chén trà bằng ngọc lưu ly, nếu rót nước vào thì vun chùn như miệng chén lên be thêmNhưng theo ý tôi, những món này tuy quý lạ, vẫn không làm cho tôi say mê bằng mấy bộ chén trà và tô uống trà, có thơ nôm hoặc hiệu đề đúng vào những năm đi sứ của sứ bộ Nguyễn triều, hoặc những bình tích Mạnh Thần, Thế Đức, thật cổ thật xinh, thuở nay tôi chưa từng thấy ở đâu có nhiều và có đẹp như ở nhà này.” (Sài Gòn Năm Xưa); nhưng thú vị nhất có lẽ là bộ đồ trà “Gia Long Tẩu Quốc” mà ông tiết lộ trong cuốn sách này. Bộ Gia Long Tẩu Quốc theo mô tả của Vương Hồng Sển có ba loại cùng một mô týp “hình một khách lữ hành đứng độc thân bờ sông bên kia tựa hồ đang chờ một chiếc thuyền con”; nhưng khác nhau ở bài thơ khảm men trên chén trà. Tác giả ghi lưu lại được hai bài thơ vì bộ thứ ba không có bài thơ:

Một bộ chén thì:

Bình kiều nhơn hoán độ,

Chuyển lực tiểu thuyền lai.

(Cầu vững, người kêu đò, ra sức, thuyền lại gần).

Một bộ chén khác nữa thì:

Ngư gia độ hoàng gia,

Âm tinh ngộ đế tinh.

(Ông chài độ ông vua, sao âm gặp sao đế).

Sau nữa đến khay trà. Tuy không đụng chạm trực tiếp gì đến trà nhưng khay trà góp một phần trong thú chơi trà. Khác với chén trà kiểu Phương Tây, chén trà Á Đông đúng nghĩa không có dĩa riêng cho từng chén. Thay vào đó là khay trà để đúng chén tống, chén quân và còn có tách dụng tránh nước trà rây ra chỗ ngồi. Có khay làm bằng gỗ, cũng có khay làm bằng sành sứ, chạm khắc hoa văn tùy theo sở thích người dùng. Một số loại khay trà nổi danh cũng có tên riêng như: Chân quỳ xoi chỉ, Bàn toán, Chân quỳ dạ cá, Thành lựu, …. Theo đúng nghệ thuật uống trà, chén tống đặt trên đĩa dầm, bốn chén quân đặt trên đĩa bàn, tất cả đặt trên khay bằng gỗ hay sứ. Dĩa dầm cũng có nhiều loại như đĩa vị thủy, đĩa siêu tương, đĩa tùng lộc, đĩa thạch lan, đĩa thạch trúc, đĩa con voi, …

Ngoài ra còn có một số món linh tinh khác như: bình chuyên trà, bồn đựng bã trà, trà thuyền (茶船) là cái chậu nhỏ đựng nước nóng ngâm ấm trà trong đó để trà chậm nguội, cóng xúc trà hay trà tắc (茶則) là thanh nhỏ cuốn cong để xúc trà trong hộp cho vào ấm pha, tăm thông vòi, cái kẹp chén (để kẹp chén tráng nước sôi), trà kỷ (bàn nhỏ để uống trà), văn hương bôi (聞香杯) là chén nhỏ để rót ra đó ít nước trà dùng ngửi chiêm ngoạn hương vị trước khi uống; … và đúng cách hơn còn phải có lư hương trầm đốt lên khi thưởng trà. Bấy nhiêu thứ cũng đủ làm người thiếu tâm hồn trà thấy choáng váng, nhưng so với trà cụ trong nghi thức trà Nhật bản quả chẳng thấm đâu.

Pha trà

Đi đầu trong việc pha trà là chọn nước. Từ xưa người Trung Hoa đã bỏ nhiều công sức bàn về chuyện này, có người viết cả cuốn sách chỉ luận thứ nước nào pha trà ngon như cuốn Tiễn Trà Thủy Ký (煎茶水记) có nghĩa “Ghi chép các loại nước pha trà ngâm” của Trương Văn Tân viết năm 814; trong đó  nêu nhiều địa danh ở Trung Hoa nổi tiếng cho nước pha trà ngon. Lục Vũ thì cho rằng nước suối pha trà ngon nhưng phải tránh nơi gần thác vì nước vẫn đục, thứ đến là nước sông nhưng phải lấy giữa dòng. Nhưng đúc kết của trà nhân từ xưa để lại ba kinh nghiệm: thứ nhất Sơn thủy thượng (nước đầu nguồn hoặc sương tuyết tan trên vùng băng giá), thứ nhì Giang thủy trung (nước ở giữa lòng sông) và cuối cùng Tỉnh thủy hạ (nước ở giếng sâu).  Theo giới chơi trà thời nay, nước pha trà phải khử độ cứng của nước và có một hàm lượng vi khoáng nhất định mới ngon, họ cho rằng nước cất hay nước mưa (nước tinh khiết) pha trà uống lạt phèo.

Phạm Đình Hổ có nói đến nước suối Hồng Tâm pha trà rất ngon. Trong cuốn Sài Gòn Năm Xưa Vương Hồng Sển có nói đến địa danh Cầu Hộc, thuộc địa phận làng Bình Yên, có một cái giếng nước dùng pha trà rất ngon. Dĩ nhiên ngày nay chúng ta chẳng ai có cơ hội kiểm chứng việc này, ông viết: “Gọi Cầu Hộc làm vậy vì tại đây xưa có một cái giếng xây miệng vuông vức như cái hộc đong lúa (giếng hộc). Cụ Trương Vĩnh Ký thuở sanh tiền thường khen giếng này nước ngọt nấu trà thơm ngon không nước giếng nào bì.” Nguyễn Tuân cho rằng nước giếng ở trên những vùng đồi núi có hương vị tinh khiết, có thể có cùng nguồn với nước suối. Kẻ lại bảo lấy nước mưa mới tốt; người cầu kỳ hơn lấy nước đọng trên lá sen mỗi sáng, tức loại nước của con sông lưng chừng trời mà văn hoa gọi là “bán thiên hà thủy” (như trong truyện Ấm trà trong sương sớm). Nhưng mọi người cùng đồng tình nước máy không hợp cho trà vì có nhiều hóa chất, nhất là clorine làm mất mùi trà. Còn truyền thống ở Huế thì cho rằng nguồn nước ngon là nước sông Hương khoảng trước đền Ngọc Trản (Hòn Chén), nước giếng Thanh Phương (Chùa Giác Hoàng), nước giếng Hàm Long (Chùa Báo Quốc), nước giếng Cam Lộ (dưới núi Túy Vân). Trước đây trên vài chục năm dân miền nam còn truyền tụng câu “Nước Mạch Bà, trà Phú Hội“, Phú Hội là một vùng trồng trà ở miền nam còn Mạch Bà là ngòi nước dùng pha trà có tiếng ngon vùng Cát Lái. Ngày nay không còn nữa.

Thứ đến là kỹ thuật đun nước. Mà đun nước phải cần có hỏa lò đúng cách và chất lượng than đạt yêu cầu. Dân sành trà luôn có riêng một hỏa lò và ấm đun kim loại dành riêng cho việc nấu nước pha trà, chứ không cho chung đụng dùng vào việc khác vì sẽ làm mất hương vị trà. Trước khi đặt ấm lên đun nước, than phải đã cháy đượm để tránh khói ám vào nước, do vậy việc điều chỉnh sao cho than cháy lâu, không cần thêm than mới vào, đủ kéo dài cho một buổi thưởng trà quả không phải là điều không cần bàn đến.

Người Trung Hoa ưa dùng ấm đồng để đun nước, người Việt chúng ta thời trước cũng noi theo đấy; riêng người Nhật thì dùng ấm bằng gang. Bộ phận quan trọng trong ấm đun là cây kim hỏa, giúp nước mau sôi. Than pha trà phải chắc, cháy đượm và thật ít khói. Người Trung Hoa coi than làm từ hạt ô liu nấu trà mới hảo hạng, còn người Việt đơn sơ hơn dùng quả ổi xanh phơi khô hầm thành than.

Độ nóng của nước cũng quyết định chất lượng chén trà, không đủ độ nóng thì không chiết hết tinh trà, quá nóng trà nhũn và bay mất hương vị. Giới quen dùng trà hiện nay thường bảo với nhau: trà xanh dùng nước khoảng 850C, trà lài khoảng 900C, còn hồng trà (tức trà đen theo lối gọi Phương Tây) phải sôi 1000C. Ngày xưa người ta lắng đọng tâm hồn vào chén trà ngay trước khi nó được pha, các cụ thưởng thức trà ngay từ tiếng reo của nước đang đun nên tinh tế phân biệt ba loại nước sôi: độ thứ nhất là nước sôi “giải nhãn” trông như mắt loài cua (mới chớm sôi); độ thứ nhì là “ngư nhãn” tức bọt nước lăn tăn trông giống như mắt đàn cá đang lội gần mặt nước (sôi vừa); cuối cùng là nước sôi to.

Trong truyện “Chén trà trong sương sớm”, Nguyễn Tuân còn thi vị hóa việc đun nước pha trà, cho từng hòn than ngọn lửa một linh hồn và linh hồn đó hòa nhập vào người thưởng trà: “Thỉnh thoảng, từ hòn than tự tiêu diệt buột ra một tiếng khô, rất khẽ và rất gọn. Thế rồi hòn than sống hết một đời khoảng chất. Bây giờ hòn than chỉ còn là một điểm lửa ấm ấp trong một cái vỏ tro tàn dầy và trắng xốp. Cụ Äm vuốt lại hai mái tóc trắng, cầm thanh đóm dài đảo lộn tàn than trong hỏa lò, thăm hỏi cái hấp hối của lũ vô tri vô giác. Cụ Äm bỏ thêm một vài hòn than hoa nữa vào hỏa lò. Than hoa không nổ lép bép như than tầu; nhưng từ ruột ấm đồng bị nung nấu đã lâu, có tiếng thở dài của khối nước sắp biến thể. Nước đã lên tiếng để nhắc người ta nghĩ đến nó.”. Không cần nghi thức hay triết lý vẫn thấy trong đó cái gọi là Đạo.

Đun nước rồi không phải cứ thế mà pha vào trà, mà pha trà phải qua 4 thủ thuật: 1.-  Rửa bình trà với nước nóng, 2.- Cho vào ấm lượng trà theo độ đậm nhạt tùy người uống, 3.- Rót nước vào ngập trà khoảng vài phân, rồi rót ra bỏ (rửa trà), 4.- Sau cùng mới rót nước nóng vào gần đầy và hãm trà.

Tùy loại trà và kinh nghiệm uống mà hãm 15 đến 60 giây đồng hồ có khi 3 phút. Nước thứ nhất chỉ nên rót ra 2/3 ấm, chùa lại 1/3 ầm làm nước cốt cho lần thứ hai. Lần thứ hai cũng vậy, chừa 1/3 cho nước ba. Nước ba là nước cuối cùng.

Múc trà cho vào ấm pha phải dùng một thứ dụng cụ gọi là cóng xúc trà chứ không bốc tay, và xưa kia các cụ nho gia gọi động tác này rất văn chương: “Ngọc diệp hồi cung” (lá ngọc quay về cung). Nước châm lần thứ nhất hơi ngập mặt trà rồi chắt ra để tráng (rửa) trà được gọi là “Cao sơn trường thủy” (núi cao sông dài). Nước lần thứ hai đổ gần đầy có tên “hạ sơn nhập thủy” (xuống núi tắm sông). Bấy giờ chờ khoảng 1 phút cho trà thấm ra, rồi rót ra chén tống và chia cho từng chén quân. Khi chia trà cũng không rót đầu chén này rồi qua chén kia; mà rót một chút vào mỗi chén, hết vòng nếu còn rót thêm một vòng nữa. Rót như thế hương vị và độ đậm nhạt các chén đều như nhau. Rót trà cũng đòi hỏi có khuôn phép và thể thức. Nếu rót xoay vòng các chén quân mà không nhấc tay lên gọi là cách rót “Quan Công Tuần Thành”; còn nếu rót một chén xong nhấc tay lên rồi rót chén khác gọi là cách “Hàn Tín Điểm Binh”.

Lại nữa, khi rót trà đừng bao giờ rót đầy chén, chỉ rót 2/3 mà thôi. Những loại trà vàng, trà trắng, trà xanh nên hãn trong chén có nắp mới ngon. Còn dùng ấm là trà đen, trà phổ nhĩ và trà Ô Long.

Thưởng trà

Trà Kinh của Lục Vũ dành hẳn một thiên (thiên 6: Lục chi ẩm) nói về uống trà. Quy quy kỹ thuật uống trà vào trong 9 chữ: 1.- Phẩm : nhìn bằng mắt để đánh giá phẩm chất trà, 2.- Ôn: định độ nóng nước sôi pha trà, 3.- Đầu : định một lượng trà vửa đúng cho vào ấm, 4.- Trúng : cách châm nước nóng vào trà, 5.- Trúng : thời gian và cách hãm cho nở trà, 6.- Phục : rót nước sôi đầy ấm, 7.- Chân: rót nước trà trong ấm vào chén, 8.- Kính: nghi thức dâng chén trà mời khách, và 9.- Ẩm : cách uống và thưởng thức trà. Nhưng đó chỉ là kỹ thuật chứ chưa là nghệ thuật thưởng trà.

Thưởng trà có nghĩa là thưởng thức trà; nó là một nghệ thuật. Thi nhân đời Đường-Tống có những bài thơ tả cảm giác khi uống trà được người đời khen xuất thần. Chẳng hạn bài Trà ca của Lô Đồng viết:

Nhất oản[3] hầu vẫn nhuận.

Nhị oản phá cô muộn.

Tam oản sưu khô trường

Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển

Tứ oản phát khinh hãn

Bình sinh bất bình sự

Tận hướng mao khổng tán

Ngũ oản cơ cốt thanh

Lục oản thông tiên linh

Thất oản khiết bất đắc

Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh …

Chén thứ nhất làm trơn cổ họng

Chén thứ hai làm tan nỗi buồn phiền

Chén thứ ba thấm vào ruột đang khô héo

Chỉ còn lại năm nghìn cuốn sách

Chén thứ tư làm mồ hôi rướm ra

Những chuyện bất bình trong đời

Cũng theo lỗ chân lông mà bay đi

Chén thứ năm làm cơ thể sạch sẽ

Chén thứ sáu đưa ta tới cõi tiên

Chén thứ bảy không uống được nữa

Chỉ thấy hai bên cánh tay gió phần phật thổi.

Bài thơ này được nhiều người trích dẫn khi nói về trà. Nhưng như thế chỉ mới là cảm giác thú vị của việc thưởng trà, chứ chưa đi vào cái hồn của trà. Anh nông phu Việt Nam tuy không nhiều chữ nghĩa để diễn tả ra như Lô Đồng, nhưng cái thú tận hưởng đó không thiếu: Trời nắng chan chan, vác cuốc từ đồng về, ghé tạt vào quán chè xanh ven đường, gọi một bát, ngồi rút một chân lên ghế, phất phơ chiếc nón lá xua đuổi cái nóng oi bức mùa hè. Bê bát chè đã nguội lên môi, đánh ực một loáng, mồ hôi thấm ra, cơ thể đột nhiên mát mẻ với làn gió thoảng hiu hiu. Anh nông phu mĩm cười thoải mái: “Sướng”. Cái sướng của anh nông phu này chẳng cần đến 7 chén trà, và nó tự nhiên như vốn có của “Đạo”, chẳng phải suy tưởng cõi tiên. Càng thấy bài hai châm ở chùa Một Cột (nói ở chương 3 “Trà phong Việt Nam”, quyển 3) thanh thoát và thi vị hơn. Và ở chương này sẽ luận nhiều hơn về thú dùng trà của người Việt.

Quả vậy, người bình dân uống trà có thể một tay nâng chén lên, nhấp một miếng rồi uống một hơi, xong khà một tiếng sãng khoái. Bao lo toan trong cuộc đời phút chốc tan biến dù bên mình chỉ có chiếc áo xác xơ với tô cơm đạm bạc. Nhưng giới uống trà trung lưu trí thức thì không vậy; nâng chén trà lên phải hai tay ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón chỏ và cái đỡ miệng chén gọi là “Tam long giá ngọc” (ba con rồng đỡ hòn ngọc). Người mời trà và khách khi nâng chén cùng nhau thưởng trà đều phải cung kính cúi đầu chào nhau. Trước khi đưa tới miệng, phải nâng chén trà sang tay trái rồi qua phải gọi là “du sơn lãm thủy” (đi chơi tiêu dao sông nước). Tiếp chuyển chén trà vào trong lòng bàn tay, năng lên mũi để thưởng hương trà theo hơi nước bốc ra, rồi lấy tay che chén trà và miệng để nhấp một ngụm nhỏ. Từ từ cho ngụm trà đi xuống cổ họng, trầm tư thụ hưởng vị trà trong cổ và hơi trà dâng lên mũi. Kiếm được người cùng mình thưởng trà như thế này quả không dễ vào thời buổi bây giờ.

Tột đỉnh của nghi thức trà phải nói đến Trà nghi của Nhật Bản. Mời được người tao nhã uống cùng mình vài chung trà đã là một thú thưởng trà; lo cho chu đáo buổi trà để khách tán thưởng là bậc thưởng trà cao thủ. Đúc kết được điều đó đúng là bậc thượng thừa, bậc thượng thừa đó chính là Lợi Hưu. Ông đã đúc kết được 7 nguyên tắc khi mời trà là: 1. Phục vụ trà với cảm nhận thấu đáo tâm hồn của khách, 2. Chuẩn bị thật kỹ than củi để đun nước, 3. Tạo không gian để khách ấm về mùa đông, mát về mùa hè, 4. Bài trí hoa tự nhiên như ở trong thiên nhiên, 5. Thao tác nhanh và chính xác, 6. Phải phòng mưa ngay trong những ngày đẹp trời, 7. Hướng dẫn quan tâm đến từng người khách.

*****

Sao thú chơi lại quá tốn công mất của đến như thế. Câu trả lời: không như thế không phân cao thấp trong làng chơi, và nếu không khó nhọc thì sao có được cảm giác thú vị lâng lâng khi tận hưởng. Không nằm trong bụi cả ngày để rình bắt một con chim cu thì sao thấy hết cái hay trong tiếng hót của nó. Do vậy người chơi chim có cực khổ mới biết yêu chim, biết buồn tiếc khi một con chim qua đời; còn đại gia bỏ tiền ra mua chim nào có được cái thú này chăng?. Trong Vũ Trung Tùy Bút, Phạm Đình Hổ từng cười bọn nhà giàu đua đòi chơi trà, mà chẳng có hồn trà: “Lúc ngồi rỗi, pha chè uống với nhau, lại đánh cuộc xem chè đầu xuân năm nay sớm hay muộn, giá chè năm nay cao hay hạ. Kẻ thì ưa thanh hương, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên, mua cho được chè ngon, bày khay chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn mua cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tàu buôn đặt cho được kiểu ấm chén mới lạ, cách hiếu thượng đến thế là cùng cực. Song cái thú uống chè tàu có phải ở chỗ đó đâu!

Chỉ khi người chơi và thú chơi hòa vào làm một, cùng vui thích và thương tiếc với món đồ chơi mới là bậc thầy trong thú chơi. Trong sự hòa điệu đó, người ngoại đạo khò nhận thấy ở bậc thầy đó nét riêng biệt, nhưng nét đặc thù vẫn ẩn tàng trong con mắt của bậc thầy khác, thì lúc đó gọi là “Đạo”. Bởi lẽ chỉ dùng ngôn ngữ của đạo mới có thể hiểu đạo, mà ngôn ngữ của đạo cũng như ngôn ngữ của nghệ thuật không thể dùng ngôn ngữ thường tục mà diễn đạt. Nó đúng theo định nghĩa của Lão Tử: “Đạo, bản thể thì hư không mà tác dụng thì cơ hồ vô cùng, nó uyên áo mà tựa như làm chủ tể vạn vật. Nó không để lộ tinh nhuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục; nó sâu kín (không hiện) mà dường như trường tồn. Ta không biết nó là con ai, có lẽ nó có trước thượng đế.” (Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh. Uyên hề tự vạn vật chi tông. Toả kỳ nhuệ; giải kỳ phn; hồ kỳ quang; đồng kỳ trần. Trạm hề, tự hoặc tồn! Ngơ bất tri thuỳ chi tử, Thượng đế chi tiên.) [Đạo Đức Kinh – 4]

Khổ nỗi hiếm mấy ai hòa được mình vào trà như nghệ sĩ Bá Nha hòa vào cây đàn, vì không hòa được lại bày ra nghi thức cầu kỳ để thể hiện sự hòa nhập giả tạo. Lúc đó “Nói đến đạo thì đạo đã mất rồi” {Đạo Đức Kinh]. Hay đi xa hơn nữa như trường hợp người võ sĩ đạo xông vào đám cháy, mổ bụng bảo vệ bức tranh quý thì ‘đạo’ đã thoái triển nhiều lắm rồi (xem quyển 2). Lúc đó không có sự hòa điệu giữa con người với nghệ thuật, chỉ có sự tiếc xót cho một bảo vật theo kiểu dung tục phàm trần theo như Phật giáo nói về phiền não: “Có nên sợ mất cũng là khổ”. Có lẽ lúc viết đến đoạn này Okakura Kakuzo đã hòa nhập mình vào chủ đến đến mức tột cùng, nhưng trong tột cùng đó phản ảnh một điều phi đạo trong thưởng giám nghệ thuật mà ông đang diễn đạt. Dù cho hành động của người võ sĩ đạo đó được ca ngợi là trung thành, dũng cảm và cao quý.

Trà đạo cũng vậy, khi lễ nghi sinh ra báo hiệu đạo đang suy tàn; đến tột cùng của nghi lễ thì “đạo” không còn nữa. Hồn trà thực sự không thể tồn tại trong mớ lễ nghi trói buộc.

Tác giả Đức Chính – Tác phẩm: Trà Thư


[1] Chín điều đó kết tinh thành 9 chữ: phẩm, ôn, đầu, trúng, mãn, phục, chân, kínhẩm.

[2] Vào thời này trà nhà Trần nước Việt cũng đã đi vào thi ca và thiền học rồi.

[3] oản là bát lớn như chén ăn cơm của chúng ta


*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ


Read Full Post »

Bộ ấm cũ

Vèo nghe lá rụng đầy sân, ngồi rình những bước đi im ắng của thời gian để nay đốc chứng ôm khư khư mấy cục đất sét nung khô…Cũng chẳng vô tri bất mộ gì quá lắm, chẳng qua nhè cái tuổi lục tuần nhi nhĩ thuận rị mọ làm quen với mấy bộ ấm trà nắp rồng, quai chảo được nặn, véo cáo cạnh mới đâu đây.. Để rồi sáng sáng nhìn nắng lên, lửng lơ cùng tri giao quái ngã sầu đa mộng, trộm vía thấy có cụ lên tận mây xanh tìm sao hôm, sao mai, lại có cụ lóp ngóp bò lên ngồi chễm chệ trên bàn thờ ngóng chờ Phật. Nghĩ cũng hay, vì vậy người viết mới có chuyện chiều chiều ngắm hòang hôn xuống, để lặng lờ nhớ nhà trong điếu thuốc cùng khói huyền bay lên cây với con quay, con vụ của cái buổi ấu thời. Để rồi ăn mày quá khứ bằng vào mới chớm gió heo may cùng những ngày cận tết, được nghe bà láng giềng vén váy chửi mất gà. Tối ba mươi ngồi bên góc bếp canh nồi bánh chưng xem các dì, các cô kết tốt đỏ, tốt đen. Mùng một đi chùa, gặp cái bình vôi đất Thổ Hà nằm lăn lóc dưới gốc cây đa. Chiều về đã thấy các cụ đo giường vật vã với nàng tiên nâu, nhỏm dậy hít vài bi thuốc lào Tiên Lãng.

Rồi chiêu…một tách trà.

Bỗng quan hòai, mang mang cùng những cái thú chơi mấy cái ấm cũ của các cụ ta xưa, thế nên một ngày hòai cố nhân, ngồi gõ mõ với mấy bộ “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Ngày trời tháng Bụt, gặp lúc trái nắng trở trời với gió nồm, gió hanh, để rồi tự hứa sẽ đặt bút xuống lân la qua chuyện các bà nhà quê chửi nhau có vần có điệu nó ra làm sao. Một thương hai nhớ để chẳng thiếu vắng cái bình vôi, bộ bài tam cúc, cái tẩu thuốc phiện. Rồi đảo qua cái bát điếu làng Bát Tràng, nõ viền bạc, hoa văn cỏ gà cùng những người xưa năm cũ.

Và bụng bảo dạ rằng chẳng sớm thì chầy sẽ có một ngày …

Thế nhưng nay ôm rơm rặm bụng với những chiếc ấm đất lỡ mà láo ngáo đụng tới trà kinh, trà đạo thì cứ như con kiến bò quanh miệng chén, hoặc giả như con kiến mày đậu cành đào, leo phải cành cộc lèo vào leo ra, thế nên chả dại. Vì rằng hí hoáy với Trà Kinh của Lục Vũ như lạc lõng vào rừng trà bao la bát ngát, thoai thoải bên sườn đồi hay cạnh sông Dương Tử mãi tận bên Tầu với cả trăm loại tên khác nhau, như lớ ngớ vào tiệm thuốc bắc, kệ trên ngăn dưới với thục địa, đương quy, trần bì phục linh..v..v..Với mấy ông con trời thì trà cũng có năm, có tuổi, có tướng mạo, có kim, mộc, thủy, hỏa thổ, có mầu sắc, có hương vị và khí phách khác nhau, Chúa ơi! Chẳng khác nào như…rượu vang vậy. Lại chẳng thỏa mái cho mấy với Trà Đạo của Okakura Kakuro, đâu đó cũng chỉ ba cái lễ bộ lăng nhăng như bỏ một nhúm trà vào ấm gọi là ngọc diệp hồi cung, tráng trà là cao sơn trường thủy, pha trà là hạ sơn nhập thủy, nhấc chén trà lên bằng ba ngón tay là tam long giá ngọc, đưa trà lên mũi hít hà thì cũng nên đưa từ phải qua trái, để được tôn vinh là…du sơn lâm thủy.

Chao ôi là nghi thức, là cầu kỳ quá đỗi.

Ấy là chẳng đặng đừng phải mầy mò vặn vẹo với chữ nghiã, bạn đọc cũng chẳng nên lắc đầu ngao ngán thở ra với người viết. Vì rằng chỉ một chén trà bé bằng cái hột mít không thôi, các cụ ta xưa đã tốn nhiều giấy mực như cụ Nguyễn Trãi với “Tảo tuyết chỉ trà, hiên trúc hạ”, cụ thưởng trà nào có khác một thiền sư: “Thắp hương trước án bên mai lũy – Quét tuyết đun trà trước trúc hiên” hay trong “Vũ Trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ thì “Trà tiên, rượu thánh”, hoac gia trong “Hương Trà” của Đỗ Trọng Huề với trà ướp như trà sen, trà cúc. Riêng cụ Nguyễn Du để lại cho đám hậu sinh với “Trà tầu, tửu quán” để sau này có…quán rượu. Lậm bàn thêm một chút nữa thì trong “Những chiếc ấm đất” của cụ Nguyễn Tuân, lão ăn mày nhấp một ngụm trà thấy có mùi vỏ trấu ở trong bã trà cũng khí hơi bị lọng cọng. Hoặc giả lão phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại vì cái thú uống trà thì cũng có hơi quá đáng chăng. Vì thế cho nên tạp ghi này chỉ bóp méo vo tròn, như gà què ăn quẩn cối xay với cụ Lê Qúy Đôn qua tập “Vân Đài Lọai Ngữ” cùng nhất thủy, nhị trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh vậy thôi…

Người viết khốn khổ với một mảng văn chương của cụ chẳng phải là ít, đọc thóang qua “ngũ quần anh” là hoang tưởng ngay đến…“Võ Lâm Ngũ Bá”. Chớp được hai chữ “tam bôi” lại nặng nợ với dòng nhạc đại chúng “quan hà xin cạn chén ly bôi”, đã chén còn…bôi bác làm gì nữa hở giời. Trước đèn đọc sách thấy thưởng trà chẳng ngon sơi, nào quạt than, đun nước, pha trà, than phải là than đá, than quả bàng. Nước nên là nước suối đầu nguồn, sôi sủi đầu tăm, đầu đũa, mắt cua, mắt cá. Trà phải là lục trà, hắc trà. Hắc trà ráng mà hiểu dùm là trà nó đột xuất ra…mầu hồng, khó vậy đấy . Bôi đây là chén, chén đây là chén quân, chén tống. Bình không thể là bình thiếc mà là ấm Nghi Hưng. Còn “ngũ quần anh” chẳng thể thiếu vắng độc ẩm, song ẩm với ngưu ẩm này kia.

Đã chìm đắm với gợn sóng trong chén trà, lại liên tưởng đến chè mạn và có người đã căc cớ hỏi cớ sự gì lại gọi là “chè” để gây ra một cuộc bút chiến dài mệt nghỉ, sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Rồi thì giết ruồi bằng dao mổ trâu, dẫn chứng bao nhiêu điển cố, điển tích, nào là bà chúa chè Đặng thị Huệ với chúa Trịnh Sâm. Hay lá gì bỏ vào nồi nấu được gọi là chè, như chè xanh, chè vối, chè tươi. Nhưng chung cuộc thì giản dị và cũng dễ hiểu thôi, là người miền Trung kêu trà là…chè, rắc rối mô tê chi cho mệt.

Hay là tạm gác lại với những cái tên vô bổ ấy đi, hãy làm hai, ba tuần trà của Tầu và Việt. Nếu có trà dư tửu hậu, thì hãy đến với trà thất của Nhật, thiết nghĩ cũng chẳng muộn màng gì cho lắm. Có đầu có đũa thì tự lâu lắm rồi, trà sử nước ta qua Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ năm 1547, có truyện Gã Trà Đồng nguyên văn như sau:

Dương Đức Công tên Tạc, người phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng, đời vua Huệ Tông nhà Lý, ông là phán quan ở Tuyên Quang, xử phạt rất công minh. Năm 50 tuổi vẫn không có con trai nối nghiệp nhà, chợt một hôm ốm nặng rồi mất, một hồi lâu sống lại và kể cho người nhà nghe rằng, vừa mới chết ta được đưa vào gặp Nam Tào, Bắc Đẩu, hai vị này dở sổ và sì sầm bàn bạc với nhau, trần gian hiếm ai có như ông này, chỉ tiếc số không thọ và dòng nam lại không có người nối dõi, việc này ắt phải tâu lên thượng đế. Bèn truyền cho ta nghỉ ở hậu liêu, nửa ngày sau, hai vị ấy trở lại và bảo, thượng đế có lời khen và ban cho ngươi thêm hai kỷ, thêm một thằng con trai. Vậy mau về đi, cố gắng làm điều âm đức cho mai hậu. Bà vợ cũng kể lại vào cuối canh một có ngôi sao nhỏ chui tọt vào bụng, rồi có mang, đầy năm sinh một đứa con dặt tên là Thiên Tích, lớn lên thông minh đĩnh ngộ, học giỏi, lại hay thích…uống trà. Sau mới biết gã là trà đồng, tức kẻ hầu trà cho Ngọc Hòang, nay đầu thai nhà họ Dương.

Có thể vì vậy, cái bình trà trong dân gian được gọi nôm là…”cái ấm tích” chăng.

Theo An Nam Chí Lược của sử gia Lê Tắc có ghi “Vào tháng 5 năm thứ 8 niên hiệu Khai Bảo, Định Liễn có tiến cống nhà Tống sừng tê giác, ngà voi và trà…lưỡi chim”. Lần mò sách Địa Dư Chí Lược của cụ Nguyễn Trãi, ấy là trà Tước Thiệt, còn gọi là trà móc câu hay trà mi thuộc Châu Ô, Châu Lý. Ngành khảo cổ đã khai quật tại vùng Nông Giang, Thanh Hóa, đã tìm thấy được nhiều chén trà, đĩa trà, cùng thời với đời Tống. Dựa vào sử Tầu, tục uống trà người Nam ta có từ thời nhà Tiền Lê, sử chép rằng trước sứ thần của thiền triều, Lê Hòan tức vua Lê Đại Hành vừa uống trà vừa múa hát. Cũng theo sử thi, trà Việt phát triển vào đời vua Lý Nhân Tông với Viên Chiếu Thiền Sư, sau này cụ Nguyễn Du, cụ Nguyễn Khuyến đã đẩy đưa phong thái uống trà lên cao như một thú tiêu dao phóng đãng. Và cực thịnh vào thời vua Tự Đức cùng câu thơ thi xà con thuyền Nghệ An, vì rằng ấm trà phải đặt tự bên Tầu và được phong tước hầu như…người vậy. Nước pha trà do cung nữ sáng sáng chèo thuyền hớt sương mai đọng trên lá sen, mà giời ạ, sen cũng phải lấy giống ở bên Tầu cơ đấy !!!

Cứ như truyện…hư cấu, nghe mất sướng..

Trà Tầu, cùng truyền thuyết thì khởi nguyên từ cụ vua Thần Nông rong chơi mạn núi Lĩnh Nam và nghỉ chân dưới một tàng cây nọ, cho người đun nước sôi, bỗng có ít lá khô rơi lả tả vào nồi nước. Đang mỏi mệt, vô tình cụ vua uống vào thấy lâng lâng, trong một lúc sảng khóai, cụ vỗ đùi một cái đét, buột miệng kêu một tiếng…“cha” nên vua cho lấy giống về trồng và được gọi là “cha”. Từ cái tên này, các nhà nho ta cũng chẳng khó khăn gì mấy, xổ tọet cho một nét ngang thành chữ Nôm là…”trà”. Một thuyết khác, trà từ Ấn Độ theo Đạt Ma Bồ Đề Sư Tổ vào Trung Hoa, trong suốt 9 năm tĩnh tâm trong hang đá, Ngài đã ngậm lá trà để chống buồn ngủ trong cơn thiền. Chứ chẳng phải như tích Ngài ngáp ngáp, nhổ lông mi, quẳng bừa xuống đất và mọc lên cây trà như truyện phong thần. Rồi thì trà từ đời Tam Quốc, đời Đường lan rộng qua đời Tống vì nhà Nguyên chiếm ngôi nhà Tống, tạo nên một lớp cuồng sĩ, sinh bất phùng thời cùng thuyết vô vi ẩn dật như ẩn sĩ lúc trong rừng trúc, khi thưởng nguyệt ngắm hoa ở lan đình để …nốc trà và phe phẩy quạt làm thơ.

Theo Nhật sử thế kỷ tứ 6, thiền sư Eichu mang đạo Phật và trà về nước qua ngả Đại Hàn. Thế kỷ thứ 10, nước Nhật bị nhà Tống cô lập, nên một số tu sĩ và doanh thương vào nước ta qua bến cửa biển Vân Đồn, vì vậy một số trà cụ triều Lý, triều Lê đã du nhập vào nước Nhật qua ngả này (thứ phi của vua Lê là một kỳ nữ Nhật) và cực thịnh nhất là thời nhà Mạc ở cảng Cổ Trai (Hải Phòng). Đến thế kỷ thứ 16, thời Mạc Phủ tướng quân (Shômu) cùng các hiệp sĩ đạo (samurai), thiền sư Sen Reikyu đã đưa trà xanh từ chùa vào cung đình cùng nghi thức uống trà (chanoyu) để có trà đạo (théisme) ngày nay, và lãnh chúa Hideyoshi, cũng là người đã dựng lên trà thất ở thời kỳ ấy.

Năm 2005, các nhà khảo cổ trong nước tìm thấy di tích kinh đô nhà Mạc là Dương Kinh vào thế kỷ 15-16, cố đô thứ hai sau Thăng Long tại thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy. Khác với cung điện Tức Mặc (Nam Định) thời Trần hay Lam Kinh (Thanh Hóa) thời Lê Sơ chỉ là nơi nghỉ nghơi, thờ tự của vua chúa. Dương Kinh ngòai điện Dương Tự, Tường Quang, Phúc Huy, phủ Quốc Hưng, còn có kho lúa, đồn binh và có cả trường Quốc Học như Văn Miếu và họ đà đào sới đưoc những di vật như bia đá, tượng Phật và đồ gốm…v…v..

Treo đầu dê bán thịt chó, người viết muốn khơi lại một thời hòang kim cùng nền cũ lâu đài bóng tịch dương với Dương Kinh là kinh đô kinh tế, kinh đô cảng sầm uất xuất hiện đầu tiên trong lịch sử nước nhà, sau đấy mới có phố Hiến và Hội An. Dương Kinh trở thành đô thị ven biển xứ Đông, nhà Mạc còn cho xây một số thương cảng trên bến với những phố phường như phố Lỗ Minh Thị, phố An Quý, phố Do Nha…Cũng từ bến cảng này, đồ gốm cổ truyền nươc ta đã trải dọc theo ven biển phía nam, nay đã có mặt ở trong các bảo tàng viện của Negara-Mã Lai, Adam Malik-Nam Dương, Ryukyus-Brunei và từ Ai Cập đến Trung Cận Đông như Cairo-Ai Cập, Tehran-I Rắck….

Trà Việt, ấm Tầu cùng nhà nho phương Nam, chạy trời không khỏi nắng, vẫn không thoát ra ngoài vòng cương tỏa của thanh đàm phương Bắc với gió thoảng mây trôi, nhưng không phải lúc nào cũng uống trà liên tử, ngâm nôm Thúy Kiều mà thỉnh thoảng cũng vương vương chút sầu vạn cổ, đắng chát trong men trà như: “Thượng đế trên cao, chiều độc ẩm – Mạt lộ, ta ngồi chốn hạ phiên”. Hai câu thơ hơi hướng Đường thi ấy, chẳng phải của Tô Hiệu, Vương Bột, mà xin thưa là của kẻ sĩ An Nam Nguyên Sa Trần Bích Lan, nằm tận cùng ở cuối thế kỷ thứ hai mươi ở miền đất ấm tình nồng.

Tự thuở khai thiên lập địa, trời tháng bẩy mưa ngâu âm u ảm đạm, thượng đế trên cao ngồi độc ẩm nên khí buồn da diết, ngài bèn vác cục đất sét nhồi, nặn ra…”Thằng người” để có bạn song ẩm. Ngài cũng lúi húi bỏ vào trong lò nung với nướng, nhưng lửa qúa già, móc ra để chết giấc với tác phẩm đầu tay là “Thằng da đen”, qủa thật là ngất ngư quá đỗi. Ngài lại mó máy nắn với véo, lại quẳng vào lò, lần này lửa hơi non, lôi ra thì hỡi ơi, đích thị là “Thằng da trắng”. Quá bất tam, ngài ngồi chồm hổm thổi phì phò, củi lửa âm ỉ bẩy ngày bẩy đêm, nghệ thuật vị nhân sinh, cuối cùng ngài có một tuyệt phẩm cho hậu thế: Ấy là “Thằng da vàng”.

Không biết ngài có quần ẩm với ba tên này hay chăng, nhưng sử liệu có ghi rằng: Sau này “Thằng da vàng” gốc Tầu có mặt trên trái đất từ thời kỳ đồ đá qua thời kỳ đồ đồng, ăn không rồi đến thời kỳ…đồ gốm, theo nghiệp tổ với cái bàn quay, cũng bóp với nắn, vẽ vời với ba loại ấm bằng đất sét đỏ không tráng men, để cũng biết đến, ấy là “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Tất cả do ba lò chế tạo danh tiếng ở tỉnh Nghi Hưng thuộc Giang Châu, vùng này với lọai đất sét có chất sắt, tùy theo lượng sắt nhiều hay ít để có mầu sắc khác nhau, gọi chung là “ấm tử sa”. Lò Thế Đức nặng về ấm gan gà mầu nâu đậm đỏ, lò Lưu Bội với ấm gan heo, trư can chi sắc, mầu đen nhạt và lò Mạnh Thần nghiêng về loại ấm da chu mầu da nai.

Gần đây người viết được nhòm thấy hình ảnh mấy cái của nợ này trên báo bổ thì thấy như mấy cục đất ráo hỏanh và khô không khốc. Thế nên chẳng lẽ mồ cha không khóc, đi khóc mấy cái tổ mối, thôi thì hãy trở về dăm làng gốm quê nhà với những cái nồi nung hay ấm đất. Tích rằng từ đời Triệu Đà 207 có ông Tầu tên Hoàng Quảng Hưng dậy dân làm chum vại ở làng Đậu Khê, tỉnh Hải Dương, truyền nhân của ông là Trương Trung Ái, sau này được lập đền thờ là tổ sư của nghề đồ gốm. Năm 1075, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân vây hãm Châu Khiêm, Châu Liêm, bắt được về một số tù binh và phát lưu vào Thanh Hóa, từ đó có đồ gốm Đông Thanh.

Đời nhà Lý 1127, ba vị quan đi sứ Bắc Tống là ông Đào Trí Tiến, Hứa Vĩnh Cảo và Lưu Phương Tú, trên đường về nước qua Quảng Đông học được nghề làm đồ gốm chân truyền, khi về nước đi khắp nơi để truyền bá. Ông Cảo truyền cho làng Thổ Khối nước men trắng. Ông Tiến truyền cho là Thổ Hà Bắc Ninh nước men sắc đỏ. Ông Tú truyền cho làng Phù Lãng Hà Nam nước men vàng thẫm. Mỗi vùng, mỗi làng chuyên biệt về một ngành khác nhau, như làng kẻ Trần chuyên làm những bộ ấm tích với hoa văn thôn dã như tàu lá chuối, nhánh rong, chim chích chòe, con cá bống.

Sau có hai anh em người Việt gốc Tống tên Nguyễn Ninh Tràng bỏ lò gốm trường Vĩnh Ninh thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, Thanh Hóa tới làng Thổ Khối hợp với con cháu nhà Tống lánh nạn giặc Nguyên qua đây và lập nên lò gốm. Theo Đại Việt Sử Ký Tòan Thư chép rằng: “Năm 1376, trong cuộc Nam chinh đòan chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông xuất phát từ Thăng Long xuôi theo sông Nhị đi qua “bến sông xã Bát”. Vì vậy tên Bát Tràng khởi nguyên từ hai chữ ghép của thổ ngơi tổng Bạch “Bát” của anh em ông Nguyễn Ninh “Tràng” mà có. Sách Địa Dư Chí Lược của cụ Nguyễn Trãi chép rằng: “làng Bát Tràng làm đồ bát chén” và viết thêm: “Làng ấy cung cấp cho Trung Quốc 70 bộ bát đĩa…”.

Nhất bộ nhất bái, bàn dân thiên hạ chỉ biết đồ gốm Bát Tràng không thôi. Ấy mà chuyện đồ gốm người mình với cái bàn xoay, như truyện cổ tích ăn khế trả vàng, hoặc giả như tái ông mất mã vậy.

Chuyện rằng:

Vào năm 1983, ông đại sứ Nhật Makato Anabuki ở Hà Nội bầy vẽ cho các quan chức chốn cung đình rằng chính mắt ông nhìn thấy ở viện bảo tàng Topkapi Saray tại thủ đô Istanbul nưoc Thổ Nhĩ Kỳ cái bình với dấu ấn “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút”. Dịch nôm là ở năm Thái Hòa thứ 8, bà họ Bùi phóng bút vẽ chơi cảnh đất Nam Sách. Các quan chức lăng Ba Đình ngâm cứu sách vở tam sao thất bản mới ngã ngửa ra rằng năm Thái Hòa thứ 8 là năm 1450 đời vua Lê Nhân Tông và phủ Nam Sách là tên cổ của Hải Dương, đất của nhà Mạc cũ.

Từ đó các nhà khảo cổ ”điên dã” ùa về làng Chu Đâu và đào dưới vườn nhà bác nông dân tên Vạn và họ đã tìm thấy những di tích đồ gốm đã có mặt vào thế kỷ 13, 14. Ngòai làng Chu Đậu, họ còn tìm thấy những đồ gốm không men như chum, vại, bát nhang trong các ngôi mộ cổ, đình chùa, nhà từ đường tại các làng Ngói, làng Gốm…của các họ Đặng, họ Đỗ…Và đặc biệt nhất là làng Cậy, chuyên làm ấm chén có…quai vòng cong vì đồ gốm đời Trần, đời Lý trở về trước đào được ở cổ thành Thăng Long, vì ảnh hưởng của vương quyền và Phật giáo nên những ấm trà quai là những con rồng, con rùa hay những cánh sen, cọng rau muống. Nhờ có đất sét chu sa ở vùng này, họ làm ấm trà dân diêu không thua gì những bộ ấm của các lò Cổ Nguyệt Liêm hay Cảnh Đức Trấn và được đặt tên rất hương đồng cỏ nội như ấm quả sung, quả vả, quả bương, quả na. Còn chén được gọi là chén hạt mít, chén mắt trâu, chén khẩu mía, chén chuông.

Đèo bòng với điển tích thì vào thế kỷ 14, nhà Nguyên mang quân xâm lăng Nhật Bản, chiến thuyền bị đắm giữa đường nhưng cả hai nước vẫn có những tỵ hiềm. Người Nhật mượn bến Vân Đồn và Cổ Trai làm ngõ thông thương qua đất Đại Việt và Xiêm La để mang về tơ lụa và đồ gốm. Thời ấy, nghệ thuật uống trà chưa lên cao, nên nghề làm đồ gốm của họ vẫn còn thô sơ. Trà cụ đầu tiên do thiền sư Raku Zengoro, người phò lãnh chúa Ashikara mang về cho thiền viện Kasuga có dáng bát trà đời Lý, đời Trần được gọi là An Nam Yaki của làng Chu Đậu, vì rằng người Việt uống chè xanh, chè vối bằng bát nên ảnh hưởng đến chén tống temmonlu của họ sau này. Thương nhân Ozawa Shrouemon thời lãnh chúa Togugawa từ Hội An mang về một số đồ gốm làng Thanh Hà được gọi là Kochi Yaki. Kochi phiên âm từ chữ Giao Chỉ mà ra để phân biệt đồ gốm Đằng Trong hiện còn đang được trưng bày ở bảo tàng viện Tokyo.

Ngu ngơ thế nào lại lạc vào đất Nhật để thấy họ cũng..khó khăn không kém và bằng một cách khác, họ đi tìm cái vô ưu qua tách trà, những giây phút lắng đọng của tâm thức qua nét thanh tịnh của cỏ cây để nâng nghệ thuật uống trà như một nghi thức, từ đó có trà đạo và vườn cảnh. Như trong vườn dựng cái “chòi”, mà họ gói là sukiya tức trà thất. Nước pha trà là nước mưa hứng giữa trời, bằng cách họ lấy miếng vải căng bốn góc với bốn khúc tre, tương tự như căng vó và dưới là cái vại (chozubachi). “Hồng trần bất đáo” trước khi nhập thất, ngay cửa ra vào, họ đặt một hòn đá khóet rỗng như cái thố lớn để hứng nước mưa qua những đốt tre gộc (kakeiki) và một cái gáo. Trước khi đốt lò, chủ nhân cúi đầu sát đất để chào một cây quạt ở ngay cửa, cánh quạt này tượng trưng cho những kiếm sĩ xa xưa. Sau đó, tất cả đều ngồi thế tĩnh tọa và đắm chìm qua làn khói trà nhẹ tênh, tan loãng.

Theo điển tích thì tất cả những bộ ấm trà của các cụ từ thời Trịnh Nguyễn được gọi chung là đồ “ký kiểu”, hiểu theo nghĩa là vẽ kiểu trước và ký là dấu ấn hay một bài thơ ngắn. Khởi đầu từ chúa Trịnh Sâm, người được coi là trà sư của nghệ thuật uống trà, tự nhận mình là “trà nô”, với chén bạch định hay bạch trản ký hiệu “Nội Phủ”. Sau đó, cụ Nguyễn Du mang về cho vua Gia Long bộ ấm “Giáp Tý 1804”, riêng cụ có bộ Mai Hạc với hai câu thơ “Nghêu ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ hạc là người quen”. Tiếp đến vua Minh Mạng có bộ “Chữ Nhất”, vua Thiệu Trị với bộ “Mãn Hoa Tùng Đình” và vua Tự Đức cùng bộ “Ngọan Hảo”. Các bộ ấm đặt làm cho các quan, với “chữ đề” gọi là “chấm”. Quan võ thích chấm “Tam Cố thảo lư”, hoặc “Tây Sương ký”. Quan văn ưa “Trúc lâm thất hiền” hay “Đạp tuyết tầm mai” này nọ…

Từ các bộ ấm của các quan, sau rơi rớt lại trong dân gian qua cụ Tú, cụ Cử, cụ Nghè…Các cụ xem bộ ấm trà như vật gia bảo để đi vào giai thoại: Như cụ cử Lưu làng Nguyệt Ánh, tỉnh Hà Đông, cụ có bộ ấm trà “Bạch định” để không thì trắng cả trong lẫn ngoài, nhưng nếu rót trà vào ấm thì hiện lên một bức họa “Thanh sơn bạch vân” thêm bốn câu thơ nhỏ li ty, mỗi câu ở mỗi chén. Năm 1922, cụ cử Nguyễn Kỳ tri huyện Thanh Trì, muốn xem bộ ấm chén đó phải nhờ cụ đồ Thục tiến dẫn và được hương hào, lý trưởng làng Nguyệt Ánh xuất tuần phu, trống rong cờ mở, hương án bái vọng như thiên tử tuần du. Tháng sau, cụ cử Lưu lại khăn gói qủa mướp như trẩy hội qua làng Hoàng Mai để đáp lễ và cũng để thưởng ngoạn bộ chén trà văn kỳ thanh, bất tướng kỳ hình có cái tên “Kim tiên kỳ ngoạn” còn được gọi là bộ “Long linh” từ đời Minh Vĩnh Lạc, khi soi dưới ánh sáng mặt trời thấy “lưỡng long tranh châu”, nét như sợi chỉ và phủ ngoài một lớp men nên nhìn sơ qua chỉ thấy mầu trắng không. Khi nào rót trà, nhìn vào lòng chén, sẽ thấy hai con rồng cử động và ngo ngoe như thật.

Từ các lò gốm của người Trung Hoa như đã kể lể ở trên, các quan ta đi sứ đặt làm đồ ngự dụng và quan dụng cho triều đình và bạn bè để các cụ ta có cái thú chơi ấm trà. Một bộ ấm đầy đủ lễ bộ gồm “dầm, bàn, tống, quân”: Dầm là một lọai đĩa nhỏ đựng một cái chén tống, bàn là đĩa lớn chứa nhiều chén quân. Có người cho rằng chén tống từ đời Tống mà ra. Chén tống còn gọi là thố hào trản và trản là chén và cũng theo cụ Vương Hồng Sển, trước để uống trà, sau để uống rượu. Đến đời Khang Hy vì tửu lạc vong bần nên bị cấm chỉ, thế nên chén được làm nhỏ hơn để uống trà. Vì “quân” là cái bàn xoay đất sét, nên thợ đồ gốm họ đặt cho cái này. Nếu có một chút nào đầy đặn là ở cái ấm, chọn được cái ấm vừa ý, các cụ nười mình tẩn mẩn úp hẳn ấm xuống mặt bàn, cho ấm ngửa trôn lên, cứ xem miệng vòi, quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng thì đích thị là…”ấm Tầu”. Về nhà, nếu ngại là đồ mã thì các cụ cứ thả vào chậu nước, nổi như lông vịt, không lềnh bềnh chao đảo. Rồi thì nồi nào vung nấy, các cụ cứ lẩn mẩn xoay xoay cái nắp quanh miệng ấm, thấy khít khao, nghe không rồn rột mà lại thanh thanh thì chăc như đinh đóng cột là …ấm Tầu.

Với cái ấm Tầu đã tránh “Nhất thủy, nhì…” thì vỏ dưa gặp vỏ dừa, ngược lên phương bắc lại gặp Lục Tào Xán, để nín thở qua sông với “Tục Trà kinh”. Nào là nước pha trà phải là “Sơn thủy thượng, giang thủy chung, tĩnh thủy hạ”, tức là nước đầu nguồn, giữa dòng sông hay giếng sâu. Với Lục Vũ cũng cá mè một lứa với “Nước là trà hữu, lửa là trà sư”, hữu ráng mà bóp chán hiểu là…“bằng hữu”, thế nên nước sủi tăm đâu đó như ngư nhãn, giải nhãn. Khiếp đảm hơn nữa là cái tục rót trà phải theo vòng tròn (Quan Công tuần thành), mỗi chén một chút như chó đái giắt, rồi rót vòng ngược lại để trà không đậm nhạt giữa chén đầu chén cuối. Hoặc giả chuyên từ chén tống qua chén quân (Hàn Tín điểm binh) cho đều nước. Ôi thôi là nhiêu khê với phiền hà, trong khi quay về với đất lề quê thói cùng các cụ ta xưa, mò mẫm bên rặng cau ngòai vườn cùng hương đồng cỏ nội, chém chết thể nào cũng có cái chum hứng nước mưa qua tầu lá chuối để pha trà cho quanh năm suốt tháng, bình dị và mộc mạc. Cái lu nước và cái gáo ở nhà quê, cái bể nước mưa với cái gầu ngòai thành phố. Cả hai như gắn liền với các cụ cùng bộ ấm trà trong những những ngày tà tà bóng ngả về tây…

****************************************************************

Những ngày ở phố hàng Đường, căn nhà hình ống mái âm dương dài hun hút, âm u và ẩm ướt, khỏang trống có ánh sáng ngăn cách giữ nhà trên và cái bếp là cái sân nhỏ lát gạch tầu vuông vức với cái bể nước mưa xây bằng gạch doc theo bờ tường loang lổ. Mờ suơng dậy đà thấy ông bà ngọai đối ẩm ở cái bếp chỉ to bằng hai manh chiếu, hai cụ ngồi ở đấy vừa gù gù châu đầu vào nhau, thì thầm nói chuyện. Với động tác quen thuộc hàng ngày, bà bê cái khay trà gỗ, mở miếng khăn màn, chậm rãi lau nhè nhẹ ấm và chén từ trong ra ngòai. Lớn lên người viết mới biết bộ ấm này là bộ ấm qúy mà ông ngọai vớ được với giá hời ngòai chợ Đồng Xuân…Nhưng nhắm chừng cũng lâu lắm rồi, vì nhìn kỹ mới thấy cái vòi hơi sứt một miếng nhỏ.

Ông lui cui bắc cái siêu đồng lên cái đầu rau đặt ngay mép bàn và âm thầm cân đo cái mồi lửa tí tách qua mấy cục than chỉ to bằng quả trứng gà, lặng lè ngắm nhìn cái vòi siêu đồng, đợi khói lên….Khói đã vẩn vơ bốc cong queo ngoằn ngòeo, ông nhấc cái siêu nước, rồi dùng nắp cái ấm để cân trà, ông châm nước ngang nửa bình, đợi một lát đổ đi và châm nước mới. Ông nhẹ ôm cả cái ấm trà trong lòng bàn tay, thăm chừng độ ấm và trà vừa đủ ngấm…Ông rót qua chén tống, chuyên qua hai chén quân cho bà cho ông, như đong đưa vơi đầy, gạn nhặt những chiếc bã trà còn vương vấn. Ông ngồi thẳng, hai tay trang trọng bưng cái chén ngang miệng và nhấp từng ngụm nhỏ. Một ngày như mọi ngày, hai ông bà lại rù rì chuyện trò, hết một tuần trà, bà lại lặng lẽ lau bộ ấm từ ngòai vào trong và phủ cái khăn màn lên.…

Sau gần 30 năm trở lại quê nhà, lang thang ở dẫy phố bán đồ cổ Trương Công Kiều sau bến xe búyt chợ Bến Thành, thấy bộ ấm Nhật bằng sứ với cánh đào cong queo nhưng rất quen thuộc từ ngày di cư mà tết nhất nhà vẫn bầy biện cạnh điã hạt sen, điã hạt dưa. Nhưng cũng chỉ ơ hờ cùng một nhớ hai quên, nói cho ngay, buổi ấy người viết chưa biết nhất thủy, nhị trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh là gì cùng gan gà, gan lợn. Đảo về quê nội, thăm cái nhà tranh vách đất ba gian hai chái của ông cậu, ụ rơm vẫn còn ở góc sân bên vườn, nhin cái ấm tích ít nhất cũng hai đời đã lên nước và cũng chẳng quan hòai gì mấy, vì làng gốm cổ xưa chỉ thóang qua sách vở.

Ngược về Hà Nội, tìm lại căn nhà hình ống cũ, qua hàng Đào thấy có một tiệm đồ cổ, chợt bắt gặp cái ấm quả bứa mốc meo với bốn cái chén hạt mít đã lên men vàng ố nằm chơ vơ sau cánh tủ. “Nhật mộ hương quan hà xứ thi – Yên ba giang thượng cổ nhân sầu” , lại vẩn vơ bồi hồi đến các cụ ta xưa của một thời hoang vắng đã hiu hắt cưỡi hạc về trời, nay chỉ còn ẩn hiện lại qua lớp cát bụi chân ai của bộ ấm trà đã lạc tinh. Hàng Đào, hàng Đường cùng một con phố ngắn, chỉ cách nhau hai, ba con ngõ nhỏ, đứng bên cạnh cái cột đèn sơn hắc in từ thời 54…Chợt quan hòai đến ông bà ngọai gần đây, ngày nào năm ấy trong căn bếp ắng lặng, để bâng khuâng chẳng biết cái bình sứt vòi năm xưa bây giờ lưi lạc ở phương nao, về phương trời nào…

Trích dẫn: Bài viết được dựa vào tác phẩm và tác giả:

Khảo Về Gốm Cổ, Sành Xưa – Vương Hồng Sển

Thuật Uống Trà – Nguyễn Kỳ Hưng

Đồ Gốm Cổ Truyền – Bùi Ngọc Tuấn

Thư Tịch Gốm Cổ VN – Trần Anh Tuấn

Gốm Trà Việt Nam – Phan Quốc Sơn

Làng Gốm Cổ Truyền VN – Khuyết Danh

Gốm Bát Tràng – Nguyễn Đình Chiến

– Thời nhà Lê, làng được gọi là Bát với một chữ không thôi, làng thuộc huyện Gia Lâm trấn Kinh Bắc. Thời nhà Nguyễn 1822, trấn Kinh Bắc đổi thành Bắc Ninh và làng được gọi là làng Bát Tràng (tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Hưng Yên, sau thuộc ngọai thành Hà Nội…). Ngòai ra có sách khác viết tên làng Bạch Thổ vì vùng này có đất sét trắng. Theo một cụ cao niên, người làng Bát Tràng, trươc cũng có làm đồ gốm thuật lại cho biết làng Bát Tràng từ chữ Nôm, bát chỉ đồ gốm và chữ Hán, tràng (hay trường) là đất hay vùng dành cho làng nghề. Làng không làm…gạch, tất cả chỉ là sự ngẫu nhiên, để nung bát, đĩa, dân làng làm gạch để kê, sau mới có gạch Bát Tràng.

Phí Ngọc Hùng

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

Dụng cụ uống trà – Cách dùng ấm, cách pha trà

teaset 06


Khái quát về các dụng cụ uống trà

Theo tác phẩm Trà kinh của Lục Vũ (733-804) đời Đường (618-907), Trung quốc thì vào thời đó người ta dùng nồi để nấu nước và pha trà uống luôn trong bát (“oản” tiếng Hán và “chén” theo tiếng Việt miền Nam). Trà dùng lúc đó là trà bánh hoặc trà bột. Đến thời nhà Tống (920-1280) người ta sử dụng một loại bát nông gọi là “trản” và trà dùng ngoài trà bánh, trà bột còn có trà lá khô rời như ngày nay. Phải đến thời nhà Minh người ta mới bắt đầu chế tạo và sử dụng ấm để hãm trà và uống bằng chén nhỏ. Ấm trà thời nhà Minh (1368-1644) gắn liền với những địa danh nổi tiếng sản xuất ấm trong đó có Nghi Hưng chuyên sản xuất ấm đất. Ấm đất ở Nghi Hưng thời Minh có nhiều hình dáng và cỡ to nhỏ khác nhau đến nay vẫn là mẫu mực cho những ấm đất hiện đại. Cũng vào thời kỳ này ở Châu Âu trà cũng bắt đầu được du nhập và được nhiều người ưa chuộng. Theo một số tư liệu, lấy ý tưởng từ các ấm đất uống trà của Trung quốc và hình dáng của các ấm uống cà phê hiện có, ở Châu Âu người ta cũng đã sáng tạo những mẫu mã ấm trà có hình dáng đặc trưng bằng sành, sứ, thủy tinh. Chén dùng uống trà được chuộng ở Trung quốc lại là chén sứ đặc biệt là sứ Cảnh Đức Trấn. Sứ trắng làm nổi màu của nước trà. Khác với Trung quốc uống trà bằng chén nhỏ không quai, ở Châu Âu người ta lại dùng tách tức là chén có quai để uống và dùng kèm đĩa nhỏ để lót tách. Đến đầu đời Thanh ( ), người ta còn chế tạo ra chung tức là một loại chén có nắp vừa dùng để hãm trà vừa để uống trà. Từ đó đến nay các trà cụ được sản xuất với nhiều hình dáng mới.

teaset 07

Chung trà ( có nắp)

Chung trà ( có nắp)

Nói tới ấm trà mà không nhắc qua tới những dụng cụ phụ thuộc thì kể cũng thiếu. Cùng với ấm, người uống trà phải có chén, chén tống chén quân theo kiểu Việt Nam hoặc một ấm chuyên theo kiểu Tàu. Có những loại chén kiểu làm bằng đất tử sa nhưng cũng có những chén sứ mỏng gọi là sứ vỏ trứng. Tùy ý thích, mỗi người có một cách chọn màu, chọn kiểu. Hiện nay người ta cũng chế ra nhiều kiểu chén lạ mắt, có khi trông như một ống trúc, có khi hình củ lạc (đậu phộng). Ngoài ra phải có đĩa đựng, cũng xinh xinh nho nhỏ cho hợp với chén uống trà. Ấm màu nào thì người ta chọn chén và đĩa cũng màu đó. Thế nhưng thường thì chén chỉ có những màu thông dụng như màu nâu đậm, màu đỏ hay màu vàng chứ không thấy mà xanh hay màu đen. Ngoài ra còn phải có bình chuyên trà, bồn đựng bã trà và chứa nước tráng ấm, thuyền trà (cái chậu nhỏ để ấm và hứng nước trong ấm trào ra), đĩa lớn để ly, kén cho đủ một bộ tiệp màu đã khó huống hồ nếu nhiều ấm, nhiều màu, nhiều kiểu.

Người kỹ hơn còn mua cả hộp đựng trà cũng bằng đất nung và ống đựng những vật dụng linh tinh như  cóng xúc trà (giống như một cái thìa bằng gỗ hay một ống tre vát một đầu để lường trà trước khi đổ vào ấm), đồ móc bã trà (gọt bằng gỗ hay tre), tăm thông vòi, cái kẹp chén (để gắp chén khi tráng nước sôi hầu vệ sinh và không phỏng tay), khăn lau … Kiếm được cái khay trà vừa vặn cho mỗi bộ cũng không phải dễ dàng.

Dĩ nhiên không thể thiếu cái ấm nấu nước pha trà bằng kim loại, bằng sứ hay ấm điện. Cũng nên có một cái bình thủy để chứa nước nóng mặc dù nhiều người kỹ không chịu dùng nước bình thủy mà dùng bình tự hâm nóng. Cầu kỳ hơn thì mua cả nhiệt kế và”timer” để hãm trà cho thật chuẩn. Người khó tính lại còn cho rằng phải bếp than mới ngon. Thế nhưng nếu máy móc quá như thế thì uống trà không còn thú vị được bao nhiêu.

Sự khác biệt về trà cụ ở một số nước Đông Á

Nhìn chung thì dụng cụ uống trà bao gồm ấm chén hoặc tách như đã nêu nhưng cụ thể ở từng địa phương từng nước có những khác biệt.

Ở Nhật ngoài cách uống trà bằng bát trong các buổi trà lễ (chanoyu) dùng trà bột (matcha), trong đời sống người ta cũng dùng ấm chén để uống trà lá (sencha). Tuy nhiên cũng thống nhất với văn hóa Nhật bản chung là chuộng số lẻ, số chén trà trong một bộ đồ trà (teaset) của Nhật dùng 5 chén thay vì 4 chén, 6 chén như ở Việt Nam. Ngoài ra ở Nhật còn sử dụng phổ biến loại ấm trà có tay cầm vuông góc với miệng bình. Đúng hơn đây chính là hình ảnh của “siêu” nấu thuốc đã tồn tại từ trước thời Minh rất lâu ở Trung quốc.

teaset 08

Ở Trung quốc ngoài ấm để hãm trà người ta còn sử dụng một loại dụng cụ chuyên trung gian gọi là “trà hải”, hình dáng hơi giống như bình đựng sữa của phương tây nhưng với kích thước nhỏ hơn, mục đích để dừng thời gian hãm trà khi lượng nước trà trong ấm không thể rót hết ra chén hoặc để lược xác trà trước khi rót vào chén. Ở Việt Nam xưa thay vì dùng trà hải này người ta dùng một chén to thể tích chứa được nước của cả ấm gọi là chén tống (nói trại ra từ chữ tướng) để phân biệt với các chén nhỏ gọi là chén quân. Ở Trung quốc và Việt Nam xưa không dùng đĩa lót chén nhưng có dùng một đĩa sâu to hơn gọi là “trà thuyền” để chứa nước nóng ngâm ấm, chén cho nóng. Có thuyền riêng cho ấm và thuyền riêng cho chén tống, thuyền riêng cho 4 chén quân. Ngày nay để lịch sự hơn ở Trung quốc người ta cũng dùng đĩa lót chén khi mời khách.

Theo phong cách pha trà Kungfu của Trung quốc, ngoài chén nhỏ hình chiếc bát nhỏ còn có loại chén nhỏ hình trụ cao. Người ta rót trà vào chén này sau đó chuyên qua chén nhỏ thấp và dùng chén hình trụ này để ngửi mùi thơm của trà. Chén hình trụ cao có diện tích thành chén lớn và miệng nhỏ nên hương tập trung hơn. Đĩa dùng lót chén là loại hình viên thuốc con nhộng lót chung cho cả 2 chén.

Các dụng cụ phụ trợ

Ngoài ấm chén thì người ta còn dụng những dụng cụ phụ trợ như muỗng lấy trà, phễu (quặn) hứng trà, đồ lược trà. Dùng muỗng hoặc phễu hứng trà để đảm bảo trà không bị ảnh hưởng bởi mùi của tay. Lược trà để lược xác khi chuyên từ ấm trà qua trà hải hoặc chén tống.

teaset 09

Cách dùng ấm

Nên chọn ấm như thế nào? Câu hỏi đó không phải dễ trả lời. Nó tùy theo nhu cầu. Thường thì chúng ta chỉ uống một mình hay hai người nên ấm không nên lớn quá. Ấm nào chỉ đủ rót ra hai tới bốn ly là vừa. Ấm độc ẩm (chỉ rót được một ly) cầm lóng cóng mà lại mất công rót đi rót lại hoài, không tiện. Ấm song ẩm dùng khi uống một mình và nếu uống hai người thì phải loại lớn hơn để mỗi lầm rót ra đủ cho mỗi người hai chén. Cũng nên có thêm một hai ấm lớn phòng khi phải đãi “tục khách” sau những buổi họp mặt đông người.

Ấm dùng hàng ngày không nên mua loại hình dáng kỳ dị, khó pha và cũng khó rửa. Ấm trơn hoặc ấm hình kỷ hà, trang trí nhã nhặn, diểm vài chữ viết … là tiện nhất. Trà, ấm cũng không thoát khỏi qui luật tiền nào của nấy tuy rằng nhiều khi cũng mua được một cái ấm giá hời. Những ấm đắt tiền thường là đất tốt, da mịn, trông qua cũng biết loại thượng phẩm. Nếu thực sự muốn dùng ấm vào mục đích uống trà, ta nên kiếm những kiểu giản phác, miệng rộng thân bè (như kiểu của Huệ Mạnh Thần) để dễ châm và thay bã trà. Những kiểu lạ lùng, kiểu cọ để chưng hơn là để dùng. Ấm trà bán theo bộ, nghĩa là đủ mọi thứ trong một “set” thường không phải là loại hảo hạng, chỉ dùng trong việc tiếp khách đông người. Ấm rẻ tiền hạng soàng, sờ nhám tay, trong lòng ấm chỗ lồi chỗ lõm, thô tạo.

Ấm mua về không nên dùng uống ngay. Tốt hơn cả là dùng giấy nhám nhuyễn đánh trong ngoài cho sạch sẽ, trơn tru hết những bụi đất sét còn bám vào. Sau đó phải rửa cho hết mùi đất. Thường thì nên nấu trong nước sôi một lúc cho kỹ hơn. Những người chuyên môn chỉ là phải cho trà cũ vào nấu trong ba tiếng đồng hồ để trà thấm vào những khí khổng khiến ấm sậm màu hơn và nhiễm mùi trà. Nếu không phải pha trà và đổ đi bốn lần đầu. Vũ Thế Ngọc chỉ một “bí quyết” của ông là đem ấm ninh trong trà trong bảy ngày đêm, đem ra rửa sơ rồi ủ vào trà trong hai tuần, ấm sẽ cũ như đã dùng hàng trăm năm. Các chuyên gia nói là nếu như định chọn ấm để dùng cho loại trà ngon thì không nên tôi ấm bằng trà thường mà phải dùng trà cùng loại vì mặt trong ấm sẽ nhiễm mùi và ảnh hưởng đến trà sau này.

Theo thời gian, ấm uống trà lâu ngày cũng ngả màu dần, chuyển sang đậm hơn lúc mới mua và cũng bóng hơn. Ấm tử sa không nên rửa hay cọ bên trong mà chỉ tráng bằng nước nóng, để cho khô và dùng khăn sạch lau bên ngoài. Vì thế ấm dùng lâu năm có đóng một lớp cao, càng dày, càng quí. Mỗi cái ấm chỉ nên dùng một loại trà để hương vị thuần nhất. Một bộ trà dùng lâu trở nên thân thiết như một người bạn, khác hẳn những sưu tập khác chỉ là sở thích mà không có liên hệ trực tiếp với đời sống hàng ngày. Có người cầu kỳ còn ví rằng mỗi lần uống trà là phối hợp cả ngũ hành kim (ấm đun nước), mộc (trà), thủy, hỏa và thổ (bình trà). Người Việt Nam ta không coi uống trà như một thứ nghi lễ như người Nhật, lại cũng không huê dạng, phô diễn như người Tàu. Tuy cũng chuộng ấm Tàu, trà Tàu nhưng thường là một phần của sinh hoạt làm tăng hương vị cho đời sống. Không ai nghĩ rằng phải cất công đi hàng nghìn dặm để kiếm cho được một hũ nước pha trà.

teaset 10

Cách pha trà

Pha trà là một nghệ thuật. Chọn ấm, chọn trà đã đành mà còn phải kén cả nước. Thường thì nên dùng nước lọc hoặc nước suối. Loại nước cất người ta chê là nhạt. Mộït nguyên tắc chung là lục trà hay ô long dùng ấm nhỏ, chỉ có hồng trà mới dùng ấm lớn. Ấm nhỏ hãm trà mau, độ ủ trà càng cao càng để lâu. Sau đây là phương pháp pha trà của nhà Thiên Nhân (Tenren), một hãng bán trà danh tiếng của Đài Loan :

Sửa soạn đầy đủ dụng cụ, gồm bình trà, thuyền trà (cái bát lớn để ấm), bồn (bình đựng nước đổ đi, nắp là một cái đĩa có lôõ hủng để nước chảy xuống, dùng làm đĩa đựng chén), chén đựng trà và nước sôi.

Tráng bằng nước sôi để cho ấm chén nóng đều, trà pha ngon hơn.

Đổ trà đầy khoảng nửa ấm

Đổ nước sôi cho đến khi nước tràn ra ngoài. Đóng nắp lại.

Trong giây lát (trong vòng 15 giây) đổ hết nước ra thuyền trà. Đổ nước trà đó vào bồn. Lý do là để cho trà tơi ra hầu nước trà được ngấm đều.

Lại đổ đầy nước và đóng nắp lại. Đợi chừng 45 giây đến 1 phút cho trà ngấm.

Trong khi chờ đợi, đổ nước vào thuyền (trong có ấm) cho đến khi ngập khoảng một nửa.

Rửa chén bằng cách xoay tròn chén trong thuyền, nơi tay cầm. Lấy ra xếp lên bồn.

Đủ 45 giây đến một phút, nhấc ấm ra. Gạt nước bám vào chôn ấm lên thành thuyền trà.

Rót trà theo kiểu xoay tròn hay qua lại để cho trà trong mỗi chén đều đậm bằng nhau, không chén nào lợt hơn chén nào.

Uống trà. Uống chầm chậm để thưởng thức hương vị.

Tiếp tục đi lại từ bước thứ sáu, mỗi lần thêm chừng 15 giây.

Theo hết được chu kỳ này chúng ta thấy hơi rắc rối và huê dạng. Thực ra, pha trà chỉ đặt nặng hai điều. Một là phải có đủ nước sôi để tráng ấm, rửa ly cho được rộng rãi. Trước khi uống cũng nên rót đầy nước vào ấm, vào thuyền trà để hâm cho ấm và ly nóng kỹ. Ngay cả đĩa đựng chén cũng rửa bằng nước sôi. Có như thế, trà cụ khi bắt đầu pha mới khô ráo và sạch sẽ.

Hai là trà phải đủ, không thể hà tiện – nghĩa là trà khô trước khi pha phải khoảng 1/3 tới 2/5 ấm – và khi nở đều phải chặt ấm. Nước phải đủ nóng, trà phải đủ lượng thì khi pha mới bốc hơi. Không gì chán bằng một ấm trà pha nhạt nhẽo.

Khi châm nước vào ấm, cũng nên quá tay một chút để nước tràn ra ngoài và khi đậy vung vào, nước lại trào ra một lần nữa. Lúc đó mới tưới thêm cho ướt cả ấm. Nhìn những giọt nước bên ngoài bốc hơi nghi ngút cũng là một cái thú và cũng là một cách để lượng định thời gian chờ ngấm trà. Nước đầu tiên rửa trà phải đổ đi, nước thứ hai và nước thứ ba ngon hơn cả. Trà ngon có thể uống đến nước thứ bảy, thứ tám. Khi uống xong làm thế nào phải còn đủ nước để rửa ấm, rửa ly một lần nữa trước khi cất. Pha trà là một công việc mà ngưòi ta phải tiết độ, nhịp nhàng. Nếøu nói rằng ngoại vật ảnh hưởng đến tâm hồn thì đây cũng là lúc để cho lòng mình lắng dịu.

Về trà, trà ngon bao giờ hơi lên cũng đượm. Có loại thì thơm ngát, nhẹ nhàng thanh thoát như mùi lan, có loại lại thơm nồng như da thịt một đứa trẻ bụ bẫm (theo mô tả của Lâm Ngữ Đường). Trà ướp thường là thứ phẩm, dẫu là ướp sâm. Uống trà cũng ít ai ăn thêm đồ khác như bánh kẹo. Trà đắt tiền, bán tại những tiệm trà lớn thường có cái hương vị riêng độc đáo. Loại thượng phẩm, trăm rưởi hai trăm một pound, tính ra cũng không phải là quá đắt.

Người ta vẫn cho rằng trà đạo của Nhật chú trọng về nghi thức, còn cách uống trà của Tàu nặng về phẩm chất của trà. Người Trung Hoa coi việc uống trà là một hình thức thưởng ngoạn trong khi người Nhật rất chặt chẽ về thủ tục, coi việc uống trà là một hình thức tế lễ hơn là đi tìm hương vị. Có lẽ vì trà đạo của Nhật do các thiền sư truyền bá, và họ dùng trà để “tìm sự hòa hợp giữa con người với con người, đề cao giá trị tinh thần, và thu ngắn khoảng cách giữa nhân và thiên”.

cho ai uống đây?

cho ai uống đây?

Tổng Hợp

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

Đặc điểm ấm Nghi Hưng và cách chọn ấm trà Tử Sa

ẤM NGHI HƯNG

Nghi Hưng là tên một huyện gần Thượng Hải, thuộc tỉnh Giang Tô. Ở đây đặc biệt có một thứ đất sét rất mịn, có chứa thạch anh, mica và nhất là chất sắt. Đất sét đó dùng làm ấm trà không tráng men (unglazed), thường được gọi là ấm tử sa (purple sand). Đất tử sa không nhất thiết phải là màu tím đỏ mà có ba màu chính là màu vàng sậm (ta gọi là màu gan gà), màu đỏ sậm (ta gọi là màu da chu) và màu nâu thẫm ngả màu đen (tử sa). Tuy nhiên, trong ba loại màu đó đều có nhiều sắc độ (tùy theo lượng sắt trong đất sét nhiều hay ít), lại còn tùy theo thợ trộn các loại đất và pha chế thêm khoáng chất (nhưng tuyệt đối không dùng màu nhân tạo để nhuộm) nên các loại ấm tử sa có thể có từ màu ngà đến màu đen. Ngoài ra, Nghi Hưng cũng còn có loại đất sét màu trắng và màu xanh lục. Đất màu xanh là loại quí nhất, đã được Lục Vũ ca tụng trong bộ Trà Kinh.

Ấm tử sa không phải chỉ là một trà cụ mà còn là một tác phẩm nghệ thuật. Ấm nặn to nhỏ tùy theo dùng cho một (độc ẩm), hai (song ẩm) hay nhiều người (quần ẩm). Ấm quần ẩm có thể dùng cho ba, bốn hay nhiều người nên có cái chỉ bằng nắm tay nhưng cũng có cái to bằng cái ấm trà thường.

Về hình dáng, ấm tử sa chia làm ba loại:

Ấm theo hình kỷ hà cân đối, nghĩa là tròn trĩnh, vuông vức, lục giác, bát giác hay nhiều múi. Đó là những ấm có thể dùng khuôn làm chuẩn, chỉ điểm xuyết bằng tay. Ấm có thể hình trái đào, trái thị, trái hồng hay hoa sen, hoa thủy tiên nhưng chủ yếu là cân đối. Người thợ có thể thêm thắt nặn vung ấm, vòi ấm hay quai ấm khác đi và có thể trang trí trên thân ấm những hoa quả, con thằn lằn, con chuột … hoặc đề chữ, đề thơ để tăng giá trị.

Ấm theo hình tự nhiên, nghĩa là do sáng kiến của người nặn mô phỏng một vật thường thấy. Hình dáng có thể là cái thùng gạo, cái bị, cây thông, quả vải, búp hoa hồng, bó trúc .. Đây là những nghệ phẩm cao chứng tỏ óc thẩm mỹ và tài khéo léo của người nghệ sĩ. Thường là hình ảnh có mang một ý nghĩa tốt đẹp nào đó. Con chuột tượng trưng cho sự trù phú, lấy ý là con chuột kêu chít chít đồng âm với chữ túc là đầy đủ, bông sen tượng trưng cho sự thanh cao, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Một cái ấm cổ có hình một con ngựa, một bên có con khỉ đứng nhìn một tổ ong. Người Tàu gọi là mã thượng phong hầu (con ngựa ở trên con ong và con khỉ) nhưng đọc lên hai chữ phong hầu đồng âm với được phong tước hầu. Thành thử cái ấm mang một lời chúc thăng quan tiến chức. Lối biểu tượng đó rất thịnh hành ở Trung Quốc.

Ấm tổng hợp cả hai đặc tính trên, vừa cân đối, vừa nghệ thuật chẳng hạn như một quả bí ngô (pumpkin), có những dây cuốn thành vòi, thành quai hay một cái ấm nặn hình một bầy cá, có cái nắp là một lá sen trên là một con nhái nhỏ.

Ấm cổ Tử Sa

Ấm cổ Tử Sa

ĐẶC ĐIỂM CỦA ẤM NGHI HƯNG

Đất sét Nghi Hưng nung lên rất rắn chắc bền bỉ, không bị nứt dù thay đổi nhiệt độ bất thường khi đổ nước sôi vào. Đất còn có những khí khổng rất nhỏ (pores) phải soi kính hiển vi điện tử mới thấy được. Những khí khổng vi ti đó có tác dụng cách nhiệt, vừa bảo tồn hương vị, vừa không làm cho bên ngoài quá nóng. Một đặc tính khác là khi được nung, ấm không bị co lại hay biến dạng nên nghệ nhân dễ dàng làm nắp ấm được vừa vặn, khít khao.

Khi trong dạng thiên nhiên, đất sét Nghi Hưng mềm, có màu vàng, nâu đen hay xanh nhạt. Sau khi nung, đất màu vàng đổi sang màu da chu, màu đen thành màu tử sa, còn màu xanh lại biến thành màu gan gà. Màu sắc khác nhau tùy theo lượng hoá chất trong đất, nhất là chất sắt.

Đất sét được đào lên từ lòng đất sâu, phơi khô thành từng tảng. Những tảng đất đó được tán thành bột rồi được rây bằng những rây tre để lọc đi tất cả sỏi đá và các chất khác lẫn trong đất sét. Bột đất sét sau đó được đổ vào những bể nước hình chữ nhật cao khoảng thước rưỡi rồi tháo nước trong vào. Ba ngày sau, dung dịch đất và nước đó lại được gạn qua một bể khác và để nước bốc hơi đi cho keo lại. Đất sét được cắt ra thành từng bánh bán cho thợ làm đồ gốm.

Hiện nay, khi du khách đến thăm Đinh Thục Trấn (Dingshuzhen), một thành phố nhỏ trong huyện Nghi Hưng đều thấy toàn là xưởng làm đồ gốm. Họ sản xuất đủ loại, từ bồn, chậu đến ngói xanh. Thế nhưng chỉ có đồ tử sa là quí hơn cả.

Người thợ làm đồ gốm mua đất về dùng chày giã ra, vừa giã vừa cho thêm nước đến bao giờ cảm thấy đủ mềm để nặn thì thôi. Từ lúc giã đến lúc nhồi đất xong phải mất trọn hai ngày. Khi dùng dao cắt thấy đất mịn nhẵn không còn dấu vết bong bóng hơi thì mới dùng được.

Ngưòi thợ lúc đó mới đem chia tảng đất thành từng nắm cân lượng kỹ càng. Mỗi nắm đất được cán thành từng miếng phẳng. Đáy ấm, thành ấm, nắp ấm đều cắt từ miếng đất này, có khi bằng tay, có khi dùng khuôn. Sau đó, người thợ dùng máy quay bằng tay hay đạp bằng chân để ráp và gắn những miếng đất đã nặn sẵn dính với nhau và được miết cho láng bằng dụng cụ bằng gỗ hay sừng. Khi hình dáng tổng quát đã hoàn thành, đợi ráo nước người ta mới trang trí, thêm thắt những hoa văn hay viết chữ. Người thợ khéo thường hay viết tên hiệu, có khi ngày tháng chế tạo, niên đại hoặc đóng dấu vào đáy ấm khi tác phẩm hoàn tất. Triện thường hình vuông, hình tròn hay bầu dục khắc nổi. Những chiếc ấm đắt tiền có khi có thêm một cái triện nhỏ bên trong nắp ấm, hoặc một con dấu khác dưới tay cầm. Trước đây, ấm thường đóng dấu tên hãng sản xuất rõ là một món hàng sản xuất theo số lượng nhiều nhưng sau này đa số ấm đóng dấu tên người, chứng tỏ nay họ coi là một tác phẩm và nghệ nhân tự hào nên để tên mình. Dĩ nhiên cái gì cũng có hai mặt, và có xấu đẹp. Ngay cả những loại hàng bán vài đồng cũng có con dấu nguệch ngoạc. Thế nhưng đó cũng là một hiện tượng cần ghi nhận là nền công nghiệp đang chuyển hướng, mang nhiều màu sắc nghệ thuật hơn.

Ngoài con dấu có khi còn có vài chữ Hán. Chữ đề thường là chữ đá thảo do một người giỏi thư pháp (phép viết chữ) đề bằng bút tre nhọn, khắc hẳn vào thân ấm. Có thể chỉ là vài chữ chúc tụng nhưng có khi là hẳn một bài thơ, một đôi câu đối. Một cái ấm đẹp đến đâu mà chữ viết non tay thì cũng giảm hẳn giá trị.

Những loại ấm sản xuất theo kiểu công nghệ thì chữ viết hay hoa văn được in bằng một loại mực không phai. Sau đó ấm được chuyển sang cho thợ cho vào lò nung. Ấm đất thường nung trong khoảng từ 1100 độ đến 1200 độ C, tuy không nóng bằng đồ sứ nhưng ở nhiệt độ đó, ấm vẫn giữ được tính thấm nước.

Nghề nặn ấm cho đến nay vẫn đòi hỏi một thời gian học nghề lâu theo kiểu sư phụ đệ tử chân truyền. Phải mất nhiều năm mới học được hết bí quyết. Tuy nhiều khi người ta nhái lại những kiểu ấm danh tiếng cũ, nhưng cũng có nghệ nhân mới sáng tạo nhiều kiểu mới. Những người sành sỏi cho rằng với phương pháp tân kỳ, trình độ cao đẳng, nhiều ấm thời mới có nét độc đáo không kém gì những chiếc ấm do các danh sư xưa nặn ra, nếu không nói rằng trội hơn nữa. Chính quyền Trung Cộng cũng thành lập nhiều cơ quan, nghiên cứu, áp dụng khoa học để tái tạo những chiếc ấm cũ không sai một mảy. Tuy là đồ giả nhưng giá đắt không khác gì đồ cổ để bán cho những nhà sưu tầm. Ngoài giá trị lịch sử, những tác phẩm đó còn là một niềm tự hào về nghệ thuật của họ.

Trong những năm qua, tại Bắc Mỹ này đã nhiều lần triển lãm ấm Nghi Hưng. Bộ sưu tập của Tiến Sĩ La Quế Tường (K.S. Lo) được trưng bày trong khoảng 1990-92 tại Phoenix Art Museum, Trung Tâm Văn Hóa Hoa Kiều San Francisco, Indianapolis Art Museum, và Ontario Museum.

Ấm Nghi Hưng cũng đã được huy chương vàng trong các kỳ chợ phiên quốc tế chẳng hạn như tại Philadelphia năm 1926 và ở Leipzig và Liege trong thập niên 1930.

CHỌN MUA VÀ BẢO DƯỠNG ẤM TỬ SA

Khi chọn mua ấm Tử sa, nhiều người băn khoăn không biết nên dựa vào những tiêu chuẩn nào. Về khoản này, người bán bao giờ cũng sẵn sàng chỉ dẫn một vài “tuyệt chiêu”, để thuyết phục bạn. Như biểu diễn thả ấm vào chậu nước nổi bồng bềnh, không nghiêng lệch; nhận chìm xuống rồi buông tay, ấm sẽ nổi trồi lên mặt nước mà không bung nắp hay bị lật chìm; hoặc bịt ngón tay vào lỗ thông hơi trên núm nắp ấm thì rót nước không chảy; dùng nắp ấm gõ nhẹ vào quai phát ra âm thanh như tiếng sắt, tiếng đồng…Thật ra, tất cả những thứ ấy ngày nay đã trở thành tiêu chuẩn kinh điển, mà nhà sản xuất ấm Tử sa nào cũng đạt tới, nếu không muốn bị đào thải.

teaset

Như vậy, việc chọn mua một chiếc ấm trước hết phải xuất phát từ chính nhu cầu của người mua. Nếu mục đích của bạn tìm chiếc ấm Tử sa để hàng ngày làm bạn với trà, thì nên chọn kiểu ấm đơn giản, hoa văn trang trí dễ nhìn, không gây khó khăn khi lau rửa, miệng rộng dễ cho trà vào bình và bỏ xác trà khi dùng xong. Cần nhất là một chiếc ấm hình thể cân đối, vững chãi, không dễ bị ngã đổ.

teaset 01

CÁCH CHỌN ẤM TỬ SA

1.NHÌN BẰNG MẮT: Hình dáng thanh thoát, ưa nhìn.Các bộ phận như :thân ấm, nắp, miệng, vòi, quai, đáy phải cân đối, liền lạc. Màu sắc đồng đều trong ngoài. Dấu triện của nghệ nhân hay nhà sản xuất nét chữ sắc sảo, đặt cân đối ở trung tâm đáy ấm, theo trục thẳng từ quai sang vòi ấm. Những chiếc ấm đắt tiền thường có thêm dấu triện phụ dưới nắp và quai cầm thật rõ nét. Vòi ấm có thể dài ngắn khác nhau, nhưng quan trọng là khi rót, nước chảy thông, đều và thẳng dòng, không rơi vãi hay đọng giọt nhểu ra ngoài.

2.NGHE BẰNG TAI: Đặt ấm lên lòng bàn tay, tay kia cầm nắp ấm khẽ gõ vào quai, tiếng kêu đanh; chắc như kim loại chạm vào nhau.

3.CẢM NHẬN BẰNG TAY: Trơn láng, mịn màng, không tì vết. Nắp và miệng ấm khít khao, vì ấm Tử sa được nung trong lò liên tục 23 tiếng đồng hồ ở nhiệt độ từ 1.190 – 1.270 độ C (trung bình 1.200 độ C), đòi hỏi tay nghề nghệ nhân phải cao, chất đất phải thật tốt và mịn mới không bị co giãn khi nung. Do tính bào mòn trong quá trình sử dụng, một chiếc ấm dùng càng lâu càng lên nước, không đổi màu, đó mới chính là đặc trưng ưu việt của ấm Tử sa, chứ màu sắc đất không liên quan gì đến chất lượng và công dụng.

Ngoài ra, bạn đừng bao giờ nghe lời quảng cáo những chiếc ấm Tử sa mới phát ra mùi thơm. Vì ấm làm bằng đất đào trong núi, lọc lắng thành bùn, lại phải qua quá trình nung trong lò, làm sao có mùi thơm được? Hoặc có người tin rằng, ấm Tử sa càng lâu năm càng có giá trị. Điều đó chỉ đúng một phần về giá trị lịch sử (như chơi đồ cổ), thực tế không phải chiếc ấm Tử sa lâu năm nào cũng đạt chuẩn về tính nghệ thuật, kỹ thuật tay nghề, chất liệu…Trong giới chơi ấm hiện nay, có những chiếc ấm mới làm ra nhưng giá trị cao gấp nhiều lần những chiếc ấm lâu năm.

Ấm có vòi khi rót nước chảy xoắn vòng

Ấm có vòi khi rót nước chảy xoắn vòng

GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG

Ngày nay, đi du lịch bất cứ nơi nào trên thế giới bạn cũng có thể mua được ấm Tử sa. Tuy nhiên, nhiều nhất vẫn là TQ, kế đến Đài Loan, rồi mới tới Hong Kong, Singapore, Nhật, Thái Lan, Mỹ…Về giá cả, câu “tiền nào của đó” hầu như không ép phê với mặt hàng ấm Tử sa, bạn có thể rinh nhầm một chiếc giá thật đắt không đúng giá trị thật của nó, nhưng đôi khi cũng mua được giá hời tùy vào cái duyên của bạn. Về khoản này, xin mách bạn một số kinh nghiệm: đối với hàng do thương lái gốm sứ đem vào VN, những chiếc ấm trung bình, dùng được, bạn chỉ cần trả 1/3, hoặc tối đa ½ giá họ đưa ra là mua được (thí dụ họ ra giá 600.000 đồng, nếu kiên nhẫn trả giá bạn có thể chỉ chi ra từ 200-250.000, thậm chí có món kêu 800 ngàn, chỉ bán 200 ngàn đồng), riêng những chiếc ấm được xem là cao cấp, trong bụng bạn rất thích, cũng không nên trả giá quá 50%.

Tu_sa_-_296_-_8

Ấm rao bán trên mạng: 3.200 Nhân dân tệ (khoảng 6,4 triệu VNĐ)

Đi du lịch TQ theo đoàn, không nên mua ấm tại các cơ sở sản xuất hay cửa hàng do hướng dẫn viên địa phương đưa tới. Giá cả ở những nơi này thường không phản ánh đúng giá trị sản phẩm, thậm chí nếu bạn thử trả chừng phân nữa giá niêm trên sản phẩm thì đã phải móc ví, để nhận hàng. Tại các điểm đón khách du lịch, có nhiều cửa hàng bày bán ấm Tử sa như…bán kẹo, chỉ cần trả ¼ hoặc 1/3 giá niêm là mua được.

Tu_sa_-_296_-_9

Chiếc ấm mua 50 đồng ở Hàn San tự

teaset 03

Ấm của nữ nghệ nhân Ngô Lợi Quần – Nghi Hưng, mua ở TP.HCM 500.000 đồng

Ở Tô Châu, tôi mua được một chiếc ấm trong tình cảnh hết sức tức cười: giá chỉ 50 tệ (100.000 VNĐ), mua ở cửa hàng xéo cổng Hàn San tự. Do người bán ra giá quá cao: 420 tệ, tôi vì không muốn mua nên trả bừa 50 tệ để rút lui, không dè bị bà chủ níu áo lại, nói: “Dạo này ế ẩm quá, mấy ngày chưa bán được hàng. Bán cho ông 1 cái để lấy hên!” Thêm một trường hợp khác ở TP.HCM: Tại gian hàng gốm sứ ở công viên Phú Lâm, tôi bắt gặp chiếc ấm của nữ nghệ nhân Ngô Lợi Quần mà mình đã nhìn thấy ở Vô Tích, chủ hàng ra giá 1,6 triệu đồng, do biết rõ chất lượng ấm và người làm ra nó, tôi trả đến 800.000 đồng mà vẫn không mua được. Tuần sau, tình cờ có việc đi ngang, tôi ghé vào thấy chiếc ấm vẫn còn, nhưng lần này người đứng bán là một cô gái khác. Tôi thử trả giá và không ngờ mua được chỉ với 500.000 đồng.

teaset 04

SỬ DỤNG VÀ BẢO DƯỠNG ẤM TỬ SA

Sở dĩ gọi bảo dưỡng (thay vì bảo quản) là do ấm Tử sa có đời sống riêng của nó. Những chiếc ấm trải qua thời gian dài sử dụng và bảo dưỡng sẽ trở nên sáng ngời, tròn trịa, dày nặng, rắn chắc và tinh khiết…Nói chung, giá trị của nó chỉ có tăng chứ không giảm. Ấm mới mua về, có người dùng giấy nhám loại nhuyễn thấm nước kỳ cọ mặt trong cho sạch lớp bùn (thời xưa, dùng ngói lợp nhà làm bằng đất đen ở vùng Giang Nam tán thành bột nhuyễn, dùng mấy lớp vải sô bọc lại để chà xát, cọ rửa), sau đó cho ấm vào một nồi nước đun sôi suốt mấy tiếng đồng hồ. Có người dứt khoát đun sôi ấm như thế trong một nồi trà lớn, để ấm có thể hấp thu chất trà vào các lỗ thông khí kép (khí khổng), loại bỏ mùi của đất. Ngày nay, trên thị trường đã có bán loại máy chuyên dùng bảo dưỡng ấm, bằng cách phun nước trà liên tục suốt một ngày đêm, để tôi những chiếc ấm mới.

Tu_sa_-_296_-_10 Tu_sa_-_296_-_11

Ấm Tử sa Nghi Hưng

Tu_sa_-_296_-_7

Ấm Tử sa Đài Loan

Uống trà bằng ấm Tử sa, tốt nhất mỗi loại trà nên dùng một ấm riêng, để giữ hương vị đặc trưng. Ngay cả khi dùng trà để tôi ấm, nấu ấm mới, cũng nên dùng đúng loại trà ấy. Mỗi buổi sáng, khi rửa bộ đồ trà, bằng cách dùng xác trà cũ trong ấm chà xát lên toàn thân ấm, có thể làm sạch các vết dơ mà không gây trầy xước. Đối với những chiếc ấm cũ bề mặt bị hư tổn, nứt rạn nhẹ, dùng phương pháp “nước trà dưỡng ấm” có thể khôi phục, những vết nứt rạn sẽ dần dần khít lại, đúng là “tôn cổ xuất tân”. Chọn trà cho ấm, chọn ấm cho trà. Dùng ấm để cất giữ hương vị trà, dùng trà để bảo dưỡng ấm, đã trở thành chân lý của một thú chơi thi vị.

teaset 05

ẤM NGHI HƯNG THEO THỜI GIAN

Theo truyền tụng, Phạm Lãi là người đầu tiên tìm ra chất đất sét vùng Thái Hồ. Sau khi phá xong quân Ngô, ông về ẩn cư nơi đây, lấy việc nặn đồ gốm làm trò tiêu khiển. Thế nhưng thời đó chưa làm ấm trà.

Cứ theo những di chỉ khai quật được thì ngay từ đời Tống (920-1279) người ta đã làm ấm trà ở đất Nghi Hưng. Thế nhưng phải đến thế kỷ thứ 16, đời Minh thì những kiểu ấm nhỏ mới ra đời. Một điều lạ là không phải người Tàu nghĩ ra kiểu ấm chén mà chính là họ du nhập từ Âu Châu. Ngày xưa họ chỉ uống trà bột, quấy trong nước.

Theo sách Dương Tiện Mính Hồ Lục (Sách về các ấm trà vùng Dương Tiện) của Chu Cao Khởi thì đời Chính Đức, Gia Tĩnh nhà Minh có Cung Xuân tài nghệ tuyệt vời, là người nổi danh đầu tiên về làm ấm tử sa. Cung Xuân vốn là gia đồng của Ngô Sĩ đất Nghi Hưng thường theo hầu Ngô Sĩ đến học tại chùa Kim Sa. Trong chùa có một vị hòa thượng có tài làm đồ sứ nên Cung Xuân theo nhà sư học nghề nặn ra những tác phẩm trông chẳng khác gì đồ kim loại xưa. Khi Cung Xuân nổi danh, ông thường cùng Bộc Trọng Khiêm (đất Gia Định) khắc trúc, Lục Tử Đồng (đất Tô Châu) chạm ngọc, và Khương Thiên Lý khảm xà cừ. Tất cả đều là những người nổi tiếng đời Minh. Cung Xuân nặn ấm không lâu — truyện kể rằng ông bị quan sở tại vì yêu chuộng tài nghệ ông nên bức bách khiến ông phải bỏ xứ mà đi — nên tác phẩm của ông hiện nay lưu truyền rất ít. Sách vở chỉ còn ghi một chiếc ấm của ông hình 6 múi hiện tàng trữ tại Viện Trà Cụ Hongkong nặn năm Chính Đức thứ 8 (1513). Thế nhưng còn một cái ấm khác cũng của Cung Xuân để tại Singapore thì ít thấy sách vở nào đề cập. Theo bài “Nghi Hưng và Nghiên Mực” (Yi Hsing and Inkstones) trong tạp chí Arts of Asia, số July/August 1971 thì ông C.M. Wong, Bí Thư của Phòng Thương Mại Singapore và là Chủ Tịch Hiệp Hội Hoa Nhân tại đây có trong bộ sưu tập của ông một ấm Cung Xuân hình vỏ cây. Ấm này đề năm 1506, có triện của người nghệ sư. Phần dưới quai cầm lại còn một vết dấu tay điểm vào mà người ta bảo rằng đó là vết ngón tay thứ sáu của Cung Xuân (bàn tay phải của ông có sáu ngón).

Sau thời Cung Xuân, nghệ thuật làm ấm đất nung vùng Nghi Hưng thịnh đạt, đến đời Vạn Lịch càng có nhiều danh thủ. Lý Ngư viết là: “Trà không gì bằng dùng ấm bằng tử sa, mà vùng Dương Tiện là hạng nhất”. Từ đời Minh trở đi, việc dùng ấm tử sa để uống trà trở nên thông dụng. Người ta để ý đến phẩm chất trà đã đành mà còn kén chọn cả cách pha trà, nước nào pha trà ngon, uống lúc nào mới hợp.

Trước kia, ấm trà bằng sứ là quí nhất nhưng khi ấm tử sa ra đời thì không mấy ai còn chuộng ấm sứ nữa. Cổ nhân tổng kết ấm tử sa có bảy ưu điểm:

Chế nước sôi vào không làm trà mất hương vị, sắc hương còn nguyên

Bình trà dùng lâu, chế nước không cũng ra mùi trà

Trà vị không bị biến chất

Chịu nóng cao, mùa đông tháng giá đổ nước sôi vào không bị nứt

Ít truyền nhiệt, cầm vào không phỏng tay

Dùng càng lâu càng lên nước, bóng lộn

Có nhiều màu khác nhau, dễ lựa chọn

Vì ấm tử sa là một tác phẩm nghệ thuật nên trông ấm người ta có thể đánh giá được người nặn vào bậc nào. Thành ra, trong những nghệ nhân nghề sành sứ, thì ngành làm ấm để tên lại nhiều nhất. Sau đời Cung Xuân người ta thấy có Thời Bằng, Đổng Hàn, Triệu Lương, Nguyên Sướng và Lý Mậu Lâm là những thợ nổi danh.

Đời Vạn Lịch, Thời Đại Bân, con của Thời Bằng là người nổi tiếng hơn cả. Văn Chấn Hanh viết trong “Trường Vật Chí” là “ấm trà tử sa là loại tốt nhất, nắp vừa vặn không làm mất hương, lại không bốc hơi. Ấm do Cung Xuân chế tạo quí nhất, đều nhỏ nhắn, hình dáng lạ lùng. Thời Đại Bân chế thì có cái to, cái nhỏ …”. Cùng nổi danh với Đại Bân có Lý (Đại) Trọng Phương, Từ (Đại) Hữu Tuyền, người ta gọi là Tam Đại.

news_020820068

Từ Hữu Tuyền tự Sĩ Hoành, là học trò của Thời Đại Bân, có tài bắt chước các loại đồng khí xưa làm ấm hình tàu lá chuối, đài sen, củ ấu, quả trứng …

Nổi tiếng thời Vạn Lịch còn có Âu Chính Xuân, Thiệu Văn Kim, Thiệu Văn Ngân, Tưởng Bá Cung, Trần Dụng Khanh, Trần Tín Khanh, Mân Lỗ Sinh, Trần Quang Phủ, Thiệu Cái, Thiệu Nhị Tôn, Chu Hậu Khê …

Thời Vạn Lịch, ngoài việc nặn ấm, các nghệ nhân còn dùng đất tử sa điêu khắc và các chế tạo vật phẩm khác, rất thịnh hành. Người nổi tiếng nhất là Trần Trọng Mỹ ở Vụ Nguyên, An Huy. Họ Trần trước vốn ở Cảnh Đức Trần làm đồ sứ. Sau đến Nghi Hưng kết hợp nghệ thuật đồ gốm với nặn ấm, tạo ra các loại đỉnh hương, bình hoa, cục chặn giấy .. rất xinh xắn. Người nổi danh đồng với Trần Trọng Mỹ thì có Trẩm Quân Dụng, tự Sĩ Lương.

Sau đời Vạn Lịch có Trần Tuấn Khanh, Chu Quiù Sơn, Trần Hòa Chi, Trần Đình Sinh, Thừa Vân Tòng, Trẩm Quân Thịnh, Trần Chấn, Từ Lệnh Âm, Hạng Bất Tổn, Trẩm Tử Triệt, Trần Tử Huề, Từ Thứ Kinh, Huệ Mạnh Thần, Tiết Hiên, Trịnh Tử Hầu …

Trên đây là những nghệ nhân nổi tiếng khéo đời Minh. Về sau, người ta mô phỏng rất nhiều những kiểu họ đã chế tạo nên những ấm nào thực sự đời Minh, cái nào đời sau khó ai biết được. Đồ tử sa lại không đề niên đại như đồ gốm nên càng khó phân biệt chân giả.

Sang đến đời Thanh, nghệ thuật làm ấm còn thịnh đạt hơn nữa. Triều đình nhà Thanh chuộng đồ tử sa nên càng coi trọng. Văn khố nhà Thanh còn ghi lượng hàng mỗi năm tiến cống vào cung. Phẩm chất cũng thêm tinh vi, xảo diệu. Ngoài ấm đất, ngưòi ta còn nặn bồn trồng cây cảnh, bình hoa, và dụng cụ dùng trong nhà. Màu sắc pha chế cũng phong phú hơn.

Nghệ nhân nổi tiếng đời Thanh rất nhiều. Người xuất sắc nhất là Trần Minh Viễn, hiệu Hạc Phong, lại có tên là Hồ Aån, chế ra hàng chục thứ ấm trà, đồ dùng khác nhau, không cái nào giống cái nào, quả là bậc thầy trong nghề. Những tác phẩm mà Trần Minh Viễn còn để lại hết sức tinh xảo, lại đầy sáng tạo. Cái thì hình một gốc mai già, cái thì hình bó củi, trông như một nghệ phẩm điêu khắc tả chân hơn là một trà cụ. Ông còn nặn những trái cây tầm thường như hạt dẻ, củ đậu phộng … trông hết sức tinh xảo, thoạt trông không ai bảo là một vật bằng sành.

Sách Trùng San Kinh Khê Huyện Chí, viết năm thứ hai đời Gia Khánh, (Thanh) dùng bốn chữ “vạn gia yên hỏa” (nhà nhà đều khói lửa) để chỉ khung cảnh sinh hoạt bấy giờ. Đời Ung Chính, Càn Long thì có Trần Hán Văn, Dương Quí Sơ, Trương Hoài Nhân. Chế tạo đồ dùng trong cung vua thì có Vương Nam Lâm, Dương Kế Nguyên, Dương Hữu Lan, Thiệu Cơ Tổ, Thiệu Đức Hinh, Thiệu Ngọc Đình nhưng thiên về ấm có trang trí, màu sắc. Những chuyên gia cho rằng kết hợp hai kỹ thuật của Cảnh Đức Trấn (nơi chế tạo đồ sứ tráng men) với Nghi Hưng đã làm giảm đi phong vị của ấm tử sa, bản chất vốn giản phác, gần thiên nhiên. Cầu kỳ hóa một nghệ thuật vốn dĩ đạm bạc đã khiến cho nghệ thuật nặn ấm đổi hẳn sắc thái, mất đi tính nguyên ủy của nó.

Sang đời Gia Khánh, những người tên tuổi có Huệ Dật Công, Phạm Chương Ân, Phan Đại Hòa, Cát Tử Hậu, Ngô Nguyệt Đình, Hoa Phượng Tường, Trinh Tường, Quân Đức, Ngô A Côn, Hứa Long Văn …

Thời Đạo Quang có Dương Bành Niên và em gái là Dương Phượng Niên cùng với Trần Hồng Thọ, Thiệu Đại Hanh là những danh gia. Trần Hồng Thọ hiệu là Mạn Sinh, đời Gia Khánh làm huyện tể đất Lật Dương. Ông là người giỏi viết chữ, vẽ tranh, khắc triện lại thích sưu tầm ấm tử sa. Nhiều ấm do Dương Bành Niên và nhà họ Dương chế tạo ra, đợi cho hơi khô, Trần Hồng Thọ dùng dao tre khắc, vẽ, viết chữ, đề thơ lên rồi mới đem nung. Việc kết hợp hai tài danh, một nặn ấm, một thư họa là sáng tác mới của thời đó. Ấm thường có đề “A Mạn Đà Thất” (là tên thư trai của họ Trần) hay dưới đáy có khắc “Bành Niên”. Đời sau gọi là ấm Mạn Sinh (Mạn Sinh hồ).

Theo chân Trần Hồng Thọ, nhiều danh sĩ khác như Kiều Trọng Hỉ, Ngô Đại Trừng cũng đứng ra chỉ đạo việc nặn ấm. Từ đó, một kỹ xảo vốn chỉ được coi như nghề mọn nay đã lan sang cả giới nho gia. Tuy không được phổ biến như thư họa nhưng cũng không còn là một tiện nghệ như trước nữa.

Một danh sĩ vốn giỏi về vẽ trúc là Cù Tử Trị lại đem việc khắc trúc, họa trúc vào trang trí trên ấm. Họ Cù không những mang thư pháp mà còn khắc hẳn những cành trúc, cành mai nghĩa là coi chiếc ấm như một tờ giấy hay vuông vải để thi thố tài hàn mặc.

Còn Thiệu Đại Hanh thì là một nghệ nhân nổi tiếng không kém gì Dương Bành Niên. Trong khi Dương nổi danh về tinh xảo thì Thiệu có tiếng về giản phác. Ông không cầu kỳ nhưng cũng có nhiều sáng kiến độc đáo. Chính kiểu nắp ấm đầu rồng, khi rót thì lè lưỡi ra là do ông khởi thủy, tới nay vẫn còn nhiều người bắt chước và khá phổ biến trên thị trường.

Cuối đời Thanh, Chu Kiên lại có sáng kiến dùng thiếc và ngọc để bịt hay khảm vào ấm tử sa. Nhiều thân ấm được bịt thiếc và viết chữ rồi dùng ngọc trạm thành quai, thành vòi ráp vào. Thế kỷ thứ 19 nhiều người còn bịt đồng hay thau nhưng nói chung những kiểu này không được chuộng lắm.

Vào thời điểm này, việc thương mại giữa Trung Hoa và nước ngoài đã phát triển. Nhiều cường quốc đã chiếm những lãnh địa ở duyên hải hay cưỡng ép nhà Thanh nhường làm tô giới và Thanh đình đã phải mở cửa cho họ vào buôn bán. Trà Tàu trở thành một nông phẩm xuất cảng quan trọng và ấm Tàu cũng được sản xuất qui mô để bán ra ngoài. Nhiều công ty thành lập tại Thượng Hải, Nghi Hưng, Thiên Tân, Hàng Châu đại lý bán ấm Nghi Hưng. Những kiểu ấm thời đó cũng vẫn theo mô dạng cũ. Một công ty ở Thượng Hải là Thiết Họa Hiên đến nay vẫn còn. Thiết Họa Hiên nổi tiếng vì chữ viết trên ấm rất đẹp. Những nghệ nhân nổi tiếng của họ gồm có Tưởng Yến Hanh, Trần Quang Minh, Phạm Đại Sinh, Vương Diễn Xuân, Trình Thọ Trân. Những ấm xuất cảng thường có cả con dấu của nghệ nhân lẫn con dấu của hãng. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 có hai hãng khác là Chân Ký và Ngô Đức Thịnh cũng phát đạt.

Thời Dân Quốc ấm Nghi Hưng được xuất cảng rất nhiều sang Nhật Bản, Đông Nam Á, Âu Châu và Mỹ Châu. Thời đó cũng có nhiều thợ khéo nhưng kiểu thường giản dị, cân đối chứ không cầu kỳ như thời trước. Có lẽ vì nhu cầu thương mại và thị hiếu đã thay đổi. Đến thời loạn lạc thập niên 1930, 1940 việc sản xuất ấm phải đình trệ. Sau khi Trung Cộng nắm quyền, việc sản xuất được qui tụ thành công xã nhưng không phát triển được. Thời Cách Mạng Văn Hóa lại một lần nữa kỹ nghệ này bị vùi dập. Trong chế độ Cộng Sản, uống trà bị coi là một tàn tích tư sản, bóc lột, phi sản xuất nên bị bài xích. Việc làm ấm vì thế cũng bị triệt hạ. Sau khi Đặng Tiểu Bình thi hành chính sách cải tổ, Trung Cộng phục hồi ngành nặn ấm tử sa. Năm 1979, xí nghiệp Nghi Hưng Tử Sa đã sử dụng đến 600 nhân công. Hiện nay, một số thợ chuyên môn trẻ và tương đối có trình độ đã khôi phục lại được công nghiệp này, nhất là càng ngày càng có nhiều người ưa chuộng và sưu tập.

Đến thời điểm hiện nay, các nghệ nhân Tử sa đương đại thuộc hàng “cao thủ” ở Nghi Hưng có 8 vị: Cố Cảnh Chu, Tưởng Dung, Bùi Thạch Dân, Chu Khả Tâm, Ngô Vân Căn, Uông Dần Xuân, Nhậm Cán Đình và Đàm Tuyền Hải. Các nghệ nhân này hầu hết đang giữ những chức vụ quan trọng trong ngành mỹ thuật tỉnh Giang Tô. “Danh sư xuất cao đồ”, học trò và con cái của họ cũng là những nghệ nhân kiệt xuất trong nghề: Từ Hán Đường, Từ Tú Đường, Lý Xương Hồng, Thẩm Cừ Hoa (nữ), Lý Bích Phương (nữ), Uông Dần Tiên (nữ), Lữ Hiểu Thần, Ngô Chấn, Bào Chí Cường, Trữ Lập Chi, Cố Thiệu Bồi, Hà Đạo Hồng…Thành phố Nghi Hưng hiện có tới 20 công ty, nhà máy chuyên sản xuất mặt hàng gốm Tử sa, mỗi ngày có 20 ngàn nghệ nhân, công nhân đến xưởng làm việc.

news_020820069

Nói đến ấm trà không thể không nhắc đến ấm sản xuất tại Đài Loan. Từ khi chính quyền dân quốc thiên di sang hòn đảo này, nhiều người trong số di dân là nhà sưu tập hoặc dân bản xứ vùng Giang Tô. Nghề làm ấm cũng được truyền theo. Ấm Đài Loan cũng đẹp không kém gì ấm sản xuất tại lục địa. Về phương diện tinh xảo và cầu kỳ có phần hơn. Tuy nhiên giá cả thường đắt một chút.

Hongkong và Singapore cũng là nơi có nhiều danh thủ trong cả sưu tập lẫn chế tạo ấm. Viện Bảo Tàng Trà Khí Hongkong (Flaggstaff House Museum of Tea Ware) được chính thức mở cửa từ ngày 27 tháng giêng năm 1984 trong đó Tiến sĩ K.S. Lo cống hiến hơn 600 món, từ trà cụ thời Tây Chu (thế kỷ 11 trước TC) đến tận gần đây. Chính Viện Bảo tàng này đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm, trình diễn phương thức uống trà, và thi nặn ấm (ba lần 1986, 1989 và 1992) đã được rất nhiều người hâm mộ và tham dự. Sáng tác mới của nghệ nhân đời nay thật phong phú, phối hợp được quan điểm Đông và Tây thoát hẳn những mô dạng của đời trước.

Phong khí uống trà hiện nay cũng trở thành một phong trào, tuy không rầm rộ như những thưởng thức khác nhưng cũng rất đáng kể. Nhiều trà thất, hiệp hội, trung tâm, tổ chức và nhóm nghiên cứu được thành lập khắp nơi trên thế giới (kể cả tại Mỹ) nhất là tại những nơi có nhiều Hoa Kiều. Tại Hoa lục (Bắc Kinh, Hàng Châu, Quảng Châu) và Đài Loan, Hongkong, Singapore lại càng phát triển. Lại có những tạp chí bằng Anh, Pháp, Hoa ngữ chuyên cho những người thích trà ngon và chuộng việc sưu tập ấm tử sa.

Một điểm đáng lưu ý là hiện nay các kiểu ấm đã tiến lên một bước rất xa. Trước đây nghệ nhân vẫn coi ấm là chính, hình dáng thay đổi chỉ cốt để chứng tỏ cái xảo diệu kết hợp mô thức thiên nhiên với công dụng của trà cụ. Ngày nay, nhiều kiểu ấm đã gần như thoát hẳn cái công dụng pha trà. Có cái hình xe cút kít, chiếc ghế mây, cái giếng, cái rương, đồng tiền … Tuy lạ mắt nhưng không tiện. Nhà Thiên Nhân thì họa nhiều kiểu có hình dáng như những tác phẩm điêu khắc mới, trông cũng hay và tân kỳ. Nhiều nghệ nhân cũng nặn tượng, tuy tinh xảo nhưng gần như không liên quan gì đến những đặc tính độc đáo của đất tử sa.

Việt Nam hiện nay cũng có nhiều nơi nặn ấm, thường là bắt chước kiểu Tàu. Mấy năm trước, có người về thăm quê đem sang cho tôi một bộ đồ trà trạm bằng đá cẩm thạch hồng, vân trắng. Ấm chén theo hình hoa sen, đĩa là một lá sen. Tuy nhiên đây là loại ấm để chưng vì không thể dùng vào việc pha trà. Việt Nam cũng làm ấm theo kiểu Nghi Hưng nhưng chưa tinh xảo. Nếu thực sự muốn chiếm một chỗ đứng trên thị trường, chúng ta còn phải đầu tư và học hỏi nhiều.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Việt Ngữ

1. Vũ Thế Ngọc, Trà Kinh, EastWest Institute Press 1987

2. Nguyễn Tuân, Vang Bóng Một Thời, Cảo Thơm 1972

3. Bảo Sơn, Trà Đạo (bản dịch cuốn The book of Tea của Okakura Kakuzo), Nhà Xuất Bản Tổng Hợp An Giang 1990

4. Phan Quốc Sơn, Thú Chơi Những Ấm Trà Đất Nung Cổ, Nguyệt San Y Tế 2/96

II. Anh Ngữ

1. Kit Chow và Ione Kramer, All the Tea in China, China Books and Peridicals, Inc. 1990

2. Roberta Stalberg, Shopping in China, China Books and Peridicals, Inc. 1988

3. Nhiều tác giả, The Book of Tea, Bản Dịch của Deke Dusinberre, Flammarion Paris

4. Arts of Asia, Yi Hsing and Inkstones, July/August 1971

5. Arts of Asia, Flaggstaff House Museum of Tea Ware 1984-1994, March/April 1994

6. Lin Yutang, The Importance of Living, The John Day Company, 1937 (kể cả bản dịch của Nguyễn Hiến Lê và bản chữ Hoa “Sinh Hoạt Đích Nghệ Thuật”)

7. Herbert E. Plutschow, Historical Chanoyu, The Japan Times, Ltd. Tokyo 1986

8. Hobson R.L., The wares of the Ming Dynasty, Charles E. Tuttle Company 1962

9. Tài liệu trong Internet

10. The K.S. Lo Cllection, Flagstaff House Museum of Tea Ware, Yixing, purple clay wares, Urban Council of Hongkong 1994

III. Hoa ngữ

1. Minh Đại Đào Từ đại toàn, Nghệ Thuật gia xuất bản xã, Đài Bắc 1989

2. Thanh Đại Đào Từ đại toàn, Nghệ Thuật gia xuất bản xã, Đài Bắc 1989

3. Chu Trọng Thánh, Bắc Tống Trà Chi Sinh Sản Dữ Kinh Doanh, Học Sinh Thư Cục, Đài Loan 1985

4. Lâm Vĩ Hạo, Lục Trà, Sinh Hoạt Y Học Thư Phòng, Đài Bắc 1995

5. Lưu Phi Bạch, Trung Quốc Công Nghệ truyền kỳ, Tinh Quang, Đài Bắc 1987

6. Ngô Trí Hòa, Trà Đích Văn Hóa, Hành Chính Viện Văn Hóa Kiến Thiết Uûy Viên Hội ấn hành, Đài Bắc 1987

SƯU TẦM & TỔNG HỢP

các bàiđã đăng :

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »