Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Trần đình Sơn’

Chuyên mục cộng đồng: Trao đổi ý kiến về đồ gốm sứ bạn đọc của blog sưu tầm

Tích “đạp tuyết tầm mai” trên đồ sứ ký kiểu:

Bạn đọc Lê Phước cần thông tin về đề tài “đạp tuyết tầm mai” trên đồ sứ ký kiểu nên đã gửi cho blog hình ảnh chiếc hủ đựng trà dưới đây:

DTTM1

DTTM2

DTTM3

Chúng tôi xin góp ý về đề tài này:

1/- Xuất xứ trên thơ văn chử Hán của thành ngữ “đạp tuyết tầm mai” :

踏雪尋梅

數九寒天雪花飄,

大雪紛飛似鵝毛。

浩然不辭風霜苦,

踏雪尋梅樂逍遙。

Đạp tuyết tầm mai

Sổ cửu hàn thiên tuyết hoa phiêu ,

Đại tuyết phân phi tự nga mao .

HẠO NHIÊN bất từ phong sương khổ ,

Đạp tuyết tầm mai lạc tiêu diêu .

**********************************

踏雪尋梅

平生春興十分深,

長恐梅花負賞心。

偶有一枝斜照水,

前村踏雪也須尋。

張道洽

Đạp tuyết tầm mai

Bình sanh xuân hứng thập phân thâm ,

Trường khủng mai hoa phụ thưởng tâm .

Ngẫu hữu nhất chi tà chiếu thủy ,

Tiền thôn đạp tuyết dã tu tầm .

Trương Đạo Hiệp

*************************************

臨江仙

庭院深深深幾許,

雲窗霧閣常扃,

柳梢梅萼漸分明,

春歸秣陵樹,

人老建康城。

感月吟風多少事,

如今老去無成,

誰憐憔悴更雕零,

試燈無意思,

踏雪沒心情。

李清照

Lâm giang tiên

MAI

Đình viện thâm thâm thâm kỷ hử ,

Vân song vụ các thường quynh ,

Liễu sao mai ngạc tiệm phân minh ,

Xuân quy Mạt Lăng thụ ,

Nhân lão Kiến Khang thành .

Cảm nguyệt ngâm phong đa thiểu sự ,

Như kim lão khứ vô thành ,

Thùy liên tiều tụy cánh điêu linh ,

Thí đăng vô ý tứ ,

ĐẠP TUYẾT một tâm tình .

Lý Thanh Chiếu

(nguồn trích dẫn forum của website Viện Việt Học)

2/- tác giả Phí Ngọc Hùng dựa trên các các tác phẩm:

Khảo Về Gốm Cổ, Sành Xưa – Vương Hồng Sển

Thuật Uống Trà – Nguyễn Kỳ Hưng

Đồ Gốm Cổ Truyền – Bùi Ngọc Tuấn

Thư Tịch Gốm Cổ VN – Trần Anh Tuấn

Gốm Trà Việt Nam – Phan Quốc Sơn

Làng Gốm Cổ Truyền VN – Khuyết Danh

Gốm Bát Tràng – Nguyễn Đình Chiến

Trong một tiểu phẩm nói về ấm trà của mình, đã viết như sau:

Theo điển tích thì tất cả những bộ ấm trà của các cụ từ thời Trịnh Nguyễn được gọi chung là đồ “ký kiểu”, hiểu theo nghĩa là vẽ kiểu trước và ký là dấu ấn hay một bài thơ ngắn. Khởi đầu từ chúa Trịnh Sâm, người được coi là trà sư của nghệ thuật uống trà, tự nhận mình là “trà nô”, với chén bạch định hay bạch trản ký hiệu “Nội Phủ”. Sau đó, cụ Nguyễn Du mang về cho vua Gia Long bộ ấm “Giáp Tý 1804”, riêng cụ có bộ Mai Hạc với hai câu thơ “Nghêu ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ hạc là người quen”. Tiếp đến vua Minh Mạng có bộ “Chữ Nhất”, vua Thiệu Trị với bộ “Mãn Hoa Tùng Đình” và vua Tự Đức cùng bộ “Ngọan Hảo”. Các bộ ấm đặt làm cho các quan, với “chữ đề” gọi là “chấm”. Quan võ thích chấm “Tam Cố thảo lư”, hoặc “Tây Sương ký”. Quan văn ưa “Trúc lâm thất hiền” hay “Đạp tuyết tầm mai” này nọ…

DTTMpmb

Tương truyền khi đi sứ sang Tầu vào năm 1813, cụ Nguyễn Du đến thăm một xưởng chế tạo đồ sứ danh tiếng lấy hiệu đề Ngoạn Ngọc ở tỉnh Giang Tây. Lúc bấy giờ xưởng đang chuẩn bị chế tạo bộ trà Mai Hạc. Với nhã ý đáng ca ngợi, vị chủ hãng ngỏ lời xin quan chánh sứ phẩm đề một câu để quảng cáo cho kiểu đồ trà này.,. quan chánh sứ lại dùng chữ Nôm viết nên câu:

Ngao du vui thú yên hà Mai là bạn cũ, hạc là người quen

Cây mai ở bộ chén đĩa trà này vẽ theo kiểu chữ “Nữ”女 . Cây mai uốn cong rất nhiều hoa, một tảng đá và một con chim hạc đứng trên tảng đá. Câu thơ viết theo hai cách: 6/2/6 hoặc 6/8 theo dòng dọc kiểu chữ nho. Chén dĩa màu men xanh ngọc và ký hiệu hãng “Ngoạn Ngọc” chế tạo. Nói cho xác đáng thì cây mai ở bộ chén đĩa “Mai Hạc” không lấy gì làm mỹ thuật lắm, và nó cũng không diễn tả được cái cốt cách cương nghị của loài mai. Cũng hình vẻ này nhưng lại có loại chén dĩa có đề câu thơ chữ Hán “Hàn mai xuân tín tảo”” 寒 梅春信早”, tức là cành mai lạnh báo tin xuân về sớm. Loại chén đĩa chữ Hán này không nổi tiếng bằng bộ trên, có lẽ vì câu thơ Nôm quá có giá trị chứ không vì cây mai đẹp. Một bộ chén đĩa trà khác vẽ một cây mai rất đẹp, không có hoa nở chỉ có cành và búp, không có lá. Dưới gốc mai có mấy tảng đá lớn nhỏ khác nhau, có cỏ non và đầy rêu. Một cây cầu nhỏ vắt ngang con suối, một cao sĩ cưỡi lừa qua cầu đi trước, một tiểu đồng vác cành mai theo sau. Bên kia chén đối diện với tranh vẽ có câu thơ: “Độc thám mai hoa sấu”独“探 梅花瘦 viết thành hai dòng: “Độc thán mai” ở dòng thứ nhất, “Hoa sấu” ở dòng thứ hai, dưới hai chữ này có khuôn dấu vuông thành sáu vị trí đối nhau. Câu thơ này vốn là của Khổng Minh trong Tam Quốc: “Kỵ lô quá tiểu Kiều, độc thám mai hoa sấu”,騎驢過小橋 独探 梅花瘦 có nghĩa là: cưỡi lừa qua cầu nhỏ, để kiếm cành mai gầy. Đề tài này các trà hữu thường gọi là đạp tuyết tầm mai tức là dẫm lên tuyết lạnh để tìm hoa mai. Bộ chén đĩa có nhiều nước men: men màu vỏ trứng gà so do hãng có đề hiệu “Nhã Thâm Trân Tàng” chế tạo; và men màu xanh ngã trắng của đề hiệu “Nội Phủ”. Cây mai ở bộ chén đĩa này đẹp hơn cây mai ở bộ “Mai Hạc” rât nhiều. Tính chất vừa thanh nhã vừa cao khiết đều có ở cây mai của bộ đồ trà đạp tuyết tầm mai này

DTTMpmb2

3/- Mùa thu năm 1868, nhà văn Đặng Huy Trứ (1825-1874) đã đặt làm một loạt đồ sứ để cúng tế tại nhà thờ. Hiện nay còn tồn tại 7 loại dĩa, tô, chén, bình hoa vẽ cá, nai, lên, hoa, đặc biệt dĩa bàn trà vẽ tích “Đạp tuyết tầm mai” ghi câu thơ :

Tuyết trung vị vấn điều canh sự

Tiên cú bách hoa đầu thượng khai.

(trong tuyết giá chưa hỏi đến việc nhà vua giao phó, câu đầu tiên để thưởng thức hoa mai nở trước trăm hoa) nói lên sự phấn khởi, hứng thú của thi nhân được thưởng thức hoa mai nở trước mọi hoa khác. Dĩa nầy hiện nằm trong bộ sưu tầm của nhà khảo cứu Trần Đình Sơn

Tác phẩm “ những nét đan thanh” của nhà khảo cứu Trần Đình Sơn được tác giả Hoài Hương giới thiệu như sau , xin trích dẫn :

Những nét đan thanh” , một sưu tập thơ văn trên dĩa trà ký kiểu men lam rất đặc trưng của Việt Nam vào thời Nguyễn, từ thế kỷ 18-19, lọai đồ sứ “Ngự dụng” trong cung Vua, do nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn sưu tầm,Nhà xuất bản Văn Nghệ xuất bản, như một món quà xuân đến những người yêu thích cổ ngọan và cả những người có tâm hồn thi nhân luôn cảm khái cái đẹp ngôn ngữ xưa từ các câu thơ, điển tích được chép lại qua bàn tay nghệ nhân làm đồ sứ.

Có lẽ trước khi mở “Những nét đan thanh”, để thưởng ngọan,nên pha một ấm trà sen, độc ẩm hay đối ẩm hay… , và cầu kỳ hơn tí nữa, đốt một lư trầm, tạo một không gian xưa,một làn khói trầm phảng phất bãng lãng, một thóang hương thơm thanh thóat của sen, và ngòai trời kia là mùa xuân đang đâm chồi nảy lộc…134 chiếc dĩa sứ men lam với 134 điển tích, thơ, văn của những thi nhân, đặc biệt là những chiếc dĩa trà in danh lam thắng cảnh nước Việt với những câu thơ như họa cho cảnh vật hùng linh hư ảo, trầm tư như một khỏanh khắc thiền trong tâm.Và thú vị hơn là trong bộ sưu tầm dĩa trà ký kiểu này còn có những câu thơ, điển tích chúc phúc mùa xuân đầy ý nghĩa.

Mở mấy trang đầu “Những nét đan thanh”, thật ấn tượng với nét vẽ như tranh sơn thủy, in hình trên dĩa là danh thắng non nước miền Trung, xứ Thuận Hóa- Huế. Ấn tượng bởi đây là đồ sứ ký kiểu, đặt thợ nhà Thanh- Trung Quốc, nhưng cảnh vật in trên đĩa lại là non nước Việt, là những câu thơ Nôm- ngôn ngữ Việt.

Chiếc đĩa có hiệu đề”Thanh ngọan”, vẽ tòan cảnh cửa biển Tư Dung- Thuận Hóa, với lời đề thơ chữ Nôm của Đào Duy Từ(1572-1634):”…Một bầu riêng rẽ thú yên hà/ Nghi ngút hương bay cửa Đại La/Ngày vắng đỉnh đang chuông bát nhả/Đêm khuya dắng dõi kệ Di Đà/Nhặt khoan đàn suối ban mưa tạnh/Eo óc cầm ve thuở ác là…”. Một chiếc dĩa khác vẽ cảnh chùa Thái Bình ở núi Tam Thai- Quảng Nam ,với bài thơ Nôm tả cảnh rất đẹp:”Tạo hóa khéo đúc hình/ Non nước song thanh/Ai dặm đỉnh ngao giữa đáyNgát một thức xanh xanh”. Dĩa “Tùng quân”, vẽ đàn cá bơi đớp bóng trăng, đàn chim bay trên không giữa cảnh non nước,với 2 câu thơ của Hàn Than thời Trần”Hàn than ngư hấp nguyệt/Cổ lũy nhạn minh sương”.

Hai chiếc dĩa vẽ tòan cảnh núi Thúy Vân và chùa Thánh Duyên, hai thắng cảnh mang trong mình những sự tích từ thời Vua Gia Long. Trên đĩa vẽ chùa Thánh Duyên có chép thơ của Vua Thiệu Trị(1840-1847), thấm chất thiền:”Gió thiền chuông điểm rừng sâu dội/Cõi diệu hương đưa biển pháp nhuần/Cây vướng mây lành lên cảnh Bụt/Đường xuyên guốc sãi lấm hồng trần…”. Ngòai những chiếc dĩa vẽ cụ thể một danh thắng, còn nhiều dĩa khác vẽ phong cảnh với những bài thơ Nôm họa lại bằng ngôn ngữ, ngắm dĩa, đọc thơ, vẻ đẹp như được tăng thêm, không phải là cổ vật in trên giấy, mà hình như có hồn xác lay động thật sự.

Những chiếc dĩa mang các bức vẽ sự tích, điển tích rất nhiều, nhưng có lẽ “gần” với dân gian người Việt là những điển tích “Ngưu Lang Chức Nữ”,”Từ Thức gặp Giáng Hương”, “Lưu Nguyễn nhập thiên thai”,”Như chim liền cánh, như cây liền cành”, “Long Hổ tranh hùng”, “Cá chép hóa rồng”, “Ngư ông đắc lợi”… Với những ai có một chút kiến thức về Nho học, có thể tìm thấy trên nét vẽ và những câu thơ chép ở bộ sưu tập dĩa trà ký kiểu này nhiều bài học về “đạo” làm người, đối nhân xử thế, như dĩa “Đạp tuyết tầm mai”, “Tam cố thảo lư”,… Những bậc thi nhân yêu cái đẹp của Đường thi, cũng có thể tìm được tri âm từ các hình ảnh họa lại thơ của các thi nhân nổi tiếng thời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Vương Xương Linh, Giả Đảo, Bạch Cư Dị…

DTTM4

DTTM5

Bạn Lê Phước nên tìm hiểu cuốn sách này, chúng tôi không có cuốn này!

4/- Một trích đoạn tư liệu đáng lưu ý khi bàn về đồ ký kiểu có các bài thơ Hán Nôm:

Dù đồ sứ của Huế dưới thời Nguyễn phần lớn được đặt hàng từ nước ngoài, cuốn sách của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn cho thấy những đồ cổ này không phải là đồ Tàu, đồ Pháp xuất khẩu sang Việt Nam. Chúng chính là những sản phẩm của người Việt. Bởi người Việt đã thiết kế chi tiết từng mẫu mã, kiểu dáng gửi sang đặt hàng thợ nước ngoài chế tác. Điều đặc biệt, trên những loại đồ cổ này hầu hết đều được khắc thơ, văn chữ Hán Nôm.

Đoàn Phước Thuận là người đam mê những món đồ vẽ mai hạc đề thơ Nôm. Trong sưu tập của anh có hơn hai chục món mai hạc, nhưng đặc sắc nhất là chiếc dĩa trà có hai câu thơ Nôm viết theo thể “bát – lục”. Đây là món đồ mai hạc độc nhất vô nhị ở Việt Nam. Trong 10 tác phẩm thơ văn chữ Nôm có trên đồ sứ ký kiểu, hai câu thơ “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ hạc là người quen” viết kèm trên đồ mai hạc có tần suất xuất hiện nhiều nhất, cũng là những câu thơ chiếm kỷ lục về viết sai và viết xấu: sai cả tự dạng lẫn bố cục xếp đặt câu thơ. Nguyên do là vì đây là hai câu thơ viết bằng chữ Nôm, thứ chữ do người Việt “sáng chế” và vay mượn từ chữ Hán mà thành. Chữ Nôm thì mỗi vùng, mỗi thời lại có những kiểu thức “sáng chế” và vay mượn khác nhau, nên đôi khi cùng một nét nghĩa và một âm Nôm, nhưng lại có nhiều tự dạng khác nhau. Việc này gây bối rối cho người thợ Tàu, khi họ phải viết chữ Nôm lên những món đồ sứ vẽ mai hạc. Do không hiểu nghĩa chữ Nôm, lại thấy tự dạng chữ Nôm giống với chữ Hán nên thợ Tàu cứ tùy tâm phóng bút nên viết sai chữ rất nhiều. Ngoài ra, vì thơ lục bát là thể thơ riêng của người Việt, thợ Tàu không biết nên cứ tùy nghi phân đoạn thơ Nôm theo “kiểu Tàu”: họ cắt hai câu lục bát thành ba câu (6 chữ – 2 chữ – 6 chữ), hay bốn câu (5 chữ – 2 chữ – 5 chữ – 2 chữ ; 4 chữ – 3 chữ – 4 chữ – 3 chữ). Đoàn Phước Thuận là người duy nhất có chiếc dĩa mai hạc có hai câu thơ Nôm được viết theo thể “bát – lục”: “Nghêu ngao vui thú yên hà mai là / bạn cũ hạc là người quen”. Ngoài ra, anh còn có một chiếc dĩa mai hạc khác, cũng ghi hai câu thơ trên nhưng viết thành bốn dòng và… sai trật lấc: “là bạn cũ hạc là / người quen / nghêu ngao vui thú yên / hà mai”.

5/- Cũng xin lưu ý phân biệt khi bàn về biểu tượng hoa mai trong thi ca TQ; và thể hiện trên gốm sứ với ý nghĩa “tứ quân tử” hoặc “ tuế hàn tam hữu” đó là loài hoa Mai mơ của xứ lạnh, chứ không phải giống hoa mai vàng ngày tết ở miền nam:

Hoa của mai mơ được yêu quý và tôn vinh ở cả Trung Quốc và Nhật Bản. Tại Trung Quốc, nó được sử dụng rộng rãi trong trang trí nhân các ngày Tết. Hoa mai mơ là chủ đề phổ biến trong nghệ thuật Trung Hoa và nó nằm trong số các loài hoa được ưa chuộng nhất của người Trung Quốc. Tuy nhiên, không giống như người Nhật, người Trung Quốc nhìn nhận ở hoa mai mơ như là biểu tượng của mùa đông nhiều hơn là vật báo hiệu mùa xuân. Chính xác là vì nguyên nhân này mà hoa của nó được yêu quý, do nó nở hoa với sức sống mãnh liệt giữa tuyết trắng của mùa đông trong khi các loài cây khác đang khô héo vì giá lạnh. Vì thế, nó được nhìn nhận như là ví dụ của sự kiên cường, kiên nhẫn trước nghịch cảnh, do vậy nó được sử dụng như là phép ẩn dụ để hình tượng hóa cuộc đấu tranh. Do nó nở hoa vào mùa đông, nên mai mơ, cùng với tùng, và trúc được gọi là 岁寒三友 (tuế hàn tam hữu, nghĩa là ba người bạn của giá lạnh).

Bên cạnh đó, hoa mai mơ là một trong “tứ quân tử” (四君子) tại Trung Quốc (cùng lan, cúc, và trúc) và chúng là biểu tượng của sự cao quý, hào hiệp. Bốn loại hoa này cũng xuất hiện trên bộ quân bài của trò chơi mạc chược – ma tước (麻雀). Ngoài ra, nó còn xuất hiện trong bộ tùng, cúc, trúc, mai với ý nghĩa tương tự như của bộ lan, trúc, cúc, mai.

Hoa mai mơ là loại hoa biểu tượng của thành phố Nam Kinh. Năm 1964, Hành chính viện của Trung Hoa dân quốc đã phê chuẩn hoa mai mơ 5 cánh làm quốc hoa của quốc gia này.[5]. Nó cũng là biểu tượng của China Airlines, hãng hàng không quốc gia của Trung Hoa dân quốc. Hoa mai mơ cũng xuất hiện trên Tân Đài tệ và các biểu tượng quốc gia khác. Ở Trung Hoa đại lục loài hoa này có trên nhân dân tệ và một số biểu tượng quan trọng khác.”

(trích từ  Wikipedia VN mục ý nghĩa văn hóa của hoa mai mơ)

Ở trên là một số thông tin có liên quan đến đề tài “đạp tuyết tầm mai” trên đồ sứ ký kiểu mà chúng tôi có được. Các bạn đọc của blog có quan tâm và có ý kiến gì mới, xin mời đóng góp thêm ( tại mục phãn hồi). Bạn Lê Phước với kiến thức riêng của mình cũng có thể trình bày bổ xung thêm cho đầy đủ.

Đây là bài đầu tiên trong chuyên mục cộng đồng, xin mời độc giả đóng góp thêm bằng ý kiến phãn hồi hoặc tự đặt vấn đề khảo cứu, tìm hiểu thông tin cho món đồ mình sưu tập băng cách liên hệ với blog để đăng bài lên cho mọi người cùng nghiên cứu và học hỏi.

KhanhHoaThuyNga

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Một bài viết về thú chơi gốm sứ cổ ở Việt Nam

Trải bao biến thiên, vật đổi sao dời, những đồ gốm sứ còn lại đến nay đã trở thành một phần di sản vật thể của từng đất nước, qua đó giúp cho người đời sau nghiên cứu từ lịch sử, thơ văn, nghệ thuật đến phong tục, tập quán, ngôn ngữ của các thế hệ cha ông. Và chính những yếu tố đó đã cuốn hút bao nhiêu người đến với việc sưu tầm đồ cổ.

Ở miền Nam, nói đến thú chơi đồ cổ thì không thể không nhắc đến cụ Vương Hồng Sển (1902-1993) người từng tự nhận mình ham thích đồ xưa còn hơn khách hào hoa mê gái đẹp và hơn người đánh bạc mê trò đỏ đen. Vào năm 90 tuổi, đoán rằng sắp đến lúc phải từ giã vĩnh viễn những cổ vật thân thương của mình, cụ Vương có thảo một di ngôn chép thành 5 bản. Ngoài một bản do cụ giữ thì các bản còn lại được ân cần trao cho bốn người bạn mà cụ xem là tri âm tri kỷ. Nay thì hai người trong số ấy cũng đã qua đời, người thứ ba – ông Lâm Võ Hoàng, một chuyên viên kinh tế – vì nhiều lý do đã gác tay rửa kiếm.

Người thứ tư, cho đến nay vẫn còn đeo đẳng cuộc chơi, chính là anh Trần Đình Sơn, tuy sinh sau cụ Vương gần nửa thế kỷ mà lại vinh dự được cụ xem là người bạn vong niên thân thiết. Điều gây ấn tượng hơn cả là cụ Vương đã ghi trong sổ nhật ký của mình – hiện do người cháu gái của cụ cất giữ – lời nhận xét anh bạn vong niên như sau: ”Một người chơi đồ cổ, nếu tôi còn sống, sẽ là thầy tôi”.

Đôi bạn vong niên

Xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc – cụ cố giữ chức Thượng thư Bộ Hình qua hai triều vua Duy Tân và Khải Định – có truyền thống yêu chuộng cổ vật, ngay từ nhỏ anh Trần Đình Sơn đã được đắm mình trong một không gian cổ kính và sống trong môi trường đầy cổ vật, lại được ông nội – vốn là một vị thâm nho – dạy học chữ Hán từ bé để có thể chiêm nghiệm hết cái hay nét đẹp trong những câu thơ ghi lại trên đồ sứ.

Đến năm 1968, khi vào Sài Gòn tiếp tục theo bậc đại học, người đầu tiên anh mong muốn được diện kiến chính là cụ Vương Hồng Sển, vốn đã nổi danh qua các bài viết về khảo cổ rất nhẹ nhàng, dí dỏm mà sâu sắc đăng trên các báo thời bấy giờ.

Anh Trần Đình Sơn bồi hồi nhớ lại:

– Khi đó cụ Vương đã 66 tuổi còn tôi chưa đầy 20. Chuẩn bi đi gặp vị tiền bối trong ”nghề”, tôi hỏi mượn ông nội hai cái tô gia bảo-một vào đời vua Lê và một vào đời Minh bên Trung Hoa – để có cớ đến gặp cụ Vương. Rất may ông đồng ý tiếp. Tôi rụt rè trình bày gia đình mình có hai cái tô cổ mà không hiệu rõ giá trị, nên đến xin lĩnh hội cao kiến. Không ngờ ông chỉ ngắm nghía sơ qua hai cái tô rồi quay sang nói gọn lỏn: ”Em định bán giá bao nhiêu?”. Tôi còn đang chưng hửng, chưa biết trả lời sao thì cụ Vương lặp lại câu hỏi. Đến khi tôi ấp úng nói rằng mình không có ý định bán, ông bèn đứng dậy nói dứt khoát: “Em muốn bán bao nhiêu cứ nói, liệu được thì qua mua, chớ qua không có thời giờ để giải thích dông dài”. Lúc ấy tôi vừa ngỡ ngàng vừa buồn giận, không ngờ người mà mình vẫn ngưỡng mộ lại có cách xử sự lạ kỳ như thế. Trước khi ra về, bầu máu nóng thanh niên bốc lên xui tôi quay lại nói thêm một câu cho… đã nư: ”Thưa cụ, cháu vẫn nể danh cụ là người có mắt ngọc để nhìn cổ vật. Giờ đây cháu biết thêm là cụ chỉ ưa nhìn cổ vật mà không nhìn được người”. Nói xong tôi quày quả bỏ đi. Nhưng vừa ra tới cổng thì cụ Vương đã kịp theo để gọi tôi trở lại và ân cần mời vào nhà. Chừng đó tôi mới biết sở dĩ cụ có thái độ như thế chẳng qua là vì sau chiến sự Tết Mậu Thân, khá nhiều người miền Trung tản cư vào Sài Gòn đã liên tiếp mang đồ cổ đến gạ bán cho ông. Chính vì vậy mà cụ lầm tưởng tôi đến cũng không ngoài mục đích ấy. Rồi cụ sốt sắng bảo tôi đưa cho xem lại hai cái tô và giải thích cặn kẽ lai lịch của chúng. Từ đó tôi được cái may lui tới thăm viếng, đàm đạo thường xuyên cùng cụ, nhờ vậy mà có mối quan hệ ngày càng gắn bó với một bậc tiền bối uyên thâm”.

Vốn là người theo Tây học và không biết chữ hán, cụ Vương chỉ chuyên nghiên cứu các tài liệu khảo cổ bằng tiếng Pháp. Nay quen biết anh Sơn có được vốn liếng Hán văn, có thể bổ túc cho cụ trong việc dịch nghĩa các câu thơ chữ Hán Nôm, hầu có thể xác định rõ hơn gốc gác hay giá trị những món đồ cổ nên cụ cũng vui. Đổi lại, cụ hướng dẫn anh sinh viên trẻ mới nhập môn phân biệt các nước men, màu sắc, niên hiệu của từng món đồ. Hai người trở thành đôi bạn vong niên từ đó.

Chơi đồ cổ – đôi nét chấm phá

Những đồ sứ cổ thông dụng hiện nay tại miền Nam đa phân là do người Việt xưa đặt làm bên Trung Hoa và gồm hai loại. Một là của triều đình đặt làm đồ ngự dụng gọi là đồ ”Ký Kiểu”. Những đồ sứ này có các họa tiết, thơ văn bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm xuất phát từ ý tưởng của vua chúa Việt Nam, hầu hết có màu lam đặc trưng và có ghi rõ niên đại (như Tự Đức niên chế, Minh Mạng niên chế).

Hai là những đồ sứ do các gia đình trâm anh thế phiệt tự vẽ kiểu rồi đặt hàng với những thương nhân Trung Hoa có mở cửa hiệu buôn Hán tại Việt Nam thường xuyên qua lại giữa hai nước để làm ăn. Ngoài ra còn có những mặt hàng do các Hoa kiều đặt làm từ nước họ, theo đúng thị hiếu và sở thích của người Việt, rồi mang sang bán cho dân ta. Nói chung, tuy hầu hết những đồ sứ cổ trên đây đều do người Tàu chế ra nhưng đều mang đậm phong cách Việt Nam.

Sang đến thời Pháp thuộc, từ đời các vua Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định, thì triều đình lại đặt đồ sứ làm bên Pháp sử dụng trong cung đình.

Tại Sài Gòn, ngay từ thời Pháp thuộc đã có những nhà buôn đồ cổ rất quy mô, nhất là trên đường Catinat (nay là Đồng Khởi). Và đặc biệt từ sau năm 1963, đồ cổ bước vào thời hoàng kim tại miền Nam. Đó là giai đoạn chế độ Ngô Đình Diệm vừa bị lật đổ và quân đội Hoa Kỳ tham gia trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, từ đó xuất hiện một tầng lớp trưởng giả mới gồm các thương gia, viên chức, sĩ quan ít nhiều có liên hệ với người Mỹ. Phú quý sinh lễ nghĩa, các nhà giàu mới đua nhau mua sắm đồ cổ để trưng bày, thế là giá cổ vật tăng vọt và ngày càng cao vì cung không đủ cầu. Để cung cấp cho thị trường Sài Gòn, giới buôn đồ cổ phải sang tận Hồng Kông tìm mua đồ cổ Trung Quốc hay sang Pháp mua cổ vật Âu châu mang về. Đồng thời các món giả cổ cũng xuất hiện ngày càng nhiều,vàng thau lẫn lộn, để bán cho những người thích chơi đồ cổ mà không đủ khả năng, hoặc để lừa những người mới tập tễnh bước vào thú chơi này.

Nghề chơi nào cũng lắm công phu, riêng thú chơi cổ ngoạn lại càng… đa đoan hơn. Để phân biệt thật giả, người sưu tập phải chịu khó nghiên cứu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, địa lý… để tích lũy một ít kiến thức nhất định, bởi mỗi món cổ vật đều có chứa đựng những tiêu chí đó. Hiểu biết càng sâu sắc thì niềm vui cảm nhận càng lớn lao.

Cổ thi Ấn Độ viết rằng: ”Những gì kích thích lòng ham muốn thì không bao giờ thỏa mãn lòng ham muốn”, do đó kẻ sưu tập nào cũng có lòng tham không đáy cứ ráng tìm mua thêm mãi, lại thêm máu bá quyền cố theo kịp người, rồi ráng… hơn người. Tiếp theo phải tìm bạn tri âm, hễ có được rồi nhiều khi khắng khít với nhau còn hơn vợ kèo con cột.

Truân chuyên cổ vật

Trong mười năm – từ 1975 đến 1985 – kể từ sau ngày đất nước thống nhất, đây có thể coi là thời kỳ chảy máu cổ vật ở miền Nam. Một số gia đình tại chỗ lâm vào hoàn cảnh túng thiếu phải bán đi những vật gia bảo để sống qua ngày. Mặt khác, một suy nghĩ nặng phần thành kiến lúc bấy giờ cho rằng toàn bộ những gì thuộc về vua chúa đều là tàn dư phong kiến khiến nhiều người hoang mang ngần ngại, người có đồ cổ lo đem cất giấu, người chưa có thì không muốn mua sắm mang về e rước họa vào thân.

Thời kỳ đó, những tay máu mê sưu tập như cụ Vương, anh Sơn thường rủ rê nhau ngày ngày dạo vòng quanh các chợ trời, thôi thì tha hồ mà ngắm, hầu như nơi nào cũng có ít nhiều đồ cổ bày bán với giá chưa đến một nửa trước đây. Nhưng trong hoàn cảnh khó khăn chung lúc bấy giờ, ai nấy cũng đành thở dài và bấm bụng… đi không rồi lại về không.

Trong một chuyến dạo chợ như thế, anh Sơn thình lình gặp lại một ống đựng tranh hiệu Ất Dậu Niên chế, vốn là vật gia bảo của nhà Tổng đốc Phương ở Chợ Lớn mà anh đã mê mẩn hồi trước năm 1975 nhưng không tài nào rớ đến nổi, vì nhà bán đồ cổ hét giá lên đến khoảng 20 lượng vàng, bằng l5 tháng lương của anh lúc ấy. Nhưng nay ống tranh này được bày bán với giá thấp đến không ngờ. Thế nhưng, so với cố nhân đang lăn lóc ở chợ trời thì bản thân anh bấy giờ cũng đang trôi nổi giữa chợ đời, nào có khác chi nhau! Tương lai người còn chưa biết ra sao, hơi đâu mà thương hoa tiếc… ống, thế là anh đành ngậm ngùi quay đi. Tuy vậy, từ hôm đó anh cứ thẫn thờ, tiếc nuối, đêm đêm trằn trọc thao thức, ngày ngày buồn bã vấn vương. Ngó tới ngó lui, trong nhà còn mỗi chiếc xe Honda, anh sáng mắt tự nhủ: thôi thì đem bán quách để mua ống tranh, từ nay đi xe đạp lại càng… hợp thời hơn!

Nhưng trường hợp trên thuộc loại hiếm, còn thì hầu hết các cổ vật đã lần lượt vào tay những người nước ngoài gồm du khách, nhân viên các sứ quán, lãnh sự… thoải mái mang ra khỏi nước, vì lúc bấy giờ Chính phủ chưa có quy đinh hay chính sách đối với cổ vật.

Từ sau thời kỳ đổi mới vào năm 1986, đời sống ngày càng được cải thiện, xã hội dần dà có thêm một số doanh nhân, cán bộ, viên chức có cuộc sống sung túc, xây dựng nhà cửa đồ sộ nguy nga, nhu cầu mua sắm đồ cổ bắt đầu xuất hiện và phát triển nhanh chóng. Đặc biệt đến năm 2004 thì có đột biến về giá cả đồ cổ và hiện đã vượt cao gấp đôi so với trước ngày giải phóng.

Hiện nay, đường Lê Công Kiều tại TPHCM vẫn còn giữ truyền thống phố đồ cổ từ xưa của mình. Tại các quán cà phê ven đường này, mỗi sáng chủ nhật các tay “nghiện” trong nghề vẫn tụ họp trao đổi, bàn luận và mua bán. Ngoài ra trên đường Nguyễn Văn Trỗi (quận 3), Mạc Thị Bưởi (quận 1) cũng là nơi có các cửa hàng đồ cổ.

Bài học đáng ghi nhớ

Liệu thú chơi đồ cổ có tính… kế thừa cha truyền con nối hay không. Vừa nghe câu hỏi, một tia sáng hiện ra trong ánh mắt làm gương mặt điềm đạm rạng rỡ hơn lên, anh Sơn bày tỏ niềm hạnh phúc khi hai cậu con trai của mình đều say mê đồ cổ giống cha. Bởi theo anh, không kể đến giá trị vật chất ngày càng tăng với thời gian, các bộ sưu tập được trao lại cho các con sau này còn mang giá trị tinh thần lớn hơn nhiều, với công sức mấy mươi năm chắt chiu góp nhặt, bởi ý thức gắn giữ những bảo vật mang giá trị văn hóa của dân tộc. Anh tâm sự: “Tôi rút được bài học từ kinh nghiệm đáng buồn của người đi trước. Tôi vốn lớn hơn con trai của cụ Vương – anh Vương Hồng Bảo – chỉ một tuổi mà thôi. Hồi đó, mỗi khi tôi đến nhà đều được cụ thân mật tiếp trong thư phòng, trong khi cậu con trai lại rất hiếm khi bước vào đây. Về sau mới biết hóa ra do trong thư phòng chứa toàn đồ cổ quý giá nên ngay từ khi con còn nhỏ, cụ đã cấm ngặt không được léo hánh vào nơi cha làm việc.

Điều này đã khiến cha con dần dà xa cách với nhau. Cho đến khi thấy mình già yếu, cụ nghĩ đến việc trao lại tất cả cho con trai thì anh tỏ ra hoàn toàn hờ hững. Hình như anh có mối hận lòng đối với cổ vật, bởi vì nó mà cha con đã không được gần gũi nhau”.

Rút kinh nghiệm đau lòng đó, anh Sơn đã sớm tạo cho các con cơ hội tiếp xúc với không gian cổ, mỗi dịp hè cho con về quê, đưa đi thăm lăng tẩm, các viện bảo tàng, truyền cho các con lòng yêu văn hóa, thi ca dân tộc và quan trọng hơn cả là cha con có nhiều dịp gắn bó, thân mật với nhau hơn.

***

Cứ theo những gì vừa nghe thì quả thú chơi đồ cổ mang lại nhiều niềm vui lẫn lợi ích, trước mắt cũng như lâu dài. Thế nhưng hình như nó lại không dành cho những người có thu nhập khiêm tốn, như công nhân – viên chức chẳng hạn?

Qua kinh nghiệm bản thân, anh Sơn khẳng định, không cần phải là… tỉ phú mới có thể chơi đồ cổ (anh cho rằng thật ra có những tỉ phú tuy sở hữu nhiều đồ cổ nhưng vẫn không phải là người chơi đồ cổ thật sự, mà nói cho chính xác hơn thì việc mua sắm cổ vật cũng chỉ là một cách đầu tư đồng tiền của họ để sinh lợi về sau mà thôi).

Theo anh, một sinh vien, một viên chức, dù với thu nhập khiêm tốn vẫn có thể đeo đuổi trò chơi này, với điều kiện là có niềm say mê và sự kiên nhẫn tích lũy về dài. Ngoài ra cũng nên chọn cho mình một loại nào phù hợp với sở thích và điều kiện tài chính, chẳng hạn có người chuyên sưu tầm các đồng xu, hay bình vôi ăn trầu, hoặc chung uống trà cổ…

Hiện nay, một chung trà cổ có giá khoảng hai ba trăm ngàn đồng một cái, như thế người mới bắt đầu chơi đồ cổ có thể tiết kiệm tiền để mỗi tháng mua một chiếc. Rồi cứ hàng tuần, hàng tháng lại ra công sục sạo, năm này sang năm nọ tìm tòi mua thêm từng chiếc một để bổ sung dần. Sau đôi ba chục năm sẽ hình thành được một bộ sưu tập vô cùng giá trị, xứng đáng với công khó bỏ ra, mà trong suốt thời gian đó lại còn được hưởng niềm vui vô tận của việc chiêm nghiệm những câu thơ sâu sắc, ngắm phong cảnh nên thơ khắc họa trên các chung trà, qua đó cả một bề dày văn hóa của nhiều thời đại quá khứ hiển hiện lại trước mắt người đời nay.

Quế Phương

Read Full Post »