Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘thú chơi chữ’

NGHĨ VỀ THÚ CHƠI CHỮ

Bài Nghĩ về thú chơi chữ chia 2 phần, đây là phần 1, phần 2 sẽ nói về hoành phi- câu đối .

P1 nghĩ về thú chơi chữ

Phong trào treo và chơi chữ , có lẽ mới trở lại được mươi năm nay. Do ảnh hưởng của kinh tế thị trường, xã hội ngày một văn minh, gia đình ngày một giầu có.Từ trước tới nay những chữ làm tiêu chí để hướng thiện, hay ước ao khao khát trong cuộc sống bấy lâu vẫn để trong lòng nay có bán thì mua luôn một vài chữ về treo, nhất là những người sưu tầm cổ vật thì ai cũng say món men nhã thú di tình này.

Có chữ viết bằng mực tầu giấy đỏ, có chữ được đúc bằng đồng, thậm trí sơn son thiếp vàng. Thì ra treo chữ cũng giống như trang trí để làm đẹp, làm sang trong nhà vậy.Thực ra mua chữ để chơi cũng không tốn tiền lắm, nên người giầu hay người ngèo cũng có thể chơi được.

Các chữ được sưu tầm, chọn chơi phổ biến hiện nay là: phúc, lộc, thọ , tài, tâm ,nhẫn và đức. Trong những chữ này chữ phúc (phước) xem ra cũng được dùng nhiều hơn cả, trên các Bloc lịch, các phong bao để mừng tuổi (bao lì xì), trên các tranh vẽ hoặc trên các sản phẩm bằng gốm mỹ nghệ…Dĩ nhiên các kiểu chữ phúc cũng được chế tác bằng mực tàu, bằng gỗ và bằng đồng… lồng trong khung kíng rất đẹp.  Phúc là ao ước trong đời của mỗi con người, nó đứng đầu tam đa “đa phúc, đa lộc và đa thọ). Trong tam đa , phúc có nghĩa là hạnh phúc, đông con. Trong tích cổ, một người họ Đậu tên là Vũ Quân, người U Châu, vùng đất ấy thuộc núi Yên cho nên đặt tên hiệu là Yên Sơn , người đời hậu Tấn, sinh được năm con có tên là: Nghi, Ngiễm, Khản, Xứng, Hy. Ông Đậu Yên Sơn dạy nghĩa phương cho con rất chuyên cần, nên cả năm con ông đều thành danh, làm quan nổi tiếng thời bấy giờ. Người đời sau láy ông làm thần tượng của chữ phúc(ngũ phúc).

Có phúc ắt sẽ có lộc, trong tam đa chữ lộc được xếp thứ hai, hình tượng thần lộc có khuôn mặt đỏ, miệng cười tươi, tai trùng, bụng phệ, mặc áo gấm xanh, thắt đai vàng, vậy thì thần lộc là biểu tượng của những người giầu có. Người ta quan niệm lộc là tiền bạc là của cải, kể cả ân sủng mà người đời ban tặng. Sống  trên đời từ người giàu đến người ngèo, ai cũng có lộc, lộc trời, lộc đất, lộc nước, lộc nhà. Ngày xưa các cụ chúc nhau tiến tài, tiến lộc, ngày nay thực tế hơn người ta chúc nhau bằng câu : tiền vào như nước sông đà tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin. Để có lộc trước hết phải có tài, tài và lộc chính đáng thì treo hai chữ tài và lộc trong nhà để chơi chẳng tốt quá sao! Thực ra thì lộc là sản phẩm của tài, tài là khả năng làm việc tạo ra của cải. Anh nông dân phải có tài cày cấy , tăng gia sản xuất sẽ mang lại mùa màng bội thu , đó là lộc nhà. Tài buôn bán sắc sảo đưa lại nhiều lợi nhuận. Những người buôn bán thường thờ thần tài trong nhà, một bức tượng kiểu Di Lặc hai tay nâng nén vàng trên đầu. Người Trung Quốc thờ thần tài là cóc ba chân, người ta quan niệm đi đâu mà gặp được cóc ba chân thì giàu to. Hình tượng Lưu Hải câu cóc được khắc ở đền, miếu hoặc vẽ thành tranh để thờ của người Trung Quốc và người Hoa ở nước ta. Lưu Hải là tể tướng đời nhà Lương, ông giũ bỏ chốn quan trường về ở ẩn, ông câu được  con cóc ba chân dưới một cái giếng, sau đó gặp được Lữ Đồng Tân (một vị trong bát tiên) học được những bí pháp luyện vàng thành linh đan, Lưu Hải là một đạo sỹ sau này thành tiên, ông cũng là biểu tượng của thần tài, các thương nhân thờ hình tượng Lưu Hải câu cóc là cầu mong cho may mắn phát tài, cóc chữ hán là thiềm gần đồng âm với tiền do đó cóc biểu ý cho tiền. Lưu Hải câu cóc bằng một sợi dây liên tiền thể hiện lãi nhiều , tiền lắm.

Thực ra muốn có tài thì phải học , học trong sách vở, học trong nhân dân, trong đường đời. Người xưa có câu “ Những kẻ giầu sang khôn bởi học”. Đương nhiên học tốt phải có chữ tâm chữ đức. Thực ra cũng man mác buồn vì chữ tâm , chữ đức ít được để ý hơn so với chữ phúc chữ lộc. Thuở chữ nho còn thịnh hành , các cụ chơi chữ đức nhiều hơn. Ngẫm ra trong các chữ phúc, lộc, thọ, tài, nhẫn, tâm, đức thì phúc,lộc, thọ,tài là phần ngọn, là cái bề ngoài dễ nhận còn nhẫn, tâm, đức là phần gốc , là vẻ đẹp bên trong. Tâm sáng đức hiền và bền ở âm đức , đức hạnh, đức nghiệp, sẽ sinh ra phúc ấm, lộc hưng, thọ trường và tài kiệt. Có lẽ đó cũng là lý do mà ông cha ta xưa có nhiều người chơi chữ đức.

Nhớ ngày trước ông cụ sát vách nhà tôi còn sống ông có người bạn tri âm, tri kỷ là cụ đồ . Nhân dịp năm mới, hai cụ đến thăm nhau trước khi ra về cụ đồ chúc ông đặng tam đa, ông chỉ cười nhẹ và cảm ơn cụ, tôi băn khoăn hỏi , ông không giải thích mà kể một tích xưa, Vua Nghiêu đi tuần thú ở đất hoa, quan phong nhân ở đất ấy chúc rằng “Xin chúc thánh nhân được đa lộc, đa thọ và đa nam(giàu lớn, sống lâu và nhiều con trai)

Vua Nghiêu từ rằng:” Đa nam đa ưu, đa thọ đa nhục, đa lộc thì đa oán (nhiều con thì lo lắng nhiều,sống lâu thì lắm nhục, lộc lớn thì oán nhiều) . Các cụ xưa sâu sắc đến thế là cùng !.

P2 hoành phi- câu đối

Về hoành phi và câu đối, không dám cuồng ngôn bình phẩm vì đụng cham nhiều lắm .Mà tính tôi cứ hay nói đến cùng , nhân đây tôi chỉ nói về kỹ thuật của món này mong sao chơi chữ cũng phải chơi đẹp , đúng , hợp gia cảnh sợ nhất mua được đôi câu đối thờ của gia đình người ta về treo chơi ở nhà mình.

Thú chơi chữ và đồ gỗ

Không phải chỉ gần đây, mà từ xưa tới nay hầu hết anh chị em chơi cổ ngoạn nói chung, ai cũng thích có một vài bộ hoành phi-câu đối để chơi , Nếu xét về đồ gỗ thì hoành phi câu đối còn được trân trọng hơn cả tủ chè, sập gụ. không chỉ đơn thuần nó là đồ gỗ, mà trên hết là thú chơi chữ,Trong chuyện này có nhiều điều cười ra nước mắt và cũng có nhiều người lắm tiền sắm sanh những chữ bạc tỷ nhưng lại không hiểu cái cầu kỳ khó tính của người chơi chữ…

A –        Hoành phi

Ta thường thấy những tấm biển gỗ treo trên cao nằm ngang, trên có khắc những chữ thật lớn thường là ba, bốn chữ. Những biển gỗ này chính là những bức hoành phi. Hoành phi thường được sơn son thiếp vàng, có bức sơn đen chữ đỏ hoặc vàng, cũng có bức sơn son hoặc sơn đen chữ khảm xà cừ, có những bức hoành phi hình cuốn thư. Những chữ viết trên hoành phi đều tỏ lòng tôn kính của con cháu đối với tổ tiên, hoặc để ghi tụng công đức của tổ tiên.

Ba loại chữ thường được dùng trên hoành phi câu – đối là: “Chân”, “Lệ” và “Triện”. Cũng khó nói kiểu nào đẹp hơn . Người trẻ tuổi vốn tính hiếu động thích bay nhảy thường ưa chữ “Thảo”; trong khi bậc trung niên chín chắn trải nghiệm lại thích lối chữ “Lệ” vốn mực thước; còn các bậc bô lão, cao nhân dật sĩ lại thích lối chữ “Triện” với tất cả tính khuôn phép của dạng chữ này… Tựu trung chữ tùy vào tạng người. Tuy nhiên, chưa bao giờ thấy trên hoành phi câu – đối sơn thếp những nét “cuồng thảo”

B   –     Câu đối
Câu đối là một  thể loại của Văn học trung Quốc và Việt Nam.người ta còn quan niệm nếu văn thơ là tinh hoa của ngôn ngữ thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa cau đối bao gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội.
thuộc thể loại văn biền ngẫu. đối ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi.
Có nhiều loại và người ta phân loại theo ý nghĩa, gồm các loại sau:
Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới…

( cụ Nguyễn Khuyến, viết mừng một chánh tổng bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới.)

Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong giai tị ốc.

Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm

-Câu đối phúng: làm để viếng người chết. Vd :cụ nguyễn khuyến làm câu đối khóc vợ :

Nhà chỉn nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng,

tất tưởi chân nam đá chân chiêu, ví tớ đỡ đần trong mọi việc

Bà đi đâu vợi mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ,

gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.

-Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.

Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

(câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.của Nguyễn Công Trứ)

-Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.

-Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi.

Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.

Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm, cầm, thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh

(Nguyễn Công trứ )

-Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác.

-Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt.

Giơ tay với thử trời cao thấp

Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

(Hồ xuân Hương)

-Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.

-Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích một người nào đó.

Những nguyên tắc của câu đối

Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối

Đối ý và đối chữ

  • Đối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau.
  • Đối chữ: phải xét 2 phương diện thanh và loại.

– Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại.

– Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây…) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru…) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ;

Vế  đối

Một đôi câu đối gồm hai câu đi song nhau, mỗi câu là một vế. Nếu câu ấy từ một người sáng tác gọi là vế trênvế dưới. Nếu một người nghĩ ra một vế để người khác làm vế kia thì gọi là vế ravế đối.
Khi một câu đối do một người làm ra cả hai vế, thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải (khi treo) là thanh trắc; còn chữ cuối, vế dưới, câu bên trái là thanh bằng.

Số chữ và các thể câu đối

Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:

-Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống.

-Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn

-Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có:

Luật bằng trắc

*  Câu tiểu đối:

– Vế phải: trắc-trắc-trắc

– Vế trái: bằng-bằng-bằng

*  Câu đối thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu thựccâu luận trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.

*  Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải bằng đối với trắctrắc đối với bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là bằng và ngược lại. Nếu đoạn đầu hoặc đoạn dưới có đúng 7 chữ thì đoạn ấy thường theo luật thơ thất ngôn.
Thưa các bác! có câu :”múa rìu qua mắt thợ” nên không được chỉn chu mong các bác góp ý.
hoặc

__________________

OT-NB  Phạm Tuấn Tú

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »