Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘thanh’

Hội họa Trung Hoa Từ triều Nguyên đến hết triều Thanh

Tranh hoa điểuSang đời Nguyên (1279-1368), hội họa Trung Hoa gặp hai khó khăn chính. Thứ nhất là Nguyên triều vốn là dân Mông Cổ, văn hóa không cao, chuộng võ hơn văn chương. Sĩ phu bị xếp vào hạng rất thấp, dưới cả gái đĩ, chỉ trên ăn mày. Triều đình chỉ có ngự viện để huấn luyện việc cưỡi ngựa chứ không có họa viện như đời Tống. Thứ hai là vì qua một thời kỳ mà văn học, nghệ thuật lên thật cao như tiền triều, nay bị ruồng rẫy, giới văn nhân có khuynh hướng tìm thanh nhàn, lánh đời, hoài cổ.

Khuynh hướng tìm về đường lối xưa có hai nhân vật nổi bật là Triệu Mạnh Phủ và Tiền Tuyển. Gia đình Triệu Mạnh Phủ ai ai cũng vẽ giỏi, lại tinh luyện thư pháp kiêm mọi ngành từ hoa điểu, gỗ đá, sơn thủy. Theo đuổi đường lối phục cổ của họ Triệu có Tiền Tuyển, Trần Lâm, Trần Trọng Nhân, Chu Ðức Nhuận.

  • Thời Nguyên mạt thì có Hoàng Công Vọng, Ngô Trấn, Vương Mông, Nghê Toản, đời gọi là Nguyên Quí Tứ Ðại Gia. Thời này, họa pháp đi từ màu sắc chi tiết của đời Tống chuyển sang u nhã, giản phác và lối vẽ hoa điểu gần như không còn ai theo mà sử dụng bút mực để nói lên ý tình cao dật, chí khí của mình.
  • Về loại sơn thủy, họa gia đời Nguyên cũng theo các trường phái đời Tống. Theo lối của Triệu Bá Câu có Triệu Mạnh Phủ, Tiền Tuyển; theo lối Lý Thành, Quách Hi thì có Chu Ðức Nhuận, Lưu Hi, Ðỗ Sĩ Nguyên, Tào Tri Bạch, Ðường Lệ, Lý Sĩ Hành, Thương Kỳ, Kiều Ðạt, Lý Xung; theo lối của Kinh Hạo, Quan Ðồng thì có Trương Hoành, Lý Thích; theo lối Phạm Khoan thì có Tào Thụy; theo lối Mễ Phế thì có Cao Khắc Cung, Quách Tý, Phương Tòng Nghĩa, Lý Lương Tâm; theo lối Mã Viễn, Hạ Khuê thì có Tôn Quân Trạch, Trương Viễn, Trương Quan, Ðinh Dã Phu; theo lối Ðổng Nguyên, Cự Nhiên thì có Hoàng Công Vọng, Vương Mông, Ngô Trấn.
  • Về loại hoa điểu thì chỉ thời Nguyên sơ tương đối còn thịnh, có Tiền Tuyển, Vương Uyên, Trần Trọng Nhân đi theo lối vẽ đời Nam Tống. Cuối đời Nguyên thì chỉ còn lối vẽ thủy mặc mà thôi.

Vẽ người và tranh tôn giáo, thời Nguyên sơ có Triệu Mạnh Phủ, Tiền Tuyển, Trần Trọng Nhân, Vương Uyên, Chu Ðức Nhuận theo cách của Lý Công Lân thời Nam Tống nhưng chỉ có cha con Triệu Mạnh Phủ, Triệu Ung là xuất sắc hơn cả. Cuối đời Nguyên, khi lối văn nhân họa thịnh hành, người ta thiên về mô tả tâm tình hơn là miêu tả sự vật, nên không còn dụng công nhiều vào đường nét, chi tiết. Họa gia đời Nguyên cũng đi sâu vào một ngành, một đề tài nhiều hơn là đủ mọi đề mục.

Tranh mai lan cúc trúc sang đời Nguyên phát triển rất cao vì loại tranh này gắn liền với phép viết chữ. Vẽ tranh lại giản tiện, nhanh nhẹn nên thường là đề tài của văn nhân phóng bút khi nhàn tản, uống rượu. Nổi danh thời đó về tranh vẽ trúc có Lý Khản, Kha Cửu Tư, Dương Duy Hàn, Cố An, Phương Nhai, Tống Mẫn, Nghê Toản.

Nói chung, triều Nguyên tuy ngắn ngủi nhưng vì không có họa viện ước thúc nên đời này nhiều họa gia sáng tạo ra những lối vẽ riêng, nhất là lối vẽ tranh sơn thủy nhanh trên giấy thay vì trên lụa như đời Tống.

Sang đời Minh (1368-1644) thì lối vẽ vẫn còn ảnh hưởng nhiều của thời Nguyên, vẫn lấy sơn thủy là đề mục chính. Họa viện được tái lập, họa gia tuy đông nhưng lại không lấy gì làm xuất sắc vì những lý do sau đây:

Thứ nhất là triều đình vẫn thi hành chính sách kiềm chế văn nhân, e sợ họ chống đối. Thứ hai, họa gia đời Minh vẫn còn bị ảnh hưởng quá nhiều của người đi trước, chỉ lập lại đường lối cũ mà không sáng tạo thêm. Người ta vẫn theo đuổi, bắt chước các danh gia từ Lý Tư Huấn, Vương Duy đời Ðường tới những họa gia cận đại như Nghê Toản, Vương Mông đời Nguyên. Ðời Minh họa gia cũng bắt đầu chia theo từng khu vực, trường phái và mỗi trường phái lại tạo ra những qui tắc riêng, đôi khi xung đột.

Về tranh sơn thủy, đời Minh có ba trường phái:

  • Viện phái: Vua Thái Tổ nhà Minh xuất thân nghèo hèn, thuở trẻ xuất gia độ nhật nên lòng thường không ưa giới văn nhân, e ngại họ phúng thích, ghét tinh thần phóng dật của đời Nguyên mạt. Họa viện vì thế đề cao đường lối của thời Nam Tống nên các họa gia được triều đình ưu đãi gọi là Viện phái. Phái này thịnh hành trong các thời Vĩnh Lạc, Tuyên Ðức, Thành Hóa. Những họa gia nổi tiếng nhất có Quách Thuần, Nghê Ðoan, Thạch Nhuệ, Lý Tại, Chu Văn Tĩnh, Vương Ngạc. Không ở trong viện thì có Trần Xiêm, Chu Thần.
  • Chiết phái: Ðây là phái do Ðái Tiến sáng lập sau khi ông rời Họa viện, theo đường lối của Mã Viễn, Hạ Khuê. Nổi danh trong phái này có Ngô Vĩ, Ðái Tuyền, Uông Chất, Diệp Trừng, Trương Lộ, Lam Anh. Phái này nổi tiếng trong suốt triều Minh.
  • Ngô phái: Những người nào đi theo lối vẽ của đời Ngũ Ðại, Bắc Tống và tứ đại gia đời Nguyên đều có thể xưng là thuộc Ngô phái. Thời Minh sơ có Trần Nhữ Ngôn, Ðỗ Quỳnh, Triệu Nguyên, Vương Phất, Mã Uyển. Phái này lúc đầu không bằng Chiết phái nhưng sau có Trẩm Chu, Văn Trưng Minh, Ðường Diễn nên mới hưng thịnh. Cả nhà Văn Trưng Minh đều nổi tiếng mãi tới thời Minh mạt khi Ðổng Kỳ Xương xuất hiện.

Về vẽ người, từ giữa đời Minh trở về trước, Họa viện đóng vai trò chính yếu. Vẽ tranh Phật thì có Thương Hỉ, Ðái Tiến, Nghê Ðoan, Tưởng Tử Thành, Trương Tĩnh, đa số theo lối vẽ đời Nam Tống, dùng nét bút mạnh. Về sau, Cừu Anh chuyển sang những đề tài lịch sử, phong tục, vẽ người bình dân, đền đài, thành quách, cầu cống dùng những đường nét tinh tế, màu sắc. Lối vẽ của ông có thể coi như đại biểu cho đời Minh, được nhiều người theo như Ðinh Vân Bằng, Trần Hồng Thụ, Thôi Tử Trung.

Tranh hoa điểu đời Minh có bốn trường phái chính:

  • Phái thứ nhất theo phương pháp song câu của Hoàng Thuyên, thường thuộc trong Họa Viện, những người nổi tiếng hơn cả có Biên Văn Tiến, Phạm Xiêm, Lã Kỷ, Lục Trị.
  • Phái thứ hai theo theo lối của Từ Hi, nổi danh có Vương Vấn, Tôn Khắc Hoằng, Vương Xác Tường.
  • Phái thứ ba vẽ thủy mặc theo lối ấn tượng, có Lâm Lương, Trần Thuần, Từ Vị.
  • Phái thứ tư thường được gọi là phái câu hoa điểm diệp do Chu Chi Miện khởi sáng, ảnh hưởng lối thủy mặc tả ý, chỉ cốt diễn tả ý tứ chứ không nệ chuyện hình tượng bên ngoài.

Về tranh vẽ trúc thì từ đời Nguyên tới thời Minh chỉ có một lối vẽ đơn sắc, tứ vẽ theo lối thủy mặc, dùng một màu, cường độ đậm nhạt. Ðời Minh so với đời Nguyên phong phú hơn, vẽ trúc trong nhiều trạng huống, người thì vẽ trúc trong mưa, kẻ vẽ trúc trong tuyết, trong gió, nổi danh nhất thời Minh sơ có Tống Khắc, Vương Phất. Những người khác không nổi danh bằng, tài nghệ cũng non hơn.

Ngoài ra số người vẽ mai, lan, mai trúc, lan trúc cũng rất đông, đều dùng kỹ thuật thủy mặc. Thế nhưng đóng góp to lớn nhất của hội họa đời Minh là vẽ quạt. Ðời Vĩnh Lạc, người Tàu bắt chước lối làm quạt của Nhật và tới đời Thành Hóa, bốn đại gia của đời Minh là Văn Trưng Minh, Cừu Anh, Trẩm Chu, Ðường Diễn đều chuộng lối vẽ quạt, đưa vẽ quạt vào thành một trong những thể loại chính của hội họa.

Tranh nhân vậtCác họa gia đời Thanh (1644-1912) gần như hoàn toàn đi theo những đường lối của đời Minh để lại. Tuy nhiên trong suốt triều đại dài lâu này, cũng có nhiều người theo những kỹ thuật mới.

Ðời Khang Hi, Ung Chính có lục đại gia là Vương Thời Mẫn, Vương Giám, Vương Huy, Vương Nguyên Kỳ, Ngô Lịch, Uẩn Thọ Bình. Ngoài ra còn bốn nhà tu (tứ tăng) là Thạch Ðào, Thạch Khê, Tiệm Giang, Bát Ðại Sơn Nhân.

Sang đời Càn Long, Gia Khánh thì trong họa viện có Ðổng Bang Ðạt, Ðường Ðại, Trương Tông Thương, Viên Giang, Sồ Nhất Quế, Tiền Duy Thành, Tưởng Ðình Tích, Ðinh Quan Bằng.

Ðặc biệt trong nhóm họa gia của cung vua có Lương Thế Ninh chuyên vẽ người hết sức đặc sắc. Lương Thế Ninh tên thật là Guiseppe Castiglione (1688-1766) là một tu sĩ giòng Jesuit người Ý. Năm 27 tuổi, ông sang Trung Hoa truyền giáo và được giữ trong cung để phục vụ triều đình. Ông có tài vẽ người, hoa điểu và đặc biệt là ngựa. Những bức tranh sơn dầu vẽ chân dung vua Càn Long và giới quí tộc rất nổi tiếng. Một điểm đáng lưu ý là bức họa ông vẽ vua Càn Long mặc nhung phục, cưỡi ngựa duyệt binh không hiểu tại sao đã bị nhiều sử gia Việt Nam nhận lầm là hình giả vương Phạm Công Trị khi sang sứ nhà Thanh nên cũng cho là chân dung vua Quang Trung. Dưới thời Ðệ Nhị Cộng Hòa, tiền giấy 200 đồng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam đã vẽ vua Quang Trung phỏng theo hình này. Nguyên bản bức tranh này hiện tàng tại Viện Bảo Tàng Bắc Kinh.

Thời Càn Long còn có nhóm tám người đất Dương Châu (Dương Châu Bát Quái) gồm Kim Nông, Uông Sĩ Thận, Phương Sĩ Thận, Cao Phượng Tường, Mẫn Trinh, Hoàng Thận, La Sính, Trịnh Biến.

Sau đời Càn Long thì có Hoàng Dịch, Khê Cương, Ðái Hi.

Nói tóm lại, hội họa Trung Hoa nếu theo đề tài thì bao gồm ba thể loại chính, hoa điểu, sơn thủy, và nhân vật. Nếu nói về kỹ thuật thì chỉ có hai loại, công bút và tả ý. Công bút là lối vẽ có từ xưa, trước hết vẽ bằng bút nét mảnh hình vẽ rồi sau dùng màu tô lên, làm sao càng giống thực tế càng tốt. Lối vẽ này tỉ mỉ và mất nhiều công phu. Còn tả ý là lối vẽ chủ trương hội họa để diễn tả tư tưởng, không phải để truyền thần sự vật. Mọi vật được vẽ theo cái thấy bằng tâm tư của họa gia, thể hiện chính tâm hồn của tác giả. Bức tranh nói lên tâm tư, cảm xúc, dao động, thái độ của chính con người. Lối vẽ này tương tự lối vẽ biểu ý của Tây phương. Phương pháp vẩy mực (bát mặc) là một hình thức phóng túng không khác gì phương pháp hội họa mới hiện nay bao nhiêu.

Tranh nhân vậtCó lẽ cũng nên thêm một chút về hội họa chân dung của Trung Hoa. Hiện nay, nhiều bức tranh vẽ nhân vật, kể cả những vị hoàng đế trong truyền thuyết như Thần Nông, Phục Hi, Nghiêu Thuấn và những danh nhân như Khổng Tử, Mạnh Tử, Gia Cát Lượng là những sản phẩm do những họa sĩ đời sau tưởng tượng ra. Tuy nhiên, kể từ đời Ðường Tống về sau, những bậc vua chúa đều cho họa sĩ vẽ lại chân dung mình. Về số lượng, hầu hết những danh nhân Trung Hoa đều có hình để lại nên tài liệu của họ khá phong phú. Trong khi đó, Việt Nam ta hầu như ngoại trừ một số vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, những đời trước chúng ta chỉ có được một vài bức chân dung lẻ tẻ tương đối khả tín, còn ngoài ra chỉ là một con số không. Ðó cũng là điều đáng buồn cho những ai muốn nghiên cứu về lịch sử nước nhà.

Vẽ chân dung của Trung Hoa cũng mang những ý nghĩa khác với một bức tranh truyền thần của Tây Phương. Trong khi Tây Phương chú trọng đến việc ghi lại càng nhiều càng tốt những chi tiết và đường nét, người Tàu lại không chú trọng đến chi tiết đó, kể cả sự tương phản đậm nhạt do góc độ của ánh sáng để làm nổi bật chiều sâu của hình ảnh. Phép viễn cảnh (perspective) nhiều khi không được quan tâm và cây cối trong đêm vẫn rõ đường nét. Người ta kể rằng khi ông Macartney, đại sứ của vua George đệ Tam hồi cuối thế kỷ 18 đem dâng lên triều đình Mãn Thanh một số bức tranh làm quà biếu, triều thần đã ngạc nhiên và hỏi là phải chăng người Anh có một bên mặt đen, một bên trắng như miêu tả trong tranh. Người Tàu cho là việc vẽ bóng đen một bên mũi là một sai lầm nghiêm trọng làm hư cả tác phẩm.

Như vậy, trong khi Âu Châu đặt nặng kỹ thuật hội họa thì người Tàu lại chú trọng đến ý nghĩa của bức tranh. Con người là trung tâm điểm trong hội họa Âu Châu trong nhiều thế kỷ thì đối với người Trung Hoa lại chỉ đóng một vai trò đối với thiên nhiên toàn cục và thường bị lẫn khuất vào hình ảnh mênh mang. Một nho sinh nhỏ xíu ngồi dưới gốc cây, hay một con thuyền “bé tẻo teo” trên một bức tranh dài, mà phải để ý lắm mới thấy, nói lên cái nhân sinh quan của Ðông Phương về cuộc đời. Mà không cứ gì hội họa, nhiều nghệ thuật khác cũng mang cái ý nghĩa “thu vạn dặm vào trong một thước”. Rất có thể cái tinh thần nhàn tản không cho người ta cái thành tựu trong việc chinh phục cuộc đời nhưng nó lại làm cho chúng ta có cái tiêu dao, khoái hoạt và làm giảm được phần nào cái căng thẳng trong cuộc sống vốn dĩ đã cam go này.

Tác giả: Nguyễn Duy Chính

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Bộ sưu tầm gốm sứ Trung Hoa của Percial David Foundation – phần cuối

The Percival David Foundation of Chinese Art bao gồm một bộ sưu tầm gốm sứ Trung Hoa và các hiện vật liên quan tại Luân Đôn, Anh quốc. Mục đích của Viện là quảng bá cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn hóa và nghệ thuật Trung Hoa. Bộ sưu tập gồm có 1400 hiện vật sứ của các triều đại Tống, Nguyên, Minh Thanh từ thế kỹ thứ 10 đến thế kỹ 18. Nó có những điển hình hiện vật hiếm của dòng gốm Ru và Guan và hai bình sứ từ khí men lam thời nhà Nguyên rất quý giá. Viện cũng lưu trử một thư viện sách lớn của các nước Đông Á và Tây Á lien quan đến nghệ thuật Trung Hoa. Năm 1950 bộ sưu tập lần đầu tiên dược giới thiệu tới trường Đại Học Luân Đôn bởi nhà sưu tập và học giả Sir Percial david. Người ta cho rằng bộ sưu tập này chỉ đứng hàng thứ hai sau Viện Bảo Tàng Quốc Gia Đài Loan.

Vì lý do khủng hoảng tài chính quỷ, Viện Percial David phải đóng cửa vào cuối năm 2007. Bộ sưu tập đã được mang thế chấp dài hạn cho Viện bảo tàng Anh Quốc, nơi nó sẽ được trưng bày cho công chúng thường xuyên trở lại theo từng chuyên đề Gallery dự tính vào tháng 4 năm 2009 nhờ vào sự hào phúng tài trợ bởi Sir Josept Hotung. Gallery công chúng này sẽ là một phần của “Trung tâm nghiên cứu ngành gốm Sir Josept Hotung”, gồm nhiều phân khoa dùng bộ sưu tập vào công tác giảng dạy.

Click trên hình để xem Ful size:

 

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »


Khái lược về Hình tượng Rồng các triều đại Nguyên – Minh – Thanh

“Rồng vốn là hình con Đằng của người Hạ, vốn là hình tượng đính ước, khi đi vào cuộc sống rồi trở thành vật tốt lành của giai cấp thống trị, đưa vào một nơi tối cao, tối quí.” Và trong Quảng Nhã Thích hỗ giải thích: “Long, quán dã – Rồng, bao trùm tất thảy” và Rồng đã vĩnh viễn trở thành hình tượng của hoàng đế hay hoàng quyền…

1. Rồng và Vương vị:

Rồng, hay đúng hơn là Hình tượng Rồng từ khi xuất hiện dường như đã được gắn liền với sự tôn quí. Một cuốn cổ thư là Dịch kinh viết: “Phi long tại thiên”. Ý nghĩa của lời này cũng có nhiều cách hiểu, nhưng hãy xem một lời giải thích gần gũi nhất: Sớ giải thích: “Phi long tại thiên, do thánh nhân chi tại Vương vị – Rồng bay lên trời, bởi bậc Thánh vương đang tại vị”. Sự biến chuyển ý nghĩa từ lấy sự biểu hiện (Có vua tốt thì có Rồng hiện hình) sang nghĩa hình tượng của Vua là Rồng (để xứng với vai vị Thiên tử) đã trở thành lề lối cho nhiều đời thống trị phong kiến về sau. Tuy vậy, những nguyên nghĩa của ý nghĩa này vẫn được thể hiện trong cách gọi một số niên hiệu của các bậc đế vương. Gần đây nhất, năm 1802, khi Vua Gia Long lên ngôi, ngoài việc Ngài lấy chữ Gia long đặt cho niên hiệu của thời đại mình cai trị mà còn có cách gọi khác là “Long phi”. Tất nhiên, cũng có thể thấy cách sử dụng này được dùng riêng trong hai đời đầu của một triều đại (Thái tổ, Thái tông) nhưng chủ yếu là sự tôn xưng của những thế hệ sau và cũng là niềm khao khát hy vọng cho mỗi triều đại – một vương triều Thánh trị. Nhà văn hóa lớn của Trung Quốc là Văn Nhất Đa cũng đã từng khảo chứng: “Rồng vốn là đồ đằng (biểu tượng) của người Hạ, trở thành hình tượng của sự đính ước, sau đi vào cuộc sống để trở thành vật may mắn tốt lành của giai cấp thống trị, được tôn lên nơi tối cao, tối quí.” Và trong Quảng Nhã Thích hỗ giải thích: “Long, quán dã – Rồng, bao trùm tất thảy” và Rồng đã vĩnh viễn trở thành hình tượng của hoàng đế hoặc hoàng quyền cho tới tận ngày nay.

2. Sự uy nghiêm của Rồng:

Lịch sử dài 5000 năm của dân tộc Trung Hoa luôn sùng thượng Rồng, rắn và luôn lồng cho chúng những sức mạnh siêu nhiên, với sự uy nghiêm thần bí bởi hình tượng của chúng là sự thể hiện của các hoàng đế. Nguyên sử qui định: “Nghiêm cấm mặc đồ có thêu hình Kỳ lân, loan phượng, thỏ trắng, linh chi, rồng hai sừng năm móng)” và đời Minh, Thanh thì vẫn như vậy. Hình tượng Rồng không chỉ được đại diện cho khuôn mặt của đức vua (Long nhan), mắt (Long nhãn), thân thể của đức vua (Long thể), … hay ân đức của ông (Long ân) khi ban phát cho triều thần, và còn được áp dụng vào cả những thứ mà đức vua thường sử dụng như áo (Long bào), giường (Long sàng),… đã được nhiều triều đại phong kiến phương Đông ứng dụng. Trong Minh sử, thiên Thực hóa chép: “Thời Minh Tuyên Đức, lấy hoa văn hình rồng làm đồ sứ tế khí”. Trong Văn minh hội điển cũng chép: “Năm Tuyên Đức thứ 8 (1433) cho tạo đồ sứ có trang trí hình long phượng 443.500 chiếc”… và cho tới Thời Chính Thống, triều đình cũng đã ban những sắc lệnh tạo tác trên đồ ăn bằng sứ có hình Cửu long, Cửu phượng, và lại còn tạo ra những bình hoa có rồng xanh nền trắng.

Như thế, hình tượng Rồng đã được tuyệt đối hóa cao độ. Hình tượng Rồng đã được vị trí tối cao tối quí trong quan niệm trị quốc của người phương Đông và đối với nghề gốm sứ, hình tượng Rồng đã được sử dụng một cách cao độ với những giá trị siêu hình, và tất nhiên, mặt trái của nó là sự trả giá bằng cái chết của những ai vi phạm vào điều cấm kị như sự việc năm 1599 (Minh Vạn Lịch thứ 27), chỉ vì sơ xảy khi sử dụng chiếc lọ sứ thanh hoa vẽ Rồng của anh thợ lò Đồng Tân đã bị viên hoạn quan Phan Trương được cử đến quản lý lò ngự diêu ở Cảnh Đức Trấn, thúc bách khiến anh thợ chỉ còn biết tìm cái chết trong lò nung ngàn độ.

3. Khái lược về Hình tượng Rồng các triều đại Nguyên – Minh – Thanh:

Cho dù là xuất thân là một con vật huyền thoại (hoặc được khái quát hóa của loài cá sấu, hay kì nhông nào đó) thì Rồng vẫn phải có một cái vỏ vật chất, và theo sự kéo dài mãi của lịch sử, sự biến dạng của Hình tượng Rồng đã khiến không mấy ai còn biết tới hình dạng ban đầu của chúng. Qua việc tổng hợp các tư liệu của chúng tôi về các hình trạng được các họa sĩ cổ đại thể hiện, chúng ta có thể thấy, sự biến dạng của Rồng qua từng thời đại là có sự khác nhau khá rõ rệt. Mõm rồng ngày càng ngắn lại tỉ lệ với thân ngày càng được dài ra (do ý thức hệ của các họa công từng thời). Sơ khởi, có lẽ Đồ hoạ kiến văn chí là một tư liệu cổ nhất có những ghi chép về hình trạng của Rồng: “Sừng như sừng hươu, đầu giống đầu lạc đà, mắt như mắt quỉ, hàm rắn, bụng trăn, vảy cá, móng ưng, chưởng tay như hổ, tai như trâu”… và hình tượng này luôn là những căn cứ cơ bản nhất để các họa công các thời kì thể hiện.

Hình tượng Rồng trên đồ gốm sứ có thể thấy là rất lâu, nhưng nếu chỉ tính là đồ chuyên biệt cho một triều đại thì rõ nhất bắt đầu từ thời Nguyên. Đặc điểm nhận dạng của Rồng đời Nguyên là chiếc đầu nhỏ mà tròn (nhỏ hơn đầu rồng đời Tống), số lượng của bờm rồng đời Nguyên thường là nhiều, nhưng cũng có thể ít. Do nanh tương đối dài mà hàm lại nhỏ khiến miệng rồng như được chia thành hình dài hoặc hình tròn, mép trên cong, nếu miệng há thì lưỡi vươn dài, mảnh, thân dài, móng dài mà cong móc vào trong, thường là ba, nhưng cũng có khi có bốn hoặc năm móng. Nếu năm móng thì tương đối nhỏ, đuôi dài nhưng nhọn, sắc màu đậm, đơn giản, ít khi có vẽ cùng hình ảnh nước, hình vẽ rất sinh động, bút pháp mạnh mẽ, khí thế rất uy dũng.

Thời Minh, sự biến chuyển hình trạng của Rồng có lẽ rõ nhất là từ thời Vĩnh Lạc, Tuyên Đức (1403-1434). Đầu rồng to hơn thời Nguyên, sắc màu đều đặn, mõm dài, mũi như mũi lợn nên còn gọi là Chư Bà long, răng nanh không những rất dài mà còn được phân hóa với nanh dưới và còn cong lên. Chiếc lưỡi dài vươn ra từ cái mồm khá rộng, ở thời kì đầu, lưỡi thường dài và nhọn, ở thời kỳ sau thì lưỡi đã nhỏ mà cong lại gần giống với Rồng thời Thanh, hai râu gập cong đối xứng hai bên mũi, ở hàm thường có hai hoặc ba chòm râu, bờm như những bó lông kết lại, ở thời kỳ đầu bờm ít, sau thì nhiều hơn, cong mà bay lên. Vẻ mặt Rồng được biểu lộ sự giận dữ đầy uy lực. Mắt rồng lúc này như mắt cá, trên đồ án thường được vẽ về một phía. Bộ phận móng như móng của chim ưng, thường là ba, bốn móng. Nếu năm móng thì đã là đồ chuyên biệt của quan diêu, thân đã được cách điệu, có vẻ to khoẻ hơn rồng thời Nguyên. Ở dân diêu, rồng phải vẽ rất giản dị, đuôi rồng thường to mà ngắn. Những họa tiết bổ trợ thường là sóng biển, lửa, mây hay hoa dây.

Ở thời Thanh sơ, sự chuyển biến của Hình dạng Rồng trở nên rõ rệt. Do nhan liệu và chất liệu đã có sự tinh chế và tính toán kĩ nên các đồ hoạ rất tinh mỹ, bút pháp nhuần nhuyễn, hình thức rất đa dạng, màu sắc tươi tắn, lớp lang rõ rệt. Do đại diện của một bộ tộc ngoài Trung Nguyên khiến quan niệm về Rồng đã được thay đổi. Sự biến chuyển ý nghĩa của hình tượng từ biểu tượng cho Hoàng đế đã nhập hẳn vào hình tượng của Hoàng đế. Tính nhân hóa của Rồng được nhấn rất mạnh. Đầu rồng rất to, đầu vuông trán rộng, mồm nhọn mà ngắn. Lưỡi tuỳ theo hướng của môi dưới mà cuộn lên, hàm trên hàm dưới đều có râu. Râu rồng thời Khang Hy thường như hình răng cưa, về sau thì phân ra hai chòm râu như râu dê, bờm thì tung ra sau hướng lên trên, hai râu dài cuộn xoắn hai bên mũi. Thân rồng thường theo nguyên tắc Tam ba cửu chiết (Lượn ba lần, cuộn chín khúc), móng rồng tựa như móng gà, năm ngón xoè như cái chong chóng, không còn cảm thấy sự dữ tợn của thời Nguyên và Minh. Cho đến cuối Thanh thì hình Rồng đã biến dạng, nanh dài, thân rồng vặn khúc tùy hứng, vảy không còn lớp lang mà tựa như mắt lưới.

Dưới đây là một số sản phẩm gốm sứ ngự dụng ( imperial ceramics) trong ba triều đại Nguyên – Minh – Thanh minh họa mà bạn có thể xem tham khảo nhằm phân biệt. Click vào hình để xem full size:

 

Hoặc bạn có thể xem hình trong ” album hình toàn tập gốm sứ cổ TQ 5 & 6 ” để so sánh và phân biệt.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC


Read Full Post »