Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘thị trường cổ vật’

Lưu ý khi mua đồ gốm cổ!

Sưu tập đồ cổ là một hoạt động văn hóa có sức hấp dẫn cao và mang đến nhiều niềm vui cho nhà sưu tập, tuy nhiên, độ thành công rất thấp. Vì vậy, cho dù bạn là nhà sưu tập thâm niên hay là người yêu thích sưu tập, hãy nhớ đến các lưu ý dưới đây.

Nhà sưu tập nào cũng hy vọng mua được những sản phẩm có giá trị, nhưng thị trường mua bán ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi nhà sưu tập cần có kinh nghiệm phong phú trong việc lựa chọn sản phẩm. Dưới đây là 3 lưu ý khi mua đồ gốm cổ:

1. Không nên mua khi không biết rõ loại hàng:

Sưu tập đồ cổ được phân thành nhiều loại khác nhau: đồ gốm cổ, đồ đồng, đồ gỗ, ngọc, thư họa và những hạng mục khác. Với mỗi loại ngành khác nhau như vậy, nếu nhà sưu tập không thật sự có những hiểu biết rõ ràng, không có những nghiên cứu chuyên sâu, tuyệt đối không nên thu mua. Sưu tập đồ cổ là một hoạt động văn hóa có sức hấp dẫn cao và mang đến nhiều niềm vui cho nhà sưu tập, tuy vậy, độ thành công rất thấp.

Lấy việc sưu tầm đồ gốm cổ làm ví dụ, trong 100 người, chỉ có 1 – 2 người thành công; còn đa số người còn lại có thể hình dung như sau: “tân tân khổ khổ, nhạn phẩm vi chủ” (cực khổ chọn lựa, cuối cùng mua phải hàng giả). Để có thể trở thành một nhà sưu tập thành công, không chỉ đòi hỏi thiên phú, mà còn phải có sự chuyên cần, chịu khó học hỏi, nghiên cứu; một khi đã nắm vững những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó mới tiến hành thu mua.

2. Không mua khi có nghi vấn:

Ngày nay, với trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ, việc làm hàng nhái cũng đạt đến trình độ cao, nhiều người lợi dụng việc này để kiếm lời phi pháp, làm phá hoại đi trật tự của thị trường sưu tập đồ cổ chân chính. Những sản phẩm nhái này là kiệt tác “tam kết hợp”: lấy công nghệ truyền thống làm nền tảng, kết hợp khoa học kỹ thuật hiện đại cùng những thiết bị tiên tiến để chế tạo, độ tương đồng có thể đạt đến 99%, chỉ còn 1% khác biệt. Trong khi giám định, những nhà sưu tập phải có sự nhận xét tinh tế để có thể đưa ra hoài nghi về 1% khác biệt này để phủ định 99% tương đồng kia.

3. Không mua khi không phù hợp với giá thị trường:

Hiện nay, trong thị trường đồ cổ, hàng thật không còn nhiều nữa, những mặt hàng tinh xảo càng hiếm hoi hơn. Những sản phẩm chất lượng cao này đều nằm trong tay những nhà sưu tầm thâm niên hoặc những thương nhân có kinh nghiệm, họ tuyệt đối không bao giờ đưa ra giá sai. Những người mới bắt đầu bước vào lĩnh vực sưu tầm, rất khó có được cơ hội này. Nếu trên thị trường có xuất hiện một sản phẩm chất lượng cao, giá thấp, thì đó như là một con thỏ béo tròn trên cách đồng hoang bất tận với biết bao con chim ưng đang dòm ngó. Vì vậy, đối với những nhà sưu tập mới, phải biết lựa chọn để mua vật cổ với giá cả ngang với giá thị trường, mua hàng thật với giá thật.

Nguyên Sa lược dịch

Nguồn: chinazg.net

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Thị trường cổ vật Việt Nam – bài 4

Trong khi nhiều cổ vật Việt Nam có giá trị đang trôi nổi  ở nước ngoài, tình trạng xuất lậu cổ vật vẫn diễn biến phức tạp, thì trong mắt một số nhà cổ vật chuyên nghiệp, phần lớn cổ vật được cơ quan nhà nước (Cục Di sản, Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch) thẩm định, xếp hạng chưa xứng tầm. Cách xếp hạng ngẫu hứng và chưa tạo dựng được thị trường cổ vật công khai, lành mạnh, khiến cổ vật nước ta lâm vào suy kiệt và ngoài tầm kiểm soát.

Phỏng vấn ông Ông Đào Phan Long – Chủ tịch Hội Cổ vật Thăng Long:

Một số đại gia thuộc giới chơi cổ vật vừa bay sang châu Âu để “săn” hàng độc. Chuyến đi đó đã mua được món cổ vật gì vậy, thưa ông?

– Họ đã mua về một số đồ gốm thời Lý, Trần, Lê; một số đồ sứ ký kiểu thời chúa Trịnh thế kỷ thứ 15, 16 và thời Nguyễn đặt hàng từ các lò sứ ở Trung Hoa về dùng trong cung phủ.

Ông Đào Phan Long và chiếc dao đồng mục từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn (Ảnh: TG).

Ông Đào Phan Long và chiếc dao đồng mục từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn (Ảnh: TG).

Theo đánh giá của ông, cổ vật có giá trị thuộc hàng “quốc bảo” của Việt Nam đang bị thất lạc ở nước ngoài là gì?

– Trước hết phải kể đến những chiếc trống đồng Đông Sơn rất lớn, rất đẹp. Ngoài ra, những đồ cổ nhất mang dấu ấn văn hoá Việt Nam cần chuộc, mua về là các loại vật dụng đồ đồng Đông Sơn. Nhưng cái đó, theo tôi biết thì cá nhân chưa có ai mua về. Bởi lẽ, tuy là chất liệu đồng nhưng chôn dưới đất hàng nghìn năm (gọi là đồng mục) nên việc bảo quản, vận chuyển rất khó. Ví như con dao đồng của văn hoá Đông Sơn có niên đại từ mấy nghìn năm trước, nếu không biết cầm sẽ bị gãy ngay vì nó đã bị mục như đất. Nhưng nó là đỉnh cao của cổ vật, mang đậm giá trị dấu ấn văn hoá của vùng đất chế tác ra nó, sử dụng trong đời sống và lúc ấy thì chưa có sự xâm chiếm của người Hán phương Bắc, chưa hình thành đô hộ 1.000 năm Bắc thuộc, hoàn toàn mang dấu ấn riêng của vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Chu.

Cổ vật đó hiện đang lưu lạc ở đâu, thưa ông?

– Theo chúng tôi được biết, hiện một Việt kiều ở Mỹ có bộ sưu tập trống đồng và đồ đồng Đông Sơn rất đẹp. Và ngoài những bảo tàng ở Imer của Pháp, bảo tàng mỹ thuật Hoàng gia Bỉ, ở Nhật hiện cũng có những bộ sưu tập tư nhân về gốm Việt Nam rất có giá trị thuộc thế kỷ 11 đến thế kỷ 16.

Điều đó có nghĩa trong số các đồ cổ quý đã được mua về Việt Nam, không có “món” nào quý đến mức có thể xếp vào hàng bảo vật quốc gia?

– Vì vận chuyển đồng mục rất khó, nên người ta tập trung mua về và chơi đồ gốm và đồ sứ ký kiểu, vận chuyển dễ hoặc tượng đồng từ thế kỷ 15. Những cổ vật này thường nhỏ gọn, tiện vận chuyển. Đồ sứ ký kiểu là hàng kỹ nghệ cao tuy được sản xuất từ Trung Hoa, nhưng không bán ở đất nước này mà được các vua chúa nước ta đặt hàng nên mang dấu ấn của văn hoá Việt Nam. Do đó, đồ sứ ký kiểu cũng rất đắt tiền và có giá trị, nhưng không thể so với đồng mục Đông Sơn về niên đại cũng như giá trị văn hoá… Cổ vật cổ nhất không hẳn là có giá trị nhất.

Ông có thể cho biết, trong số cổ vật hiện có ở Việt Nam, nhóm cổ vật nào có giá trị nhất?

– Không thể nói cái nào là giá trị nhất vì nó thuộc các nhóm khác nhau. Hiện chia thành mấy nhóm: Thứ nhất là nhóm đồ đồng Đông Sơn; Thứ hai là nhóm đồ gốm Lý – Trần – Lê; Thứ ba là nhóm đồ sứ ký kiểu và bây giờ có một nhóm nữa không giá trị ghê gớm lắm nhưng cũng có thể gọi là đỉnh cao, đó là những đồ gỗ sơn thếp. Ngoài ra, nếu xét trên bản đồ cổ vật Việt Nam hiện nay thì có một dòng rất được thế giới ưa chuộng, đánh giá cao, đó là dòng văn hoá của Vương quốc Chămpa xưa với tượng đá, đồ đồng, đồ bằng vàng rất có giá trị.

Chiếc lư bằng đá hình con nghê được ông Long giữ cẩn thận trong tủ kính (Ảnh: TG).

Chiếc lư bằng đá hình con nghê được ông Long giữ cẩn thận trong tủ kính (Ảnh: TG).

Vậy niên đại có phải là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá giá trị của cổ vật, thưa ông?

– Cổ vật cổ nhất chưa chắc đã là có giá trị nhất. Cổ vật có giá trị phải gồm nhiều yếu tố, ngoài các yếu tố rất quan trọng là niên đại (càng lâu đời càng có giá trị), còn có các yếu tố về hoa văn (giá trị nghệ thuật), về độ nguyên vẹn… và cả tiêu chí hiếm và đẹp. Một đồ cổ hiếm và đẹp đồng thời mang tất cả các yếu tố cần có của một cổ vật, được các chuyên gia thừa nhận thì đồ đó mới quý. Và giá trị cuối cùng của đồ cổ là phải quy được bằng tiền, dù anh có giới thiệu chúng giá trị thế nào thì vấn đề cuối cùng là món đồ đó được định giá bao nhiêu tiền.

Nhưng việc quy giá trị cổ vật ra tiền để xếp hạng giá trị cổ vật ở ta hiện nay cũng chỉ là những đánh giá riêng lẻ của các cá nhân. Liệu có đảm bảo chính xác trong đánh giá giá trị cổ vật không?

– Đúng là ở Việt Nam hiện chưa có một chuẩn mực nào về đồ cổ, người chơi đồ cổ cũng chỉ là tự học, tự tìm hiểu chứ chưa có ngành học, trường lớp nào giảng dạy về lĩnh vực này. Chúng ta cũng chưa làm được như các nước tiên tiến như tạo lập thị trường cổ vật công khai. Lẽ ra, ở ta phải có một công ty đấu giá để xác lập thị trường thì chúng ta chưa có được. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, nếu một cổ vật được mặt bằng thừa nhận, cũng đảm bảo tương đối độ khách quan.

Một số nước đã bỏ rất nhiều tiền để chuộc lại những cổ vật bị thất lạc. Đã bao giờ chúng ta đặt ra vấn đề này và ai sẽ thực hiện việc này?

– Ở ta hiện nay, mỗi năm nhà nước có dành một khoản kinh phí cho các bảo tàng T.Ư và địa phương mua lại các cổ vật. Song khoản kinh phí này không lớn lắm. Tôi được biết là Bảo tàng quốc gia hàng năm có dành một khoản kinh phí để mua các hiện vật từ các nhà sưu tập tư nhân, nhưng không có nhà nước nào đủ tiền để mua toàn bộ cổ vật và giữ lại. Do vậy, phải vận động toàn dân, vận động những người có tiền để tránh chảy máu cổ vật ra nước ngoài, nhất là trong điều kiện kinh tế nước ta còn khó khăn. Tôi cho là bước đầu chỉ mới như thế, còn mình chưa bỏ tiền đi chuộc cổ vật vì còn nghèo.

Theo ông, chúng ta nên mua lại toàn bộ cổ vật để lưu giữ hay bán bớt ra nước ngoài như Thái Lan?

– Theo tôi, chỉ mua về những cổ vật quý hiếm, còn những cổ vật có giá trị bình thường nên khuyến khích bán đi. Thái Lan chỉ giữ lại những cổ vật có giá trị, còn lại cho phép bán đi cũng là một cách truyền bá giá trị văn hoá. Nhưng ở mình hiện làm chưa tốt, nên bây giờ cái đáng giữ là những cổ vật quý thì không đủ điều kiện mang về, mà toàn đi giữ những cái không có giá trị lắm.

Ông đánh giá thế nào về danh sách 10 bảo vật quốc gia như Phù điêu lá nhĩ Trà Liên, tượng Nguyễn Ư Dĩ, trống đồng Trà Lộc, tượng U ma Dương Lệ… mà không có “bóng dáng” trống đồng Đông Sơn?

– Theo cảm nhận ban đầu của tôi, đó toàn là thứ bình thường. Muốn bình chọn bảo vật quốc gia thì phải có chủ trương lớn. Bình chọn thì phải có công ty đấu giá, có giám định khoa học. Đó là cả một quá trình chứ không thể ngẫu hứng được. Cơ quan chuyên môn như Cục Di sản phải đưa ra những tiêu chí, quy định, tiêu chuẩn thế nào là bảo vật quốc gia, công khai để người dân bình chọn, làm cơ sở cho các nhà chuyên môn xem xét. Thậm chí phải có cả các công ty đấu giá quốc tế có uy tín thẩm định giúp.

+ Xin cảm ơn ông.

—————————————————————————————-

Đã có một số ông chủ tư nhân giàu có bắt đầu xây dựng bộ sưu tập riêng và họ đã sang các nước để tìm kiếm, mua lại một số cổ vật có giá trị về Việt Nam. Tức là về phương diện nhà nước thì chưa, nhưng tư nhân thì hoạt động này có từ lâu rồi. Tôi cho rằng, đó cũng là một hoạt động mới nhằm kéo về cổ vật có giá trị cao. Tiếc rằng, hoạt động này vẫn mang tính tự phát. Nếu nhà nước thông qua các hội chuyên ngành, phối hợp với các cơ quan chức năng (để đảm bảo khách quan) đi mua cổ vật về thì tốt hơn nhiều. Thực tế là cho đến nay, nhà nước chưa có chủ trương dành kinh phí để cho các nhà chuyên môn đi tìm mua cổ vật bị thất lạc.

Ông Đào Phan Long

Lã Xưa

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Thị trường cổ vật Việt Nam – bài 3

Khẩu súng thần công bằng gang được các cán bộ Bảo tàng Quảng Ninh tìm thấy ở gần pháo đài cổ Đầm Hà, huyện Đầm Hà, Quảng Ninh.

Khẩu súng thần công bằng gang được các cán bộ Bảo tàng Quảng Ninh tìm thấy ở gần pháo đài cổ Đầm Hà, huyện Đầm Hà, Quảng Ninh.

Một chiếc xe máy còn được thế chấp vào ngân hàng chứ một chiếc bình cổ thì không ai nhận thế chấp vì chưa có cơ quan nào định giá!

Cổ vật vẫn đang chảy máu khỏi đất nước vì thiếu một thị trường minh bạch…

Những nhà sưu tầm cổ vật, có người bán nhà, bán đất để có được món đồ mà mình săn lùng từ lâu, có người dốc công dốc của đứng ra thành lập bảo tàng tư nhân để nhiều người có thể chiêm ngưỡng những di sản lịch sử. Nhưng tất cả đang bối rối khi chưa có một “ngôi nhà” nào để cổ vật có thể “sống”.

Phải có cả đam mê lẫn… tiền

Người sưu tầm cổ vật không phải là ít nhưng không mấy người đủ tâm đưa bộ sưu tập của mình ra để mọi người được chiêm ngưỡng như ông Nguyễn Vĩnh Hảo.

Nhà trưng bày gốm cổ Gò Sành của ông Hảo là một trong những bảo tàng tư nhân đầu tiên được thành lập ở Việt Nam, mở cửa từ đầu năm 2006. Nhưng hơn hai năm sau khi mở cửa, nhà trưng bày vẫn chưa bán vé bởi chủ nhân của nó cho rằng có bán vé cũng chẳng thu được bao nhiêu. Ông Hảo nói rằng nhà nước chưa có một cơ chế phù hợp để hỗ trợ cho bảo tàng tư nhân: “Một bảo tàng tư nhân như bảo tàng về gốm Gò Sành xây dựng mất ít nhất là 50 tỷ đồng. Tôi may mắn được kế thừa từ cha ông những đồ gốm cổ, tôi có trách nhiệm với gia đình, dòng họ và xã hội để giữ lại những cổ vật ấy. Nhưng tôi có được cái gì, sống bằng cái gì? Một chiếc xe máy còn được thế chấp vào ngân hàng chứ một chiếc bình cổ thì không ai nhận thế chấp vì chưa có cơ quan nào định giá!” – ông Hảo ưu tư.

Trong khi những người buôn bán cổ vật (ngầm) thu được những mối lợi khổng lồ thì nơi trưng bày cổ vật lại khá đìu hiu. Đến thăm Bảo tàng Quảng Ninh, Giám đốc Trần Trọng Hà kể những chuyện dở khóc dở cười khi đi mua lại cổ vật bằng nguồn kinh phí ít ỏi do nhà nước cấp. Mùa đông năm 1997, nhận được tin những người thợ khai thác đá bên xã Hoàng Tân (Yên Hưng) phát hiện “một mặt trống đồng”, ông Hà thuê ôtô xuống đến nơi nhưng những người thợ nhất định không cho xem cổ vật. Họ chỉ miêu tả cổ vật và giao hẹn nếu xem thì phải mua. Sau khi thuyết phục được những người thợ cho xem thì hiện vật không phải trống đồng mà là một nắp thạp rất đẹp, có trang trí gần giống mặt trên của trống đồng Ngọc Lũ. Nắp thạp này sau đó đã được nhà nghiên cứu Hà Văn Phùng lấy làm dẫn chứng trong cuốn Thạp Đông Sơn – được đánh giá là một trong những nắp thạp đẹp nhất.

Ngay lúc đó, những tay trùm mua bán cổ vật thạo tin đã có mặt, sẵn sàng mua nắp thạp với giá cao. Cán bộ bảo tàng đành phải đánh lạc hướng người bán bằng cách nói thạp mới giá trị, nắp thạp không thể đáng giá bằng (thực tế nếu nắp thạp có trang trí đẹp thì đây mới là phần quan trọng). Những thợ đá dọa nếu phải bán rẻ thì họ thà đập nắp thạp: “Các ông mất cổ vật chứ chúng tôi không mất gì!”. Cuối cùng, nhờ khôn khéo thuyết phục nên Bảo tàng Quảng Ninh đã mua được nắp thạp với giá 1,2 triệu đồng (thấp hơn gần năm lần so với giá ban đầu).

Một lần khác, cán bộ bảo tàng cũng phải toát mồ hôi mới mua được một khẩu súng thần công giá 16 triệu đồng do những người dân chài trục vớt được. “Nếu mua từ các nhà sưu tầm, hiện vật đó có thể lên đến 3.000-4.000 USD, một khẩu súng tương tự ở Bảo tàng Hoàng Long lên tới 100 triệu đồng” – ông giám đốc bảo tàng cho biết.

Huy hiệu (medal) bằng vàng của người Chăm được giới thiệu trong bộ sưu tập của István Zelnick.

Huy hiệu (medal) bằng vàng của người Chăm được giới thiệu trong bộ sưu tập của István Zelnick.

Cần một thị trường minh bạch

“Những người chơi cổ vật có cỡ ở Việt Nam thường có một nguồn khác nuôi thú đam mê của mình chứ không ai sống được bằng nghề này” – ông Nguyễn Vĩnh Hảo bộc bạch. Theo ông Hảo, những nhà sưu tầm “có số má” phải có một nguồn tài chính rất lớn để nuôi đam mê của mình hoặc được thừa tự hoặc có thâm niên sưu tầm, mua từ khi đa số mọi người chưa biết giá trị, cổ vật còn rất rẻ.

Đi theo ông Hảo trong một chuyến ông lượn lờ “đãi cát tìm vàng” ở những khu phố chuyên bán đồ cổ ở Hà Nội, người viết được ông “bật mí” một vài kinh nghiệm. “Dân buôn cổ vật có hai loại: thợ chạy và đầu nậu. Thợ chạy là những người đi gom từng món đồ lẻ tẻ, còn đầu nậu có vốn lớn, ôm hàng nhiều. Đa phần mình phải mua lại từ các đầu nậu. Dân sưu tầm cổ vật lâu năm chỉ cần cầm món đồ phải biết là nó được mua bao nhiêu tiền, mua ở đâu”. Ông Hảo tự tin: “Thường tôi đoán đúng đến 60%. Tôi biết anh mua bao nhiêu, tôi sẽ để anh lời bao nhiêu. Còn khi bán cổ vật chỉ cần nhìn cách anh cầm cái đĩa, xoay cái đĩa, nheo mắt ngắm nghía xoáy vào chỗ nào là tôi biết anh có phải người sành không, có thể bán cho anh với giá bao nhiêu. Đã là dân chơi thì phải biết đồ thật giả rồi nhưng định giá đồ mới khó!”.

Theo ông Phạm Quốc Quân – Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, nguyên nhân của chuyện chảy máu cổ vật, tình trạng “lập lờ đánh lận con đen” là do nước ta chưa có một thị trường cổ vật minh bạch.

Ông Nguyễn Vĩnh Hảo (ngoài cùng bên phải) giới thiệu các cổ vật cho khách tham quan bảo tàng. (Ảnh do ông Hảo cung cấp)

Ông Nguyễn Vĩnh Hảo (ngoài cùng bên phải) giới thiệu các cổ vật cho khách tham quan bảo tàng. (Ảnh do ông Hảo cung cấp)

Chưa có một công ty đấu giá cổ vật nào được thành lập, việc định giá cổ vật cũng còn gặp nhiều vướng mắc. Ông Quân đề xuất: “Trước hết phải có một định nghĩa đầy đủ, chi tiết đâu là “báu vật quốc gia”, đâu là “cổ vật loại một”, “cổ vật loại hai”… để dễ dàng trong quản lý và định giá. Đồng thời phải tổ chức được những phiên đấu giá công khai cổ vật thì những hiện vật lấy cắp hay đồ giả mới không dám đem ra bán. Chuyện này vừa giúp nhà nước thu được thuế, vừa giảm được tình trạng chảy máu cổ vật như hiện nay”.

Cũng chính vì chưa có một cơ chế mà nhiều cổ vật đã phải “lưu lạc” ở xứ người. Cuốn catalogue về những cổ vật dân tộc Chăm trong bộ sưu tập của István Zelnick được xuất bản năm 2008 (tại Budapest) khiến nhiều nhà sưu tầm choáng váng khi có tới 114 hiện vật bằng vàng gồm tượng Phật, đồ thờ tự, tiền vàng, trang sức. Những cổ vật bằng vàng của vương quốc Chăm pa cổ (thường gọi là vàng Hời) từng tạo nên cơn sốt trong giới sưu tầm từ những năm 1990. Đáng tiếc là bộ sưu tập đồ sộ nhất lại nằm trong tay người nước ngoài.

Cổ vật – những “Của tin” của tiền nhân cho con cháu hôm nay và mai sau vẫn đang trôi khỏi đất nước một cách âm thầm. Vì lòng tham và vì thiếu cả một môi trường sống cho cổ vật!

nguốn báo Pháp Luật tp HCM

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Tiến sĩ Lại Văn Tới (Viện Khảo cổ học) chỉ đạo khai quật tại di tích Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).

Tiến sĩ Lại Văn Tới (Viện Khảo cổ học) chỉ đạo khai quật tại di tích Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).

Thị trường cổ vật Việt Nam – bài 2

Đặt hai chiếc trống đồng cạnh nhau khó có người biết được đâu là cổ vật, đâu là đồ giả cổ. Làm giả cổ vật: Nghệ sĩ hay tội đồ?

Chiếc trống giả cổ mới được hoàn thành trong vài tháng trước khi bán có thể được bán với giá một món đồ mỹ nghệ bình thường nhưng cũng có thể bán với giá một cổ vật có niên đại hàng ngàn năm.

Viện trưởng Viện Khảo cổ cũng bó tay

Đầu tháng 10, tại hội nghị thông báo kết quả khảo cổ học năm 2007, Viện trưởng Viện Khảo cổ học Tống Trung Tín đã thông báo một vấn nạn nổi cộm khiến các nhà khảo cổ học hết sức lo lắng: Viện Khảo cổ học đã phát hiện một số trung tâm làm giả cổ vật ở Hoa Lư (Ninh Bình), quận Hai Bà Trưng và huyện Mê Linh (Hà Nội). Việc làm đồ giả, theo ông Tín là rất tinh vi, khéo léo khiến việc phân biệt thật, giả rất khó. Ông Tín cảnh báo một số đồ giả cổ đã lọt vào một số bảo tàng lớn và xuất hiện trên một số ấn phẩm. Hậu quả là các nhà khảo cổ nếu không chuyên sâu, không từng nghiên cứu các trung tâm làm giả đồ cổ sẽ dễ bị nhầm lẫn. Ngay trong lời khai mạc hội nghị, ông viện trưởng yêu cầu bảo tàng các địa phương cần hết sức thận trọng khi sưu tầm để tránh lọt các đồ giả cổ vào bảo tàng của nhà nước.

Thông tin từ những vụ bắt cổ vật buôn lậu qua biên giới cho thấy những cảnh báo của ông Tín không phải là vô căn cứ.

Cuối tháng 3-2008 tại khu phố 1, tổ 6, phường Trần Phú, thị xã Móng Cái, Công an thị xã đã bất ngờ kiểm tra chiếc xe mang biển kiểm soát 34K-0508 đang vận chuyển một số lượng lớn cổ vật trên đường ra nước ngoài. Lái xe đã khai nhận lô hàng trên do hai ông cháu người Trung Quốc thuê chở từ Hà Nội ra Móng Cái. Tại cuộc giám định cổ vật sau đó, các chuyên gia của Bảo tàng Quảng Ninh cho biết trong số gần 40 hiện vật chỉ có 50% là cổ vật thật.

Ông Trần Trọng Hà, Giám đốc Bảo tàng Quảng Ninh, cho hay do tỉnh có cửa khẩu Móng Cái nên thường xuyên có những vụ tuồn hàng lậu là cổ vật qua biên giới. Cổ vật do cơ quan công an thu được thường giao lại cho bảo tàng quản lý. Trong số đó, loại nào cũng có thể bị làm giả, từ tượng Phật, trống đồng đến đồ trang sức bằng đá bán quý (ngọc lưu ly). Nhiều hiện vật trình độ giả cổ rất tinh vi khiến chuyên gia giám định cho rằng không phải được làm trong nước mà được “cổ hóa” ở nước ngoài rồi trung chuyển qua Việt Nam.

Một góc của bảo tàng tư nhân gốm cổ Gò Sành.

Một góc của bảo tàng tư nhân gốm cổ Gò Sành.

Tinh vi và lắm trò

Chúng tôi về “trung tâm làm trống đồng giả cổ” tại làng Triệu Trung (Đông Sơn, Thanh Hóa) – một trong những địa danh mà ông Tín đề cập. Ông NQM – một dân buôn đồ giả cổ đã “rửa tay gác kiếm” cho biết có khoảng 10 gia đình hiện nay đang đúc trống đồng giả cổ tại làng.

Chuyện làm đồ giả cổ ở Triệu Trung là không có gì phải giấu giếm khi một “nghệ nhân” đúc trống giả đã vô tư kể cho tôi nghe quy trình làm giả. Đồ giả cổ được làm giả toàn bộ hoặc giả một phần (sửa chữa từ đồ vỡ thành đồ lành để bán cho được giá). Trống đồng được đúc mới rồi dùng hóa chất phủ lên, sau đó dùng đèn khò khò cho lớp sơn cháy, bong và chuyển màu. Trong lòng trống, dùng muối ăn và axít dạng nhẹ trộn vào đất, đắp vào để tạo thành những vết han, rỗ.

Gặp những đồ nguyên liệu cũ, trình độ giả cổ còn điêu luyện hơn. Người thợ sẽ lấy vật liệu của đồ đồng Đông Sơn hoặc những mảnh trống bé, không có hoa văn, không phục hồi được đem trộn với composit, sau đó ép thành từng tấm, đưa vào khuôn trống, tạo trống mới và trang trí hoa văn. Những “cổ vật” này do được làm từ vật liệu cũ nên rất khó phát hiện. Thậm chí có những đồ giả cổ như súng thần công, để tăng thêm phần cổ kính còn được thả xuống vùng biển gần bờ để những con hà bám vào. Người sưu tầm cổ vật tay mơ sẽ hoàn toàn tin tưởng cổ vật có niên đại hàng ngàn năm vừa mới được một đám thợ săn đồ cổ trục vớt được.

Một số đồ giả cổ thu giữ được trong vụ án ngày 23-3-2008 tại Móng Cái, Quảng Ninh.

Một số đồ giả cổ thu giữ được trong vụ án ngày 23-3-2008 tại Móng Cái, Quảng Ninh.

Nhưng giả cổ đồ đồng chỉ mới là “chuyện nhỏ”, quy trình giả cổ của đồ đá còn tinh vi hơn nhiều lần. Để làm giả tượng đá sa thạch, các “nghệ nhân” khu vực Nam Trung bộ lấy đá trong mỏ đá địa phương – chính là đá được dùng làm cổ vật từ hàng ngàn năm trước, sau đó được tẩm axít để tạo ra các vết mòn. Tiếp theo là chôn tượng xuống đất hoặc ngâm vào bể dung dịch có hòa chính loại đất của di tích. Một thời gian được ngâm trong lớp bùn loãng, nước và đất ngấm vào trong các thớ đá, vết nứt. Lúc đó khó ai có thể phát hiện ra bức tượng là đồ giả cổ.

Gần đây, để rút ngắn quy trình, một số thợ lấy đá trong chính di tích (đá kê nền nhà, bệ cột) có niên đại rất cổ để làm tượng. Cách làm tương tự được phát hiện với tượng đất nung. Khi tượng đất nung có niên đại sớm (thế kỷ I-III) trở thành thứ cổ vật có giá thì hàng loạt mộ gạch ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh bị đào bới. Không lấy được cổ vật nhưng bọn đào trộm gỡ những viên gạch mang đi để tạc tượng. Tượng đất nung kiểu tân thời này là sự sao chép từ các tượng nguyên mẫu với số lượng hạn chế và được hét giá lên đến hàng trăm triệu đồng.

Làm giả cổ vật: Nghệ sĩ hay tội đồ?

Luật Di sản (năm 2002) có quy định về việc làm bản sao cổ vật: Bản sao phải đảm bảo có mục đích rõ ràng, có bản gốc để đối chiếu, có dấu hiệu riêng để phân biệt với bản gốc, có sự đồng ý của chủ sở hữu cổ vật và giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa thông tin. Tuy nhiên, những người làm đồ giả cổ vẫn có thể cãi rằng sản phẩm của họ chỉ là đồ thủ công mỹ nghệ chứ không phải bản sao.

ông Nguyễn Quốc Quân – Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, nói có thể phát hiện những đồ giả cổ dựa vào sự sơ ý hay kém hiểu biết của dân làm giả. Chẳng hạn như hoa văn trên trống không phù hợp với hình dáng trống, kích thước sai so với những tỷ lệ quen thuộc. Ông Quân bày một mẹo: Trống đồng cổ quý vì được đúc rất mỏng, tạc khắc tinh vi và đồ giả cổ thường nặng hơn.

nguồn báo Pháp Luật tp HCM

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Thị trường cổ vật Việt Nam – bài 1

Một cửa hàng bán cổ vật trên phố Nghi Tàm (Hà Nội).

Một cửa hàng bán cổ vật trên phố Nghi Tàm (Hà Nội).

Giá đồ giả cổ bị đẩy lên tới mười lần. Nhưng có khi một món hàng cổ thật chỉ được bán vài trăm ngàn đồng. Đã có vô số những lời đồn đại gắn với cổ vật.

Sự tò mò càng lớn khi dân chơi và buôn bán cổ vật thường kín tiếng, chỉ đôi khi mập mờ tiết lộ về “kho báu” của mình. Vì thế, đằng sau những hiện vật đóng khung trong tủ kính bảo tàng hay những cổ vật được buôn bán “ngoài luồng” ấy là nhiều chuyện chìm nổi, truân chuyên.

Để mở một cửa hàng mua bán cổ vật có quy định khá ngặt nghèo về không gian, bằng cấp, thủ tục…. Trong khi đó nhu cầu tìm cổ vật không chỉ ở các bảo tàng, các nhà sưu tầm mà cả những người mới giàu lên, khách sạn, cửa hàng đều có nhu cầu săn lùng, chuốc cổ vật về bày để “làm sang”. Cổ vật thì đương nhiên không thể “sản xuất” ra được. Vì thế mà nhu cầu sưu tầm cổ vật lại đang tăng lên từng ngày làm xuất hiện thị trường ngầm buôn bán mặt hàng này.

May rủi như đánh bạc

“Chơi đồ cổ thì phải có tiền. Nhưng có tiền chưa đủ, vì nếu chỉ chơi đồ cổ bằng mắt, bằng tai thì dễ bị lừa lắm” – ông Đào Phan Long, Chủ tịch Hội Cổ vật Thăng Long – người có hơn hai mươi năm đeo đuổi thú vui cổ ngoạn cho biết. Ông Long thú thật: “Trong bộ sưu tầm đồ gốm, đồ đồng của tôi có khi lọt vào những đồ giả cổ tinh vi, sau này nhờ trao đổi với bạn bè, những người am hiểu mới ngã ngửa ra là mình bị lừa!”. Vì thế người sưu tầm cổ vật chân chính thường tập hợp với nhau thành hội để trao đổi, học hỏi lẫn nhau. Chứ cứ âm thầm chơi một mình thì nhiều khi mắc lỡm mà không biết.

Ông Long kể: “Điều khó khăn nhất khi tôi đứng ra xây dựng hội năm 1998 là những người sưu tầm đồ cổ một mực từ chối không muốn vào hội cùng với “dân buôn”. Nhưng tôi hỏi họ: không có người bán thì lấy đâu ra người mua?”.

LQV – một tay buôn cổ vật ở Hà Nội tự xưng là “nhà nghiên cứu và sưu tầm” tổng kết có bốn nguồn cung cấp hàng cho thị trường. Nguồn thứ nhất là những cổ vật được giữ lại trong các gia đình theo kiểu “lưu tử truyền tôn”. Loại này bán ra thị trường rất nhỏ giọt và bất thường, gia đình nào gặp lúc quá túng bấn mới bán những đồ thừa tự như vậy. Nguồn thứ hai phổ biến hơn là những cổ vật do người dân vô tình phát hiện ra trong lúc đào móng nhà, phá đá làm đường, rà phế liệu kim loại… Nguồn thứ ba là cổ vật do những tay chuyên đào bới mộ cổ, nền móng của các phế tích hoặc trục vớt lén lút từ những tàu cổ chìm đắm. Một nguồn hàng khác, ít hơn và chủ yếu được bán sang nước ngoài là cổ vật đánh cắp từ các bộ sưu tập cá nhân hoặc các bảo tàng.

Trong lúc trò chuyện với phóng viên (đóng vai người đi mua đồ cổ làm quà tặng), LQV tiếp tục “nói thật” về thị trường buôn bán cổ vật. Có hai loại là “hàng xịn” và “hàng mông”, nếu “gà” thì sẽ mua nhầm hàng mông (hàng giả cổ) mà trả giá cao ngất ngưởng. “Các em gặp anh thì cứ yên tâm đi. Thật thì anh nói cho biết là thật, đồ mô phỏng anh cũng nói cho mà biết. Anh mua nhiều thứ đồ giá một mà bán gấp 20 lần, nhiều thứ đồ mua 20 năm mà giữ mãi không bán được cho ai. Làm nghề này cái thú là sưu tầm đồ mình thích chứ giá cả không quan trọng” – LQV thao thao bất tuyệt.

Giám đốc bảo tàng Quảng Ninh Trần Trọng Hà bên chiếc trống đồng Minh Khí giả cổ giá 150 ngàn đồng.

Giám đốc bảo tàng Quảng Ninh Trần Trọng Hà bên chiếc trống đồng Minh Khí giả cổ giá 150 ngàn đồng.

Giá nào cũng… hớ

Thử trả giá một mặt hàng chúng tôi đã tìm hiểu thông tin từ chuyên gia sưu tầm mới biết giá cả ở đây đúng là “chân chân giả giả”.

Một chiếc trống đồng Minh Khí loại nhỏ, làm giả cổ, theo ông Trần Trọng Hà – Giám đốc Bảo tàng Quảng Ninh có giá 150-300 ngàn đồng nếu mua ở Thanh Hóa – nơi chuyên làm trống đồng giả cổ. Nhưng ở cửa hàng của LQV, chiếc trống gần giống như vậy được hét giá gấp đúng 10 lần mặc dù chủ của nó thừa nhận đây là trống giả cổ. LQV nói thêm: “Hàng giả cổ mới có giá như vậy chứ hàng thật thì ít cũng phải hai, ba ngàn đô”.

Dọc đường Nghi Tàm (Hà Nội) có khoảng chục cửa hàng như của QV. Cùng với phố Nghi Tàm, phố Tô Tịch cũng cũng là con phố chuyên bán đồ cổ của Hà thành. Dân sưu tầm chuyên nghiệp ít khi lai vãng đến đây vì họ cho rằng đến 99% là đồ giả cổ. Những cửa hàng không treo biển hoặc chỉ treo biển “Đồ thủ công, mỹ nghệ”. Bên trong cửa hàng tôi tối, âm u dễ đánh lừa cảm giác về hàng loạt những món đồ cũ kỹ treo trên tường, bày la liệt trên giá, sập, phản. Khách hàng vào mua khó lòng phân biệt được đâu là đồ thật, đồ “mô phỏng”. Bất cứ món đồ nào đều được chủ hàng nói là “đồ độc”, “không tìm được cái thứ hai ở Việt Nam”.

Chiếc nậm rượu hình con cá (phía trước) – món cổ vật được mua với giá 150 ngàn đồng. Ảnh: Bảo Phượng

Chiếc nậm rượu hình con cá (phía trước) – món cổ vật được mua với giá 150 ngàn đồng. Ảnh: Bảo Phượng

Một chiêu nữa của chủ hàng là “nhìn mặt mà bắt hình dong”: Thấy khách bình dân thường giả lả: “Biết em thích nhưng điều kiện mình có vừa tiền thì mua thứ này là đẹp”. Khách sang hơn thường được rỉ tai dắt vào buồng, lên gác hoặc đến “cơ sở hai” để hàng xịn.

Vậy nhưng cũng có khi một món hàng cổ thật sự lại được bán với giá rất bèo vì sự tù mù của người sử dụng. Ông Nguyễn Vĩnh Hảo – Giám đốc Bảo tàng tư nhân Gốm cổ Gò Sành (Quy Nhơn, Bình Định) vẫn còn hồ hởi khi kể lại về một con cá làm bằng sứ có từ thời Trần nhưng chỉ mua với giá… 150 ngàn đồng. Lần đó, “Hảo Gò Sành” ra Phú Yên, ngồi ở nhà người bạn, nhìn thấy con cá bằng sứ này đang dùng để… gạt tàn thuốc, ông bèn ngỏ ý xin mua. Những người bạn đi cùng chê ông mua hớ nhưng không ai biết vật trang trí làm từ thời Trần này có giá từ một ngàn rưỡi đến hai ngàn đô. Chỉ lạ một điều là người bán hớ cổ vật với giá bèo này cho ông Hảo lại là một tay chơi cổ vật số một ở Phú Yên (!).

nguồn báo Pháp Luật tp HCM

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »