Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘thư pháp’

Ấn chương trong Thư Họa Trung Hoa

Ấn chương là một nét văn hoá độc đáo của người Trung Quốc. Trong nghệ thuật thư (viết chữ) và hoạ (tranh thuỷ mặc), ấn chương càng có một vai trò vô cùng quan trọng. Nếu ví một bức thư hoạ như một cành mai gân guốc trước gió đông thì ấn chương chính là cánh hồng mai điểm xuyết cho cành mai ấy. Ấn chương là một phần trong cái hồn của bức thư hoạ, bức thư hoạ chưa có ấn chương sẽ gây cho người ta cảm giác chống chếnh, chưa hoàn thành. Đặt đúng vị trí, ấn chương sẽ làm tăng giá trị cho bức thư hoạ, ngược lại sẽ làm hỏng nó. Ấn chương kết hợp với thư, hoạ, bổ sung hỗ trợ cho nhau trở thành một chỉnh thể gọi là : “Kim thạch thư hoạ cộng nhất thể”.

Sở dĩ nói như vậy là vì ấn chương thường được làm bằng kim loại (trong đó chủ yếu là vàng, bạc, đồng) hoặc đá quý. Ngoài ra còn có thể làm ấn bằng ngà, gỗ quý … Vật liệu làm ấn qua quá trình lịch sử cũng có những thay đổi nhất định. Dưới thời Tống, nhiều hoạ gia, thư pháp gia kiêm làm nghề kim hoàn nên ấn được đúc bằng vàng bạc và đá quý là chính. Đến thời Minh, Thanh thì ấn lại hầu hết được làm bằng ngọc hoặc đá quý mà ít đúc bằng kim loại … Các trang trí trên ấn cũng được chạm khắc hết sức cầu kỳ, đa dạng, trong khuôn khổ bài viết này, khó có thể nói hết được, người viết chỉ xin đi sâu vào phần mặt ấn, là phần lưu dấu lại trên các tác phẩm thư hoạ mà thôi.

Xét về hình dạng, mặt ấn có rất nhiều hình dạng khác nhau, trong đó phần lớn là hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn. Ngoài ra mặt ấn chương còn có hình bầu dục, hình bán nguyệt, hình quạt hoặc đa giác … Một số ấn chương giữ nguyên theo hình dạng của viên đá được gọi là tuỳ hình chương. Đặc biệt một số ấn chương có hình bầu dục hoặc chữ nhật, được chia làm hai phần, nửa trên khắc họ, nửa dưới khắc tên của tác giả; thường là một nửa âm văn, nửa kia dương văn thì được gọi là liên châu ấn.

Nội dung ấn văn khắc trên mặt ấn có thể được khắc chìm hoặc khắc nổi. Khắc chìm, ấn chương khi in ra có nét chữ trắng trên nền đỏ, được gọi là bạch văn hay âm văn. Khắc nổi, ấn chương khi in ra sẽ có nét chữ đỏ trên nền trắng, gọi là chu văn hay dương văn.

Căn cứ vào nội dung ấn văn, người ta phân ấn chương ra làm hai loại lớn là : bằng tín chương (còn gọi là danh chương) và nhàn chương.

Bằng tín chương (danh chương) là loại ấn khắc tên, tự, hiệu của tác giả hoặc tên tác giả đặt cho các trai, đường, quán, các của mình. Những ấn này là bằng cứ để xác định tác phẩm thư hoạ đó là của tác giả nào, ngoài ra cũng có thể có thêm các ý nghĩa khác. Nói chung ấn ghi tên chỉ có một, nhưng ấn ghi biệt hiệu có thể có rất nhiều bởi vì các tác gia thư hoạ thường có rất nhiều biệt hiệu khác nhau trong những thời gian khác nhau. Ấn ghi tên của trai, đường, quán, các có thể có hai, ba cái nhưng cũng không thể nhiều như ấn biệt hiệu. Trong các hoạ gia cổ đại Trung Quốc thì Bát Đại Sơn Nhân và Thạch Đào có nhiều biệt hiệu nhất, mỗi người có tới mấy chục ấn biệt hiệu khiến các nhà giám định thư hoạ tốn rất nhiều thời gian nghiên cứu và phân biệt.

Nhàn chương: Khác với danh chương, nhàn chương là loại ấn khác các nội dung rất đa dạng, có thể là những lời tác giả gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình; có thể là những câu cách ngôn về lý tưởng, sự nghiệp mà tác giả tâm đắc, có thể là quan điểm của tác giả về nghệ thuật, thế giới quan, nhân sinh quan của mình, và cũng có thể chỉ là ghi lai lịch, quê quán, ngày giờ sinh của tác giả …

Ấn biệt hiệu và ấn trai, đường, quán, các được xếp vào loại bằng tín chương, vì nó có tác dụng như ấn ghi tên tác giả làm bằng chứng cho tác phẩm, nhưng chúng cũng có những điểm giống như nhàn chương cả về ý nghĩa cũng như cách sử dụng trong tác phẩm thư hoạ. Bởi vì các nhà thư hoạ thường cũng là các văn nhân, những biệt hiệu và tên đặt cho trai, đường, quán, các của họ không hề giản đơn một chút nào mà trong đó thường ẩn chứa nhiều ý nghĩa hoặc những biến cố đặc biệt trong cuộc đời…

Ví như hoạ gia nổi tiếng đời Thanh – Cao Phượng Hàn, một trong “Dương Châu bát quái” có biệt hiệu là “Đinh Tỵ Tàn Nhân” (丁 巳 殘 人 )đó là do năm Đinh tỵ niên hiệu Càn Long thứ 2 (1737) tay phải của ông mắc bệnh, bị tàn phế, nên ông tự xưng là “Đinh Tỵ Tàn Nhân” rồi khắc ấn. Sau đó, ông lại ra sức rèn luyện vẽ bằng tay trái khiến phong cách vẽ tranh có một thay đổi lớn: từ thanh tân, tú nhã chuyển sang cổ quái hoang sơ, trong đó có nhân tố quyết định là tập vẽ bằng tay trái, do vậy ông lại lấy một biệt hiệu nữa là “Thượng Tả Sinh” (尚 左 生) nghĩa là người học trò chỉ còn tay trái.

Ấn biệt hiệu 01

Ấn “Đinh Tị Tàn Nhân” – Cao Phượng Hàn

Còn về ấn trai, đường, quán, các, như hoạ gia nổi tiếng Tề Bạch Thạch có ấn “Hối Ô Đường” (悔烏堂). Liên quan đến việc Tề Bạch Thạch đặt tên này cho phòng hoạ của mình có một câu chuyện rất cảm động. Nguyên nhà họ Tề vốn là một gia đình nông dân nghèo khó, mấy người con trong nhà đều trông cậy vào một tay người mẹ vất vả nuôi dạy lớn khôn. Tề Bạch Thạch lúc nhỏ phải đi chăn trâu, lớn lên một chút thì học nghề thợ mộc để nuôi thân, nhưng ông vẫn không quản khó khăn, phấn đấu rèn luyện học văn hoá, học thư hoạ và khắc triện. Đến lúc có được thành công, nhờ vào việc viết vẽ, khắc triện gia đình dần được sung túc thì mẹ ông đã qua đời. Tề Bạch Thạch rất đau lòng, thương mẹ vất vả cả đời đến lúc mình có thể báo hiếu thì lại không còn nữa nên ông đã đặt tên cho phòng vẽ của mình là “Hối Ô Đường” (Ô tức là con quạ. Theo truyền thuyết, quạ là loài vật có hiếu, khi quạ con lớn thường kiếm mồi mớm nuôi quạ mẹ)

Ấn biệt hiệu 02

Ấn “Hối Ô Đường” – Tề Bạch Thạch

Nhưng nội dung nhàn chương vẫn là phong phú nhất. Tề Bạch Thạch có một nhàn chương với ấn văn : “Trung Quốc Trường Sa Tương Đàm Nhân Dã” (中國長沙湘潭人也). Qua ấn này có thể biết quê quán của ông ở Tương Đàm – Trường Sa tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc. Tề Bạch Thạch đã đi qua khắp các miền Trung Quốc, cuối đời mới định cư ở Bắc Kinh, ông dùng ấn nhàn chương này thể hiện nỗi nhớ quê hương của mình. Một nhàn chương khác của ông là: “Ngô ấu quải thư ngưu giác” (吾幼挂書牛角) nghĩa là : thuở nhỏ ta từng treo sách trên sừng trâu, thể hiện nỗi hoài niệm về thời thơ ấu vì nghèo khó phải đi chăn trâu, nhưng vẫn phấn đấu học tập, vừa chăn trâu, vừa đọc sách. Chính nhờ tinh thần ham học này, Tề Bạch Thạch mới trở thành một nhà thư hoạ triện khắc nổi tiếng Trung Quốc và thế giới. Ông còn có các nhàn chương khác như : “Ngã tự tác ngã gia hoạ” (我自作我家畫); “Lưu tục chi sở khinh dã” (流俗之所輕也) thể hiện chí tiến thủ trong nghệ thuật, tạo phong cách riêng của mình, coi nhẹ việc vẽ những tác phẩm theo trào lưu thông thường của mọi người; “Bất tri hữu Hán” (不知有漢) – Không biết có nhà Hán, lấy từ câu : “Bất tri hữu Hán, hà luận Ngụy Tấn” (不知有漢何論魏晉) – Không biết có nhà Hán, nói gì đến nhà Nguỵ, nhà Tấn) trong “Đào Hoa nguyên ký” (桃花源記) của Đào Uyên Minh thể hiện quyết tâm đi tìm con đường riêng, tránh theo thói thường của mình.

Ấn biệt hiệu 03

Ấn “Trung Quốc Trường Sa Tương Đàm Nhân Dã” – Tề Bạch Thạch

Ấn biệt hiệu 04

Ấn “Ngô Ấu Quải Thư Ngưu Giác” – Tề Bạch Thạch

Phó Bão Thạch – hoạ gia cận đại của Trung Quốc có ấn nhàn chương : “Đại sơn xuyên nhi ngôn dã” (代山川而言也) – Nói thay lời của núi sông. Câu này lấy trong “Thạch Đào hoạ ngữ lục” (石濤畫語錄) của Thạch Đào – một hoạ sĩ nổi tiếng đời Thanh, thể hiện tình yêu của Phó Bão Thạch với thiên nhiên, non sông tổ quốc. Ông đã chuyên tâm vào vẽ tranh sơn thuỷ và để lại nhiều kiệt tác. Một ấn khác của ông là: “Vãng vãng tuý hậu” (往往醉後) – (Tôi) thường thường (vẽ) sau khi say, thể hiện thói quen hay vẽ tranh sau khi uống rượu lấy hứng của ông.

Ấn biệt hiệu 05

Ấn “Vãng vãng tuý hậu” – Phó Bão Thạch

Phan Thiên Thọ trong các tác phẩm của mình thường dùng nhàn chương “Cường kỳ cốt”(強其骨) – Gân cốt mạnh mẽ, thể hiện quan điểm nghệ thuật, thẩm mỹ của ông. Cách dùng bút của ông bao giờ cũng mạnh trầm, cương kiện, khoẻ khoắn. Một ấn thường dùng khác của ông là “Bất điêu” (不雕)- Không tô vẽ, cũng thể hiện quan điểm thẩm mỹ và chủ trương sáng tác của ông. Ông thường vẽ một cách tự nhiên, chân thực không tô vẽ khoa trương.

Có thể nói nội dung của nhàn chương vô cùng phong phú, nó có thể biểu hiện tư tưởng tình cảm, quan điểm, lý tưởng nghệ thuật của tác giả, cũng có thể chỉ là một biến có hay sự kiện nào đó trong cuộc đời của tác giả …

Ngoài những nội dung bằng chữ, trong nhiều ấn chương còn có các hình vẽ kèm theo Phần lớn các hình vẽ là những con giáp thể hiện tuổi của tác giả (thường đi cùng tên) hoặc thể hiện năm sáng tác tác phẩm …

Cách dùng ấn trong thư hoạ, trước hết phải quan sát kỹ toàn bộ tác phẩm để xác định vị trí đóng triện thích hợp. Đồng thời cũng phải xem xét đến việc ấn chương có nội dung gì, lớn nhỏ ra sao, là ấn chu văn hay bạch văn, là ấn vuông, hay chữ nhật, hay tròn …

Nói chung cách dùng ấn trong thư hoạ có thể chia thành hai trường hợp lớn: Một là, kết hợp với lạc khoản, đề thức để làm bằng cứ cho tác giả; Hai là, dùng để điều tiết bố cục tác phẩm, điều tiết sự cân đối màu sắc …

Trong trường hợp I, chủ yếu là dùng các ấn tên họ, tự hiệu, hay ấn trai, đường, quán, các, nói chung là bằng tín chương. Gián hoặc có trường hợp dùng nhàn chương. Vị trí đóng ấn triện đại thể có ba cách :

– Đóng ấn triện ngay trên dòng chữ lạc khoản.

– Đóng ấn triện bên trái dòng lạc khoản (Thường người ta không đóng triện bên phải dòng lạc khoản)

– Đóng ấn triện cuối dòng lạc khoản – đây là cách dùng phổ biến nhất.

Dấu đóng tại lạc khoản có thể dùng một hoặc hai ấn, nhưng nếu dùng hai ấn thì nên dùng một ấn âm văn và một ấn dương văn.

Trong trường hợp II, chủ yếu là dùng các nhàn chương (cũng có lúc dùng ấn trai đường hoặc biệt hiệu). Trong hoạ (tranh thuỷ mặc) đóng nhàn chương để điều tiết màu sắc, bố cục, tính cân đối của bức tranh. Trong thư pháp, nhàn chương được dùng trong một số trường hợp như : nhàn chương đóng ở đầu bức thư pháp gọi là khởi thủ chương; nhàn chương đóng ở ngang bức thư pháp (trong trường hợp bức thư pháp quá dài, đóng ở ngang bức thư pháp để để tăng thêm sự vững chắc) gọi là yêu chương; một số trường hợp khác, tuỳ vào tình hình cụ thể, tác giả có thể đóng nhàn chương để bổ khuyết cho các chữ viết chưa hợp lý để bức thư pháp cân đối hoàn thiện hơn về chương pháp …

Ở trên là giới thiệu sơ lược về ấn chương trong nghệ thuật thư hoạ Trung Quốc. Ở Việt Nam, các ấn triện cá nhân hiện còn chưa được nghiên cứu kỹ, một phần do các ấn triện, các tác phẩm thư hoạ cổ không lưu lại nhiều, phần nữa do người Việt Nam ít có tập quán dùng ấn cá nhân. Tuy vậy, trên một số hoành phi, câu đối cổ ở các di tích đôi khi cũng có những ấn triện được khắc cùng tên người đề chữ, cung tiến như ấn triện trên bức hoành phi “Vĩnh hoài ân trạch” có niên đại năm Quang Tự (Thanh) thứ 6 tại đền Bạch Mã – Hà Nội, ấn triện trên một số câu đối tại đền Bạch Mã – Hà Nội, đình La Khê – Hà Tây … Điều đó đòi hỏi chúng ta đặt ra vấn đề cần phải có sự quan tâm hơn nữa đến việc nghiên cứu các ấn triện cá nhân tại Việt Nam.

Sau đây, xin giới thiệu một số nội dung ấn nhàn chương thường được các tác giả sử dụng trong nghệ thuật thư hoạ Trung Quốc theo các chủ đề khác nhau :

1/ Các câu thể hiện kiến giải và lý tưởng nghệ thuật của tác giả :

– Thiên ý mỗi tuỳ nhân (天意每隨人) : Ý vị thiên nhiên tuỳ theo cảm nhận của từng người.

– Hoài chân (懷真) : Mong (thể hiện được cái đẹp) chân thực

– Du mục sính hoài (游目騁懷) : Phóng tầm mắt, thả tâm hồn (theo thiên nhiên)

– Ngưỡng quan vũ trụ chi đại, phủ sát phẩm loại chi thịnh (仰觀宇宙之大,俯察品類之盛) : Ngửa trông sự lớn lao của vũ trụ, cúi xem sự phồn thịnh của muôn vật (Câu này lấy từ thiếp Lan Đình Tự của Vương Hi Chi)

– Vô hoạ tài nhi hữu hoạ ý (無畫才而有畫意): Không có tài vẽ tranh nhưng có lòng muốn vẽ

– Mặc hí (墨戲) : Chơi đùa với mực.

– Hình hiện thần tàng (形現神藏) : Hình ảnh hiện lên thì có cái thần ẩn chứa bên trong.

– Dụng bút tại tâm (用筆在心): Dùng bút cốt là ở tấm lòng

– Ý đáo bút tuỳ (意到筆隨): Bút viết, vẽ theo ý nghĩ chợt đến.

– Sư tạo hoá (師造化): Tạo hoá (thiên nhiên) chính là người thầy.

– Hội tâm xứ (會心處): Nơi hội tụ tâm hồn.

– Tá cổ dĩ khai kim (借古以開今): Mượn cái xưa để mở ra cái nay

– Bất cầu tự (不求似): Không mong giống.

– Đắc giang sơn trợ (得江山助): được sự giúp sức của núi sông.

– Pháp cổ (法古): Theo cách xưa.

– Đắc cổ pháp xuất tân ý (得古法出新意): Được cách xưa để tạo ra ý mới

– Đại phác bất điêu (大樸不雕): chân thực không tô vẽ.

2/ Các câu thể hiện tâm tư tình cảm của tác giả :

– Ngô thảo mộc chúng nhân dã (吾草木眾人也): Ta chỉ là người bình thường sống giữa cỏ cây như mọi người.

– Ngô thiếu thanh bình (吾少清平): Tuổi thơ ta thật thanh bình.

– Ngẫu ngâm (偶吟): Ngẫu nhiên ngâm ngợi.

– Tri kỷ hữu ân (知己有恩): Biết mình là có ơn với mình.

– Phong tiền nguyệt hạ thanh ngâm (風前月下清吟): Khúc ngâm thanh nhã trước gió, dưới trăng.

– Tiêu dao du (逍遙游): Tiêu dao thảnh thơi (Đây là tên một thiên trong sách Trang Tử)

– Nhất liêm thu nguyệt (一簾秋月): Một rèm trăng thu

– Biệt thời dung dị, kiến thời nan (別時容易見時難): Chia tay thì dễ, gặp gỡ nhau thì khó.

– Mai hoa đồng tố tâm (梅花同素心): Tấm lòng trong trắng như hoa mai.

– Tâm nguyệt đồng quang (心月同光): Tấm lòng sáng như ánh trăng.

– Hư tâm cao tiết (虛心高節): Khiêm tốn là phẩm chất cao thượng.

3/ Các câu cách ngôn mang tính triết lý:

– Tuy hữu như vô (雖有如無): Tuy có mà như không.

– Thảo mộc vị tất vô tình (草木未必無情): Cỏ cây không hẳn vô tình.

– Khiên ngưu bất ẩm tẩy nhĩ thuỷ (牽牛不飲洗耳水): Dắt trâu không uống nước rửa tai. (Câu này nhắc đến điển cố Sào Phủ – Hứa Do)

– Lâm uyên tiện ngư bất như thoái nhi kết võng (臨淵羨魚不如退而結網): Đến khe suối thích cá chẳng bằng quay về mà đan lưới.

– Tiệm nhập giai cảnh (漸入佳境): Dần vào nơi cảnh đẹp

– Hoa hương bất tại đa (花香不在多): Hương hoa thơm không cần nhiều.

– Vô khả, vô bất khả (無可無不可): Không cái gì là có thể, không cái gì là không thể.

– Hoá phũ hủ vi thần kỳ (化腐朽為神奇): Biến cái mục nát (vô dụng) thành cái thần kỳ.

4/ Các câu cách ngôn mang tính lập chí, tự răn mình:

– Tự cường bất tức (自強不息): Luôn tự cường không ngừng

– Đan thanh bất tri lão tương chí (丹青不知老相至): Vẽ vời không cần biết cái già đang đến.

– Diện bích cửu niên (面壁九年): Quay mặt vào tường chín năm。

– Vinh nhục bất kinh (榮辱不驚): Không sợ vinh nhục.

– Cần năng bổ chuyết (勤能補拙): Cần cù bù thông minh.

– Lưu chân tích dữ nhân gian thuỳ thiên cổ (留真跡與人間垂千古): Lưu lại bút tích với thế gian đến ngàn đời.

5/ Các câu cầu chúc cát tường may mắn:

– Cát tường (吉祥): May mắn

– Nhân trường thọ (人長壽): Ngời thọ mãi.

– Mỹ ý diên niên (美意延年): Tốt đẹp dài lâu.

– Như ý (如意): Mọi điều đều được như ý.

– Thọ đồng kim thạch (壽同金石): Thọ cùng vàng đá.

– Trường niên đại lợi (長年大利): Đại lợi dài lâu.

– Hoa hảo, nguyệt viên, nhân thọ (花好月圓人壽): Hoa đẹp, trăng tòn, người thọ.

– Trường lạc Vị Ương (長樂未央): Được mãi vui vẻ trong cung Vị Ương (cung điện nước Tần)

– Đãn nguyện vô sự thường tương kiến (但願無事常相見): Chỉ mong vô sự thường được gặp nhau.

LÊ TIẾN ĐẠT

(TC Hán Nôm số năm 2003)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Đặc điểm ấm Nghi Hưng và cách chọn ấm trà Tử Sa

ẤM NGHI HƯNG

Nghi Hưng là tên một huyện gần Thượng Hải, thuộc tỉnh Giang Tô. Ở đây đặc biệt có một thứ đất sét rất mịn, có chứa thạch anh, mica và nhất là chất sắt. Đất sét đó dùng làm ấm trà không tráng men (unglazed), thường được gọi là ấm tử sa (purple sand). Đất tử sa không nhất thiết phải là màu tím đỏ mà có ba màu chính là màu vàng sậm (ta gọi là màu gan gà), màu đỏ sậm (ta gọi là màu da chu) và màu nâu thẫm ngả màu đen (tử sa). Tuy nhiên, trong ba loại màu đó đều có nhiều sắc độ (tùy theo lượng sắt trong đất sét nhiều hay ít), lại còn tùy theo thợ trộn các loại đất và pha chế thêm khoáng chất (nhưng tuyệt đối không dùng màu nhân tạo để nhuộm) nên các loại ấm tử sa có thể có từ màu ngà đến màu đen. Ngoài ra, Nghi Hưng cũng còn có loại đất sét màu trắng và màu xanh lục. Đất màu xanh là loại quí nhất, đã được Lục Vũ ca tụng trong bộ Trà Kinh.

Ấm tử sa không phải chỉ là một trà cụ mà còn là một tác phẩm nghệ thuật. Ấm nặn to nhỏ tùy theo dùng cho một (độc ẩm), hai (song ẩm) hay nhiều người (quần ẩm). Ấm quần ẩm có thể dùng cho ba, bốn hay nhiều người nên có cái chỉ bằng nắm tay nhưng cũng có cái to bằng cái ấm trà thường.

Về hình dáng, ấm tử sa chia làm ba loại:

Ấm theo hình kỷ hà cân đối, nghĩa là tròn trĩnh, vuông vức, lục giác, bát giác hay nhiều múi. Đó là những ấm có thể dùng khuôn làm chuẩn, chỉ điểm xuyết bằng tay. Ấm có thể hình trái đào, trái thị, trái hồng hay hoa sen, hoa thủy tiên nhưng chủ yếu là cân đối. Người thợ có thể thêm thắt nặn vung ấm, vòi ấm hay quai ấm khác đi và có thể trang trí trên thân ấm những hoa quả, con thằn lằn, con chuột … hoặc đề chữ, đề thơ để tăng giá trị.

Ấm theo hình tự nhiên, nghĩa là do sáng kiến của người nặn mô phỏng một vật thường thấy. Hình dáng có thể là cái thùng gạo, cái bị, cây thông, quả vải, búp hoa hồng, bó trúc .. Đây là những nghệ phẩm cao chứng tỏ óc thẩm mỹ và tài khéo léo của người nghệ sĩ. Thường là hình ảnh có mang một ý nghĩa tốt đẹp nào đó. Con chuột tượng trưng cho sự trù phú, lấy ý là con chuột kêu chít chít đồng âm với chữ túc là đầy đủ, bông sen tượng trưng cho sự thanh cao, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Một cái ấm cổ có hình một con ngựa, một bên có con khỉ đứng nhìn một tổ ong. Người Tàu gọi là mã thượng phong hầu (con ngựa ở trên con ong và con khỉ) nhưng đọc lên hai chữ phong hầu đồng âm với được phong tước hầu. Thành thử cái ấm mang một lời chúc thăng quan tiến chức. Lối biểu tượng đó rất thịnh hành ở Trung Quốc.

Ấm tổng hợp cả hai đặc tính trên, vừa cân đối, vừa nghệ thuật chẳng hạn như một quả bí ngô (pumpkin), có những dây cuốn thành vòi, thành quai hay một cái ấm nặn hình một bầy cá, có cái nắp là một lá sen trên là một con nhái nhỏ.

Ấm cổ Tử Sa

Ấm cổ Tử Sa

ĐẶC ĐIỂM CỦA ẤM NGHI HƯNG

Đất sét Nghi Hưng nung lên rất rắn chắc bền bỉ, không bị nứt dù thay đổi nhiệt độ bất thường khi đổ nước sôi vào. Đất còn có những khí khổng rất nhỏ (pores) phải soi kính hiển vi điện tử mới thấy được. Những khí khổng vi ti đó có tác dụng cách nhiệt, vừa bảo tồn hương vị, vừa không làm cho bên ngoài quá nóng. Một đặc tính khác là khi được nung, ấm không bị co lại hay biến dạng nên nghệ nhân dễ dàng làm nắp ấm được vừa vặn, khít khao.

Khi trong dạng thiên nhiên, đất sét Nghi Hưng mềm, có màu vàng, nâu đen hay xanh nhạt. Sau khi nung, đất màu vàng đổi sang màu da chu, màu đen thành màu tử sa, còn màu xanh lại biến thành màu gan gà. Màu sắc khác nhau tùy theo lượng hoá chất trong đất, nhất là chất sắt.

Đất sét được đào lên từ lòng đất sâu, phơi khô thành từng tảng. Những tảng đất đó được tán thành bột rồi được rây bằng những rây tre để lọc đi tất cả sỏi đá và các chất khác lẫn trong đất sét. Bột đất sét sau đó được đổ vào những bể nước hình chữ nhật cao khoảng thước rưỡi rồi tháo nước trong vào. Ba ngày sau, dung dịch đất và nước đó lại được gạn qua một bể khác và để nước bốc hơi đi cho keo lại. Đất sét được cắt ra thành từng bánh bán cho thợ làm đồ gốm.

Hiện nay, khi du khách đến thăm Đinh Thục Trấn (Dingshuzhen), một thành phố nhỏ trong huyện Nghi Hưng đều thấy toàn là xưởng làm đồ gốm. Họ sản xuất đủ loại, từ bồn, chậu đến ngói xanh. Thế nhưng chỉ có đồ tử sa là quí hơn cả.

Người thợ làm đồ gốm mua đất về dùng chày giã ra, vừa giã vừa cho thêm nước đến bao giờ cảm thấy đủ mềm để nặn thì thôi. Từ lúc giã đến lúc nhồi đất xong phải mất trọn hai ngày. Khi dùng dao cắt thấy đất mịn nhẵn không còn dấu vết bong bóng hơi thì mới dùng được.

Ngưòi thợ lúc đó mới đem chia tảng đất thành từng nắm cân lượng kỹ càng. Mỗi nắm đất được cán thành từng miếng phẳng. Đáy ấm, thành ấm, nắp ấm đều cắt từ miếng đất này, có khi bằng tay, có khi dùng khuôn. Sau đó, người thợ dùng máy quay bằng tay hay đạp bằng chân để ráp và gắn những miếng đất đã nặn sẵn dính với nhau và được miết cho láng bằng dụng cụ bằng gỗ hay sừng. Khi hình dáng tổng quát đã hoàn thành, đợi ráo nước người ta mới trang trí, thêm thắt những hoa văn hay viết chữ. Người thợ khéo thường hay viết tên hiệu, có khi ngày tháng chế tạo, niên đại hoặc đóng dấu vào đáy ấm khi tác phẩm hoàn tất. Triện thường hình vuông, hình tròn hay bầu dục khắc nổi. Những chiếc ấm đắt tiền có khi có thêm một cái triện nhỏ bên trong nắp ấm, hoặc một con dấu khác dưới tay cầm. Trước đây, ấm thường đóng dấu tên hãng sản xuất rõ là một món hàng sản xuất theo số lượng nhiều nhưng sau này đa số ấm đóng dấu tên người, chứng tỏ nay họ coi là một tác phẩm và nghệ nhân tự hào nên để tên mình. Dĩ nhiên cái gì cũng có hai mặt, và có xấu đẹp. Ngay cả những loại hàng bán vài đồng cũng có con dấu nguệch ngoạc. Thế nhưng đó cũng là một hiện tượng cần ghi nhận là nền công nghiệp đang chuyển hướng, mang nhiều màu sắc nghệ thuật hơn.

Ngoài con dấu có khi còn có vài chữ Hán. Chữ đề thường là chữ đá thảo do một người giỏi thư pháp (phép viết chữ) đề bằng bút tre nhọn, khắc hẳn vào thân ấm. Có thể chỉ là vài chữ chúc tụng nhưng có khi là hẳn một bài thơ, một đôi câu đối. Một cái ấm đẹp đến đâu mà chữ viết non tay thì cũng giảm hẳn giá trị.

Những loại ấm sản xuất theo kiểu công nghệ thì chữ viết hay hoa văn được in bằng một loại mực không phai. Sau đó ấm được chuyển sang cho thợ cho vào lò nung. Ấm đất thường nung trong khoảng từ 1100 độ đến 1200 độ C, tuy không nóng bằng đồ sứ nhưng ở nhiệt độ đó, ấm vẫn giữ được tính thấm nước.

Nghề nặn ấm cho đến nay vẫn đòi hỏi một thời gian học nghề lâu theo kiểu sư phụ đệ tử chân truyền. Phải mất nhiều năm mới học được hết bí quyết. Tuy nhiều khi người ta nhái lại những kiểu ấm danh tiếng cũ, nhưng cũng có nghệ nhân mới sáng tạo nhiều kiểu mới. Những người sành sỏi cho rằng với phương pháp tân kỳ, trình độ cao đẳng, nhiều ấm thời mới có nét độc đáo không kém gì những chiếc ấm do các danh sư xưa nặn ra, nếu không nói rằng trội hơn nữa. Chính quyền Trung Cộng cũng thành lập nhiều cơ quan, nghiên cứu, áp dụng khoa học để tái tạo những chiếc ấm cũ không sai một mảy. Tuy là đồ giả nhưng giá đắt không khác gì đồ cổ để bán cho những nhà sưu tầm. Ngoài giá trị lịch sử, những tác phẩm đó còn là một niềm tự hào về nghệ thuật của họ.

Trong những năm qua, tại Bắc Mỹ này đã nhiều lần triển lãm ấm Nghi Hưng. Bộ sưu tập của Tiến Sĩ La Quế Tường (K.S. Lo) được trưng bày trong khoảng 1990-92 tại Phoenix Art Museum, Trung Tâm Văn Hóa Hoa Kiều San Francisco, Indianapolis Art Museum, và Ontario Museum.

Ấm Nghi Hưng cũng đã được huy chương vàng trong các kỳ chợ phiên quốc tế chẳng hạn như tại Philadelphia năm 1926 và ở Leipzig và Liege trong thập niên 1930.

CHỌN MUA VÀ BẢO DƯỠNG ẤM TỬ SA

Khi chọn mua ấm Tử sa, nhiều người băn khoăn không biết nên dựa vào những tiêu chuẩn nào. Về khoản này, người bán bao giờ cũng sẵn sàng chỉ dẫn một vài “tuyệt chiêu”, để thuyết phục bạn. Như biểu diễn thả ấm vào chậu nước nổi bồng bềnh, không nghiêng lệch; nhận chìm xuống rồi buông tay, ấm sẽ nổi trồi lên mặt nước mà không bung nắp hay bị lật chìm; hoặc bịt ngón tay vào lỗ thông hơi trên núm nắp ấm thì rót nước không chảy; dùng nắp ấm gõ nhẹ vào quai phát ra âm thanh như tiếng sắt, tiếng đồng…Thật ra, tất cả những thứ ấy ngày nay đã trở thành tiêu chuẩn kinh điển, mà nhà sản xuất ấm Tử sa nào cũng đạt tới, nếu không muốn bị đào thải.

teaset

Như vậy, việc chọn mua một chiếc ấm trước hết phải xuất phát từ chính nhu cầu của người mua. Nếu mục đích của bạn tìm chiếc ấm Tử sa để hàng ngày làm bạn với trà, thì nên chọn kiểu ấm đơn giản, hoa văn trang trí dễ nhìn, không gây khó khăn khi lau rửa, miệng rộng dễ cho trà vào bình và bỏ xác trà khi dùng xong. Cần nhất là một chiếc ấm hình thể cân đối, vững chãi, không dễ bị ngã đổ.

teaset 01

CÁCH CHỌN ẤM TỬ SA

1.NHÌN BẰNG MẮT: Hình dáng thanh thoát, ưa nhìn.Các bộ phận như :thân ấm, nắp, miệng, vòi, quai, đáy phải cân đối, liền lạc. Màu sắc đồng đều trong ngoài. Dấu triện của nghệ nhân hay nhà sản xuất nét chữ sắc sảo, đặt cân đối ở trung tâm đáy ấm, theo trục thẳng từ quai sang vòi ấm. Những chiếc ấm đắt tiền thường có thêm dấu triện phụ dưới nắp và quai cầm thật rõ nét. Vòi ấm có thể dài ngắn khác nhau, nhưng quan trọng là khi rót, nước chảy thông, đều và thẳng dòng, không rơi vãi hay đọng giọt nhểu ra ngoài.

2.NGHE BẰNG TAI: Đặt ấm lên lòng bàn tay, tay kia cầm nắp ấm khẽ gõ vào quai, tiếng kêu đanh; chắc như kim loại chạm vào nhau.

3.CẢM NHẬN BẰNG TAY: Trơn láng, mịn màng, không tì vết. Nắp và miệng ấm khít khao, vì ấm Tử sa được nung trong lò liên tục 23 tiếng đồng hồ ở nhiệt độ từ 1.190 – 1.270 độ C (trung bình 1.200 độ C), đòi hỏi tay nghề nghệ nhân phải cao, chất đất phải thật tốt và mịn mới không bị co giãn khi nung. Do tính bào mòn trong quá trình sử dụng, một chiếc ấm dùng càng lâu càng lên nước, không đổi màu, đó mới chính là đặc trưng ưu việt của ấm Tử sa, chứ màu sắc đất không liên quan gì đến chất lượng và công dụng.

Ngoài ra, bạn đừng bao giờ nghe lời quảng cáo những chiếc ấm Tử sa mới phát ra mùi thơm. Vì ấm làm bằng đất đào trong núi, lọc lắng thành bùn, lại phải qua quá trình nung trong lò, làm sao có mùi thơm được? Hoặc có người tin rằng, ấm Tử sa càng lâu năm càng có giá trị. Điều đó chỉ đúng một phần về giá trị lịch sử (như chơi đồ cổ), thực tế không phải chiếc ấm Tử sa lâu năm nào cũng đạt chuẩn về tính nghệ thuật, kỹ thuật tay nghề, chất liệu…Trong giới chơi ấm hiện nay, có những chiếc ấm mới làm ra nhưng giá trị cao gấp nhiều lần những chiếc ấm lâu năm.

Ấm có vòi khi rót nước chảy xoắn vòng

Ấm có vòi khi rót nước chảy xoắn vòng

GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG

Ngày nay, đi du lịch bất cứ nơi nào trên thế giới bạn cũng có thể mua được ấm Tử sa. Tuy nhiên, nhiều nhất vẫn là TQ, kế đến Đài Loan, rồi mới tới Hong Kong, Singapore, Nhật, Thái Lan, Mỹ…Về giá cả, câu “tiền nào của đó” hầu như không ép phê với mặt hàng ấm Tử sa, bạn có thể rinh nhầm một chiếc giá thật đắt không đúng giá trị thật của nó, nhưng đôi khi cũng mua được giá hời tùy vào cái duyên của bạn. Về khoản này, xin mách bạn một số kinh nghiệm: đối với hàng do thương lái gốm sứ đem vào VN, những chiếc ấm trung bình, dùng được, bạn chỉ cần trả 1/3, hoặc tối đa ½ giá họ đưa ra là mua được (thí dụ họ ra giá 600.000 đồng, nếu kiên nhẫn trả giá bạn có thể chỉ chi ra từ 200-250.000, thậm chí có món kêu 800 ngàn, chỉ bán 200 ngàn đồng), riêng những chiếc ấm được xem là cao cấp, trong bụng bạn rất thích, cũng không nên trả giá quá 50%.

Tu_sa_-_296_-_8

Ấm rao bán trên mạng: 3.200 Nhân dân tệ (khoảng 6,4 triệu VNĐ)

Đi du lịch TQ theo đoàn, không nên mua ấm tại các cơ sở sản xuất hay cửa hàng do hướng dẫn viên địa phương đưa tới. Giá cả ở những nơi này thường không phản ánh đúng giá trị sản phẩm, thậm chí nếu bạn thử trả chừng phân nữa giá niêm trên sản phẩm thì đã phải móc ví, để nhận hàng. Tại các điểm đón khách du lịch, có nhiều cửa hàng bày bán ấm Tử sa như…bán kẹo, chỉ cần trả ¼ hoặc 1/3 giá niêm là mua được.

Tu_sa_-_296_-_9

Chiếc ấm mua 50 đồng ở Hàn San tự

teaset 03

Ấm của nữ nghệ nhân Ngô Lợi Quần – Nghi Hưng, mua ở TP.HCM 500.000 đồng

Ở Tô Châu, tôi mua được một chiếc ấm trong tình cảnh hết sức tức cười: giá chỉ 50 tệ (100.000 VNĐ), mua ở cửa hàng xéo cổng Hàn San tự. Do người bán ra giá quá cao: 420 tệ, tôi vì không muốn mua nên trả bừa 50 tệ để rút lui, không dè bị bà chủ níu áo lại, nói: “Dạo này ế ẩm quá, mấy ngày chưa bán được hàng. Bán cho ông 1 cái để lấy hên!” Thêm một trường hợp khác ở TP.HCM: Tại gian hàng gốm sứ ở công viên Phú Lâm, tôi bắt gặp chiếc ấm của nữ nghệ nhân Ngô Lợi Quần mà mình đã nhìn thấy ở Vô Tích, chủ hàng ra giá 1,6 triệu đồng, do biết rõ chất lượng ấm và người làm ra nó, tôi trả đến 800.000 đồng mà vẫn không mua được. Tuần sau, tình cờ có việc đi ngang, tôi ghé vào thấy chiếc ấm vẫn còn, nhưng lần này người đứng bán là một cô gái khác. Tôi thử trả giá và không ngờ mua được chỉ với 500.000 đồng.

teaset 04

SỬ DỤNG VÀ BẢO DƯỠNG ẤM TỬ SA

Sở dĩ gọi bảo dưỡng (thay vì bảo quản) là do ấm Tử sa có đời sống riêng của nó. Những chiếc ấm trải qua thời gian dài sử dụng và bảo dưỡng sẽ trở nên sáng ngời, tròn trịa, dày nặng, rắn chắc và tinh khiết…Nói chung, giá trị của nó chỉ có tăng chứ không giảm. Ấm mới mua về, có người dùng giấy nhám loại nhuyễn thấm nước kỳ cọ mặt trong cho sạch lớp bùn (thời xưa, dùng ngói lợp nhà làm bằng đất đen ở vùng Giang Nam tán thành bột nhuyễn, dùng mấy lớp vải sô bọc lại để chà xát, cọ rửa), sau đó cho ấm vào một nồi nước đun sôi suốt mấy tiếng đồng hồ. Có người dứt khoát đun sôi ấm như thế trong một nồi trà lớn, để ấm có thể hấp thu chất trà vào các lỗ thông khí kép (khí khổng), loại bỏ mùi của đất. Ngày nay, trên thị trường đã có bán loại máy chuyên dùng bảo dưỡng ấm, bằng cách phun nước trà liên tục suốt một ngày đêm, để tôi những chiếc ấm mới.

Tu_sa_-_296_-_10 Tu_sa_-_296_-_11

Ấm Tử sa Nghi Hưng

Tu_sa_-_296_-_7

Ấm Tử sa Đài Loan

Uống trà bằng ấm Tử sa, tốt nhất mỗi loại trà nên dùng một ấm riêng, để giữ hương vị đặc trưng. Ngay cả khi dùng trà để tôi ấm, nấu ấm mới, cũng nên dùng đúng loại trà ấy. Mỗi buổi sáng, khi rửa bộ đồ trà, bằng cách dùng xác trà cũ trong ấm chà xát lên toàn thân ấm, có thể làm sạch các vết dơ mà không gây trầy xước. Đối với những chiếc ấm cũ bề mặt bị hư tổn, nứt rạn nhẹ, dùng phương pháp “nước trà dưỡng ấm” có thể khôi phục, những vết nứt rạn sẽ dần dần khít lại, đúng là “tôn cổ xuất tân”. Chọn trà cho ấm, chọn ấm cho trà. Dùng ấm để cất giữ hương vị trà, dùng trà để bảo dưỡng ấm, đã trở thành chân lý của một thú chơi thi vị.

teaset 05

ẤM NGHI HƯNG THEO THỜI GIAN

Theo truyền tụng, Phạm Lãi là người đầu tiên tìm ra chất đất sét vùng Thái Hồ. Sau khi phá xong quân Ngô, ông về ẩn cư nơi đây, lấy việc nặn đồ gốm làm trò tiêu khiển. Thế nhưng thời đó chưa làm ấm trà.

Cứ theo những di chỉ khai quật được thì ngay từ đời Tống (920-1279) người ta đã làm ấm trà ở đất Nghi Hưng. Thế nhưng phải đến thế kỷ thứ 16, đời Minh thì những kiểu ấm nhỏ mới ra đời. Một điều lạ là không phải người Tàu nghĩ ra kiểu ấm chén mà chính là họ du nhập từ Âu Châu. Ngày xưa họ chỉ uống trà bột, quấy trong nước.

Theo sách Dương Tiện Mính Hồ Lục (Sách về các ấm trà vùng Dương Tiện) của Chu Cao Khởi thì đời Chính Đức, Gia Tĩnh nhà Minh có Cung Xuân tài nghệ tuyệt vời, là người nổi danh đầu tiên về làm ấm tử sa. Cung Xuân vốn là gia đồng của Ngô Sĩ đất Nghi Hưng thường theo hầu Ngô Sĩ đến học tại chùa Kim Sa. Trong chùa có một vị hòa thượng có tài làm đồ sứ nên Cung Xuân theo nhà sư học nghề nặn ra những tác phẩm trông chẳng khác gì đồ kim loại xưa. Khi Cung Xuân nổi danh, ông thường cùng Bộc Trọng Khiêm (đất Gia Định) khắc trúc, Lục Tử Đồng (đất Tô Châu) chạm ngọc, và Khương Thiên Lý khảm xà cừ. Tất cả đều là những người nổi tiếng đời Minh. Cung Xuân nặn ấm không lâu — truyện kể rằng ông bị quan sở tại vì yêu chuộng tài nghệ ông nên bức bách khiến ông phải bỏ xứ mà đi — nên tác phẩm của ông hiện nay lưu truyền rất ít. Sách vở chỉ còn ghi một chiếc ấm của ông hình 6 múi hiện tàng trữ tại Viện Trà Cụ Hongkong nặn năm Chính Đức thứ 8 (1513). Thế nhưng còn một cái ấm khác cũng của Cung Xuân để tại Singapore thì ít thấy sách vở nào đề cập. Theo bài “Nghi Hưng và Nghiên Mực” (Yi Hsing and Inkstones) trong tạp chí Arts of Asia, số July/August 1971 thì ông C.M. Wong, Bí Thư của Phòng Thương Mại Singapore và là Chủ Tịch Hiệp Hội Hoa Nhân tại đây có trong bộ sưu tập của ông một ấm Cung Xuân hình vỏ cây. Ấm này đề năm 1506, có triện của người nghệ sư. Phần dưới quai cầm lại còn một vết dấu tay điểm vào mà người ta bảo rằng đó là vết ngón tay thứ sáu của Cung Xuân (bàn tay phải của ông có sáu ngón).

Sau thời Cung Xuân, nghệ thuật làm ấm đất nung vùng Nghi Hưng thịnh đạt, đến đời Vạn Lịch càng có nhiều danh thủ. Lý Ngư viết là: “Trà không gì bằng dùng ấm bằng tử sa, mà vùng Dương Tiện là hạng nhất”. Từ đời Minh trở đi, việc dùng ấm tử sa để uống trà trở nên thông dụng. Người ta để ý đến phẩm chất trà đã đành mà còn kén chọn cả cách pha trà, nước nào pha trà ngon, uống lúc nào mới hợp.

Trước kia, ấm trà bằng sứ là quí nhất nhưng khi ấm tử sa ra đời thì không mấy ai còn chuộng ấm sứ nữa. Cổ nhân tổng kết ấm tử sa có bảy ưu điểm:

Chế nước sôi vào không làm trà mất hương vị, sắc hương còn nguyên

Bình trà dùng lâu, chế nước không cũng ra mùi trà

Trà vị không bị biến chất

Chịu nóng cao, mùa đông tháng giá đổ nước sôi vào không bị nứt

Ít truyền nhiệt, cầm vào không phỏng tay

Dùng càng lâu càng lên nước, bóng lộn

Có nhiều màu khác nhau, dễ lựa chọn

Vì ấm tử sa là một tác phẩm nghệ thuật nên trông ấm người ta có thể đánh giá được người nặn vào bậc nào. Thành ra, trong những nghệ nhân nghề sành sứ, thì ngành làm ấm để tên lại nhiều nhất. Sau đời Cung Xuân người ta thấy có Thời Bằng, Đổng Hàn, Triệu Lương, Nguyên Sướng và Lý Mậu Lâm là những thợ nổi danh.

Đời Vạn Lịch, Thời Đại Bân, con của Thời Bằng là người nổi tiếng hơn cả. Văn Chấn Hanh viết trong “Trường Vật Chí” là “ấm trà tử sa là loại tốt nhất, nắp vừa vặn không làm mất hương, lại không bốc hơi. Ấm do Cung Xuân chế tạo quí nhất, đều nhỏ nhắn, hình dáng lạ lùng. Thời Đại Bân chế thì có cái to, cái nhỏ …”. Cùng nổi danh với Đại Bân có Lý (Đại) Trọng Phương, Từ (Đại) Hữu Tuyền, người ta gọi là Tam Đại.

news_020820068

Từ Hữu Tuyền tự Sĩ Hoành, là học trò của Thời Đại Bân, có tài bắt chước các loại đồng khí xưa làm ấm hình tàu lá chuối, đài sen, củ ấu, quả trứng …

Nổi tiếng thời Vạn Lịch còn có Âu Chính Xuân, Thiệu Văn Kim, Thiệu Văn Ngân, Tưởng Bá Cung, Trần Dụng Khanh, Trần Tín Khanh, Mân Lỗ Sinh, Trần Quang Phủ, Thiệu Cái, Thiệu Nhị Tôn, Chu Hậu Khê …

Thời Vạn Lịch, ngoài việc nặn ấm, các nghệ nhân còn dùng đất tử sa điêu khắc và các chế tạo vật phẩm khác, rất thịnh hành. Người nổi tiếng nhất là Trần Trọng Mỹ ở Vụ Nguyên, An Huy. Họ Trần trước vốn ở Cảnh Đức Trần làm đồ sứ. Sau đến Nghi Hưng kết hợp nghệ thuật đồ gốm với nặn ấm, tạo ra các loại đỉnh hương, bình hoa, cục chặn giấy .. rất xinh xắn. Người nổi danh đồng với Trần Trọng Mỹ thì có Trẩm Quân Dụng, tự Sĩ Lương.

Sau đời Vạn Lịch có Trần Tuấn Khanh, Chu Quiù Sơn, Trần Hòa Chi, Trần Đình Sinh, Thừa Vân Tòng, Trẩm Quân Thịnh, Trần Chấn, Từ Lệnh Âm, Hạng Bất Tổn, Trẩm Tử Triệt, Trần Tử Huề, Từ Thứ Kinh, Huệ Mạnh Thần, Tiết Hiên, Trịnh Tử Hầu …

Trên đây là những nghệ nhân nổi tiếng khéo đời Minh. Về sau, người ta mô phỏng rất nhiều những kiểu họ đã chế tạo nên những ấm nào thực sự đời Minh, cái nào đời sau khó ai biết được. Đồ tử sa lại không đề niên đại như đồ gốm nên càng khó phân biệt chân giả.

Sang đến đời Thanh, nghệ thuật làm ấm còn thịnh đạt hơn nữa. Triều đình nhà Thanh chuộng đồ tử sa nên càng coi trọng. Văn khố nhà Thanh còn ghi lượng hàng mỗi năm tiến cống vào cung. Phẩm chất cũng thêm tinh vi, xảo diệu. Ngoài ấm đất, ngưòi ta còn nặn bồn trồng cây cảnh, bình hoa, và dụng cụ dùng trong nhà. Màu sắc pha chế cũng phong phú hơn.

Nghệ nhân nổi tiếng đời Thanh rất nhiều. Người xuất sắc nhất là Trần Minh Viễn, hiệu Hạc Phong, lại có tên là Hồ Aån, chế ra hàng chục thứ ấm trà, đồ dùng khác nhau, không cái nào giống cái nào, quả là bậc thầy trong nghề. Những tác phẩm mà Trần Minh Viễn còn để lại hết sức tinh xảo, lại đầy sáng tạo. Cái thì hình một gốc mai già, cái thì hình bó củi, trông như một nghệ phẩm điêu khắc tả chân hơn là một trà cụ. Ông còn nặn những trái cây tầm thường như hạt dẻ, củ đậu phộng … trông hết sức tinh xảo, thoạt trông không ai bảo là một vật bằng sành.

Sách Trùng San Kinh Khê Huyện Chí, viết năm thứ hai đời Gia Khánh, (Thanh) dùng bốn chữ “vạn gia yên hỏa” (nhà nhà đều khói lửa) để chỉ khung cảnh sinh hoạt bấy giờ. Đời Ung Chính, Càn Long thì có Trần Hán Văn, Dương Quí Sơ, Trương Hoài Nhân. Chế tạo đồ dùng trong cung vua thì có Vương Nam Lâm, Dương Kế Nguyên, Dương Hữu Lan, Thiệu Cơ Tổ, Thiệu Đức Hinh, Thiệu Ngọc Đình nhưng thiên về ấm có trang trí, màu sắc. Những chuyên gia cho rằng kết hợp hai kỹ thuật của Cảnh Đức Trấn (nơi chế tạo đồ sứ tráng men) với Nghi Hưng đã làm giảm đi phong vị của ấm tử sa, bản chất vốn giản phác, gần thiên nhiên. Cầu kỳ hóa một nghệ thuật vốn dĩ đạm bạc đã khiến cho nghệ thuật nặn ấm đổi hẳn sắc thái, mất đi tính nguyên ủy của nó.

Sang đời Gia Khánh, những người tên tuổi có Huệ Dật Công, Phạm Chương Ân, Phan Đại Hòa, Cát Tử Hậu, Ngô Nguyệt Đình, Hoa Phượng Tường, Trinh Tường, Quân Đức, Ngô A Côn, Hứa Long Văn …

Thời Đạo Quang có Dương Bành Niên và em gái là Dương Phượng Niên cùng với Trần Hồng Thọ, Thiệu Đại Hanh là những danh gia. Trần Hồng Thọ hiệu là Mạn Sinh, đời Gia Khánh làm huyện tể đất Lật Dương. Ông là người giỏi viết chữ, vẽ tranh, khắc triện lại thích sưu tầm ấm tử sa. Nhiều ấm do Dương Bành Niên và nhà họ Dương chế tạo ra, đợi cho hơi khô, Trần Hồng Thọ dùng dao tre khắc, vẽ, viết chữ, đề thơ lên rồi mới đem nung. Việc kết hợp hai tài danh, một nặn ấm, một thư họa là sáng tác mới của thời đó. Ấm thường có đề “A Mạn Đà Thất” (là tên thư trai của họ Trần) hay dưới đáy có khắc “Bành Niên”. Đời sau gọi là ấm Mạn Sinh (Mạn Sinh hồ).

Theo chân Trần Hồng Thọ, nhiều danh sĩ khác như Kiều Trọng Hỉ, Ngô Đại Trừng cũng đứng ra chỉ đạo việc nặn ấm. Từ đó, một kỹ xảo vốn chỉ được coi như nghề mọn nay đã lan sang cả giới nho gia. Tuy không được phổ biến như thư họa nhưng cũng không còn là một tiện nghệ như trước nữa.

Một danh sĩ vốn giỏi về vẽ trúc là Cù Tử Trị lại đem việc khắc trúc, họa trúc vào trang trí trên ấm. Họ Cù không những mang thư pháp mà còn khắc hẳn những cành trúc, cành mai nghĩa là coi chiếc ấm như một tờ giấy hay vuông vải để thi thố tài hàn mặc.

Còn Thiệu Đại Hanh thì là một nghệ nhân nổi tiếng không kém gì Dương Bành Niên. Trong khi Dương nổi danh về tinh xảo thì Thiệu có tiếng về giản phác. Ông không cầu kỳ nhưng cũng có nhiều sáng kiến độc đáo. Chính kiểu nắp ấm đầu rồng, khi rót thì lè lưỡi ra là do ông khởi thủy, tới nay vẫn còn nhiều người bắt chước và khá phổ biến trên thị trường.

Cuối đời Thanh, Chu Kiên lại có sáng kiến dùng thiếc và ngọc để bịt hay khảm vào ấm tử sa. Nhiều thân ấm được bịt thiếc và viết chữ rồi dùng ngọc trạm thành quai, thành vòi ráp vào. Thế kỷ thứ 19 nhiều người còn bịt đồng hay thau nhưng nói chung những kiểu này không được chuộng lắm.

Vào thời điểm này, việc thương mại giữa Trung Hoa và nước ngoài đã phát triển. Nhiều cường quốc đã chiếm những lãnh địa ở duyên hải hay cưỡng ép nhà Thanh nhường làm tô giới và Thanh đình đã phải mở cửa cho họ vào buôn bán. Trà Tàu trở thành một nông phẩm xuất cảng quan trọng và ấm Tàu cũng được sản xuất qui mô để bán ra ngoài. Nhiều công ty thành lập tại Thượng Hải, Nghi Hưng, Thiên Tân, Hàng Châu đại lý bán ấm Nghi Hưng. Những kiểu ấm thời đó cũng vẫn theo mô dạng cũ. Một công ty ở Thượng Hải là Thiết Họa Hiên đến nay vẫn còn. Thiết Họa Hiên nổi tiếng vì chữ viết trên ấm rất đẹp. Những nghệ nhân nổi tiếng của họ gồm có Tưởng Yến Hanh, Trần Quang Minh, Phạm Đại Sinh, Vương Diễn Xuân, Trình Thọ Trân. Những ấm xuất cảng thường có cả con dấu của nghệ nhân lẫn con dấu của hãng. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 có hai hãng khác là Chân Ký và Ngô Đức Thịnh cũng phát đạt.

Thời Dân Quốc ấm Nghi Hưng được xuất cảng rất nhiều sang Nhật Bản, Đông Nam Á, Âu Châu và Mỹ Châu. Thời đó cũng có nhiều thợ khéo nhưng kiểu thường giản dị, cân đối chứ không cầu kỳ như thời trước. Có lẽ vì nhu cầu thương mại và thị hiếu đã thay đổi. Đến thời loạn lạc thập niên 1930, 1940 việc sản xuất ấm phải đình trệ. Sau khi Trung Cộng nắm quyền, việc sản xuất được qui tụ thành công xã nhưng không phát triển được. Thời Cách Mạng Văn Hóa lại một lần nữa kỹ nghệ này bị vùi dập. Trong chế độ Cộng Sản, uống trà bị coi là một tàn tích tư sản, bóc lột, phi sản xuất nên bị bài xích. Việc làm ấm vì thế cũng bị triệt hạ. Sau khi Đặng Tiểu Bình thi hành chính sách cải tổ, Trung Cộng phục hồi ngành nặn ấm tử sa. Năm 1979, xí nghiệp Nghi Hưng Tử Sa đã sử dụng đến 600 nhân công. Hiện nay, một số thợ chuyên môn trẻ và tương đối có trình độ đã khôi phục lại được công nghiệp này, nhất là càng ngày càng có nhiều người ưa chuộng và sưu tập.

Đến thời điểm hiện nay, các nghệ nhân Tử sa đương đại thuộc hàng “cao thủ” ở Nghi Hưng có 8 vị: Cố Cảnh Chu, Tưởng Dung, Bùi Thạch Dân, Chu Khả Tâm, Ngô Vân Căn, Uông Dần Xuân, Nhậm Cán Đình và Đàm Tuyền Hải. Các nghệ nhân này hầu hết đang giữ những chức vụ quan trọng trong ngành mỹ thuật tỉnh Giang Tô. “Danh sư xuất cao đồ”, học trò và con cái của họ cũng là những nghệ nhân kiệt xuất trong nghề: Từ Hán Đường, Từ Tú Đường, Lý Xương Hồng, Thẩm Cừ Hoa (nữ), Lý Bích Phương (nữ), Uông Dần Tiên (nữ), Lữ Hiểu Thần, Ngô Chấn, Bào Chí Cường, Trữ Lập Chi, Cố Thiệu Bồi, Hà Đạo Hồng…Thành phố Nghi Hưng hiện có tới 20 công ty, nhà máy chuyên sản xuất mặt hàng gốm Tử sa, mỗi ngày có 20 ngàn nghệ nhân, công nhân đến xưởng làm việc.

news_020820069

Nói đến ấm trà không thể không nhắc đến ấm sản xuất tại Đài Loan. Từ khi chính quyền dân quốc thiên di sang hòn đảo này, nhiều người trong số di dân là nhà sưu tập hoặc dân bản xứ vùng Giang Tô. Nghề làm ấm cũng được truyền theo. Ấm Đài Loan cũng đẹp không kém gì ấm sản xuất tại lục địa. Về phương diện tinh xảo và cầu kỳ có phần hơn. Tuy nhiên giá cả thường đắt một chút.

Hongkong và Singapore cũng là nơi có nhiều danh thủ trong cả sưu tập lẫn chế tạo ấm. Viện Bảo Tàng Trà Khí Hongkong (Flaggstaff House Museum of Tea Ware) được chính thức mở cửa từ ngày 27 tháng giêng năm 1984 trong đó Tiến sĩ K.S. Lo cống hiến hơn 600 món, từ trà cụ thời Tây Chu (thế kỷ 11 trước TC) đến tận gần đây. Chính Viện Bảo tàng này đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm, trình diễn phương thức uống trà, và thi nặn ấm (ba lần 1986, 1989 và 1992) đã được rất nhiều người hâm mộ và tham dự. Sáng tác mới của nghệ nhân đời nay thật phong phú, phối hợp được quan điểm Đông và Tây thoát hẳn những mô dạng của đời trước.

Phong khí uống trà hiện nay cũng trở thành một phong trào, tuy không rầm rộ như những thưởng thức khác nhưng cũng rất đáng kể. Nhiều trà thất, hiệp hội, trung tâm, tổ chức và nhóm nghiên cứu được thành lập khắp nơi trên thế giới (kể cả tại Mỹ) nhất là tại những nơi có nhiều Hoa Kiều. Tại Hoa lục (Bắc Kinh, Hàng Châu, Quảng Châu) và Đài Loan, Hongkong, Singapore lại càng phát triển. Lại có những tạp chí bằng Anh, Pháp, Hoa ngữ chuyên cho những người thích trà ngon và chuộng việc sưu tập ấm tử sa.

Một điểm đáng lưu ý là hiện nay các kiểu ấm đã tiến lên một bước rất xa. Trước đây nghệ nhân vẫn coi ấm là chính, hình dáng thay đổi chỉ cốt để chứng tỏ cái xảo diệu kết hợp mô thức thiên nhiên với công dụng của trà cụ. Ngày nay, nhiều kiểu ấm đã gần như thoát hẳn cái công dụng pha trà. Có cái hình xe cút kít, chiếc ghế mây, cái giếng, cái rương, đồng tiền … Tuy lạ mắt nhưng không tiện. Nhà Thiên Nhân thì họa nhiều kiểu có hình dáng như những tác phẩm điêu khắc mới, trông cũng hay và tân kỳ. Nhiều nghệ nhân cũng nặn tượng, tuy tinh xảo nhưng gần như không liên quan gì đến những đặc tính độc đáo của đất tử sa.

Việt Nam hiện nay cũng có nhiều nơi nặn ấm, thường là bắt chước kiểu Tàu. Mấy năm trước, có người về thăm quê đem sang cho tôi một bộ đồ trà trạm bằng đá cẩm thạch hồng, vân trắng. Ấm chén theo hình hoa sen, đĩa là một lá sen. Tuy nhiên đây là loại ấm để chưng vì không thể dùng vào việc pha trà. Việt Nam cũng làm ấm theo kiểu Nghi Hưng nhưng chưa tinh xảo. Nếu thực sự muốn chiếm một chỗ đứng trên thị trường, chúng ta còn phải đầu tư và học hỏi nhiều.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Việt Ngữ

1. Vũ Thế Ngọc, Trà Kinh, EastWest Institute Press 1987

2. Nguyễn Tuân, Vang Bóng Một Thời, Cảo Thơm 1972

3. Bảo Sơn, Trà Đạo (bản dịch cuốn The book of Tea của Okakura Kakuzo), Nhà Xuất Bản Tổng Hợp An Giang 1990

4. Phan Quốc Sơn, Thú Chơi Những Ấm Trà Đất Nung Cổ, Nguyệt San Y Tế 2/96

II. Anh Ngữ

1. Kit Chow và Ione Kramer, All the Tea in China, China Books and Peridicals, Inc. 1990

2. Roberta Stalberg, Shopping in China, China Books and Peridicals, Inc. 1988

3. Nhiều tác giả, The Book of Tea, Bản Dịch của Deke Dusinberre, Flammarion Paris

4. Arts of Asia, Yi Hsing and Inkstones, July/August 1971

5. Arts of Asia, Flaggstaff House Museum of Tea Ware 1984-1994, March/April 1994

6. Lin Yutang, The Importance of Living, The John Day Company, 1937 (kể cả bản dịch của Nguyễn Hiến Lê và bản chữ Hoa “Sinh Hoạt Đích Nghệ Thuật”)

7. Herbert E. Plutschow, Historical Chanoyu, The Japan Times, Ltd. Tokyo 1986

8. Hobson R.L., The wares of the Ming Dynasty, Charles E. Tuttle Company 1962

9. Tài liệu trong Internet

10. The K.S. Lo Cllection, Flagstaff House Museum of Tea Ware, Yixing, purple clay wares, Urban Council of Hongkong 1994

III. Hoa ngữ

1. Minh Đại Đào Từ đại toàn, Nghệ Thuật gia xuất bản xã, Đài Bắc 1989

2. Thanh Đại Đào Từ đại toàn, Nghệ Thuật gia xuất bản xã, Đài Bắc 1989

3. Chu Trọng Thánh, Bắc Tống Trà Chi Sinh Sản Dữ Kinh Doanh, Học Sinh Thư Cục, Đài Loan 1985

4. Lâm Vĩ Hạo, Lục Trà, Sinh Hoạt Y Học Thư Phòng, Đài Bắc 1995

5. Lưu Phi Bạch, Trung Quốc Công Nghệ truyền kỳ, Tinh Quang, Đài Bắc 1987

6. Ngô Trí Hòa, Trà Đích Văn Hóa, Hành Chính Viện Văn Hóa Kiến Thiết Uûy Viên Hội ấn hành, Đài Bắc 1987

SƯU TẦM & TỔNG HỢP

các bàiđã đăng :

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

Festival Biển 2009: Sẽ có nhiều hoạt động triển lãm
Nguồn: Báo Khánh Hòa
Festival Biển 2009 sẽ có nhiều hoạt động triển lãm văn hóa – nghệ thuật như: tranh, ảnh, cổ vật, đồ gốm… Tuy không phải là chương trình “đinh”, nhưng những hoạt động triển lãm luôn tạo được dấu ấn trong các kỳ Festival, góp phần giới thiệu bản sắc văn hóa xứ Trầm Hương. Hiện nay, các đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) Khánh Hòa đang tích cực chuẩn bị cho các triển lãm này.

Theo kế hoạch, Festival Biển 2009 sẽ có nhiều hoạt động triển lãm như: Triển lãm gốm và dệt thổ cẩm Chăm (tại Tháp Bà Ponagar), triển lãm gốm mỹ nghệ Chăm (công viên bờ biển đầu đường Nguyễn Chánh – Trần Phú) của Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Gốm mỹ nghệ Nhất Chi Lan, triển lãm ảnh “Nét đẹp xứ Trầm Hương” (công viên bờ biển cạnh Quảng trường 2-4), triển lãm thư pháp (Hội quán Hòn Chồng), triển lãm cổ vật (Bảo tàng tỉnh, 16 Trần Phú, Nha Trang)…

Để chuẩn bị cho triển lãm ảnh “Nét đẹp xứ Trầm Hương”, mới đây, lãnh đạo Sở VH-TT-DL cùng Trung tâm Văn hóa – Thông tin tỉnh đã có buổi họp mặt với các nghệ sĩ nhiếp ảnh xứ Trầm Hương, kêu gọi các nghệ sĩ gửi tác phẩm tham gia triển lãm (hạn cuối gửi tác phẩm là ngày 15/5). Về vấn đề này, ông Nguyễn Hữu Bài – Phó Giám đốc Sở VH-TT-DL cho biết: “Chúng tôi đã có buổi gặp mặt các nghệ sĩ nhiếp ảnh để nói rõ mục đích, ý nghĩa của triển lãm trong dịp Festival Biển 2009; kêu gọi các tác giả gửi tác phẩm để Ban tổ chức tuyển chọn… Triển lãm ảnh “Nét đẹp xứ Trầm Hương” đã trở thành một thương hiệu của Khánh Hòa, đó là đề tài “mở” nên tác phẩm tham gia triển lãm rất phong phú, có cái nhìn đa chiều về thiên nhiên – con người – văn hóa xứ Trầm Hương. Bởi thế, tôi tin rằng triển lãm sẽ thành công”. Được biết, triển lãm “Nét đẹp xứ Trầm Hương” sắp tới sẽ có khoảng 200 tác phẩm của các nghệ sĩ nhiếp ảnh ở Khánh Hòa. Ngoài ra, triển lãm còn có 50 tác phẩm của các nghệ sĩ nhiếp ảnh đến từ tỉnh Morbihan (Pháp).

Bên cạnh triển lãm nhiếp ảnh, triển lãm cổ vật ở Bảo tàng tỉnh cũng là một hoạt động đáng chú ý. Những năm gần đây, do Bảo tàng tỉnh vẫn đang trong quá trình sửa chữa nên hoạt động trưng bày, triển lãm có phần bị hạn chế. Vì thế, việc tổ chức một cuộc triển lãm cổ vật trong những ngày diễn ra Festival Biển 2009 là một nỗ lực đáng ghi nhận của Bảo tàng tỉnh. Theo ông Nguyễn Hữu Bài: Bảo tàng tỉnh sẽ phối hợp với Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh tổ chức triển lãm. Trong đó, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh sẽ tham gia trưng bày 200 cổ vật quý hiếm được trục vớt từ các con tàu đắm trên các vùng biển Việt Nam; phía Khánh Hòa sẽ có các hiện vật quý được phát hiện qua các đợt khai quật từ các di chỉ khảo cổ học trong tỉnh như: Xóm Cồn, Hòa Diêm, Văn Tứ Đông… và một số trống đồng được tìm thấy trên đất Khánh Hòa.

Một hoạt động triển lãm khá mới ở Festival lần này là Hội chợ tranh nghệ thuật. Theo kế hoạch của Sở VH-TT-DL, Hội chợ tranh nghệ thuật sẽ có khoảng 20 gian hàng tranh của các họa sĩ, nhà điêu khắc xứ Trầm Hương. Ngoài việc trưng bày, giới thiệu mỹ thuật Khánh Hòa, tại Hội chợ tranh sẽ có một số họa sĩ vẽ ký họa chân dung cho khách du lịch. Có thể nói, việc tổ chức Hội chợ tranh nghệ thuật là một nét mới của Festival biển 2009. Đó là tiền đề để Khánh Hòa xây dựng một hội chợ tranh có tầm cỡ quốc gia.

Các triển lãm gốm như: triển lãm gốm mỹ nghệ Chăm của DNTN Nhất Chi Lan, triển lãm gốm và dệt thổ cẩm Chăm của đồng bào Chăm ở Tháp Bà Ponagar cũng góp phần giới thiệu bản sắc văn hóa xứ Trầm Hương – một vùng đất có sự giao lưu, hòa quyện văn hóa Việt – Chăm. Theo kế hoạch DNTN Gốm mỹ nghệ Nhất Chi Lan trình bày với Sở VH-TT-DL, triển lãm gốm Chăm của DN này sẽ có khoảng 200 sản phẩm được trưng bày theo từng chủ đề: gốm làm tiểu cảnh, gốm trang trí ở sân vườn, gốm trang trí nội thất…

Có thể nói, các hoạt động triển lãm (tranh – ảnh – gốm nghệ thuật – thư pháp) là một mảng quan trọng trong tổng thể các hoạt động Festival Biển 2009. Các hoạt động triển lãm không chỉ tạo nên một điểm vui chơi cho du khách đến với Festival, mà qua đó còn góp phần giới thiệu vẻ đẹp thiên nhiên, con người, bản sắc văn hóa xứ Trầm Hương. Hy vọng, với sự chuẩn bị nghiêm túc, kỹ lưỡng của Sở VH-TT-DL và những đơn vị liên quan, các hoạt động triển lãm sẽ là điểm nhấn của Festival Biển 2009.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Sắc hoa của tranh thủy mặc
Tranh thủy mặc khi mới ra đời là thoát thai từ nghệ thuật thư pháp (nghệ thuật viết chữ) của Trung Quốc. Hội họa cổ điển của Trung Quốc không mang tính chất miêu tả ngoại vật như bên phương Tây là truyền thần cảnh vật, mà chủ yếu là mang một ý nghĩa để cho người xem tự mình tìm hiểu lấy. Không những đường nét nói lên ý nghĩa mà chính những khoảng trống cũng quan trọng không kém. Họa gia vẽ một bức tranh thủy mặc trước hết phải là một thư gia và đường nét bút mực quan trọng hơn việc ghi hình ảnh trước mắt lên giấy vải.

Một bức tranh thủy mặc bao giờ cũng phải có thêm những dòng chữ lạc khoản của chính tác giả hay một người khác, và nét nào là nét vẽ, nét nào là nét chữ không phải dễ dàng phân biệt.

Trường phái vẽ tranh thủy mặc được công nhận bắt đầu từ thời Bắc Tống (950-1120). Lúc đó trong giới họa gia vốn vẫn dùng màu sắc theo đường lối từ xưa, và nặng về hình thức, màu sắc, lấy kỹ thuật làm chủ. Nhưng có một người vốn luôn luôn thích tìm tòi cái mới, đó là Tô Đông Pha. Ông ta ngoài nổi tiếng về thơ văn, còn là người viết chữ rất đẹp, và ông đã đưa thư pháp của mình vào làm họa pháp, không cầu kỳ màu sắc. Và từ đó đường lối vẽ tranh thủy mặc ra đời. (Tất nhiên người ta vì trọng Tô Đông Pha nên mới gán cho ông làm thủy tổ của tranh thủy mặc, mặc dù đường lối dùng mực đen, giấy trắng để vẽ vốn đã có từ lâu). Trường phái vẽ tranh thủy mặc là vẽ theo hứng, dùng một màu nhưng đậm nhạt, khác nhau để nhấn mạnh chủ ý. Vẽ kiểu này ít câu thúc, nhiều sáng tạo và không chú trọng đến kỹ thuật như trường phái cổ điển.
Hội họa Trung Quốc cổ thường được chia làm năm loại chính là bình, sách, quyển, trục và phiến. Lố chia này dựa trên cơ sở bức họa được vẽ ra sẽ có mục đích treo như thế nào. Đây chính là điểm khác biệt trong cách chia so với hội họa của phương Tây.

– Bình là bốn, sáu hay tám bức tranh treo dọc cùng khuôn thước (nhưng đôi khi bức đầu và bức cuối nhỏ hơn một chút) đuợc vẽ cùng một đề tài hoặc liên tục, hoặc tương phản như mai, lan cúc, trúc hay xuân hạ thu đông. Tranh loại này có thể treo trên tường hay dùng để ngăn phòng gọi là bình phong (chắn gió).

– Sách là nhiều bức tranh đóng thành một tập cùng một đề tài nhưng khác chi tiết, hoặc nhiều đề tài.

– Quyển là loại tranh cuộn theo chiều ngang vốn do gốc tích từ những thanh tre nối với nhau. Quyển được vẽ từ phải sang trái và do vậy cũng được mở từ phải sang trái vì người Tàu đọc từ trên xuống dưới, phải sang trái nên khi xem một họa quyển, người ta cũng đi theo thứ tự đó. Chiều dài quyển không giới hạn có khi chỉ một mảnh nhưng lại rất dài hàng mét.

– Trục được vẽ theo chiều dọc từ trên xuống dưới và do vậy các bức tranh cũng được treo theo chiều dọc từ trên xuống dưới.

– Phiến tức là hình vẽ trên quạt. Trước đây Trung Quốc chỉ có loại quạt phẳng hình tròn, hoặc dưới vuông trên tròn. Sau đó quạt xếp được du nhập từ bên ngoài vào (Tây Vực, Ba Tư) khoảng đời Tống. Phiến nguyên thủy là những hình vẽ trang điểm cho các quạt dùng trong triều đình, vua chúa, phi tần và các quan. Người ta thường vẽ hoặc viết một bài thơ trên đó.

Sắc hoa của tranh thủy mặc (click trên hình để xem full size)

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »