Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘tác giả Đức Chính’

Bài 4: Chuyện bên lề Kim Tự Tháp Ai Cập

Biên khảo : Đức Chính

3.- Kim Tự Tháp là công trình của người ngoài Trái đất?

Phần trước chúng ta có nêu một số giả thuyết cho rằng Kim Tự Tháp do người ngoài Trái đất dựng nên. Đó không phải là ý kiến lẻ loi đơn độc, mà có thời từng là một trào lưu gây chấn động nhiều bạn đọc.

Vào thập niên 60-70 thế kỷ trước, đi cùng với phong trào “dĩa bay” hay “vật thể bay không xác định” (UFO: unidentified flying object) là phong trào gán cho các kỳ quan yếu tố ngoài không gian. Nhiều cuốn sách về đề tài này được viết ra và thu hút một lượng lớn độc giả hiếu kỳ. Cuốn ăn khách nhất thời đó là “Chariots of the Gods” (Xe Của Các Vị Thần)[1] của tác giả người Đức Erich Von Daniken; trong đó dành hẳn một chương nhan đề “Ancient Marvels or Space Travel Centres?” (Các Kỳ quan Cổ đại hay Trung tâm Du hành Vũ trụ?) để nêu những mối tương quan kỳ lạ giữa các di chỉ khảo cổ với thuyết người ngoài Trái đất từng viếng thăm loài người trong quá khứ xa xăm.

Trong chương này tác giả nêu luận điểm Kim Tự Tháp là một cột mốc để các nhà du hành vũ trụ ngoài Trái đất theo đó mà cất/hạ cánh. L‎ý do Ai Cập được chọn là vì đây là trung tâm của Trái đất; tác giả đưa hình minh họa theo “phép chiếu phương vị cách đều” (azimuthal equidistant projection) dưới đây.

Nhưng thay vì chứng minh bằng sự kiện, tác giả phản chứng bằng cách nêu ra những điểm khoa học chưa giải thích được để biện luận cho giả thuyết của mình. Hầu có một cái nhìn chính xác về quan điểm của tác giả, xin mạn phép trích dịch đầy đủ một đoạn (dài nhiều trang) duy nhất trong sách nói riêng về Kim Tự Tháp.

“Có nhiều vấn đề gắn liền với công nghệ của những người xây dựng Kim Tự Tháp và không là giải pháp thiên tài nào cả.

“Người Ai Cập khoét vào đá làm lăng mộ như thế nào? Họ có trong tay nguồn lực gì mà có thể bố trí phòng ốc và các hành lang như mê cung? Những bức tường phẳng lì trang trí các bức họa phù điêu. Độ nghiêng trục chính cắm sâu vào nền đá; họ có những bước xây dựng theo truyền thống tinh xảo tuyệt vời, thứ truyền thống đưa phòng mai táng âm sâu xuống đất. Hàng đoàn du khách ngạc nhiên trầm trồ trước chúng, nhưng chẳng ai giảu thích nổi họ dùng thứ kỹ thuật huyền diệu gì mà đào được như thế. Vâng, phải khẳng định người Ai Cập là bậc thầy trong nghề khoan hầm từ thời nguyên sơ, các lăng mộ ăn sâu vào đá được thi công chính xác không thua kém gì thời nay. Giữa lăng mộ của vua Tety hồi triều đại thứ 6 và lăng mộ của Rameses I thời Vương Quốc Mới cách xa nhau chí ít 1.000 năm chẳng có gì khác biệt nhau về kỹ thuật xây dựng. Rõ ràng người Ai Cập chẳng học được thêm điều gì mới để bổ sung cho kỹ thuật xưa cũ. Thực ra mà nói các dinh thự càng gần thời đại chúng ta càng nhiều sự sao chép nghèo nàn từ mô thức thời xa xưa.

“Khách du lịch rong duỗi trên lưng lạc đà có tên Wellington hay Napoleon tùy theo quốc tịch của ông ta, đến Kim Tự Tháp Cheop, đến phía tây thành phố Cairo, sẽ có cảm giác kỳ lạ trong lòng khi thấy những di vật huyền bí của thời quá khứ cứ hiện ra. Hướng dẫn viên nói với ông ta: Một vị Pharaoh được an táng nơi đây. Và với mớ kiến thức được hâm nóng lại đó, ông ta chụp nhiều bức ảnh ấn tượng rồi cỡi lạc đà quay trở về. Đặc biệt Kim Tự Tháp Cheops đã gợi hứng hàng trăm thuyết điên rồ và khó đứng vững. Trong cuốn sách dài 600 trang nhan đề Our Inheritance in the Great Pyramid (Di sản của chúng ta trong Kim Tự Tháp Lớn) do Charles Piazzi Smith xuất bản năm 1864, chúng ta có thể đọc thấy nhiều mối liên hệ dựng tóc gáy giữa Kim Tự Tháp với quả Địa cầu của chúng ta.

“Vâng, sau chuyến khảo sát đầy tính phê phán như thế, vẫn chứa đựng nhiều sự việc kích thích chúng tôi phải suy tư. 

“Không thể chối cãi người Ai Cập thời xưa thờ thần Mặt trời. Thần Mặt trời của họ gọi là thần Ra, đi xuyên bầu trời trên một con thuyền. Kim Tự Tháp thư thời Vương Quốc Cổ còn mô tả vị vua chu du trên bầu trời, hẳn nhiên điều đó phải có sự giúp đỡ của các vụ thần và các con tàu của thần linh. Vậy thì các vị thần và các vì vua cùng nhắc đến chuyện bay đi …   

“Phải chăng chiều cao của Kim Tự Tháp Cheops nhân cho 1.000 gần bằng khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời chỉ là sự trùng hợp ư? Khoảng cách đó là 93 triệu dặm. Phải chăng kinh tuyến đi ngang qua Kim Tự Tháp chia đôi cách lục địa và đại dương làm hai phần bằng nhau cũng chỉ là sự trùng hợp? Phải chăng diện tích đáy Kim Tự Tháp chia cho hai lần chiều cao cho ra số (Pi) = 3.14159 do Ludolf khám phá ra lại là một sự trùng hợp nữa? Các phép toán tính trọng lượng Trái đất được tìm ra và sự chính xác và chu toàn sức chịu của nền đá cho công trình Kim Tự Tháp đơn thuần là trùng hợp ư?

“Không hề có chút manh mối nào cho thấy vì sao vị Pharaoh Khufu đứng ra xây dựng Kim Tự Tháp Cheop lại chọn địa điểm trên vùng đá giữa sa mạc làm nơi an nghỉ của mình. Có thể giểi ở đây sẳn một khe nứt tư nhiên ăn vào nền đá và ông tận dụng để xây dinh thụ đồ sộ của mình; cũng có lối giải thích khác: nơi đây cách cung điện mùa hè của ông ta không xa nên ông dễ dàng theo dõi tiến độ của công việc. Cả hai l‎ý do này đều trái với lẽ thường. Trường hợp thứ nhất không hợp lý vì địa điểm như thế ở xa mỏ đá và lẽ thường vị trí xây dựng cần gần mỏ đá để thu ngắn khoảng cách vận chuyển; trường hợp thứ hai khó hình dung nổi vị Pharaoh lại muốn những năm cuối đời của luôn bị xáo trộn hết năm này qua năm khác, cả ngày lẫn đêm, bởi tiếng ầm ỉ của công việc xây cất.    

“Từ đó quá đủ để nói ngược lại những lời giải thích trong sách về việc chọn địa điểm xây dựng, thứ nhất khá hợp l‎ý khi hỏi có phải ‘các vị thần’ không nói gì với họ cả; thứ hai không nói cả với giới giáo sĩ. Thế nhưng nếu lời giải thích đó được chấp nhận, lý thuyết của tôi về quá khứ Không tưởng của loài người lại một lần nữa có thêm chứng cứ quan trọng. Kim Tự Tháp không chỉ phân chia các lục địa và đại dương làm hai phần bằng nhau, mà nó còn là trọng tâm của các lục địa nữa. Nếu các sự kiện ghi nhận ở đây không phải là điều trùng hợp – và dường như khó tin là như vậy – thì địa điểm xây dựng bởi nhân vật có khả năng hiểu rõ tất cả các hình thể ngoại vi của Trái đất cùng với sự phân bố của các lục địa và đại dương.

“Với sức mạnh nào, với “máy móc” nào, với nguồn kỹ thuật nào mà cả nền đá được đội lên? Các nhà xây dựng bậc thầy này làm thế nào đào các đường hầm sâu xuống đất? Ở đây không có những lăng mộ ăn sâu vào đá cũng không có nguồn cảm hứng hay thứ gì khác tương tự. Ở đây không có vách hay trần đen thui, thậm chí chẳng có dấu vết nhỏ nhoi mnào về điều đó. Vậy các khối đá được cắt như thế nào và với phương tiện gì ở các hầm mỏ đá? Với cạnh sắc bén và mặt nhẵn à? Làm thế nào họ vận chuyển và ghép nối chúng với nhau chính xác đến phần ngàn inch?Có biết bao lời giải thích để tha hồ lựa chọn: mặt nghiêng, và các vết ăn dọc các khối đá khi bị đẩy đi, giàn giáo và giàn trượt. Và dĩ nhiên có cả công sức lao động của hàng trăm ngàn nô lệ Ai cập nữa: nông dân, thợ xây, nghệ nhân.    

“Không có lời giải thích nào đứng vững trước sự khảo sát đầy phê phán. Kim Tự Tháp Lớn (và những di tích?) thể hiện một chúc thư kỹ thuật, thứ kỹ thuật không được lưu truyền đến ngày nay. Ngày nay, ở thế kỷ 20, không nhà kiến trúc nào có thể tái tạo được bản sao của Kim Tự Tháp Cheops, thậm chí cả khi mọi nguồn lực từ khắp các lục địa sẳn sàng cho ông ta sử dụng. 

“2.600.000 khối đá khổng lồ được cắt ở các mỏ đá, lấy ra và chuyển tải, rồi gắn khớp vào nhau nơi công trường xây dựng với độ chính xác phần ngàn inch. Và phía trong sâu, nơi các hành lang, các bức vách được vẽ bằng màu.

“Công trình Kim Tự Tháp là thú chơi ngông của Pharaoh?

“Kích thước kinh điển vô song của Kim Tự Tháp tình cờ đến với nhà xây dựng bậc thầy ư.

“Hàng trăm ngàn thợ thầy đẩy và kéo những khối trọng lượng nặng 12 tấn lên theo giàn trượt có (hay không có) dây và có (hay không có) trục lăn.

“Chủ nhân các người thợ ăn (hay không ăn) ngũ cốc để sống.

“Họ ngủ có (hay không có) lều qua đêm dựng bên cạnh cung điện mùa hè của Pharaoh.

“Có chăng chuyện người thợ nỗ lực làm việc theo tiếng ‘hò dô ta’ thôi thúc qua (hay không có) thiết bị tăng âm và cứ thế các khối nặng 12 tấn đấy ngược lên trời.

“Nếu những người thợ chuyên cần hoàn tất công việc diệu kỳ đặt những khối đá chồng lên nhau với tốc độ 10 khối mỗi ngày, muốn lắp rắp hai triệu rưỡi khối đá để tạo nên một Kim Tự Tháp kỳ vĩ họ phải mất khoảng 250.000 ngày = 664 năm. Vâng, và xin chớ quên rằng toàn bộ sự việc đã hoàn thành theo đúng thú ngông của vị vua quái gỡ, nhưng ngài chẳng kịp thấy sự hoàn tất dinh thự của riêng mình.

“Dĩ nhiên thuyết này không đủ thuyết phục, nghiêm túc mà nói còn lố bịch nữa là khác. Vậy ai có thể ngây thơ đến mức tin rằng Kim Tự Tháp được dựng lên không có mục đích nào khác ngoài việc làm ngôi mộ cho vua chúa. Từ nay ai có thể xem việc truyền các tín hiệu thiên văn và toán học chỉ là chuyện tình cờ?

“Ngày nay chẳng ai dám tranh cãi việc Pharaoh Khufu có phải là người có cảm hứng và là người xây dựng Kim Tự Tháp lớn hay không. Vì sao? Vì tất cả các thư tịch và bi ký‎ đều cho thấy đó là Khufu. Đối với riêng tôi, dường như Kim Tự Tháp không thể xây xong trong một kiếp người. Tôi cho rằng dường như Kim Tự Tháp không thể được dựng dựng xong trong khoảng một đời người. Thế thì sao Khufu lại cố dựng lên những bia k‎ và kinh văn nêu danh tiếng của mình? Chẳng qua đó là một thủ tục thời cổ xưa, nhiều công trình còn in dấu những chứng cứ như vậy. Bất cứ khi nào một lãnh tụ độc tài muốn vang danh mình lên, ông ta cứ việc ra lệnh và chuyện này phải diễn ra. Nếu quả là như vậy thì Kim Tự Tháp đã có trước Pharaoh rất lâu rồi, sau đó ông ta mới ghé đến tham quan.

“Trong thư viện Bodleian Library ở Oxford có tập bản thảo viết bằng chữ Copic, tác giả Mas-Udi khẳng định chính vua Ai Cập Surid đã xây dựng Kim Tự Tháp Lớn. Thật kỳ quặc, Surid là vị Pharaoh trị vì Ai Cập trước thời Đại Hồng Thủy. Vị minh quân Surid đã ra lệnh cho các tu sĩ của ông ta hạ bút viết về sự khôn ngoan của ông và niêm bản văn lại cất trong Kim Tự Tháp. Vậy theo truyền thuyết Copic, Kim Tự Tháp phải xây dựng lên trước thời Đại Hồng Thủy.

“Trong tập 2 cuốn History (Lịch sử), Herodotus có xác định một giả thuyết. Các giáo sĩ vùng Thebes có cho ông xem 341 pho tượng khổng lồ, mỗi tượng tượng trưng cho một đời Đại giáo sĩ vào thời đại cách nay 11.340. Hiện nay chúng ta biết rõ mỗi đời đại giáo sĩ đều có tạc tượng cho mình, và Herodotus cũng cho chúng ta biết rằng trong thời gian ông ta ở Thebes hết giáo sĩ này đến giáo sĩ khác cho ông ta xem bức tượng của mình coi như là bằng chứng giáo sĩ đó luôn theo đúng con đường của tổ sư. Và các giáo sĩ cam đoan với Herodotus chuyện này hoàn toàn chính xác, vì họ đã ghi chép lại mọi chuyện suốt nhiều thế hệ rồi họ giải thích mỗi bức tượng tượng trưng cho một thế hệ và trước 341 thế hệ này từng có những vị thần chung sống với loài người, nhưng sau đó các vị thần không còn trở lại thăm dưới dạng hình hài của loài người nữa.

“Thời kỳ lịch sử của Ai Cập thường được ước tính khoảng 6.500 năm. Vậy sao các tu sĩ không biết hổ thẹn khi nói dối với Herodotus đến khoảng 11.340 năm? Và tại sao họ dám nhấn mạnh các vị thần không còn ở với họ suốt 341 thế hệ? Các chi tiết cụ thể này hoàn toàn vô nghĩa nếu như ‘các vị thần’ không từng chung sống với họ thời quá khứ xa xôi.

“Rồi tiếp nữa chúng ta chẳng biết gì về chuyện làm thế nào, tại sao và khi nào Kim Tự Tháp được xây dựng. Đó là một ngọn núi nhân tạo, cao 490 bộ (feets), nặng 31.200.000 tấn, đứng sừng sửng nơi ấy như một thành tựu khó tin nổi và đền đài đó không dùng cho mục đích nào khác hơn là nơi an táng một vị vua gàn rỡ! Ai cũng có thề tin đó là lời giải thích đúng đắn …   

“Xác ướp của quá khứ xa xôi hiện hiện trước mắt chúng ta như là một bí mật thần bí chất chứa trong đó, cũng là chuyện khó hiểu và chưa có lời giải thích thuyết phục, Nhiều dân tọc khác nhau biết kỹ thuật ướp xác, và các phát kiến khảo cổ cho thấy rõ giả thuyết thời tiền sử con người tin có chuyện quay trở về sống một cuộc đời thứ hai, nghĩa là linh hồn quay trở về với thân xác. Kiến giải này có thể được chấp nhận nếu có chứng cứ trong quá khứ xa xôi nhất cho thấy có thứ triết học tín ngưỡng thời thượng cổ về đức tin có sự quay về lại với thân xác! Nếu tổ tiên thời ăn lông ở lỗ của chúng ta chỉ tin vào sự quay lại của linh hồn, họ sẽ chẳng hoảng sợ đối với cái chết. Thế nhưng các phát hiện trong những lăng mộ Ai Cập hết ví dụ này đến ví dụ khác về chuyện ướp xác để chuẩn bị cho sự quay về với thân xác.

“Vết tích đó nói lên điều gì, bằng chứng đó nói lên điều gì, phải đâu chúng chỉ là những điều phi lý! Các bức họa và các truyền thuyết dân gian vạch ra rằng ‘các vị thần’ sẽ từ các vì tinh tú quay trở lại để đánh thức các thân xác được bảo quản tốt, sẽ sống một cuộc đời mới. Đó là l‎ý do vì sao phải ướp xác và đặt trong phòng quàn như là một dạng nghi thức. Mặt khác, tiền bạc, vàng vòng và những đồ yêu thích tùy táng theo gồm những gì? Có chôn theo những người hầu, hẳn nhiên là chôn sống, như là sự chuẩn bị để tiếp nối cuộc đời cũ qua cuộc đời mới? Các lăng mộ hết sức bền chắc, như là hầm trú bom nguyên tử; có thể tránh được sự tàn phá của thời gian. Đồ qu‎ý giá mang theo họ, tức vàng và ngọc, là những thứ không thể phá hủy ảo. Ở đây tôi không quan tâm tranh luận về việc lạm dụng ướp xác.

“Tôi chỉ quan tâm đến câu hỏi: ai đã đưa ý niệm hồi sinh thân xác vào trong đầu các pharaoh? Và do đâu ý tưởng ban đầu cho rằng các tế bào trong cơ thể phải được bảo quản ở một nơi chắc chắn, sao cho thân xác được đánh thức dậy mấy ngàn năm sau đó và tiếp nới một kiếp sống mới?

“Quan điểm tín ngưỡng về một sự đánh thức huyền bí là như vậy. Liệu khi biết chắc bản chất và thói quan của ‘thần linh’ hơn cả chính mình, các pharaoh có còn bị coi là có ‎ý tưởng điên rồ nữa hay không khi nói: ‘Ta phải được an táng ở một nơi của riêng ta, nơi không bị phá hủy suốt hàng ngàn năm và các vị thần sẽ trở lại và đánh thức ta dậy (hay một thầy thuốc trong tương lai sẽ khám phá ra cách làm ta sống lại)’.”

Cách đặt vấn đề của tác giả nghe qua hữu l‎ý, dễ được những tâm hồn thích chuyện ly kỳ tán thưởng. Nhưng xét cho kỹ có nhiều điểm cần suy nghĩ lại, xin dẫn một vài ví dụ:

Thứ nhất, khi đang nói về Kim Tự Tháp, tác giả quay qua lăng mộ: “Giữa lăng mộ của vua Tety hồi triều đại thứ 6 và lăng mộ của Rameses I thời Vương Quốc Mới cách xa nhau chí ít 1.000 năm chẳng có gì khác biệt nhau về kỹ thuật xây dựng. Rõ ràng người Ai Cập chẳng học được thêm điều gì mới để bổ sung cho kỹ thuật xưa cũ. Thực ra mà nói các dinh thự càng gần thời đại chúng ta càng nhiều sự sao chép nghèo nàn từ mô thức thời xa xưa[1]. Tác giả bỏ qua khoảng giữa là thời kỳ Kim Tự Tháp, nghĩa là thủ tiêu giai đoạn tiến hóa từ lăng mộ đất phơi qua Kim Tự Tháp tháp đá, rồi từ Kim Tự Tháp đá thoái lùi về hang mộ khoét trong núi đá do sự bất ổn xã hội và sự suy yếu của triều đình Pharaoh. Chưa kể Kim Tự Tháp có sự tiến hóa từ Kim Tự Tháp nấc thang qua Kim Tự Tháp mặt cong rồi mới đến Kim Tự Tháp đúng nghĩa hình chóp;

Thứ hai: Các khối đá tác giả đưa vào tính toán nặng tới 12 tấn, trong khi thực tế bình quân chỉ 4-5 tấn và càng lên cao khối đá càng giảm trọng lượng đi. Ngoài trọng lượng sai lệch trên, để chứng minh nếu không có sự trợ giúp của người ngoài Trái đất, ông cho rằng một đời người của Pharaoh Khufu không thể hoàn tất công trình này. Ông viết: “Nếu

những người thợ chuyên cần hoàn tất công việc diệu kỳ đặt những khối đá chồng lên nhau với tốc độ 10 khối mỗi ngày, muốn lắp rắp hai triệu rưỡi khối đá để tạo nên một Kim Tự Tháp kỳ vĩ họ phải mất khoảng 250.000 ngày = 664 năm.[1] Vâng, tính toán này sẽ đúng nếu đội thợ thực hiện Kim Tự Tháp chỉ khoảng trăm người. Tác giả cố tình bỏ qua khả năng có thể huy động nhân lực của các Pharaoh và quên xét đến di chỉ nghĩa trang của các công nhân xây dựng Kim Tự Tháp còn lưu lại quanh Kim Tự Tháp Cheop. Đặc biệt mâu thuẫn với một câu tác giả đã viết: “Hàng trăm ngàn thợ thầy đẩy và kéo những khối trọng lượng nặng 12 tấn lên theo giàn trượt có (hay không có) dây và có (hay không có) trục lăn [2]. Có lý đâu hàng trăm ngàn người mỗi ngày chỉ hoàn thành 10 khối đá, để kéo dài công trình 664 năm.

Thứ ba, tác giả dẫn các thư tịch cổ, truyền thuyết dân gian, như là bằng chứng “không thể chối cãi”. Thật ra, ngoài những sai lạc do tư tưởng thần bí thời xưa, các bản văn cổ luôn có cú pháp mập mờ có thể giải thích theo nhiều chiều hướng khác nhau. Thường khi sử dụng thư tịch cổ phải so sánh và đối chiếu chúng với nhau rất nhiều lần mới có thể tạm xác tín điều gì đó. Kỹ thuật viết của tác giả chỉ trích dẫn tủn mũn một vài đoạn thích hợp với điều tác giả muốn. Ví dụ việc ướp xác như đã trình bày xuất phát từ tín ngưỡng có sự phán xét ở dưới âm phủ, và cuộc sống thứ hai chính là cuộc sống trên thiên đường như đã nói ở phần đầu. Vì tin cuộc sống thứ 2 ở trên trời nên các Kim Tự Tháp đều có trục Bắc-Nam. Điều này được tác giả giải thích sẽ có người ngoài Trái đất đến làm sống lại.

Cách chứng minh như thế này là kiểu chứng minh “cho phù hợp với mục đích mình cần thuyết phục”. Tất nhiên như vậy thiếu tính khách quan cần thiết, vì sự “cắt khúc” và “bỏ sót” làm vấn đề nhiều khi quay ngược 1800. Đặc biệt kỹ thuật viết theo thể tài này được tác giả khai thác rất tốt: lối văn nửa hoài nghi nửa châm biếm, pha chút ‘khoa học’ có tính huyền hoặc. Nó có tác dụng lôi cuốn người đọc đi theo dòng lập luận của tác giả và cách nêu luận cứ có tính rời rạc nhưng rối nùi đến khó hiểu làm cho người đọc mất đi sức phán đoán. Tất cả cộng hưởng trở thành “rất thuyết phục”.

Hẳn tác giả cũng không nêu được hình ảnh nào khả dĩ thuyết phục cho thấy có người ngoài Trái đất tham gia xây dựng Kim Tự Tháp, nhưng tác giả viện dẫn ngoại suy hình ảnh nơi khác để liên tưởng có những cuộc đổ bộ xuống trái đất thời kỳ nhân loại còn mông muội. Nơi khác có hình ảnh của người ngoài Trái đất ghé thăm thì Ai Cập có lý‎ đâu là ngoại lệ với một công trình vĩ đại Kim Tự Tháp vào thời kỳ con người còn sơ khai. Phương pháp ngoại suy của tác giả trưng ra một số bằng cớ.

a.- Bức chạm trong ngôi đền Kim Tự Tháp của người Mayas ở Palenque, Mê-hi-cô

Tác giả chú: “Bức vẽ này thể hiện trong ngôi đền. Có thể nào trí tưởng tượng của người thời nguyên thủy thể hiện lại hình ảnh giống một cách kỳ lạ người phi hành gia đang ở trong con tàu sắp phóng? Ở cuối hình vẽ lại ngọn lửa và khí phụt ra từ động cơ đẩy. ” Và so sánh bới hình dưới đây kèm lời chú:

Phi hành gia Mỹ ngày nay cũng có tư thế giống hệt, tay điều khiển thiết bị còn mắt theo dõi kiểm tra.”

b.- Bức hình tìm thấy ở Ý

Tác giả chú: “Bức hình này xuất xứ từ Val Camonica, miền Bắc nước Ý, thể hiện hình ảnh người thời tiền sử lại có vành bánh răng đội trên đầu một cách dị thường.

c.- Hình vẽ ở sa mạc Sahara: hình này khá giống phi hành gia mặc đầy đủ trang phục khi ra khỏi phi thuyền:

Và ông đi đến kết luận đó chỉ có thể là người ngoài Trái đất đã từng đến viếng thăm Trái đất thời xa xưa.

*****

Trở ngược lại áp dụng phương pháp phản chứng hỏi tác giả: “Những nơi khác còn lưu lại dấu vết người ngoài Trái đất, có l‎ý đâu suốt mấy ngàn năm xây dựng Kim Tự Tháp, lại là Trung tâm Du hành, mà người AI CẬP không lưu lại vết tích gì của người khách đến từ không gian?” Rõ là Erich Von Daniken khó trả lời xuôi?

Dù sao nhiều câu hỏi của tác giả đã nêu nhiều bí ẩn về Kim Tự Tháp mà các nhà khoa học còn phải làm việc nhiều mới giải đáp nổi. Câu chuyện về Kim Tự Tháp vẫn còn dài. Thú thật vấn đề này vượt ngoài tầm hiểu biết của tôi, xin chờ bậc cao minh chỉ giáo.

**************************************************

[1] Cuốn sách này xuất bản bằng tiếng Đức năm 1968 và dịch qua tiếng Anh năm 1969. Vào đầu thập niên 1970 một số tạp chí ở Sài Gòn có trích dịch lại.

[2] There is no difference between the tomb of Tety from the sixth dynasty and the tomb of Rameses I from the New Kingdom, although there is a minimum of 1,000 years between the building of the two tombs. Obviously the Egyptians had not learnt anything new to add to their old technique. In fact the more recent edifices tend increasingly to be poor copies of their ancient models.

[3] If the industrious workers had achieved the extraordinary daily piece rate of ten blocks piled on top of each other, they would have assembled the two and a half million stone blocks into the magnificent stone pyramid in about 250,000 days = 664 years.

[4] Several hundred thousand workers pushed and pulled blocks weighing 12 tons up a ramp with (non-existent) ropes on (non-existent) rollers.

Còn tiếp

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 2: Các Kim Tự Tháp ở Ai Cập (tiếp theo)

Biên Khảo : Đức Chính

D.- Quần thể Kim Tự Tháp ở Dahshur:

Nằm phía Nam quần thể Saqqara. Nhiều Kim Tự Tháp ở quần thể này chỉ còn lại những phế tích như Kim Tự Tháp Sesostris III hay Kim Tự Tháp Ameny Kemau (phát hiện năm 1957). Người ta chỉ biết chúng qua những nghiên cứu những dấu vết còn sót lại và qua đó biết được quy mô lúc ban đầu.

Tại quần thể này có một Kim Tự Tháp mặt cong và một Kim Tự Tháp khác được mệnh danh là Kim Tự Tháp đỏ: Kim Tự Tháp Snefru. Đặc biệt, Dahshur có hai Kim Tự Tháp mang tên Amenemhet III: một màu trắng và một màu đen.

1.- Kim Tự Tháp Cong:

Được xây dựng cho Pharaoh Snefru (2680-2565 trước Công nguyên), người khai sáng triều đại thứ IV. Kim Tự Tháp này chỉ là 1 trong 3 (thậm chí là 4) Kim Tự Tháp được xây dành cho vị đế vương này. Một trong 2 Kim Tự Tháp còn lại là Kim Tự Tháp Đỏ (nằm phía bắc) sẽ nói ở dưới.

Kim Tự Tháp này đánh dấu một bước chuyển tiếp từ Kim Tự Tháp bậc thang qua Kim Tự Tháp hình chóp. Nhưng có giả thuyết cho rằng hình cong đó là do muốn hoàn thành nhanh công trình nên thu nhỏ phần ngọn. Cũng có giả thuyết cho rằng vì Kim Tự Tháp xây trên nền địa chất không vững (nền cát và đá phiến sét) nên giữa chừng phải giảm khối lượng.

Kim Tự Tháp này có hai độ dốc: phần dưới độ dốc 520, phần uốn cong bên trên là 4305. Công trình kéo dài hơn 20 năm và huy động nhân lực và vật lực rất lớn. Theo tài liệu cổ thời Pharaoh Snefru thuế má rất nặng nhằm đáp ứng sự ham thích xây nhiều Kim Tự Tháp của ông.

Có hai lối vào bên trong Kim Tự Tháp. Lối thứ nhất nằm ở mặt phía Bắc, cách mặt đất khoảng 12 m dẫn đến gian phòng ở trên. Lối thứ 2 nằm ở mặt phía Tây chỉ cao hơn mặt chút út, dẫn xuống gian phòng bên dưới. Cả hai gian phòng này có kết cấu sàn bằng đá khối dày 4 m.

2.- Kim Tự Tháp Đỏ Snefru:

Nếu màu đỏ củ kỳ quan Kim Tự Tháp Khufu do lớp đá graphit đỏ ốp bề mặt, thì Kim Tự Tháp Snefru khiêm tốn hơn do xây dựng bằng loại đá vôi màu đỏ và hồng nhạt. Công trình này rất đồ sộ, chỉ thua Kim Tự Tháp Lớn Khufu chút ít. Nó cao 104 m, dốc nghiêng 43022” và được đánh giá là Kim Tự Tháp hình chóp ó niên đại cổ nhất hiện nay còn tồn tại.

Cửa vào bên trong cũng ở mặt Bắc như bao Kim Tự Tháp khác, nối với một hành lang dài khoảng 80 m dẫn đến hai gian phòng nằm tách biệt nhau. Ngoài ra còn có một lối đi khác dẫn vào gian phòng thứ 3. Nhưng trong các gian phòng đó không có dấu vết cho thấy từng quàn xác vị Pharaoh này.

3.- Kim Tự Tháp Amenemhet III đen và trắng:

Kim Tự Tháp Amenemhet III đen cao 81,5 m, chiều dài đáy 105 m, góc nghiêng của vách 57°15’50”. Được xây bằng gạch ép đất sét không nung và đá basalt. Ngày nay chỉ còn phần đáy nằm trơ trọi giữa sa mạc.

Kim Tự Tháp Amenemhet III trắng có chiều cao và độ nghiêng không rõ, đáy dài 50 m. Đây là Kim Tự Tháp mặt cong (bent pyramid) và là Kim Tự Tháp xây trên vùng đất tháp nhất so với các Kim Tự Tháp khác (khoảng 10 m trên mực nước biển). Cộng thêm có một số sai lầm khác về mặt kiến trúc nên Pharaoh Amenemhet III không chọn nơi này làm nơi gửi thi hài: xây một Kim Tự Tháp khác ở Hawara.

Tác phẩm đầu tiên viết về Kim Tự Tháp này được thực hiện bởi nhà nghiên cứu Perring, người đã bỏ nhiều thời gian và công sức vào đây. Công trình cho biết miếu đường nối với Kim Tự Tháp bằng một lối đi nhỏ hẹp. Bên cạnh miếu đường có một sân rộng với 18 cột bằng đá granit. Lối vào bên trong cũng nằm mặt bắc và nối với một hành lang. Hành lang này kết thúc ở khu dự kiến dành cho các hoàng hậu. Phía bên phải hành lang này có một hành lang ngắn khác dẫn đến tiền sảnh và phòng dự kiến quàn xác ướp Pharaoh.

4.- Kim Tự Tháp Ameny Kemau:

Được đoàn nghiên cứu Mỹ phát hiện năm 1957. Nó là một Kim Tự Tháp nhỏ và trong tình trạng hư hại nặng nề, nằm phía Đông Nam bờ hồ cổ Dahshure. Khi khai quật các bình chứa hài cốt mới biết đây là Kim Tự Tháp của Pharaoh Ameny Kemau, một vì vua ít tên tuổi thuộc triều đại thứ 13 (thời kỳ trung gian thứ 2, đất nước Ai Cập suy yếu). Đến năm 1968, Maragioglio và Rinaldi mới nghiên cứu sâu thêm về cấu trúc của Kim Tự Tháp này.

Kim Tự Tháp Ameny Kemau cao 50 m, phần trên của kiến trúc gần như bị phá hủy toàn bộ. Dấu vết còn lại cho thấy lối vào nằm ở mặt Đông hơi chếch về hướng Bắc, nối với một hành lang dẫn đến nhiều gian phòng nhỏ trước khi được tiếp nối bằng lối đi có bậc thang dẫn ra hướng Bắc. Cuối lối đi này là phòng quàn xác ướp vị Pharaoh.

5.- Kim Tự Tháp Senusret III:

Được Morgan phát hiện vào khoảng thời gian 1894-1895. Nằm về phía Đông Bắc Kim Tự Tháp Đỏ Snefru.

Kim Tự Tháp này có nhiều dị biệt tôn giáo với các Kim Tự Tháp khác và là mốc đánh dấu một xu hướng xây dựng Kim Tự Tháp mới. Thường miếu đường và đền thờ được dựng phía Đông Kim Tự Tháp, nhưng trường hợp này nằm ở phía Nam. Lõi Kim Tự Tháp thường là khối đá nhưng với Senusret III xây bằng gạch bùn ép tạo thành những bậc thềm rộng.

Lối vào lại nằm ở sân lát gạch phía tây Kim Tự Tháp, chếch về phía góc Tây Bắc. Từ đó có một hành lang dốc xuống dẫn vào Kim Tự Tháp theo hướng Đông Tây. Sau đó hành lang này quẹo sang hướng Nam và dẫn đến tiền sảnh và phòng quàn xác ướp Pharaoh.

Phía Bắc Kim Tự Tháp ông Morgan còn phát hiện thêm các ngôi mộ của các bà hoàng. Người ta cho rằng phần trên các ngôi mồ đó (nay đã hư mất) là gò mộ có hình Kim Tự Tháp.

(còn tiếp)

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

 BÀI 2 : CÁC KIM TỰ THÁP Ở AI CẬP

Biên khảo: Đức Chính

Kim Tự Tháp ở Ai Cập quả là kiến trúc quá kỳ bí trước mắt mọi người, kể cả các nhà khoa học. Chúng đồ sộ đến mức người ta luôn đặt câu hỏi với phương tiện thô sơ thời xưa làm sao người Ai Cập có thể xây dựng được. Nhiều giả thuyết được đặt ra về cách xây dựng chúng sẽ đề cập ở Bài 3, song song đó có những huyền thoại được dựng lên nhằm giải thích Kim Tự Tháp. Tựu trung có hai huyền thoại được nhắc đến nhiều:

– Cư dân lục địa huyền thoại Atlamtis của Platon di dân đến Ai Cập sau khi lục địa này chìm. Họ dựng Kim Tự Tháp theo mẫu hình ở quê cũ;

– Do người ngoài Trái đất ghé lại và dựng lên.

Cả hai huyền thoại này ngoài việc thiếu cơ sở chứng cứ, vả lại còn có một mâu thuẫn mang tính lịch sử để bác bỏ: sự hình thành Kim Tự Tháp có một diễn trình nhất định qua các khảo cứu khai quật. Các Kim Tự Tháp hình chóp đúng nghĩa không đột nhiên xuất hiện trên đất Ai Cập mà là sự biến đổi dần từ hình thái thấp đến cao.

Vào thời tiền sử, các di chỉ khảo cổ cho thấy các thủ lãnh bộ lạc được chôn trong các hố ở sa mạc. Do điều kiện khí hậu nóng và khô ráo các thi hài thường khô đét lại thành xác ướp tự nhiên. Có lẽ vì hiện tượng này mà tín ngưỡng ướp xác ra đời.

Dưới con mắt thần quyền của người Ai Cập cổ đại, các thủ lãnh là hiện thân cho thần linh nên không thể vùi xác trong hố cát mãi. Họ đã dựng lên một gò mộ vuông vức cho các vị này vào Sơ kỳ thời Triều đại (năm 3000-2500 trước Công nguyên) bằng đất bùn phơi khô. Với loại vật liệu này các ngôi mộ không thể trụ đứng được với thời gian cho chúng ta ngày nay chiêm ngắm, nhưng các khai quật khảo cổ ở  Nagada và Hierakonpolis đã chứng  minh sự tồn tại của chúng vào thời kỳ này. Các khai quật cũng cho thấy người Ai Cập thời ấy bắt đầu có tục thờ thần Âm phủ Orisis (như Diêm Vương theo tín ngưỡng người Việt và người Hoa). Điều này chứng tỏ tín ngưỡng vãng sinh Ai Cập đã manh nha, nghĩa là họ đã có ý niệm tâm linh khá rõ về cái chết cách nay gần 5.000 năm.

Đến cuối thời Sơ kỳ Triều đại bước sang Thời vương quốc cổ (năm 2500-2100 trước Công nguyên) mới có những lăng mộ vững chắc mang hình thái của ngôi đền. Tại Meidum vẫn còn một lăng mộ được các nhà nghiên cứu cho rằng có lẽ của Pharaoh Snofru (triều đại thứ 4 thời Vương quốc cổ).

Lăng mộ này có những đàn tế nhỏ hình vuông ở trên nóc nên có thể coi là tiền thân của loại Kim Tự Tháp bậc thang thời Vương quốc cổ. Trước di tích này còn có nhiều lăng mộ của các pharaohs khác (triều đại 1,2 và 3) đơn giản hơn và ít kiên cố hơn, nay chưa phát hiện ra. Cho thấy Kim Tự Tháp là loại hình lăng mộ được phát triển từ đơn giản đến phức tạp, diễn trình của chúng tuân theo sự tiến hóa tâm linh thời Ai Cập cổ đại.

Qua thời Vương quốc cổ các pharaohs có quyền lực của một quân vương đúng nghĩa. Các vị này nắm giữ trong tay toàn bộ tài lực và nhân lực của Ai Cập với cơ chế quân chủ thần quyền. Quy mô tổ chức xã hội nhờ đó khá hoàn thiện và Kim Tự Tháp bậc thang với đòi hỏi tập trung tài nguyên và sức người cao đã ra đời. Trong cuốn The Penguin Historical Atlas Of Ancient Egypt – 1996, tác giả Bill Manley viết: “Thực sự nhiều dinh thự to lớn nhất trên đất nước do hoàng tộc triều đại thứ 3 và thứ 4 chiếm giữ, trong số đó có các tể tướng (vizirs) của triều đình. Nếu đây là mốc phù hợp để ấn định bước khởi đầu Thời Vương quốc cổ, vậy chắc hẳn Kim Tự Tháp bậc thang Negerykhet (hay còn có tên là Djoser) là Kim Tự Tháp bậc thang lớn và cổ nhất ở các phức hợp Kim Tự Tháp Sakkara được dựng lên dành cho các vị thánh vương[1]. Thế là từ gò mộ, sau khi chuyển tiếp lên thành đền thờ, đã bước đầu biến thành Kim Tự Tháp bậc thang.

Sau Kim Tự Tháp bậc thang là Kim Tự Tháp mặt cong (bent pyramid), một hình thái trung gian của Kim Tự Tháp hình chóp đúng nghĩa. Sự chuyển tiếp này không rõ vì yếu tố tâm linh gì, nhưng rõ ràng cho thấy trình độ kiến trúc thời đó đã có một bước tiến đáng kể. Với hình thái vuông vức rõ ràng dễ xây dựng hơn mặt cong.

Cuối cùng là Kim Tự Tháp hình chóp như chúng ta thường nghĩ. Loại Kim Tự Tháp này có mặt nhẵn bao gồm 4 mặt tam giác hội tụ ở đỉnh trên một đáy hình vuông. Từ mặt cong qua mặt nhẵn đòi hỏi một quá trình tích lũy kiến thức xây dựng lớn và lâu dài. Tiêu biểu Kim Tự Tháp hình chóp là Kim Tự Tháp Lớn Kheops (xem ở phần dưới).

Nhà Phật thường nói: “Có sinh ắt có diệt”, quy luật này đúng với Kim Tự Tháp. Đến thời Vương quốc mới (triều đại 18, 19 và 20) Kim Tự Tháp không được huy động xây dựng nữa, các pharaohs được mai táng trong cách hầm khoét sâu vào vách đá, như ở Thung Lũng Các Vì Vua ở Thebes (vùng Thượng Ai Cập) và Thung lũng Các Bà Hoàng. Khu di tích Thung Lũng Các Vì Vua có 62 ngôi mộ táng trong vách đá và được UNESCO công nhận là Di Sản Văn Hóa của nhân loại.

Hình như sự thay đổi này không do yếu tố tín ngưỡng, mà do yếu tố chính trị xã hội. Triều đại lúc bấy giờ suy yếu, quyền lực bị phân tán và xã hội bất ổn. Việc xây dựng Kim Tự Tháp tốn hao nhiều tài nguyên không thể thực hiện được.

*****

Cho đến nay, giới nghiên cứu cho biết có nhiều quần thể Kim Tự Tháp dọc bên bờ sông Nil. Ở bài này đề cập đến các khu:

– Quần thể Kim Tự Tháp ở Abu Rawash

– Quần thể Kim Tự Tháp ở Abusir

– Quần thể Kim Tự Tháp ở Dahshur

– Quần thể Kim Tự Tháp ở Fayoum

– Quần thể Kim Tự Tháp ở Giza

– Quần thể Kim Tự Tháp ở Saqqara

 

A.- Quần thể Kim Tự Tháp ở Abu Rawash: Khu Kim Tự Tháp này tuy nằm cách khu Kim Tự Tháp Giza vài cây số về phía Bắc nhưng ít người lai viếng vì còn quá ít điều để tham quan. Khu này hiện chỉ có Kim Tự Tháp Djedefre đáng chú ý , nhưng lại là phế tích. Còn cái gọi là và Kim Tự Tháp Lepsius chỉ là gò xây bằng gạch bùn.

1.- Kim Tự Tháp Djedefre: nguyên thủy cao 67m hiện hư hại nhiều, hiện chỉ còn là một đống đá di chỉ. Pharaoh Djedefre là triều vua thứ 3 của triều đại thứ 4, con trai của Pharaoh Khufu.

Dẫn vào Kim Tự Tháp có một con đường đắp cao từ hướng Đông-Bắc dẫn đến, cuối đường là lớp tường bao nay đã sụp lỡ nhiều đoạn. Bên trong khuôn viên có miếu thờ ở phía Đông và Kim Tự Tháp vệ tinh ở phía Nam. Kế miếu thờ có hố thuyền. Cũng như phần lớn các Kim Tự Tháp khác, phần lõi được xây dựng bằng loại đá từ nơi khác chuyển đến, còn phần ngoài làm bằng đá địa phương.


Bên trong khuôn viên tường bao người ta tìm thấy các mảnh vỡ của độ chừng 120 bức tượng, chủ yếu tạc hình pharaoh Kjedefre ngồi trên ngai vàng. Độ ba đầu tượng này được tìm thấy, một đang cất giữ ở Viện Bảo Tàng Louvre ở Paris và một ở Viện Bảo Tàng Ai Cập Cổ Đại ở Cairo.

Các nhà nghiên cứu từng cho rằng các pho tượng này bị người anh em cùng cha khác mẹ đồng thời cũng là người nối ngôi vị pharaoh Khafre phá hủy để báo thù cho người anh cùng cha khác mẹ khác là Kauab bị Kjedefre giết giành ngôi. Tuy nhiên giả thuyết này bị nhiều người phản bác, cho rằng các ngôi tượng bị các cư dân trong dùng phá hủy dần dà theo thời gian vì được bảo vệ kém (Kim Tự Tháp này nằm khác biệt lập)

2.- “Kim Tự Tháp” Lepsius: thực ra đây chỉ là kiến trúc bằng đá bùn nằm ở cực đông mũi đất nhiều gò núi, được đoàn khảo sát Lepsius phát hiện và họ tin rằng đó là Kim Tự Tháp. Nói đúng ra kiến trúc này đã được J. Perring phát hiện từ thập niên 1830, sau đó được Bisson de la Roque khảo sát chi tiết thêm và gần đây được nhà khảo cổ học Ai Cập NabilSwelim hoàn tất công trình nghiên cứu hồi giữa thập niên 1980.

Đây có phải là Kim Tự Tháp hay không vẫn còn là đề tài gây tranh cãi. Nhóm của nhà nghiên cứu Verner cho là không phải, còn nhóm của Lehner cho là Kim Tự Tháp bậc thang cấp tỉnh lẻ [2].

Có nhà nghiên cứu cho rằng kiến trúc này được dựng lên vào cuối triều đại thứ 3 (như trình bày ở trên là giai đoạn chưa có dấu hiệu rõ nét có sự xuất hiện Kim Tự Tháp), nhưng Verner cho rằng ít nhất phải vào triều đại thứ 5 hay thứ 6 (tức trễ hơn) và luận chứng rằng lõi của nó có khối đá mang từ nơi khác đến theo truyền thống Kim Tự Tháp.  Hiện nay một số nhà nghiên cứu tin nó là Kim Tự Tháp của Pharaoh Huni, hoặc giả là Pharaoh Neferka vì một số điểm sau:

Trong Kim Tự Tháp này có một khối đá mang từ nơi khác đến và gạch làm bằng đất bùn xây lên trên với độ nghiêng 75-76 độ. Với độ nghiêng này theo l‎ý thuyết lúc ban đầu nó phải cao 107 đến 150 m. Một hành lang dốc 25 độ theo trục Bắc-Nam dẫn xuống phòng mộ hình vuông và phòng mộ được bố trí theo trục đứng so với Kim Tự Tháp như thường thấy ở những cái khác.

(còn tiếp)


[1] In fact, many of the highest offices of the land were occupied by members of the royal family itself-including most of the vizirs of the 3rd-4th Dynasties. If there is a convenient marker for the beginning of  the Old Kingdom, then it is surely the Step Pyramid of Negerykhet (Djoser) at Sakkara, the earliest of the vast pyramid complexes of the god-kings.

[2] Kim Tự Tháp tỉnh lẻ, theo các nhà Ai Cập học, là những Kim Tự Tháp nhỏ, hình bậc thang và không làm lăng mộ.

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP


Read Full Post »

Bài 1: TÍN NGƯỠNG VÃNG SINH Ở NGƯỜI AI CẬP CỔ ĐẠI

Biên khảo: Đức Chính

Sống và chết là một vấn đề trọng đại của kiếp người. Hầu như tất cả các tôn giáo ra đời cũng vì do đó. Tín ngưỡng của Ai Cập cổ đại không thoát ra khỏi quy luật tâm thức tất yếu của loài người, tức trả lời câu hỏi: “Sau khi chết con người đi về đâu và sẽ ra sao?”, và hẳn nhiên nó gắn liền với nơi gửi thân xác của các Pharaohs sau khi băng hà: Kim Tự Tháp. Cho nên không thể không hiểu về nền văn hóa tín ngưỡng này khi đi lần mò vào những bí ẩn cửa Kim Tự Tháp.

Tín ngưỡng, hay cao hơn là một tôn giáo, là sản phẩm tâm thức suy tưởng của con người về cuộc sống trong trạng thái hướng về siêu nhiên. Nhưng sự trầm tư suy tưởng đó không thoát rời khỏi thực tế cuộc sống đang diễn ra trước mắt. Khi con người đứng trước một ngọn núi hung vĩ, trong tâm thức thấy mình nhỏ bé và yếu ớt trước sự vĩ đại của thiên nhiên, đã suy tưởng đến vị sơn thần đầy quyền phép. Không có ngọn núi đó không có vị sơn thần, tương tự người dân sống vùng hải đảo không núi non chẳng hề có sơn thần trong tâm thức mà thay vào đó là hải thần.

Người Ai Cập cũng vậy. Họ sống trong một bối cảnh tự nhiên hàng năm con sông Nil cứ dâng lên tràn ngập các cánh đồng. Tự nhiên có những trùng hợp của nó: thời điểm con nước sông Nil tràn bờ chính là lúc sao Sirius bắt đầu xuất hiện trên bầu trời Ai Cập. Kinh nghiệm tồn tích cho người Ai Cập cổ đại biết cứ đến lúc sao Sirius mọc ngay trước Mặt trời ló dạng là vào mùa lũ lụt. Nên họ sao này là Sao sông Nil hoặc gán cho vị thần Isis (gọi là Sao Isis). Việc thờ cúng sao Sirius được hình thành vào một thời điểm nhất định trong năm, tương tự như vùng Á Đông tế Nam giao vậy. Từ thời cổ đại người Ai Cập đã xây dựng ngôi đền Isis-Hathor ở Denderah. Tại ngôi đền này có ngôi tượng thần Isis, hướng về phía sao Sirius sẽ mọc lần đầu tiên trong năm, ngôi sao sẽ xuất hiện ngay điểm ngắm hòn ngọc đính trên tượng thần. Hàng năm các tu sĩ Ai Cập sẽ ngắm vào hòn ngọc đó chờ sự ló lên của sao Sirius ngay vị trí này và loan báo cho mọi thần dân biết.

Thần Isis, hay thần sao Sirius, là nữ thần sáng tạo chủ về sự phồn vinh và tình mẫu tử. Trong Tử Thư Ai Cập, thần Isis được ghi chép “Là nữ thần đã sinh ra Trời và Đất; Thần thấu hiểu cho cô nhi quả phụ, ban công lí cho người nghèo, và che chở kẻ yếu”. Cuộc sống sau khi chết sẽ trải qua nhiều giai đoạn cam go chép trong các kinh thư về cái chết và họ cầu mong nữ thần Osis che chở cho họ.

Kinh thư về cái chết có thể kể đến là:

Tử Thư Ai Cập: phiên bản cổ nhất cuốn sách này có niên đại vào khoảng những năm 1580-1350 trước Công nguyên, tập hợp lại từ hai bộ Quan Quách Thư, là sách chép lạo các bản văn khắc chạm trên quan quách các Pharaohs (năm 2000 trước Công nguyên) và Kim Tự Tháp Thư, các văn bia chạm trên vách Kim Tự Tháp (khoảng năm 2600-2300 trước Công nguyên).

Trong sách ghi lại các kinh, thần chú và những chỉ dẫn cho người quá cố đến cuộc sống khác sau khi chết. Trông sách cũng nói về các thử thách đối với người chết trước sự phán xét của thần Phán xét Thoth. Một trong những thử thách là cân trái tim người chết với một cọng lông hồng. Nếu người chết càng nhiều tội lỗi thì sẽ càng nặng hơn cọng lông. Nếu tội lỗi quá nhiều quỷ Ammit sẽ ăn mất quả tim bất chính đó. Trái tim là nơi chứa đựng tâm linh nên khi đó linh hồn sẽ bị lạc lỏng trầm luân. Còn nếu là tâm hồn chân chính sẽ được thần Anubis phết tẩm hương thơm để sống cuộc sống vĩnh hằng. Tục ướp xác (tẩm hương thơm bảo quản xác chết) từ tín ngưỡng này mà ra đời.

Để tránh điều đó, Tử Thư chỉ dẫn những cách tổ chức lễ nghi cúng tế và an táng người chết, cùng các thần chú bảo vệ vong linh. Các chỉ dẫn này được minh họa rất nhiều hình ảnh, đó chính là nét đặc sắc chung của cổ thư Ai Cập.

Quan Quách Thư (coffin texts): hay còn gọi là Sách Hai Con Đường (The Book of Two Ways): hồi sinh và lên trời. Quan Quách Thư là những bản khắc trên quan quách có từ thời các Thời vương quốc cổ (năm 2500-2100 trước Công nguyên), phát triển mạnh vào thời vương quốc thứ hai (năm 1975-1640 trước Công nguyên) cùng với việc xây dựng rầm rộ các Kim Tự Tháp vào thời đó. Chủ yếu là những câu thần chú bảo vệ các vong linh.

Bộ các bản khắc trên quan quách cổ nhất được tìm thấy ở ốc đảo Dakhla, có niên đại vào thời vương quốc cổ; bản ở Saqqara thuộc triều đại thứ 8; còn bản tìm thấy ở vùng châu thổ Aswan thuộc triều đại thứ 12.

– Kim Tự Tháp thư (Pyramid Texts): là những bức chạm chữ cổ Ai Cập và hình ảnh minh họa trên vách nội thất các Kim Tự Tháp. Dĩ nhiên niên đại của nó cũng là niên đại của Kim Tự Tháp, bộ cổ nhất có từ thời vương quốc cổ (năm 2500-2100 trước Công nguyên). Những bản khắc trên vách này miêu tả cuộc sống sau cái chết của con người dưới góc nhìn của người Ai Cập thời đó.

Nội dung đáng chú ‎í là chủ đề “Mở cánh cửa kép của Thiên đường” Người qua đời phải biết nương theo những vì tinh tú, như những nấc thang, để lên đó. Cùng với cách thức để mở cánh cửa Thiên đường, nơi họ sẽ sống mãi mãi.

Cách bố cục của những kinh sách này có nét hao hao ở các bộ kinh Vệ Đà của Ấn Độ. Kinh Vệ Đà cũng có nhiều bộ, có bộ nặng về các thần chú (Sâma Véda tức Sa-ma Vệ-đà 沙摩吠陀; Hán dịch “Ca Vịnh Minh Luận”), có bộ nặng về các nghi lễ cúng tế (Yajur Véda tức Dạ-nhu Vệ-đà 夜柔吠陀; Hán dịch “Tế Tự Minh Luận”), … Tuy nhiên bộ kinh Vệ Đà có niên đại trễ hơn nhiều (vài trăm năm, thậm chí cả ngàn năm).

1.- Từ tín ngưỡng vãng sanh …

Người Ai Cập cổ đại tin hai điều: có sự hồi sinh sau khi chết một thời gian và một cuộc sống khác trên thượng giới. Cái chết đối với họ chỉ là một sự gián đoạn tạm thời của sự sống chứ không là sự chấm dứt mãi mãi.

Nếu chỉ là tạm thời tức có lúc phải hồi sinh. Khi hồi sinh đòi hỏi trước tiên thân xác phải còn nguyên vẹn: tục ướp xác ra đời và gắn liền với kiến trúc Kim Tự Tháp. Xuất phát từ quan niệm tín ngưỡng nên kỹ thuật ướp xác không thoát rời khỏi các lễ nghi tôn giáo về tang ma. Và như đã nói ở trên, ướp xác nghi thức thừa nhận người đã khuất có tâm hồn thánh thiện của thần Anubis, tức được thừa nhận một cuộc sống mới vĩnh hằng.

Một nghi thức tang ma tiến hành đồng thời với các công đoạn ướp xác kéo dài 70 ngày. Trước khi tiến hành ướp xác các tu sĩ sẽ làm một số lễ nghi tôn giáo suốt 7 ngày. Sau đó, các cơ quan nội tạng được lấy ra khỏi cơ thể, riêng não lấy ra vào đường lỗ mũi. Phần còn lại của thân xác được làm khô trong hỗn hợp muối natron. Khi đã hoàn thành việc ướp xác, thi hài sẽ được quấn trong các lớp vải và phết các chất thơm, rồi đặt vào trong chiếc quan tài mang hình người. Nội tạng lấy ra trong cơ thể không bỏ đi mà cất giữ trong bốn chiếc tiểu (canopic jars) làm bằng đất nung hay bằng đá đục. Bốn chiếc bình này có nắp chạm hình đầu người, đầu khỉ, đầu chim ưng và đầu chó rừng. Đó là 4 con trai của thần Horus có nhiệm vụ bảo vệ linh hồn người chết.

 Tiểu đựng nội tạng xác ướp


 Quan tài hình người

Chiếc quan tài đó lại được đặt trong một cái quách bằng gỗ hay bằng đá có khắc chạm những câu phù chú như đã nói ở phần Quan Quách Thư.

Quách đựng quan tài bên trong

Cũng cần nói thêm khi quấn vải cho xác ướp xong người ta còn đeo thêm cho xác ướp một chiếc mặt nạ. Theo phong tục Ai Cập, chiếc mặt nạ này phải chạm giống khuôn mặt của người đã qua đời. Họ cho rằng chiếc mặt nạ này làm linh hồn người chết thêm vững mạnh khiến ma quỷ phải sợ hãi tránh xa.

Mặt nạ xác ướp

Khi thực hiện nghi thức ướp xác, vị tu sĩ phải đeo mặt nạ thần đầu chó rừng Anubis (con của thần Orisis; vị thần bảo hộ người chết và mang người chết về bên kia thế giới). Vị tu sĩ sẽ đọc những đoạn kinh nói về sự phán xét nơi bên kia thế giới, kể cả việc thần Anubis tẩm hương thơm cho vong linh người ngay thẳng. Tiếp đến là việc bọc vải và tẩm hương vào xác ướp. Khi việc xác ướp hoàn tất, vị tu sĩ sẽ đọc những đoạn kinh nói về các vị thần trên trời nương theo tinh tú di chuyển như thế nào và hướng dẫn vong linh người chết theo đó mà lên trời. Đường di chuyển đó trọng tâm noi theo thần Mặt trời Ra vào ban ngày, và thần Isis (tức sao Sirius) vào ban đêm.

Pharaohs được người Ai Cập cổ đại tin là hóa thân của một vị thần, tương tự như Đạt Lai Lạt Ma ở Tây Tạng hay Nữ Thần sống Kumari ở Nepal. Với vị thế tâm linh đó, lễ tẩn liệm một vị pharaoh phải do tu sĩ Ai Cập cao cấp nhất cử hành.

 

2.- … đến cấu trúc Kim Tự Tháp.

Kim Tự Tháp vừa là lăng mộ vừa là nơi thờ một vị pharaoh. Xin nhắc lại; theo tín ngưỡng Ai Cập cổ đại, mỗi vị pharaoh là hóa thân của một vị thần, nên Kim Tự Tháp có cấu trúc như một đền thờ.

Đền thờ ở Ai Cập tuân thủ theo giới luật Maat, nếu không thì thần linh không ngự trị trong ngôi đền nữa vì đền thờ là trung tâm của vũ trụ và là nơi giao tiếp với thần linh. Giới luật này còn quy định ngôi đền Ai Cập phải có 2 khu: khu ngoài dành cho tín đồ và các tu sĩ cấp thấp; khu trong chỉ có các vị tu sĩ cao cấp mới được vào. Đặc biệt phòng trong cùng chỉ có vị giáo chủ và pharaoh mới được phép. Chính nơi phòng trong cùng đó chứa đựng nhiều thư tịch bí truyền và tượng thần linh. Con đường dẫn vào các khu là những hành lang (galaries) chạm đầy hình ảnh và có các pho tượng dọc hai bên.


Thường ở hành lang Kim Tự Tháp không có tượng thần nhưng có nhiều hình khắc mô tả cuộc sống sau cái chết cùng các kinh văn liên quan (nhất là ở các gianphòng bên trong Kim Tự Tháp). Nó như là kim chỉ nam để các pharaoh không lạc lối khi tìm đường về trời.

Nội thất Kim Tự Tháp cũng theo mô thức đó, cũng có tượng nhân sư phía trước như nhiều khu đền (tiêu biểu là đền Luxor ở Thebes). Tuy nhiên hình thái tổng quan bên ngoài không giống đền thờ như chúng ta thấy. Xây dựng thành hình chóp bốn mặt tam giác ắt phải có một í nghĩa nhưng đến nay chưa có lời giải đáp thỏa đáng vì sao.

Khu ngoài Kim Tự Tháp chính là gian sảnh đã mô tả trong hình vẽ ở “Lời Nói Đầu”, và thay cho phòng trong cùng của đền thờ là nơi để xác ướp của pharaoh. Bên dưới nữa thường có một gian ngầm, có Kim Tự Tháp gian ngầm đó được đào sâu đến tầng đá móng của Trái Đất. Theo các nhà nghiên cứu gian ngầm dùng để chứa các báu vật mang theo cho các vị pharaohs sử dụng. Nhiều Kim Tự Tháp có bố trí cả những gian quàng thu hài hoàng hậu và phi tần nằm một bên phòng quàn xác ướp pharaoh.

Kim Tự Tháp thường có hai đường ống thông chỉa thằng lên phương bắc bầu trời (bắc thiên cầu). Một đường ống đi vào phòng của hoàng hậu nằm ở dưới và một đường ống đi vào phòng quàn xác ướp Pharaoh nằm ở trên.

Bắc thiên cầu là nơi hội tụ chòm sao Bắc Đẩu mà người Ai Cập gọi là những vì sao bất tử bởi nó luôn luôn xuất hiện chứ không lặn đi như một số tinh tú khác. Đường ống hướng đến chòm Bắc Đẩu luôn xuất phát từ phòng quàn xác ướp Pharaoh, người Ai Cập tin rằng đó là những bậc cầu thang đưa vị Pharaoh băng hà lên trời. Nơi thần linh ngự chính là vùng cực bắc thiên cầu mà người Trung Hoa gọi đó là Tam Viên.


Tuy nhiên đây chỉ là những kiến thức sơ đẳng về Kim Tự Tháp. Cho đến ngày nay loại kiến trúc này vẫn còn tồn đọng nhiều ẩn số làm các nhà khoa học nát óc.

(còn tiếp)

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .


 

 

 

 

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP


Read Full Post »

Những bài Kim Tự Tháp được tác giả Đức Chính cung cấp cho blog Khanhhoathuynga để bạn đọc cùng tham khảo . Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

Thay mặt độc giả , Khanhhoathuynga xin chân thành cảm ơn Đức Chính đã cung cấp cho blog những tư liệu quý giá trong suốt thời gian qua .Kính chúc tác giả Đức Chính luôn mạnh khỏe và vạn sự như ý . Một lần nữa xin được chân thành cảm ơn Đức Chính .

Kim Tự Tháp Ai Cập

Lời nói đầu: Khái quát về Kim Tự Tháp

Chúng ta quen dịch từ paramid của tiếng Anh hay paramide của tiếng Pháp là Kim Tự Tháp (ngọn tháp hình chữ ‘kim’ 金) là vì hình dáng của loại tháp này có nét hao hao tự dạng này chứ hoàn toàn không mang một tư tưởng nào liên quan đến ngữ nghĩa của nó. Từ paramid có nguồn gốc Hy Lạp (chứ không phải Ai Cập), dùng để chỉ những cấu trúc được lắp ghép bởi các mặt tam giác lại với nhau trên một đáy hình vuông hay chữ nhật.

Cũng như nhiều công trình kiến trúc cổ đại khác trên thế giới, Kim Tự Tháp gắn liền với tín ngưỡng và tôn giáo. Kim Tự Tháp thuở xa xưa chỉ là gò mộ cho các pharaohs, sau đó cách tân dần thành hình thái quen thuộc ngày nay. Tiến trình cách tân đó để lại một số ‎dạng Kim Tự Tháp khác nhau sẽ đề cập đến trong loạt bài này. Chúng ta sẽ thấy ở Ai Cập có loại Kim Tự Tháp bậc thang mà các nhà khoa học ngày nay vẫn chưa l‎‎í giải thuyết phục vì sao vùng Trung Mỹ cũng có loại hình Kim Tự Tháp này.

Người Ai Cập cổ đại tin có một cuộc sống khác sau khi chết, cuộc sống mới mà ai cũng mơ ước tới là cuộc sống trên trời cùng các thần thánh. Các pharaohs không là ngoại lệ, các đấng quân vương này thật sự khao khát hội ngộ chư thần ở trên trời. Nhưng khác với các tầng cấp xã hội khác, các pharaohs chuẩn bị rất kỹ cho con đường này: Kim Tự Tháp. Ý nghĩa của nó được trình bày khá chi tiết trong bộ sách tối cổ “Tử Thư Ai Cập” (Egyptian Book of Death) cách nay 3400-3500 năm, tức vào khoảng năm 1400-1500 trước Công Nguyên. Thực ra cuốn sách này chỉ biên thuật lại những bản đá chạm trong các Kim Tự Tháp dùng để hướng dẫn các vong linh pharaohs theo đó mà đi về với thần linh. Những bia kí‎ này được các nhà Ai Cập học gọi là sách Kim Tự Tháp.

Họ tin rằng trên bầu trời có những ngôi sao dẫn đường và vong linh pharaohs theo đó mà đi. Chính vì thế nên các Kim Tự Tháp luôn tuân theo một hướng nhất định và bố trí trên một địa bàn nhất định. Cho đến nay người ta thấy các quần thể Kim Tự Tháp luôn nằm về tả ngạn sông Nil (trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi), làm chúng ta liên tưởng sự bố trí các lăng tẩm Triều Nguyễn cũng tương tự như thế bên bờ sông Hương. Có khác chăng khu lăng tẩm triều Nguyễn nằm vùng thượng du, còn Kim Tự Tháp ở hạ nguồn.

Tử Thư Ai Cập cũng mô tả các giai đoạn linh hồn phải trải qua sau khi chết cũng khá tương đồng với Tử Thư Bôn giáo Tây Tạng, loại kinh sách mà sau này Tịnh Độ Tông của Phật Giáo nương theo làm các lễ tuần thất. Các giai đoạn sau cái chết này có liên quan mật thiết đến cách bố trí nội thất của Kim Tự Tháp. Trong lối bố trí mà các phần sau sẽ nói chi tiết cho ta thấy các Kim Tự Tháp luôn có đường hầm dẫn đến nơi quàn thi hài đã ướp của các pharaohs và bên ngoài có đền thờ riêng như miếu thờ ở khu lăng mộ triều Nguyễn (khu tẩm và khu miếu thờ). Trang trí bên trong có sơ đồ bầu trời để các vị pharaohs không ‘lạc lối’ trong chuyến du hành cuối cùng.

Cho nên có thể nói Kim Tự Tháp là một biểu trưng rõ nét của khoa phong thủy Ai Cập có trước Trung Hoa mấy ngàn năm. Rất có thể những kiến thức này đã lan truyền qua Hy Lạp (trước Công Nguyên Hy Lạp có thời kỳ đô hộ Ai Cập) và theo chân người Aryan đi vào Ấn Độ. Xuất phát từ Ấn Độ theo chân Phật giáo và Mật giáo vào Tây Tạng, sau đó là Trung Hoa. Nhiều khả năng nền văn hóa Ai Cập Cổ Đại truyền đi khắp thế giới như thế, chứ không phải du nhập từ các nền văn minh khác về. L‎‎í do là niên đại của các Kim Tự Tháp rất cổ, cổ hơn rất nhiều so với sự khởi sinh các nền văn minh khác trên thế giới. Theo khảo cổ học, Kim Tự Tháp xuất hiện rất sớm, chẳng hạn như Kim Tự Tháp Djoser trước Công nguyên 2620 năm tức cách nay gần 5.000 năm. Việc xây dựng Kim Tự Tháp chứng tỏ Ai Cập thời đó đã có cơ cấu tổ chức xã hội cao, cấu trúc thượng tầng chính trị và pháp luật đã thay thế những quy ước xã hội. Nói khác đi xã hội Ai Cập thời đó đã vượt qua khái niệm văn hóa trở thành nền văn minh thật sự. Vào thời kỳ này chưa có chứng cứ khảo cổ đáng tin cậy về sự xuất hiện nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ ngoài các truyền thuyết.

Để có một cái nhìn khái quát về dòng thời gian, chúng ta nên lướt qua về các giai đoạn lịch sử của Ai Cập cổ đại. Lich sử cổ xưa của đất nước này có thể tóm lược như sau:

1.- Thời tiền triều đại (năm 5500-3000 trước Công nguyên): Ai Cập bắt đầu có những cộng đồng cư dân sống dưới hình thái bộ lạc dọc theo sông Nil. Những cộng đồng này dần dần tập trung lại ở Buto, Naqada, và Hierakonpolis tạo nền tảng cho sự hình thành xã hội. Tuy nhiên lúc đó các cộng đồng vẫn còn biệt lập nhau thành hai vùng Thượng Ai Cập (ở phía Nam) và Hạ Ai Cập (ở phía Bắc);

2.- Sơ kỳ thời triều đại (năm 3000-2500 trước Công nguyên): vào thời kỳ này hai vùng Thượng và Hạ Ai Cập hợp nhất lại với nhau. Do đó hình thái cai trị cũng bắt đầu xuất hiện và các triều đại phong kiến manh nha. Có nhiều nhà sử học cho rằng vào thời kỳ này đã có 3 triều đại trải qua với kinh đô đầu tiên là Memphis. Văn hóa và tín ngưỡng mai táng cũng hình thành vào cuối thời kỳ này và được đánh dấu bằng Kim Tự Tháp đầu tiên Djoser.

3.- Thời vương quốc cổ (năm 2500-2100 trước Công nguyên): các sử gia cho rằng thời kỳ này có 4 triều đại: triều đại thứ IV đến thứ VIII. Giai đoạn này văn minh cổ đại Au Cập lên đến đỉnh cao với nhiều Kim Tự Tháp được xây dựng lên. Việc xây dựng này gắn liền với tín ngưỡng thờ thần Mặt trời Ra và nó đã theo con đường thương mại lan đi xa, đến tận Nubia của Sudan.

4.- Thời kỳ chuyển tiếp thứ nhất (năm 2100-1975 trước Công nguyên): có ba triều đại từ IX đến XI. Sau thời kỳ phồn vinh, xã hội Ai Cập bắt đầu có những suy thoái. Chính trị hỗn loạn, trong vòng 200 năm thay đổi ba triều đại. Ai Cập lại bị chia cắt thành hai vương quốc.

5.- Thời vương quốc thứ hai (năm 1975-1640 trước Công nguyên): Ai Cập tái thống nhất dưới thời vua Theban (của triều đại thứ XI). Thời này có 4 triều đại: XI đến XIV, lãnh thổ đặc biệt mở rộng vào triều đại thứ 12. Lúc đó Ai Cập chinh phục cả vùng Hạ Nubia. Thời này có những cải cách xã hội lớn như xây dựng các công trình thủy lợi và phát triển nền văn học cổ đại mang đậm sắc thái tín ngưỡng.

6.- Thời kỳ chuyển tiếp thứ hai (năm 1640-1520 trước Công nguyên): đất nước Ai Cập lại bị phận liệt: các vua thuộc dòng Hyksos cai trị phương Bắc, dòng Thebans ở phương Nam. Sự suy yếu khiến Ai Cập mất dần các phiên quốc của thời kỳ trước.

7.- Thời kỳ vương quốc mới (năm 1520-1075 trước Công nguyên): dòng vua Thebans hùng mạnh trở lại đánh đuổi dòng Hyksos và tái thống nhất Ai Cập. Thời kỳ này Ai Cập trở thành một đế quốc thôn tính Syria, Palestin, và Hạ Nubia.

8.- Thời kỳ chuyển tiếp thứ ba (năm 1075-715 trước Công nguyên): đất nước Ai Cập lại bị xâu xé: các đại giáo sĩ cai trị Thebes, phần còn lại do các tộc dân xứ Libya chiếm cứ.

9.- Thời kỳ cuối (năm 715-332 trước Công nguyên): từ đất Kush, người xứ Nubia tiếm chiếm Ai Cập thiết lập nền cai trị Ba Tư suốt 5 thế kỷ. Trong thời kỳ này cũng có giai đoạn người Ai Cập giành lại được độc lập (404-332) nhưng lệ thuộc nhiều mặt.

10.- Thời La-Hy (năm 332 trước Công nguyên đến 395 sau Công nguyên): Alexander Đại Đế băng hà, vua Ptolemy lên kế vị ở Hy Lạp. Người La Mã và Hy Lạp đánh chiếm Ai Cập và học hỏi nhiều về văn hóa xứ này. Chính vì thế mà người La Mã đã xây dựng nhiều đền đài theo phong cách Ai Cập, cũng như một vài Kim Tự Tháp ở Châu Âu.

*****

Điều không thể chối cãi Ai Cập là cái nôi Kim Tự Tháp tương tự như Việt Nam là cái nôi của Trống Đồng vì là nơi có độ tập trung di chỉ với tần suất cao. Rải rác trên thế giới nhiều nơi cũng có loại kiến trúc này, nổi tiếng là Kim Tự Tháp của Trung Mỹ. Điều này chứng tỏ nền văn minh Ai Cập lan đi rất xa ngay từ thời cổ đại mà ngày nay lời giải thích cho các dòng truyền bá này vẫn còn là bí ẩn.

Chúng ta có thể kể ra:

1.- Kim Tự Tháp ở Hy Lạp. Sự có mặt của Kim Tự Tháp ở Hy Lạp không có gì đáng ngạc nhiên vì một thời kỳ cổ đại Ai Cập bị nước này xâm chiếm. Cho đến nay người ta phát hiện được trên đất Hy Lạp hơn 16 Kim Tự Tháp, niên đại cổ nhất là Kim Tự Tháp Hellinikon.

Kim Tự Tháp Hellinikon nằm ở rìa Tây Nam bình nguyên Argolid, gần phát nguyên dòng sông Erasinos (nay gọi là sông Kephalari). Ngày 9 tháng 2 năm 1995, Viện Hàn Lâm Athens công bố kết quả nghiên cứu Kim Tự Tháp này có niên đại vào khoảng năm 2720 trước Công Nguyên. Nhiều nhà nghiên cứu có nghi vấn về niên đại này vì nó có trước cả Kim Tự Tháp Lớn Cheops hay sao? Thời pharaoh Cheops xứ Ai Cập rất hung mạnh và chưa có chứng cứ sự giao lưu với Hy Lạp đủ để mang văn hóa Kim Tự Tháp qua xứ này.

2.- Kim Tự Tháp ở Sudan: Ngoài Ai Cập Sudan là nước có nhiều Kim Tự Tháp nhất (gần 220 tháp) nằm tập trung ở các vùng el-Kurru, Gebel Barkal, Nuri và Meroe. Điều này cũng dễ hiểu vì lịch sử cổ đại của Au Cập có nhiều giai đoạn thống trị Sudan. Được quan tâm nhiều nhất là quần thể Kim Tự Tháp ở Meroe trong đó có đền thờ thần Amun.

3.- Kim Tự Tháp ở Thổ nhĩ Kỳ: thực ra chỉ là lăng mộ và một ngôi đền thờ vua Antinochus I xây trên chóp một ngọn núi Kahta cao 2150 m. Kiến trúc này xây dựng vào năm 80-72 trước Công nguyên. Phần lăng mộ do con người kiến tạo chỉ cao 10 m, có dáng dấp Kim Tự Tháp nấc thang chóp bằng.

4.- Kim Tự Tháp ở Java, Indonesia: đó là đền Candi Sukuh có dáng dấp Kim Tự Tháp, một thời nơi này là Trung Tâm Phật Giáo xứ Vạn Đảo, nhưng sau đó hoang phế vì Đạo Hồi chiếm ưu thế. Điều kỳ lạ là tại đây có biểu tượng con rắn 2 đầu giống như thần vật Quetzalcoatl ở Châu Mỹ. Bí ẩn này làm đau đầu các nhà nghiên cứu.

5.- Kim Tự Tháp ở Tahiti: thuyền trưởng Cook có nói về Kim Tự Tháp này khi ghé thăm đảo. Đáng tiếc hiện không còn nữa, chỉ sót lại vài hàng cột. Đây chỉ là hình vẽ trong cuốn The Voyage of McDuff (Chuyến Du hành của McDuff),

6.- Kim Tự Tháp ở phía Tây đảo Samoa: là loại Kim Tự Tháp hình sao (đáy có 5 đỉnh như ngôi sao) hay còn gọi là gò mộ Pulemelei, được xây dựng bằng đá ba-zan. Công trình này cao 12 m, kích thước đáy 60×65 m, niên đại khá muộn khoảng 1100-1400 sau Công nguyên. Đây là công trình lớn nhất của người Đa Đảo (Polynesia).

7.- Kim Tự Tháp ở Trung Hoa: ở Trung Hoa có một số gò mộ được gọi là Kim Tự Tháp, lần đầu tiên được phát hiện là Kim Tự Tháp Trắng ở núi Tần Lĩnh, gần thành phố Tây An, vào năm 1945. Người phát hiện là phi công không lực Mỹ, James Gaussman, đã chụp ảnh Kim Tự Tháp này. Nhưng ảnh tư liệu đó không công bố suốt non nửa thế kỷ vì bị liệt vào tài liệu quân sự. Hai năm sau, Đại tá Maurice Sheahan nghe tin đã tìm kiếm và chụp lại, sau đó công bố trên tờ New York Times, số ngày 28 tháng 3 năm 1947.

Nổi tiếng nhất là gò mộ của Tần Thủy Hoàng. Bên trong ngoài các tượng đất nung quân lính, trên vòm khu quàn (gọi là tẩm) có dát châu ngọc theo vị trí các tinh tú trên bầu trời, rất trùng hợp với mô thức Kim Tự Tháp Ai Cập.

8.- Kim Tự Tháp ở Nhật Bản: là cụm lăng mộ thời Kofun (300-710 sau Công nguyên). Lớn nhất là lăng mộ của Daisen Kofun, cao 35 m và có chiều dàu khó tin 486 m. Đặc điểm của gò mộ này tuy có bậc thang và nhỏ dần khi lên cao như Kim Tự Tháp nhưng nhìn từ trên cao giống chiếc chìa khóa. Chẳng biết có nên xếp vào loại hình Kim Tự Tháp hay không, nên chỉ nêu ra đây để giới thiệu.

9.- Kim Tự Tháp ở Belize: nằm cách thành phố Belize, 30 dặm về hướng Bắc. Nói đúng hơn đây là một quần thể Kim Tự Tháp với khoảng 500 công trình, trên diện tích chừng 1,8 dặm vuông, của người thổ dân Mayas châu Mỹ dùng thờ thần Mặt trời. Nói không ngoa khu quần thể này là một thành phố tín ngưỡng tương tự như Thánh địa Mỹ Sơn ở Việt Nam hay Đế Thiên Đế Thích ở Cam-bốt.

Các Kim Tự Tháp nơi này đều xây theo dạng bậc thang, nổi tiếng trong quần thể này là Kim Tự Tháp Altun-Ha nằm cao hơn mặt nước biển đến 6 dặm. Kim Tự Tháp Altun-Ha có nhiều tác phẩm điêu khắc bằng đá qu‎í, đáng chú í nhất là tượng cái đầu thần Mặt trời Kinisch Ahau bằng ngọc thạch nặng hơn 4kg. Xin nói them người Ai Cập cũng thờ thần Mặt trời gọi là thần Ra, vị thần này rất được coi trọng và có rất nhiều hóa thân tùy theo từng thời điểm trong ngày.

10.- Kim Tự Tháp ở El Salvador: là một cụm Kim Tự Tháp nấc thang đỉnh bằng có tên Tazumal, một bộ phận của khu di chỉ Chalchuapa, Trung Mỹ. Các Kim Tự Tháp này vẫn còn là bí ẩn với nhiều nhà nghiên cứu.

11.- Kim Tự Tháp ở Guatemala: các Kim Tự Tháp này được xây dựng trong khoảng 500-250 năm trước Công Nguyên,nổi tiếng có Kim Tự Tháp Tikal. Các nhà nghiên cứu cho rằng Kim Tự Tháp Tikal là đài quan sát thiên văn thời xưa vì khi đến thời điểm hạ chí Mặt trời mọc ở vị trí phía bắc công trình, xuân phân và thu phân ở giữa và đông chí ở phía nam.

Nổi tiếng không kém là Kim Tự Tháp đôi (Twin Pyramids), là hai Kim Tự Tháp nấc thang đỉnh bằng bố trí theo trục Đông-Tây trên một đài cao. Hiện không còn nữa.

12.- Kim Tự Tháp ở Peru: hiện phát hiện ít nhất 10 Kim Tự Tháp ven bờ biển xứ này, nhưng phần lớn bị hư hại và mất ngọn, tiêu biểu là Kim Tự Tháp Huallamarca. Đó là di sản của dân tộc Vicus từng có thời phồn vinh nơi vùng đất này trước khi có sự di dân của người Tây Ban Nha. Dựa vào các mẫu gốm trang trí khai quật được, các nhà khảo cổ đánh giá chúng có niên đại khoảng từ năm 200 trước Công nguyên đến năm 300 sau Công nguyên.

13.- Kim Tự Tháp ở Bolivia: đất nước này nổi tiếng với Kim Tự Tháp Akapana, cao 59 bộ (feets). Ban đầu người ta chỉ cho là  ngọn đồi tự nhiên cho đến khi xây dựng tuyến đường sắt hồi thập niên 1900 mới khám phá ra đây là một Kim Tự Tháp. Nó được xây dựng vào khoảng năm 700 sau Công nguyên và chứa đợng nơi đây nhiều dấu vết buộc các nhà khảo cổ nghiên cứu mãi đến nay chưa chấm dứt.

14.- Kim Tự Tháp ở Ecuador: là phức hợp Kim Tự Tháp và gò mộ ở Cochasquí, gồm khoảng 15 Kim Tự Tháp gảy ngọn với vật liệu đất sét và nhiều gò mộ khác được xây dựng vào khoảng 950-1550 sau Công nguyên. Năm 1979 các Kim Tự Tháp này được công nhận di sản văn hóa nhân loại. Điều bí ẩn của nhóm Kim Tự Tháp này là được xây dựng ngay bên dưới đường di chuyển biểu kiến của Mặt trời dọc theo Trái đất. Phải chăng thời xa xưa người shamans đã sở hữu một kiến thức thiên văn rất cao.

Các nghiên cứu cho thấy đây là quần thể dùng để tế lễ thần Mặt trời của người shamans. Hiện tục tế lễ này vẫn còn duy trì ở dân bản địa vùng này vào ngày Đông chí.

15.- Kim Tự Tháp ở Mexico (Mê-hi-cô): đất nước này sở hữu một Kim Tự Tháp được coi là lớn nhất thế giới: Kim Tự Tháp Cholula (còn gọi là Kim Tự Tháp Tlachihualtepetl), vùng Puebla. Theo nghiên cứu phức hợp Kim Tự Tháp – Đền Thờ này xây dựng làm 4 giai đoạn, kéo dài từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 9 sau Công nguyên, để người Aztez thờ thần Quetzalcoatl. Kim Tự Tháp chính có đáy vuông 450×450 m và cao 66 m.

Ngoài ra miền Nam mexico, ăn lan qua các nước Guatemala, Belize, Tây Honduras, and El Salvador, còn có nhiều Kim Tự Tháp của người Mayas được dựng lên nhằm mục đích tôn giáo cách năm khoảng 3.000 năm, như các Kim Tự Tháp ở Chichen Itza, Kim Tự Tháp El Castillo (tức đền thờ Kukulkan), các Kim Tự Tháp thờ Nhật Nguyệt ở Teotihuacan, … (bài cuối sẽ dành nói riêng về Kim Tự Tháp Trung & Nam Mỹ)

16.- Kim Tự Tháp ở Bosnia: các Kim Tự Tháp ở Bosnia nằm quanh khi vực đồi Visocica. Các tác giả người Bosnia đưa ra một vài chứng cứ đây là công trình nhân tạo gây chú í của quốc tế, nhưng thuyết này bị một số học giả khác phủ nhận, cho đó là hiện tượng tự nhiên.

17.- Kim Tự Tháp ở Pháp: còn gọi là Kim Tự Tháp Falicon vì nằm gần thành phố mang tên này. Nó được xây dựng trên một hang động đá vôi gọi là Hang dơi (the Cave of the Bats), không đều cạnh và dáng hơi nghiêng. Không ai biết rõ nó được dựng lên vì mục đích gì, chỉ ước đoán do lính Lê Dương La Mã kiến để thực hành các nghi lễ tôn giáo có gốc Ai Cập.

18.- Kim Tự Tháp ở Ý: còn gọi là Kim Tự Tháp Cestius, một Kim Tự Tháp Ai Cập đúng nghĩa ở thành phố Rome. Nó được xây vào năm thứ 12 sau Công nguyên để làm lăng mộ cho Caius Cestius, viên Tổng trấn xứ Ai Cập của Đế chế La Mã. Kim Tự Tháp này có đáy vuông cạnh 22 m, cao 27 m, xây bằng gạch ốp đá hoa cương. Gian quàn thi hài ở bên trong dài 5,95 m, rộng 4,10 m và cao 4,80 m.

19.- Kim Tự Tháp ở Tây Ban Nha: còn gọi là Kim Tự Tháp Guimar vì ở gần địa danh này, nằm trên đảo Spain’s Canary. Guimar là loại Kim Tự Tháp có 6 bậc thang được phát hiện vào năm 1998. Trước đó cư dân trên đảo không nghĩ là Kim Tự Tháp, chỉ cho đó là cột đá núi lửa.

Đó là một phức hợp gồm ba Kim Tự Tháp mà theo nghiên cứu chịu ảnh hưởng của Kim Tự Tháp châu Mỹ, do Colombo du nhập về sau khi đi đến lục địa này.

20.- Kim Tự Tháp dưới đại dương: đây là một trong những ly kỳ thú vị về đề tài Kim Tự Tháp. Năm 1995, nhà thám hiểm biển người Nhật, Kihachirou Aratake, tình cờ khám phá một số cấu trúc kiến tạo của con người ở ngoài khơi đảo Yonaguni. Chúng chưa từng được giới khảo cổ nói đến và chẳng có thư tịch gì. Ít lâu sau một đoàn nghiên cứu khoa học của trường  Đại học Ryukyus, do GS Misaki Kimura lãnh đạo, đến thực địa và xác nhận đó là những kiến trúc kiểu Kim Tự Tháp của Ai cập, vùng  Lưỡng Hà hay ở Trung – Nam Mỹ. Nhiều phân tích cho thấy chúng có niên đại khoảng 8.000 năm, tương ứng với thời kỳ xây dựng Kim Tự Tháp ở Ai Cập. Cũng chính niên đại này đã gây nhiều tranh cãi trong giới sử học và khảo cổ học. Nhưng dù thế nào, chẳng ai chối cãi được nơi đáy đại dương đó từng có một nền văn minh cao mà loài người chưa từng biết đến.

Người ta cũng hay nói đến Kim Tự Tháp Walsh ở Châu Úc, nhưng nó không là công trình kiến trúc mà là Kim Tự Tháp tự nhiên. Nói khác đi chỉ là ngọn núi có hình Kim Tự Tháp cao 922 m.

*****

Tuy nhiên sức hấp dẫn của Kim Tự Tháp không dừng ở những điều kỳ bí ở sự phân bố của chúng trên Thế giới. Ngay câu hỏi cách thức xây dựng và mục đích xây dựng đã là một chủ đề thú vị nhưng lắm tranh cãi suốt mấy thế kỷ qua. Loạt bài viết này không nhằm mục đích giải đáp những bí ẩn đó, chỉ gợi lên một số hình ảnh về chúng để hầu chuyện cùng bạn đọc.

Đức Chính biên khảo

(còn tiếp)

This slideshow requires JavaScript.

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Nguồn Bảo tàng Guimet

Thần Visnu cỡi Kim Sí Điểu (Visnu Garudâsana)

Ngũ Hành Sơn, Việt Nam ( ?)

Nghệ thuật Chăm, nối tiếp Mỹ Sơn E1, thế kỷ 8-9

Bằng sa thạch, phong cách đa sắc muộn

Cao: 58 cm

Mã số: MA 3572

Tác phẩm này hiện vẫn còn bảo tồn rất tốt, thể hiện thần Visnu ngồi giạng chân cưỡi trên con Kim Sí Điểu (Garuda), vật cưỡi của thần. Vị thần này vốn có bốn tay cầm những bảo bối, hiện chỉ còn hai tay với món bảo bối: chiếc vỏ ốc và quả cầu. Thần đội chiếc mũ lễ hình bát giác, mặt có ria mép và chòm râu rậm ở cằm. Dái tai có xỏ lỗ đeo đồ trang sức quý. Nét mặt thần mang dấu ấn chủng tộc đặc trưng trong nền nghệ thuật Chăm. Thần mặc chiếc khố sampot ngắn, cưỡi trên con vật hình dáng kỳ lạ là Kim Sí Điểu (Garuda). Kim Sí Điểu là một con chim thần thoại (linh điểu) có thân hình người nhưng mang đầu chim. Kim Sí Điểu quỳ một chân chạm đất, hai tay ôm chân chủ nhân là thần Visnu. Qua quy chuẩn tạo hình Kim Sí Điểu và hình dạng tròn trịa của nó có thể thấy pho tượng này phỏng theo phong cách các xưởng chế tác miền Bắc Ấn.

Tác phẩm này đại diện cho các vết tích thời kỳ đa sắc muộn, nó gợi lại nhiều hình tượng nhiều màu sắc thời xưa kia.

Rất nhiều khả năng nguồn gốc pho tượng này thuộc Ngũ Hành Sơn (người Pháp dịch dảy núi Ngũ Hành Sơn là Montagnes de Marbre), thuộc huyện Ngũ Hành Sơn, tỉnh Đà Nẵng. Lưu ý các phong cách nghệ thuật của Champa thường mang tên khu di chỉ hay đền đài mà nó tiêu biểu. Nên pho tượng này được xếp vào thời kỳ nối tiếp phong cách Mỹ Sơn E1 (khoảng năm 650-730), là chứng tích cổ xưa nhất cho thấy có một thành phố Thánh địa Mỹ Sơn của người Chăm.

Đức Chính dịch và giới thiệu

*Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính biên dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ Tác giả Đức Chính.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm


Read Full Post »

Nguồn Musée Guimet

Bài 1: Điêu Khắc Chăm: kho tàng Việt nam

12 October 2005 – 6 February 2006

Triển lãm được tổ chức bởi Viện Bảo tàng Quốc Gia về Nghệ Thuật Châu Á Guimet với sự bảo trợ của Ngân hàng Crédit Agricole cùng đối tác tài trợ là Vietnam Airlines và La Maison de l’Indochine.

Thần voi Ganesha – Thánh địa Mỹ Sơn, tháp E 5 (tỉng Quảng nam – việt Nam) thuộc thế kỷ thứ 7, bằng sa thạch, cao 96 cm, đang bảo tồn ổ Bảo tàng Đà Nẵng. Cat.11 © Thierry Ollivier

Triển lãm này mang đến các kiệt tác từ hai bộ sưu tập chính về Nghệ Thuật Chăm ở Việt Nam: Bộ mang đến từ Đà Nẵng (48 tác phẩm) và bộ từ Viện Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh (15 tác phẩm) Thêm vào còn có 7 bức điêu khắc đang bảo tồn tại Thánh địa Mỹ Sơn (tỉnh Quảng Nam), 23 tác phẩm được tuyển chọn ra từ Viện Bảo tàng Guimet, 2 của Viện Bảo tàng Rietberg Museum ở Zurich, và 01 từ Viện Bảo tàng Guimet tại Lyon. Triển lãm này là một phần trong sự hợp tác giữa Việt Nam và Pháp nói chung, và đặc biệt hơn nữa giữa Viện Bảo tàng Đà Nẵng với Viện Bảo tàng Guimet nói riêng. Năm 2002, Viện bảo tàng Guimet đã phối hợp với Viện Bảo tàng Đà Nẵng khai trương xưởng phục hồi các tác phẩm điêu khắc, việc này thắt chặt mối quan hệ văn hóa lâu đời giữa Việt Nam và Pháp. Cuộc triển lãm này là một kết quả..

Thần Devi – Hương Quế (tỉnh Quảng Nam – Việt Nam, thế kỷ thứ 10, bằng đá, bảo tồn tại Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Cat.35 © Thierry Ollivier

Toàn bộ có tác phẩm điêu khắc bằng đá, đồng và quý kim tiêu biểu cho lịch sử và minh họa các tôn giáo của vương quốc Champa cổ từng nằm ở Nam Trung Bộ Việt Nam ngày nay, vương quốc này hiện không còn tồn tại. Các tác phẩm được trưng bày theo niên đại, từ tác phẩm cổ nhất hiện tìm được (khoảng thế kỷ thứ 5) cho đến tác phẩm cuối (khoảng thế kỷ 15), giúp có một cái nhìn về sự phát triển hệ tượng Chăm trước khi vương quốc Champa suy tàn dần vào thế kỷ 19.

Vài dòng lược sử

Tài liệu Trung Hoa có ghi chép từ cuối thế kỷ thứ 2 đã có một vương quốc tên Lâm Ấp, tiền thân của nước Champa, Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy vùng biên cương nước Lâm Ấp chịu sự đô hộ của một Đế quốc trong vùng là nước Việt Nam ngày nay, sau tách ra thành một nước độc lập gọi là Champa mà sách Trung Hoa quen phiên âm là Chiêm-bà. Mãi đến thế kỷ thứ 6-7, các công trình kiến trúc và điêu khắc mới có bằng chứng rõ nét sự tồn tại một nhóm quốc gia chịu sự Ấn hóa nằm dọc theo Miền Trung Việt Nam.

Tượng Phật Đồng Dương (tỉnh Quảng Nam, Việt Nam) thế kỷ thứ 8-9, bằng đồng, cao 108 cm, bảo tồn tại Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Cat.17 © Thierry Ollivie

Vương quốc Champa có nền văn hóa riêng mang dấu ấn của Ấn Độ về ngôn ngữ và tôn giáo: một số theo Phật giáo và một số theo Ấn giáo, ngôn ngữ là tiếng Phạn. Cổ sử của vương quốc này hiện chẳng còn bao nhiêu, nhưng thay vào đó các nghiên cứu văn bia khắc ở các đền đài, bằng tiếng Phạn và tiếng Chăm cổ, có giá trị rất lớn. Do vậy, nghệ thuật Champa hiển lộ ra là một trong những nền nghệ thuật cổ của Châu Á và Đông Nam Á. Nền nghệ thuật này mang lại những tác phẩm tinh tế và mang tính thừa kế nguyên thủy từ nền văn hóa Ấn Độ cổ đại.

Người Chăm

Người Chăm gốc dân tộc Nam Đảo (Austronesian) đến định cư dọc bờ biển và lưu vực các con sông thuộc Miền Trung và Miền Nam Việt Nam hiện nay từ Thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Hiện các nhà khảo cổ cùng thừa nhận nền văn hóa Sa Huỳnh (800-200 Trước Công nguyên) là dấu vết xưa nhất nói lên sự hiện diện của người Chăm trên miền đất này, mà cũng cho thấy nền văn hóa đó có tiếp xúc giao thương với Trung Hoa và Ấn Độ. Những điều này khẳng định từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên người Chăm đã tiếp nhận các nền tảng văn minh Ấn Độ: chữ viết và tôn giáo.

Phù điêu ở trán cửa: thần Vishnu ngồi trên rắn thần Ananta cuốn tròn . Trà Kiệu – Quảng Nam, bằng đá, cai 125 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo Tàng Đà Nẵng. Cat.53 © Thierry Ollivier

Từ thế kỷ thứ 10 người Chăm bị quân Đại Việt chinh phục và đẩy lùi dần về phía nam, ngày nay trở thành một trong 54 dân tộc ít người của Việt Nam với dân số 130.000 người, chủ yếu sống ở vùng Phan Rang. Ngiười Chăm bị xóa tên trên bản đồ địa chính trị vùng Đông Nam Á vào năm 1832 khi phần đất cuối cùng ở phía nam bị sáp nhập vào các tỉnh của Việt Nam. Thực tế vào thời kỳ này này phần lớn lãnh thổ trước đó là nước Champa đã bị bỏ phế suốt nhiều thế kỷ cho người Việt rồi và các đền đài đầy những tác phẩm điêu khắc để mặt cho thời gian tàn phá, bỏ mặc cho người mới đến chiếm đóng biến đổi chúng đi.

Một vài nét chủ đạo về nghệ thuật Chăm

Vào cuối thế kỷ 19 những người Pháp sinh sống ở Việt Nam bắt đầu quan tâm đến nền văn hóa cổ đầy những di tích kỳ ảo và cuốn hút này. Các bộ sưu tập đầu tiên do những tay nghiệp dư, nhất là ngững người được sự bảo trợ của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, đã kiểm kê, quét dọn và phục hồi các đền đài Champa. Trong một lần đưa ra triển lãm, các bức ảnh chụp của những lần khai quật đầu tiên ở hai khu di chỉ lớn Mỹ Sơn và Đồng Dương, cũng như ở nhiều di chỉ lớn khác, đã minh chứng cho chất lượng công trình của họ,

Trang trí bệ: vũ nữ quấn khăn; Trà Kiệu – Quảng Nam, thế kỷ thứ 10, bằng đá, cao 78 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.Cat.49 © Thierry Ollivier

Hệ tượng Chăm và tôn giáo

Đền đài Chăm được xây bằng gạch và trang trí bằng đá là những đền tháp được kiến trúc theo phong cách Nam Ấn. Chúng mang hình tượng ngọn núi thiêng, nơi trú xứ của các vị thần. Bộ tượng trong kỳ triển lãm này gắn bó với các đền tháp đó. Các nghiên cứu trước đây về nước Champa và nền nghệ thuật vương quốc này cho thấy ảnh hưởng Ấn Độ trên các đề nđài và tác phẩm đuêu khắc là điều rất dễ nhận ra. Các ngôi đền xây lên cho các vua Chăm (gọi là Kalan) là loại đền tháp làm nơi trú xứ cho thần linh được thờ cúng ngay tại Trần gian này. Nó gồm một ngôi đền theo phong cách Ấn Độ: vuông vức, thon nhỏ dần cho tới đỉnh với những tầng giả. Loại gạch dùng xây dựng mang tính đặc biệt của dân tộc Chăm suốt lịch sử của họ, chẳng có nước nào vùng Đông Nam Á dùng loại gạch giống vậy.

Bộ tượng ở các đền tháp này lưu giữ cả hai nền đồ tượng học của hai tôn giáo lớn ở Ấn Độ: Phật giáo và Ấn giáo, cùng với một số cách thể hiện thần linh khác. Đường nét điêu khác luôn luôn được cách điệu hóa, nhưng vẫn tồn động một vài nhân cách hóa. Suốt mấy ngàn năm tôn giáo chính ở xứ Champa là đạo Thấp-bà thờ thần Shiva (Shivaism). Dù rằng Ấn giáo thường hay được các quân vương bản địa ưu đãi, Phật giáo cũng được du nhập vào Champa. Sự duy trì tiếp xúc của người Chăm với Ấn Độ và Trung Hoa kể từ những thế kỷ đầu sau Công nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Phật giáo đến nước này. Các bộ sử Trung Hoa có ghi chép Phật giáo có mặt ở Champa từ thế kỷ thứ 5. .

Phật Bà Quan Âm, Hoài Nhơn – Bình Địn, thế kỷ 8-9, bằng đồng, cao 64 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. © Thierry Ollivier

Hai thế kỷ sau, một nhà hành hương Trung Hoa ghi nhận vương quốc Champa là một trong những nước rất tôn sùng Phật gíáo. Thời đó họ theo Phật giáo Đại thừa (Mahayana) với chứng tích là hình ảnh rất đại chúng Quan Thế Âm Bồ Tát, biểu tượng cho lòng từ bi và là một trong những nền tảng của Phật giáo Đại thừa. Nhưng đến thế kỷ thứ 8-9, sự hoằng hóa Phật giáo Đại thừa ở Champa bị thay thế, đó là kết quả của sự giao thương giữa vùng Đông Bắc Ấn Độ (ND: vùng lãnh địa của Ấn giáo) với Đông Nam Á.

Thế kỷ thứ 10 là thời hoàng kim của nghệ thuật Chăm.Nhiều đền đài thời kỳ nay còn lưu giữ đến chúng ta với tình trạng tốt cùng với số rất lớn các tác phẩm điêu khắc của các di chỉ như Khương Mỹ, Mỹ Sơn hay Trà Kiệu. Các tác phẩm vào đầu thời kỳ này (phong cách Khương Mỹ, tiền bán thế kỷ thứ 10) bảo tồn một số phong cách Đồng Dương: đền có đỉnh nhọn, vẽ mặt còn tương đối sắc nét. Ở giai đoạn thứ hai của chủ nghĩa cổ điển Chăm (phong cách Trà Kiệu, hậu bán thế kỷ thứ10 và đầu thế kỷ thứ 11), sắc thái dịu dàng hơn và các yếu tố tarng trí (nữ trang, y phục, v.v…) mềm mại hơn. Nhìn tổng thể họa tiết trang trí kiến trúc và đền đài của chúng đều khắc họa cùng một phối cảnh thanh thoát và thuần khiết.

Các di chỉ

Nam Thần; Đồng Dương – tỉnh Quảng Nam, cuối thế kỷ thứ 9 đầu thế kỷ thứ 10, cao 114 cm, bằng đá. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Đà Nẵng. Cat 23 © Thierry Ollivier

Mỹ Sơn

Mỹ Son, có nghĩa là “ngọn núi đẹp”, là một trong những di chỉ chính của Champa. Nằm ngay chính giữa một loại hình địa chất đài vòng, các ngôi đền kết lại thành một quần thể ôm ngôi đền chính ở trung tâm. Nằm tách biệt khỏi các đô thị và trung tâm thương mại, Mỹ Sơn từng mang đặc điểm riêng biệt của thần Shiva. Trong thời gian khai quật Mỹ Sơn vào năm 1903, Henri Parmentier đã phát hiện ra một bộ sưu tập vài pho tượng hết sức giống nhau.

Nhiều khả năng thuở ban đầu các pho tượng này được đặt trong một ngôi đền thu nhỏ ở dưới chân ngôi đền chính Mỹ Sơn thờ thần Shiva dưới dạng linga (sinh thực khí). trước khi ra chiếc bệ khắc chạm loại hình thần linh này (từ đó giải đáp được chúng), nhiều lời lý giải đã được đưa ra. Các pho tượng đó là nhữ nghộ thần canh chừng trời đất (dikpala) coi giữ tứ phương và một phương trung ương. Một số hộ thần cỡi trên con thú (vật cỡi của thần), con thú đó chạm khắc dưới chân bệ tượng, hay là thuộc tính được thần cầm giữa nơi tay. Hôm nay, các tượng thần này được đưa đến từ ba viện bảo tàng của Việt Nam để triển lãm, tất cả đều được phát hiện từ năm 1903 trở về sau..

Tượng Phật Đồng Dương, thế kỷ 13-14, bằng đồng, cao 108 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Cat. 17 © Thierry Ollivierr

Đền tháp Đồng Dương

Do vua Indravarman II xây cúng năm 875, chánh điện thờ Phật Đồng Dương được dựng phía Nam đền thờ thần Shiva khoảng chục cây số. Được xây dựng ở một đồng bằng rộng, chắc hẳn là khu đô thị lớn mang tên Indrapura, các đền tháp này bao gồm một quần thể rất to lớn các đền tháp được bố trí cách đều và liên kết với nhau theo trục Đông-Tây. Chúng nối liền nhau bởi những chái nhà lớn (tiếng Chăm gọi là gopura) thông cửa đền tháp này qua đền tháp kia. và dọc theo có những bức tượng hộ thần (tiếng Chăm gọi là dvarapala), vẽ mặt đầy đe dọa. Di chỉ này được Henri Parmentier và Charles Carpeaux phát lộ và nghiên cứu vào mùa thu năm 1902, cho thấy có một nền Phật giáo Đại thừa phát triển ở xứ này (về sau các cuộc tấn công của quân Mỹ hồi chiến tranh gần như phá hủy nó hoàn toàn). Khác hình tượng thờ cúng trong các đền tháp một phần chịu ảnh hưởng của Ấn Độ và Tích Lan, một phần chịu ảnh hưởng đền đài Phật giáo của vùng Trung Á và Trung Hoa.

Trà Kiệu

Kitao Shigemasa (1739-1820) Phỏng theo đồ tượng Bồ tát Phổ Hiền 108 x 31,5 cm cat.24 © Ota memorial museum

Tượng thú vật tuy đa dạng nhưng chủ yếu là tượng voi và sư tử, kèm theo là hình các vũ nữ quấn khăn. Các tác phẩm điêu khắc này được phát hiện ở Trà Kiệu bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 và dặc biệt trong lần tổ chức khai quật năm 1927-27 của Jean-Yves Claeys. Các hình voi/sư tử xen nhau là dấu ấn phác họa kiểu trang trí và biểu tượng của Ấn Độ. Các vũ nữ quấn khăn (chủ đề có lẽ thuộc nguồn gốc Trung Hoa) xuất hiện ở các đền đài riêng lẻ trong khu di chỉ

Thế kỷ thứ 11

Trong bối cảnh đầy xáo trộn lịch sử của thế kỷ 17 xảy ra với vương quốc Champa trước hiểm họa đô hộ một tôn giáo mới lại đặt nền móng ở miền Nam nước này. Lại thêm một vài điện thờ xây dựng lên ở Mỹ Sơn và các vùng phụ cận, trong khi đó điện thờ lớn nhấ ltại được dựg nlên cách đó 500 km về hướng nam. Đó là cụm “tháp bạc” (ND: tức cụm Tháp Bánh Ít) đầy ấn tượng thờ thần Shiva được dựng lên trên một ngọn đồi cao, trông giống như mấy ngọn kim tự tháp liên kế nhau. Tại di chỉ này năm 1889 Eugène Navelle phát hiện ra một tượg tnhần Shiva lớn mà hiện nay được coi là kiệt tác trong bộ sưu tập Chăm ở Viện Bảo tàng Guimet.

Thần Vishnu ngồi trên rắn thần Ananta được mô tả trên lanh-tô tháp Mỹ Sơn E 1 (tỉnh Quảng Nam), thuộc thế kỷ thứ 7, bằng đá, dài 240 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Đà Nẵng. Cat. 5 © Thierry Ollivier

Tháp Mẫm

Pho tượng đó chỉ còn lại phần cuối thân thần gajasimha (voi-sư tử) uy nghi hiện đặt ở trung tâm gian Triển lãm; nó được coi là một trong những di vật để công nhận sự hiện hữu của Tháp Mẫm. Người tìm thấy pho tượng này là một nông dân; lúc đầu người này cứ tưởng đó là một cối đá thôn quê nên định vần đi (bởi mặt hình thú úp xuống đất). Sau khi đào bới xuống một chút thì mới biết đó l;à một tác phẩm điêu khắc.

Thời suy tàn của nghệ thuật Chăm

Từ năm 1471 vương quốc Champa chỉ còn lại hai tình phía nam Kauthara và Panduranga. Thời vàng son về chính trị và thương mại của nhiều thế kỷ trước đó bị thay thế bằng bóng mây mù của sức mạnh chinh phục của Việt Nam. Từ thế kỷ 13 sức sáng tạo nghệ thuật Chăm đi vào buổi hoàng hôn dằng dặc và không sao biến chuyển khác được. Thời kỳ cuối cùng trong lịch sử Champa này chỉ còn lưu lại một vài mẩu kiến trúc, điện thờ, nhưng bù lại cho chúng ta nhiều tác phẩm lớn, các tác phẩm này biểu hiện một sự trừu tượng với kiểu cách sắc sảo. .

Viên Bảo tàng Quốc Gia về Nghệ Thuật Châu Á Guimet, do Crédit Agricole bảo trợ

Thần duy trì vũ trụ Ishana ? Ảnh 30 Mỹ Sơn, nhóm A (tỉnh Quảng Nam), thế kỷ thứ 10, bằng đá, cao 78 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Đà Nẵng Cat. 72 © Thierry Ollivier

Độ Mẫu Tara (?), Đồng Dương – tỉnh Quảng Nam. cuối thế kỷ thứ 9 và đầu thế kỷ thứ 10, bằng đồng dát vàng, cao 115 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Đà Nẵng. Cat. 18 © Thierry Ollivier

Họa tiết trang trí ở bệ: Con voi đang bước đi. Trà Kiệu – Quảng Nam, thế kỷ thứ 10, cao 63 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Cat. 44 © Thierry Ollivier


Vishnu cỡi vật cỡi của ngài là Kim sí điểu (Garuda). Ngũ Hành Sơn – tỉnh Quảng Nam, đầu thế kỷ thứ 9, bằng đá, cao 58 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Guimet – Paris. Cat. 12 © Thierry Ollivier


ấu kiện họa tiết trang trí kiến trúc: Kim sí điểu (Garuda) nhiếp phục long thần (nagar). Tháp mẫm- Bình Định; thế kỷ 12-13, bằng đá, cao 109 cm. © Thierry


Đức Chính dịch và giới thiệu

*

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính biên dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ Tác giả Đức Chính .

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm


Read Full Post »

Older Posts »