Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘tượng’

Viện Bảo Tàng Điêu Khắc Chăm Đà Nẵng tọa lạc tại góc đường Bạch Đằng và Trưng Nữ Vương với diện tích là 6.673 m vuông  . Tòa nhà được thiết kế bởi hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair. Trong quá trình xây dựng và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng góp lớn của chuyên gia khảo cổ Henri Parmentier, của EFEO và là một trong những người đầu tiên có đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa Chăm .

Được xây dựng trên một gò đất cao , toàn bộ phía ngoài  viện bảo tàng sơn một màu vàng nhìn đơn giản và rất cổ kính ,với một không gian thoáng mát và trong lành ,những hàng cây trồng dọc theo các lối đi , cây cổ thụ làm tăng thêm vẻ cổ kính của bảo tàng , phía ngoài khuôn viện của bảo tàng các mảng đài thờ , tượng đá được xếp đặt rải rác  hài hòa với cảnh vật xung quanh , tạo cho người đến tham quan có một cảm giác ngỡ ngàng và  hứng thú khi tiếp xúc với những tác phẩm điêu khắc mà thoạt nhìn ta thấy có vẻ bí ẩn và xa lạ .

Từ những năm cuối thế kỷ XIX  khi một số người Pháp bắt đầu chú ý đến di tích Chăm thì rất nhiều các tháp Chăm đã ở trong tình trạng hư hỏng và đổ nát  , họ là những người Pháp yêu nghành khảo cổ và những người làm việc cho trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp ( L’ École francais d’ Éxtrême – Orient, viết tắt là EFEO) , họ và   những đồng nghiệp người Việt Nam đã cùng nhau bắt đầu  thu thập , bảo tồn và nghiên cứu tác phẩm điêu khắc Chăm .  Đến  đầu thế kỷ XX một số hiện vật được chuyển đi  Pháp , một số được  chuyển ra Bảo Tàng Hà Nội & Bảo Tàng Sài Gòn , nhưng phần nhiều các tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng . Từ năm 1902 với ý định xây dựng một bảo tàng tại Đà nẵng để lưu giữ và trưng bày những tác phẩm điêu khắc Chăm mà họ thu thập được và sau 17 năm thì tòa nhà đầu tiên của bảo tàng chính thức hoàn thành .

Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng được xây dựng năm 1915 chính thức khánh thành vào năm 1919 là một bảo tàng trưng bày các hiện vật Chăm quy mô và độc đáo nhất Việt Nam  chuyên sưu tập , cất giữ và trưng bày các di vật điêu khắc Chăm được tìm thấy ở các tháp , thành lũy Chăm ,  các vùng tại Đà nẵng , Quảng nam và các tỉnh  lân cận   Các tác phẩm được trưng bày ,  lưu giữ tại bảo tàng điêu khắc Chăm là những tác phẩm tượng , đài thờ , phù điêu và vật trang trí , hầu hết là  các tác phẩm  nguyên bản được làm từ 3 chất liệu chính là Sa Thạch ,đất nung và đồng , phần lớn là sa thạch có niên đại từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ XV thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau   được phân  theo các gian tương ứng với các khu vực địa lý nơi chúng được phát hiện như Mỹ Sơn ( thế kỷ thứ VII – VIII )  , Đồng Dương  ( thế kỷ thứ  IX ),  Trà Kiệu ( thế kỷ thứ X ) Tháp Mẫm  ( thế kỷ thứ  XII – XIV ) và các hành lang Quảng Trị , Quảng Nam , Quảng Ngãi , Kon Tum , Quảng Bình và Bình Định . Các tác phẩm  tiêu biểu của nền nghệ thuật này có một vẻ đẹp kỳ lạ độc đáo , gần gũi thiêng liêng , tinh tế  , một thế giới thần linh và kỳ bí  .. tất cả đều sống động , chi tiết và một sức hấp dẫn vô cùng mãnh liệt  . Đó là phần còn lại của cà một hệ thống tín ngưỡng , một kho tàng văn hóa phong phú .

Mặc dầu đã qua hai lần mở rộng , lần đầu là đầu năm 1930 – 1936  xây dựng thêm hai phòng trưng bày hai bên thẳng góc về phía trước của tòa nhà cũ,  để trưng bày các hiện vật thu thập được 1920 – 1930 Theo ý tưởng của Henri Parmentier,  hiện vật được phân loại để trưng bày theo nguồn gốc địa điểm nơi chúng được phát hiện hoặc khai quật. Không gian của toà nhà bảo tàng gần 1000 m2 đã được bố trí thành những khu vực trưng bày, tạm gọi tên như sau:

*Phòng Mỹ Sơn – Quảng Trị,

*Phòng Trà Kiệu,

*Phòng Đồng Dương,

*Phòng Tháp Mẫm

*các hành lang Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum.

Ngoài ra còn có một phòng nhỏ làm kho. Cách bố trí không gian trưng bày này cơ bản vẫn được duy trì cho đến hiện nay.

Lần thứ hai xây thêm một toà nhà hai tầng ở phía sau khu nhà cũ, với diện tích sử dụng khoảng 2.000 m2 dành cho việc trưng bày và hơn 500 m2 dành làm kho, xưởng phục chế và phòng làm việc. Tại tầng 1 của khu nhà mới này hiện đang trưng bày những hiện vật trước đó còn để trong kho và một số hiện vật sưu tầm được sau năm 1975. Tầng 2 trưng bày về văn hóa Chăm đương đại bao gồm sưu tập về trang phục, nhạc cụ và hình ảnh lễ hội của đồng bào dân tộc Chăm.

Sau hai lần mở rộng Toàn bộ toà nhà và phong cách kiến trúc ban đầu của bảo tàng vẫn còn giữ lại cho đến ngày nay

Trước năm 2007, Bảo tàng Điêu khắc Chăm là một bộ phận của cơ quan Bảo tàng Đà Nẵng. Ngày 02 tháng 7  năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa – Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng.

Hãy đến và hãy ghé tham quan bảo tàng  , đừng bỏ qua nếu bạn có dịp ghé thành phố Đà Nẵng , một điểm đến lý thú và đầy bất ngờ đối với khách du  lịch

Một số thông tin cần biết :

1/ ĐỊA CHỈ :

*Văn Phòng : số 01-  đường Trưng Nữ Vương – Đà Nẵng

*Lối vào tham quan : Số 02 – đường 2 tháng 9 – Đà Nẵng

*Lối ra : Số 02 B  – đương 2 tháng 9 – Đà nẵng

2/ ĐƯỜNG ĐẾN :

* Từ sân bay Đà Nẵng  : đến Bảo tàng khoảng 4 km

*Từ ga xe lửa Đà Nẵng : đến Bảo tàng khoảng 6 km

*Từ Hội An đến Bảo Tàng : Khoảng 30 km

3/ GIỜ MỞ CỬA :

* Từ 7 giờ đến 17 giờ 30 hằng ngày.

4/VÉ VÀO CỬA :

*Người lớn: 30.000 đồng/người

*Học sinh – sinh Viên : 5000 đồng / người  ( xuất trình thẻ  )

*Trẻ em dưới 16 tuổi : miễn phí

5/HƯỚNG DẪN VIÊN :

*Những đoàn khách từ 5 người trở lên có yêu cầu về hướng dẫn viên có thể liên hệ trước tại quầy vé để sắp xếp.

*Thời gian:

từ 8 g –  10 g 30

từ 14 g – 16 g 30.

6/ QUY ĐỊNH :

*Khách đến tham quan phải mua vé.

*Không được mang theo vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy vào Bảo tàng.

*Phải gửi hành lý ở phòng thường trực, lưu ý không để tiền, vật quý trong hành lý

*Không sờ vào hiện vật .

*Không hút thuốc trong các gian trưng bày. Giữ gìn trật tự vệ sinh.

*Được phép chụp ảnh, quay phim với máy cầm tay. Các chương trình quay phim, chụp ảnh đặc biệt phải được sự đồng ý của Bảo tàng. Không được sử dụng hình ảnh, phim về Bảo tàng ĐKC và về hiện vật của Bảo tàng ĐKC để in, đăng trên bất kỳ phương tiện thông tin nào, kể cả trên các trang web, khi chưa có sự cho phép của Bảo tàng Điêu khắc Chăm.

7/SƠ ĐỒ BẢO TÀNG

8/LƯU NIỆM :

*Cửa hàng lưu niệm tại hành lang của Bảo tàng hoạt động theo giờ mở cửa của Bảo tàng

9/LIÊN HỆ :

• Quầy vé:

– Tel: (511) 3470114

 • Bảo vệ:

– Tel:  (511) 3572414

 • Phòng Tổ chức – Hành chính:

– Tel: (511) 3470116
– Fax: (84 511) 3574801

 • Phòng Hướng dẫn – Tuyên truyền:
– Tel: (511) 357 2935

 • Phòng Sưu tầm – Bảo quản:
– Tel: (511) 3821951

 • Góp ý : ChamMuseum@gmail.com

Một số hình ảnh được chụp tại bảo tàng điêu khắc Chăm

This slideshow requires JavaScript.

Khanhhoathuynga

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

Read Full Post »

Ấn Độ: Bài học muộn về những tượng thần! (Phần II)

Ghiya sinh năm 1948, trong một gia đình thuộc tầng lớp dưới. Cha Ghiya, Badri Narayan, sở hữu một hiệu ảnh nhỏ ở Jaipur, chính tại đây, Ghiya bán phim Kodak, lồng kính và bán những bức họa phương Tây. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng Maharaja, Ghiya tiếp tục buôn bán những bức tranh cổ. Do tính chất công việc, Ghiya thường xuyên đi Bombay, sau đó ông ta mở một của hàng riêng tại Jaipur. Vài năm sau, Ghiya kết hôn.

Ariane Dandois, một phụ nữ Pháp lần đầu tiên đến thăm cửa hàng của Ghiya vào cuối thập niên 70. Ariane Dandois được coi là một trong số những khách hàng phương Tây đầu tiên của Ghiya. Dandois có thân hình cao dong dỏng, mái tóc vàng óng, và là một phụ nữ hấp dẫn. Bà sở hữu một phòng triển lãm tranh nghệ thuật Châu Á ở đường Saints-Pères, Paris. Lần đầu tiên đi du lịch đến Ấn Độ trong vai trò một cô sinh viên đại học Sorbonne. Bà đã dành hàng tháng trời ở vùng nông thôn để kiếm tìm tài liệu. Dandois nhớ lại, bà đã đến thăm Ghiya trong một cái nhà nhỏ, nhỏ đến mức cả nhà phải ngủ cùng trong một phòng và nằm đất. Ghiya rất muốn kết giao với các bạn hàng phương Tây, ông ta lịch sự và cung kính tựa “như một gã nô bộc”. Vợ Ghiya thì ra sức rót đầy chén trà của Dandois mỗi khi chén vơi.

Một số ông hoàng Ấn Độ muốn bán những tác phẩm trong bộ sưu tập đồ sộ của họ. Dandois cần giao dịch với ông hoàng của thành phố Bikaner để mua toàn bộ bộ sưu tập đá cẩm thạch của ông ta với giá 25 nghìn đô. Ghiya có nhiệm vụ thuê 1 đoàn xe vận chuyển toàn bộ 64 món đồ gỗ gia dụng về Jaipur; và triệu tập những người dân địa phương trong một khoảng sân, trang bị cho họ những bát nước nhỏ, để lau chùi đồ gỗ.

Ông trùm

Có khoảng hai mươi thương nhân phương Tây đã đến Jaipur trong khoảng thời gian đó gồm ngừoi Pháp, Anh, Ý và người Mỹ. Họ ở tại Khách sạn Rambagh Palace. Họ đến đây và tin tưởng rằng sự xuất hiện của những thương nhân Ấn Độ giống như Ghiya, sẽ giúp họ giảm thiểu nguy hiểm và khó chịu khi tự ý rời khỏi trung tâm thành phố. Ông trùm của những thương nhân mới này là Baliram Sharma. Sharma đặt trụ sở chính tại thủ đô Delhi, ông ta cũng vài lần bị tạm giữ nhưng chưa bao giờ bị tống vào tù. Ông đã trở thành người có ảnh hưởng lớn. Một người buôn bán đồ cổ ở Ấn Độ đã nói với tôi rằng tất cả những người buôn lậu cổ vật đều”làm việc theo chỉ thị của Sharma”.

Sharma và những người khác trở thành những nhà phân phối cổ vật cho phương Tây và họ nhanh chóng trở nên giàu sụ. Chính điều này đã cuốn hút và định hướng cho tham vọng của Ghiya khi ông ta bắt đầu thành lập doanh nghiệp từ những năm 1970. Những người quen biết Ghiya nói rằng, dù Ghiya không có con mắt tinh tường và được huấn luyện bài bản như Sharma, nhưng bù lại ông ta đã góp nhặt được một lượng kiến thức khổng lồ. Theo cảnh sát, Ghiya đã nẫng tay trên những đầu mối cung cấp hàng cho Sharma bằng việc trả giá cao hơn.

“Ông ta là một con người đầy tham vọng” Jack Franses, cựu nhân viên làm việc cho Sotheby, ông này đã gặp Ghiya ở Jaipur vào đầu những năm 80. Ghiya dẫn Jack Franses đi thăm quan một kho hàng chất đống những tấm thảm cổ bám đầy bụi bặm, và đứng xem chúng được vận chuyển đi. Ghiya tuyên bố rằng ông ta có thể làm bất cứ cái gì miễn là có yêu cầu đặt hàng.”Nếu các ngài muốn có Taj Mahal, tôi cũng sẽ gửi nó tới cho các ngài,” Ghiya nói với Franses”Tôi sẽ dỡ nó thành từng mảnh”.

Ghiya xây dựng rất nhiều những đầu mối trung gian trên khắp cả nước Ấn Độ. Theo những nhà chức trách, mạng lưới ngầm của Ghiya hết sức bền vững, đầu mối nào chỉ biết đầu mối đó. Họ hoạt động riêng biệt và chỉ thông qua những người trung gian. Ví dụ, để một cổ vật từ tay một kẻ trộm địa phương đến nhà bán đấu giá tại London là cả một chu trình khép kín. Khi một pho tượng bị trộm ra khỏi ngôi đền hay được thu gom từ những người nông dân địa phương, nó được mang tới một người môi giới, người này sẽ lập tức chụp ảnh. Sau đó những bức ảnh lại được chuyển qua tay rất nhiều trung gian trước khi tới tay Ghiya. Rồi nó tiếp tục được gửi tới tay những chủ nhân tương lai ở nước ngoài qua những chuyến bay đi bay về của Ghiya từ London tới New York.

Thận trọng không bao giờ là thừa

Vào một buổi tối ở Jaipur, tôi gặp Abhay Singh, trước là lái xe cho Ghiya từ năm 1984 đến 2000 và bây giờ Abhay Singh là nhân chứng chính trong vụ kiện chống lại Ghiya.

Singh là một người đàn ông gầy guộc với thân hình cao lêu đêu, mái tóc chải thẳng thớm như của một cậu học sinh. Singh đã kể cho tôi nghe về những chuyến đi về vùng nông thôn của Ghiya để hẹn gặp những người môi giới và kiểm tra hàng hoá.

Theo Singh, Ghiya là người vô cùng thận trọng, thận trọng đến mức gần như hoang tưởng. Thậm chí ngay cả khi ông ta ra khỏi nhà không vì công việc, Ghiya vẫn luôn lo lắng nhìn vào gương chiếu hậu vì sợ rằng ô tô của họ đang bị theo dõi. Sau khi lựa chọn được những món hàng muốn mua, Ghiya thường hướng dẫn những người môi giới đóng gói và xếp hàng lên xe của họ rồi cùng lái xe quay trở lại Jaipur với ông ta. Trên đường đi, để đảm bảo an toàn”Ghiya luôn mang theo hai lá cờ, một lá màu đỏ và một lá màu xanh lục,” Singh giải thích”Nếu có bất kỳ nguy hiểm nào, ông ta lập tức giương cờ đỏ lên, đoàn xe lập tức dừng lại và thay đổi lộ trình”. Ở Jaipur, Ghiya cất giấu cổ vật thu gom được tại những kho hàng nằm rải rác khắp Jaipur, nhiều món được chôn cất ngay trong chính nông trại của ông ta. Khu nông trại khá rộng và ẩn dật với cây cỏ dại mọc um tùm, một vài nhà thấp và bể bơi. Chính tại đây, Ghiya thường đào hố chôn giấu những tác phẩm điêu khắc.”Ghiya nói với người hầu rằng ông ta đang gieo trồng một giống cây mới” Singh nói.

“Ông ta là người hay lo sợ và quá đa nghi” một người quen ở Jaipur nói với tôi”Ông ta không để bất cứ ai biết về cuộc sống của mình, thậm chí kể cả vợ”. Khi Ghiya không đi ra nước ngoài, ông ta luôn về nhà rất muộn. Tiền bạc kiếm được hầu hết ông ta đầu tư vào bất động sản Ông ta không có thú vui; Và mọi người đều nhất trí một điều rằng Ghiya quan tâm đến việc kinh doanh đơn giản là vì những món lợi nhuận khổng lồ sẽ chảy vào túi ông ta.

Đôi lúc tính cẩn thận của Ghiya một phần cũng xuất phát từ thói hay mê tín.”Vào một ngày giá rét, tôi lái xe tới nhà ở Jaipur của Ghiya” Ariane Dandois nhớ lại.”Tôi nhờ Ghiya cầm lái đến Delhi”. Ghiya rất sợ sẽ gặp cướp trên đường từ Jaipur đến Delhi nhưng cuối cũng ông ta cũng đồng ý lái xe. Khi hai chúng tôi tới bãi đậu ôtô, bất ngờ một con chim lạ xuất hiện và lượn vòng quanh.” Đây là một điềm không may,” Ghiya lập tức từ chối không tiếp tục đi tiếp. Dandois đã cố gắng thuyết phục nhưng Ghiya vẫn kiên quyết từ chối.

Ghiya còn trở nên cẩn thận hơn sau lần bị tóm gáy vào năm 1989. Nhân viên hải quan ở Mumbai, trong một lần kiểm tra ngẫu nhiên đã thu giữ được 21 cổ vật trong contennơ chở hàng thủ công mỹ nghệ của Ghiya. Theo cảnh sát và những người buôn bán đồ cổ khác ở Jaipur kể lại, khi cơ quan thẩm quyền đến nơi, họ đã đưa ra kết luận những đồ vật chứa trong các côngtenơ hàng của Ghiya chỉ là những bản sao, đó không phải là đồ cổ. Kết luận này có thể đúng nhưng cũng có thể là do Ghiya đã hối lộ cơ quan chức năng. Nhưng cũng còn một khả năng nữa là một người nào đó đã thay thế những đồ cổ thật bằng đồ giả. Một trong những mưu kế mà giới buôn lậu cổ vật ở Ấn Độ thường xuyên thực hiện là sau khi chôm được cổ vật thật, họ sẽ làm một bản copy y hệt và cho trưng bày tại Viện nghiên cứu sưu tầm cổ vật, còn bản gốc thì đã được vận chuyển một cách âm thầm ra nước ngoài từ bao giờ.

Đế chế không thể sụp đổ

Thời gian này,Baliram Sharma đã về hưu, Ghiya”bắt đầu xây dựng một đế chế”. Nhưng, trong khi đa số những nhà phân phối và những người buôn lậu đồ cổ Ấn Độ khác khăng khăng đòi kiểm tra hàng trước khi trả tiền mua, thì Ghiya lại dừng việc đi về vùng nông thôn, ông ta bắt đầu chọn hàng bằng việc chỉ xem qua ảnh. Hàng sau khi được thu gom sẽ được chất vào kho ở Mathura và Delhi. Theo định kỳ, Ghiya sẽ kiểm tra hàng trước khi chúng được vận chuyển ra nước ngoài. Nhưng việc làm đó đồng nghĩa với việc Ghiya ngày càng bị lệ thuộc vào những người môi giới và những bức ảnh.

“Ông ta không bao giờ cất giữ các bức ảnh” Abhay Singh nói với tôi”Những bức ảnh được gửi đến tay ông ta và ngay lập tức nó được chuyển qua đường bưu điện tới tận tay khách hàng”.

Vào năm 1991, Peter Watson một nhà báo người Anh, đã phơi bày những bí mật bao trùm thị trường nghệ thuật trên tạp chí Người quan sát ở London khi anh ta đến và tiếp xúc với một nhân viên cũ của Sotheby, là James Hodges. Hodges đã làm việc tại nhà đấu giá hơn 10 năm, cho đến năm 1989, khi người ta phát hiện ra ông ta đã đánh cắp một chiếc mũ đồng cổ và chiếc bát sành nung khỏi nhà đấu giá.

Hodgesnói với Watson rằng sự mục nát và tội ác bao trùm khắp nơi ở Sotheby. Suốt hàng năm trời, ông ta đã tập hợp toàn bộ giấy tờ, hồ sơ chất đầy ba vali, đây là những chứng cứ về sự buôn lậu và trốn thuế vẫn xảy ra thường xuyên ở đây.

Trong thời gian Hodges làm cho Sotheby, Hodges nói, một số người cung cấp hàng cho những nhà đấu giá lớn nhất đã gợi ý rằng Hodges nên mở một tài khỏan giả. Những tài khoản này được các nhà buôn bán, phân phối cổ vật, những người nắm trong tay một lượng lớn cổ vật không rõ nguồn gốc dùng để hối lộ. Một trong số những nhà phân phối này là Giacomo Medici, một đại gia buôn lậu cổ vật người Ý. Giacomo Medici có kho chứa hàng ở Geneva, kho hàng này đã bị cơ quan có thẩm quyền khám xét và thu thu giữ hàng trăm cổ vật vào năm 1997. Theo Hodges”Ghiya chính là ông trùm của Jaipur”

Hodges giải thích rằng Ghiya giống như một”Medici thứ hai của Ấn Độ”, Ghiya có mối quan hệ mật thiết với nhà đấu giá với Sotheby đến nỗi, ông ta thường xuyên nghỉ tại nhà của Hodges ở Shepherds Bush trong những lần đến sân bay London để nhận hàng (những cổ vật của ông ta được vận chuyển bằng đường hàng không). Sau khi thiết lập mối quan hệ với nhà đấu giá từ đầu những năm 1980, Ghiya đã cung cấp cho Sotheby một lượng hàng rất lớn.

Sau những chứng cứ được các luật sư biện hộ của Hodges đưa ra tại phiên toà xét xử Hodges ở London vào tháng 11 năm 1991. Hodges cuối cùng bị buộc tội ăn cắp và làm giả sổ sách kế toán.

Nhà đấu giá chối tội

Brendan Lynch, một trong số những chuyên gia về đồ cổ Ấn Độ của Sotheby, người đã hai lần đến gặp Ghiya ở Jaipur để thu mua cổ vật, nói”Bất kỳ chuyến thăm nào do chuyên gia của Sotheby đến Ấn Độ đều bị theo dõi và họ cần chuẩn bị trước những lí do có đủ sức thuyết phục để đề phòng trường hợp bị cảnh sát sờ tới.” Họ thường lấy cớ là chuyên gia đi nghiên cứu hay viện cớ là đi viết sách.

Brendan Lynch, nhân viên của Sotheby, được xem là người có mối liên hệ mật thiết nhất với Ghiya, khi được hỏi về những chuyến viếng thăm Ấn Độ, ông ta nhấn mạnh rằng mục đích của chuyến đi không phải là để thu mua cổ vật, mà đơn thuần chỉ là để “nghiên cứu và… đánh giá” chúng. Nhưng trong bản báo cáo được phía luật sư đưa ra về những chuyến đi tới Ấn Độ vào năm 1988, trong đó Lynch đã viết “mục đích của chuyến viếng thăm” là “liên hệ với những nhà buôn người Ấn”.

Tuy nhiên, sau những bằng chứng Lynch đưa ra, nhà đấu giá vẫn tiếp tục liên hệ với Ghiya. Chỉ sau khi Watson cho ra mắt cuốn Những câu chuyện bí mật của Sotheby, xuất bản năm 1997 thì Brendan Lynch mới bị sa thải, và Sotheby tuyên bố đóng cửa nhà đấu giá cổ vật ở London.”Đó là những chính sách của Sotheby để đối phó với những vấn đề nhạy cảm,” một phát ngôn viên lúc đó nói. Ông ta cũng cho biết thêm là Sotheby vẫn tiếp tục bán đấu giá cổ vật, nhưng chỉ ở New York.

(Còn nữa)

Tác giả

Patrick Radden Keefe
Uyển Chi (Vietimes) lược dịch từ The New Yorker

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

 

Bài học muộn về những tượng thần! (Phần

I)

Khai hỏa

Một buổi sớm tháng Sáu năm 2003, hơn hai chục nhân viên cảnh sát được trang bị vũ khí bao vây tứ phía và sẵn sàng đột nhập vào bên trong khu nhà Everest – một khu nhà yên tĩnh của tư nhân, ở vùng ngoại ô thành phố Jaipur của Ấn Độ. Đội đặc nhiệm ẩn nấp trong bóng tối, bất ngờ ập vào tấn công tước vũ khí của nhân viên bảo vệ và mở cổng. Chiếc camera an ninh vẫn chạy rè rè, nửa đơn vị còn lại tiếp tục lặng lẽ phục kích. Trong cả tháng trời, cảnh sát vào vai những gã lang thang lảng vảng quanh khu nhà. Và khi giờ cao điểm, họ quyết định tập kích bất ngờ khiến những người trong nhà không kịp trở tay.

Cảnh sát vừa hét “Mở cửa! mở cửa mau!”, vừa đập cửa thình thình. Họ đứng đợi hồi lâu nhưng không thấy ai xuất hiện. Bỗng có ai đó phát hiện một luồng khói lớn bay ra từ cửa sổ tầng ba – vốn là phòng ngủ của chủ nhân. Chỉ huy đội đặc nhiệm – Anand Shrivastava – lập tức ra lệnh cho quân của mình phá cửa vào nhà. Họ chạy lên gác, xộc vào phòng ngủ. Tại đây họ được chứng kiến cảnh vị chủ nhà – Vaman Narayan Ghiya, vận nguyên bộ đồ ngủ đang cuống cuồng ném giấy tờ vào lửa để phi tang.

“Sao chúng mày dám ?” – Ghiya hét lên : “Làm thế quái nào chúng mày lại vào được nhà tao?”. Ông ta cố đẩy những cảnh sát đang khống chế mình “Chúng mày không được đụng vào tao!”

Thần Vishnu

Cảnh sát áp giải Ghiya ra khỏi nhà, lùa vợ cùng con trai và hai con gái của Ghiya, lúc này còn đang ngái ngủ, vào góc phòng. Shrivastava và đồng nghiệp lục soát khắp các căn phòng sang trọng của ngôi nhà trong nhiều tiếng đồng hồ. Kết quả, đằng sau lớp ván gỗ trong phòng riêng của Ghiya, họ tìm thấy một ngăn tủ ngầm bí mật cất giữ hàng trăm bức ảnh chụp những tác phẩm điêu khắc cổ của Ấn Độ: những bức tượng thần Vishnu, Shiva và Parvati bằng đá duyên dáng, tượng vị thần đầu voi Ganesha, con trai của Parvati, bức tượng đồng thần 12 đầu Jain Tirthankaras và tượng nữ thần Chola đang khiêu vũ với cánh tay giơ lên và bộ ngực để trần… Những bức ảnh này được chụp một cách vội vã, thậm chí, các bức tượng trông như vừa mới được cạy ra từ hốc tường bên trong những ngôi đền, cái thì thiếu tay, cái thì thiếu đầu…. Cảnh sát còn phát hiện gần 70 cuốn catalô đấu giá của Sotheby và Christies (hai nhà đấu giá nổi tiếng) ở London và New York.

Những tang vật thu được đã chứng minh mối nghi ngờ của Shrivastava cho rằng Vaman Ghiya là một trong những mắt xích quan trọng trong đường dây buôn lậu cổ vật lớn và phức tạp nhất trong lịch sử Ấn Độ. Trong vòng 30 năm, Vaman Ghiya đã phất lên nhanh chóng nhờ việc buôn lậu hàng nghìn cổ vật Ấn Độ tới tay các nhà đấu giá và những bộ sưu tập cá nhân. Cảnh sát không tìm thấy những tác phẩm điêu khắc trong nhà của Ghiya. Nhưng trong những ngày tiếp theo, khi tiếp tục lục soát hơn nửa tá cơ ngơi của Ghiya ở xung quanh Jaipur, bao gồm những khu nông trại rộng lớn ở ngoại ô, những kho hàng đồ sộ ở Mathura và Delhi, cảnh sát đã tìm thấy những bức tranh cổ, những thanh gươm, nhiều chiếc khiên cổ… và khoảng 340 cổ vật .

Thần đầu voi Ganesha

Vải thưa che mắt… cảnh sát

Vaman Ghiya là một người đàn ông ưa nhìn với mái tóc muối tiêu, vóc dáng nhỏ thó, đôi mắt đầy nghị lực, và thái độ hơi kẻ cả. Ông ta ăn mặc lịch sự và quản lý việc kinh doanh những khách sạn đẹp nhất Jaipur. Những người quen biết Vaman Ghiya cho hay : ông ta thường dành hầu hết thời gian để bay đi bay về và chuyên tâm vào việc kinh doanh. Ghiya vốn tính đa nghi, thậm chí không tin bất cứ ai kể cả những người thân cận nhất.

Doanh nghiệp hợp pháp của Ghiya mang tên Crafts Palace là một phòng trưng bày hàng thủ công mỹ nghệ lớn nằm trên phố Amer, ở Jaipur, một thành phố thịnh vượng với gần ba triệu dân, nơi có lâu đài Rajput cổ kính. điểm dừng chân lý tưởng của du khách trong chuyến hành trình xuyên Ấn. Jaipur còn là trung tâm công nghiệp đá quý và buôn bán hàng thủ công mỹ nghệ của Ấn Độ.

Vào những năm 70, việc buôn bán cổ vật thực sự là một việc khó khăn, vì ở thời điểm đó, bất kỳ một món đồ cổ nào có tuổi thọ trên 100 năm đều bắt buộc phải đăng ký với chính phủ. Bất kỳ một hành động nào nhằm xuất khẩu những cổ vật như thế đều bị coi là bất hợp pháp. Trong khi những người buôn lậu thường xuyên cất giấu riêng lẻ từng cổ vật vô giá trong những contennơ khổng lồ, thì hải quan Ấn Độ chỉ được phép kiểm tra xác suất trong 10% khối lượng hàng hoá xuất khẩu.

Chủ các doanh nghiệp kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ khác ở Jaipur khai báo với cảnh sát rằng họ không không hề biết gì về khách hàng hay những người cung cấp hàng cho Ghiya. Công việc làm ăn phát triển nhanh chóng của công ty Crafts Palace dường như không có mối quan hệ nào với kinh tế địa phương. Thực tế là Ghiya dành rất ít thời gian tại phòng trưng bày, người trông nom chính ở đây là cậu con trai mới 20 tuổi của ông ta.

Mờ mắt vì lợi nhuận bạc tỷ

Vào mùa hè năm 2002, Anand Shrivastava và quân của anh đã đóng giả làm những người mua cổ vật và đã tiếp xúc được với một nhóm trộm. Những gã này đang cố gắng tìm mọi cách tuồn những bức tượng thần Hindu mà chúng đã ăn cắp ra chợ đen. Dù những pho tượng này có giá trị nghệ thuật không cao và không phải là đồ cổ nhưng những kẻ ăn cắp lại đòi một cái giá khá cao. Shrivastava nghi ngờ rằng liệu có một ông trùm giàu có, một người địa phương nào đang thao túng giá cả này chăng? Thẩm vấn nhóm trộm, chúng đều trả lời đó chính là Vaman Narayan Ghiya. “Ông ta là vua của thế giới này ” – câu nói cuối cùng trong buổi thẩm vấn.

Những viên chức tại Cục điều tra Ấn Độ đã nói với Shrivastava là họ đã nghi ngờ từ rất lâu rằng Ghiya là một trong số những kẻ đừng đầu đường dây buôn lậu cổ vật lớn nhất Ấn Độ, nhưng hành động của hắn tinh vi đến mức họ chưa bao giờ thu thập đủ chứng cứ đế chống lại hắn.

“Ghiya đã trở nên quá mạnh, thậm chí thao túng cả luật pháp,” Shrivastava nói: “Ghiya đã trở thành kẻ làm luật và chính vì thế Ấn Độ sẽ từng ngày mất dần đi những di sản văn hóa”.

Chiến dịch Black Hole được bắt đầu hồi tháng Sáu năm 2002 với việc thành lập một tổ điều tra gồm 12 cảnh sát do Shrivastava đứng đầu. “Tôi đã nói với những người của tôi “đây thực sự là một cuộc săn đuổi”.

Việc buôn lậu cổ vật cũng giống như tội ác nhưng lại tồn tại trong giới “áo cổ trắng” ở Ấn Độ vì nó yêu cầu lượng tiền vốn và kiến thức lớn. Những người buôn lậu thường tự khoác cho mình tấm lá chắn nguỵ trang là những thương nhân giàu có và thành đạt, họ thường là những người có địa vị cao trong xã hội.

Trên khắp thế giới, thị trường cổ vật dường như đã trở thành một ngành công nghiệp thu lợi nhuận bạc tỷ. Những năm gần đây, một số vụ buôn bán cổ vật lớn bị phanh phui đã tạo nên những vụ bê bối lớn trong giới nghệ thuật. Tuy nhiên, những chiêu thức hoạt động bí mật và tinh vi của giới buôn lậu rất hiếm khi bị lộ.

Khi Ghiya bị bắt và bị buộc tội tàng trữ cổ vật bị đánh cắp, ông ta khăng khăng cãi là mình vô tội và chỉ dẫn cho luật sư của mình những điều không nên nói với giới báo chí. “Mọi người đều bị sốc” – Chandramani Singh, một nhà khảo cổ học ở Jaipur, người quen bố của Ghiya – nói “Nhưng tôi nghĩ rằng họ (bố mẹ Ghiya) đều biết những gì Ghiya đã làm”.

Đau đầu chính phủ

Những ngôi đền thờ thần Hindu xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước với thuyết thờ đa thần. Trong các ngôi đền thường có rất nhiều bức chạm khắc chúa trời chính và phụ, và có thể dễ dàng tìm thấy vô vàn những ngôi đền tương tự trên khắp đất nước Ấn Độ, cùng với số lượng lớn tác phẩm nghệ thuật của đạo Phật và đạo Hồi. “Có quá nhiều thứ, và ở quá nhiều nơi” Singh nói “Thật dễ dàng cho người phương Tây, những người không có lượng cổ vật lớn đến như vậy trong lịch sử mò đến “.

Ở một nước đông dân như Ấn Độ, nhà chức trách thường đau đầu với rất nhiều vấn đề- Singh giải thích – nếu nhu cầu về nước sạch, tưới tiêu, đường xá v.v… được ưu tiên thì có nghĩa là vấn đề bảo tồn di sản văn hoá sẽ bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Ngành Khảo cổ học ở Ấn Độ không có khả năng xây dựng một cuốn sổ cấp quốc gia thống kê toàn bộ số lượng đền thờ trên khắp cả nước, điều mà ít nhiều sẽ bảo vệ những cổ vật khỏi bị xâm phạm.

Báng bổ thánh thần

Vào tháng Hai năm 1998, một toán kẻ cắp đã viếng thăm khu đền Baroli, nằm tách biệt với đường cái và lọt thỏm trong một khu rừng rậm rạp, gần chỗ gặp nhau của Chambal và sông Bamini, phía Đông Rajasthan. Những ngôi đền thờ bằng đá lộng lẫy ở Baroli được dựng lên vào khoảng giữa thế kỷ 8 và thế kỷ 12. Tổ hợp này gồm 9 ngôi đền, một trong số đó uy nghi bên một hồ nhỏ với hàng dãy cột đá và các linga (biểu tượng của dương vật) – ngôi đền thờ thần Shiva – vị thần sinh sản. Những người dân nông dân theo đạo Hindu hết sức tôn kính những ngôi đền này và hàng năm Baroli vẫn thu hút khách du lịch đến thăm quan.

Theo những người Hindu giáo, hình ảnh vị chúa Trời không đơn thuần chỉ là một biểu tượng mà họ sống dựa vào niềm tin, vào chính những vị thần mà họ tạo dựng nên. Họ cần mẫn xức lên những pho tượng dầu thơm và băng phiến, rồi trang trí chúng bằng vòng hoa. Họ cúng tế thức ăn, nhang hương, và âm nhạc…..Vì vậy hành động cướp bóc một ngôi đền là một hành động xúc phạm, báng bổ thánh thần. Nhưng ở Baroli bọn kẻ ăn cắp lại thích tiếp cận khu vực đền được gìn giữ tốt nhất, nơi có bức tượng thần Brahmas ba đầu, 12 bức tượng hóa thân của thần Vishnu và rất nhiều các bức tượng thần khác.

Thần Shiva khiêu vũ

Ở phía Tây của ngôi đền, có một bức tượng đá của thần Shiva đang khiêu vũ. Tới thế kỷ 10, pho tượng được trang trí thêm những quả tua thả rủ xuống quanh thắt lưng, vòng đeo ở cổ chân và một bàn tay trong số nhiều bàn tay của Shiva, đang cầm một con rắn. Thần Shiva theo quan niệm của đạo Hindu được coi là vị chúa Trời tối cao, và việc chạm khắc hình ảnh Shiva đang nhảy múa khiến cho Shiva trở nên gần gũi hơn với quần chúng. Bọn kẻ trộm đã đục đẽo và bưng pho tượng khỏi hốc tường, nơi mà nó đã ở đó gần một nghìn năm.

Theo Shrivastava, bọn kẻ cắp đã bán món hàng này cho Ghiya, từ đó nó được đưa ra khỏi Ấn Độ. Khi những dân nông dân địa phương phát hiện ra vụ trộm, họ cảm thấy bị xúc phạm. Ghiya nhanh chóng cho người của mình làm một bản sao bức tượng rồi đặt nó gần đồn cảnh sát địa phương. Những nhà chức trách địa phương hãnh diện tuyên bố rằng đã tìm lại được cổ vật. Sợ rằng Shiva có thể bị trộm lần nữa, họ quyết định không trả lại nó cho ngôi đền mà cất giữ nó trong kho lưu trữ của Viện khảo cổ học thành phố Chittorgarh.

Khi bị thẩm vấn, Ghiya đã khai rằng ông ta đã gửi bản gốc bức tượng thần Shiva nhảy múa sang Anh. Ở đây bức tượng đầu quân vào bộ sưu tập cá nhận của John Kasmink, một nhà sưu tầm nổi tiếng trong giới nghệ thuật ở London. Một thời gian sau, khi tạp chí Ngày Nay của Ấn Độ cho đăng tải câu chuyện của Ghiya và gợi ý rằng bức tượng thần Shiva hiện nay đang nằm trong tay Kasmin. Kasmin đã gửi fax cho Shrivastava, nhấn mạnh rằng việc ông nắm trong tay bức tượng là “hợp pháp” vì ông ta mua pho tượng này ở London. Nhưng ông cũng sẵn sàng trả lại nó cho Ấn Độ mà không đòi bồi thường. (Mới đây, Kasmin đã nói với tôi rằng ông ta mua tác phẩm này không phải từ Ghiya mà là từ một nhà phân phối ở London.)

Sau này, cảnh sát địa phương đã triệu tập một nhóm các nhà khảo cổ học và yêu cầu kiểm tra bức tượng đang được cất giữ tại Chittorgarh. Kết luận cuối cùng đưa ra, bức tượng ở Chittorgarh là đồ giả, bức tượng Shiva mà Kasmin sở hữu mới là đồ thật.

(Còn nữa)

Tác giả Patrick Radden Keefe

Uyển Chi (Vietimes) lược dịch từ The New Yorker

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Ảnh hưởng Chăm trong mỹ thuật và tín ngưỡng Việt

Thường người ta hay nghĩ dân tộc thống trị sẽ đồng hóa dân tộc bị trị, nhưng thực tế có khi ngược lại: dòngvăn hóa dân tộc bị trị du nhập và ảnh hưởng đến nền văn hóa của quốc gia thống trị nó. Thực tế này không phải là hiếm hoi trên thế giới, chẳng hạn hệ thần thoại La Mã có nguồn gốc từ thần thoại Hy Lạp khi quân La Mã đô hộ xứ này. Trong chừng mực nào đó, nếu nền văn hóa của dân tộc bị trị có nền tảng vững chắc và truyền thống lâu đời thì dân tộc thống trị bị đồng hóa ngược lại. Ví dụ lịch sử điển hình nhất là người Mãn. Khi chiếm được Trung Hoa chính sách đồng hóa của nhà Thanh hết sức công khai như bắt toàn Trung Hoa róc tóc và mặc y phục người Mãn. Dĩ nhiên trong một thời gian ban đầu điều này thực hiện được dưới áp lực hành chánh cai trị, nhưng với dân số đông đảo người Hán và nền văn hóa truyền thống lâu đời của họ dần dà đồng hóa ngược lại người Mãn. Để duy trì được ngôi báu, các hoàng đế nhà Thanh dần dần chuyển dịch theo khuôn phép Hán tộc nếu không muốn bị những sự phản kháng ngấm ngầm và sự trì trệ trong điều hành đất nước. Cho nên nền văn hóa triều Thanh khó mà phát hiện yếu tố Mãn, trong khi đó ngập tràn yếu tố Hán.

Dân tộc Việt không phải là ngoại lệ. Từ thời Lý-Trần nền văn hóa Chăm đã có những tác động mạnh mẽ và sâu đậm đối với mỹ thuật tôn giáo của Đại Việt thời ấy rồi. Theo thời gian dòng ảnh hưởng đó được Việt hóa một phần, nhưng dấu vết căn bản của nó hiện nay vẫn nhận ra Nền văn hóa chịu ảnh hưởng đầu tiên là nền văn hóa Phật giáo: chúng ta có thể thấy mỹ thuật Phật giáo Đại Việt có nhiều thành tố xa lạ với truyền thống nguyên sơ của Phật giáo, nó mang một số hình ảnh của Tháp-bà giáo (Shivaism) từ Chiêm Thành mang về.

Sự du nhập đó là một thực tế lịch sử có ghi chép rất rõ ràng. Đời vua Lý Thánh Tông “Mùa thu, tháng 7 (Giáp Thân- 1044), vua đem quân vào thành Phật Thệ bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên. ” và sau đó “Dựng cung riêng cho các cung nữ Chiêm Thành [Bính Tuất – 1046]” [Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản kỷ 2] và vũ nhạc Chăm bắt đầu ảnh hưởng đến Đại Việt từ nguồn nhân lực này. .

Ảnh hưởng đối với kiến trúc và mỹ thuật thời Lý-Trần

Một yếu tố Chăm ít người chú ý nhất là bình đồ chùa và tháp thời Lý. Chùa đời Lý thường có hình vuông, loại bình đồ này là khuôn mẫu của các tháp Chăm (Kalan). Thấp-bà giáo của người Chăm quan niệm. Tháp Chăm (Kalan) được kiến trúc dựa theo núi Tu-di trong thần thoại Ấn Độ. Nền vuông (Bhurloka): tượng trưng cho trần thế tức cõi dục, Thân tháp (Bhurvaloka): là phần lưng chừng tượng trưng cho cõi tánh linh , mái tháp (Suarloka): là ngon núi tượng trưng cho cõi tâm linh và là cõi của thần linh, và trên cùng hết là đỉnh tháp tượng trưng cho cung trời Kailasa, chốn của thần Shiva, thường bằng vàng hay bạc.

Chùa Một Cột – Diên Hựu

Quan sát ngôi chùa Diên Hựu (Một Cột) đời Lý chúng ta thấy ngay bình đồ hình vuông của ngôi chùa này. Theo mô tả, chùa Diên Hựu nhỏ, chỉ có một gian chính điện vuông vức 3m, trên một cột duy nhất cao 4m tính từ mặt nước và đường kính 1,2 m. Dù theo sử sách nói việc xây chùa do giấc mơ Phật bà Quan Âm dắt vua Lý Thái Tông lên tòa sen, nhưng có sự trùng hợp là các tháp Chăm nhìn từ xa có dáng dấp một hoa sen. Dáng dấp hoa sen đó không thuần túy ở góc độ nghệ thuật, mà là một yếu tố tâm linh của Ấn Giáo. Người Việt quen có nếp suy nghĩ hoa sen tượng trưng cho Phật giáo, nhưng thực ra hoa sen vốn là loài hoa thiêng của Bà-la-môn giáo mà sai này Phật giáo kế thừa. Trong Bà-la-môn giáo rất nhiều đoạn kinh thư nói đến hoa sen và hoa sen được gắn liền với nhiều vị thần. Tôn giáo này cho rằng hoa sen là biểu tượng của sự khai thiên lập địa (hoa sen được hình dung như bộ phận sinh dục nữ), sự hợp nhất của Tứ đại (đất, gió hay không khí, lửa, nước). Quan niệm hợp nhất tứ đại trong hoa sen của Ấn Độ được giải thích như sau: Rễ ăn sâu vào đất, sinh trưởng trong và bởi nước, lá sống nhờ không khí và hoa hấp thụ lửa của mặt trời. Thứ đến, tháp Chăm (tức Kalan) chỉ có một cửa ra vào, chùa Diên Hựu cũng có một cửa (các chùa đời sau đó rất nhiều cửa). Có thể đó là những ngẫu nhiên, nhưng trong ngẫu nhiên đó thấp thoáng thấy bóng dáng sự tất nhiên: do nghệ nhân tù binh Chăm xây dựng. Lưu ý: Không phải chỉ đời Lý Thánh Tông mới có tù binh nghệ nhân Chiêm Thành, từ thời Lê Hoàn và trước đó nữa đã có nhiều lần chinh phạt Chiêm Thành, mang về nhiều chiến lợi phẩm trong đó có tù binh (dĩ nhiên chưa nhiều và chưa đủ thời gian ảnh hưởng như thời Lý-Trần).

Không chỉ chùa Một Cột vuông vức, khá nhiều chùa xây thời Lý có bình đồ vuông, phong cách vẫn đơn giản hơn so với cấu trúc các đời sau. Tuy nhiên sau nhiều lần trùng tu không còn nguyên dạng nữa và mang phong cách thời đại sau.

Hình tượng thú vị khác là hình tượng rồng. Thời Lý-Trần hình tượng con rồng đều mang dáng dấp con rắn: dài và uốn lượn. So với con rồng thời Lê-Nguyễn thì rồng thời Lý-Trần gần gũi với rắn thần Nagar của Ấn Giáo hơn. Mặt khác, quá trình diễn biến hình tượng rồng của người Việt cũng cho thấy có sự du nhập của nghệ nhân tù binh Chăm trong chế tác các tác phẩm rồng. Ban đầu thời Đinh-Tiền Lê con rồng mang dáng dấp cá sấu (còn gọi là thuồng luồng hay giao long: rồng không sừng). Chuyển biến qua thời nhà lý là con rồng-rắn uốn lượn. Hình dưới đây cho sự so sánh đó:


Dễ dàng thấy hình tượng rồng thời Lý có dạng di chuyển uốn ngang (từ trái qua phải và ngược lại) kiểu rắn bò, còn rồng thời Nguyễn có dạng uốn dọc (từ trên xuống dưới và ngược lại) đặc trưng của con rồng Trung Hoa. Còn rồng trước thời Lý-Trần là con rồng sấu, gắn bó với dân tộc miền sông nước như người Việt. Điều này cho thấy những lần chinh phạt Chiêm Thành của các vua đời Lý-Trần đã du nhập văn hóa miền đất phía Nam, đến mức át cả ảnh hưởng của Trung Hoa từ phương Bắc tràn xuống. Hình tượng rồng là một tiêu biểu vì rồng trong Phật giáo chính là con rắn thần. Kinh sách Phật giáo chứng minh điều này: từ Nagar được người Trung Hoa dịch là “long”, ví dụ bồ tát nāgārjunađược dịch là bồ tát Long Thọ (tiếng Phạn nāgar= Long; arjuna = màu trắng, thanh tịnh; nhưng sự phiên dịch của Trung quốc có sai lệch là Long Thụ:Cây Rồng)

Nhưng thực ra rắn thần Nagar vốn của Ấn Giáo được Phật giáo du nhập vào siêu hình học của mình. Theo thần thoại Ấn Độ, long thần Naga chủ về mùa xuân và cai quản sông ngòi; thần coi việc làm mưa và là vị gieo thảm họa lụt lội. Chính vì những đặc điểm tương tự như quan niệm rồng của người Trung Hoa nên “nagar” được dịch thành rồng; hoặc cũng có thể người Trung Hoa du nhập rắn thần nagar vào nước mình rồi biến thể qua nhiều đời thành con rồng như chúng ta biết hiện nay. Và như chúng ta đã biết Chiêm Thành là cái nôi văn hóa Ấn Giáo truyền vào Việt Nam.

Rồng trên cột đá chùa Dạm – đời Lý

cột đá này mang dấu ấn một Linga

Trở lại vấn đề. Chính vì sự du nhập các nghệ nhân tù binh mà nền văn hóa Chăm đã mang rắn thần Nagar cách điệu dần con rồng thời Đinh-Ngô. Đó là lý do vì sao tiếp nối rồng sấu và rồng mèo thời Ngô-Đinh là con rồng rắn thời Lý-trần mà không có thể dạng chuyển tiếp từ hai dạng rất khác biệt nhau về phong cách này.

Bên cạnh đó chúng ta còn thấy các đền chùa thời Lý trần rất nhiều tác phẩm điêu khắc mang hình tượng thần thoại của Ấn giao (Phật giáo có kế thừa nhưng không có tính đậm nét) như Kim Sí Điểu (Garuda),Nhạc công (Kinnara), …

– Kim Sí Điểu tiếng Phạn là Garuda nên còn phiên âm là Câu-lâu-na, là vật cưỡi của thần Visnu, sai này Phật giáo quy vào Bát bộ chúng. Loài này mình chim đầu người: mình vàng, mặt trắng, cánh màu đỏ, mỏ diều hâu, thân hình vạm vỡ và trên đầu đội mũ ngù

– Nhạc công chính là Nhạc thần Khẩn-na-la (Kinnara) phục vụ sự ca hát cho Đế Thích. Hình các phù điêu ở đời Lý không châm khác rõ phần dưới, chứ theo truyền thống Ấn giáo thù phần dưới thân là hình chim. Khẩn-na-la nam đàn hát hay còn nữ múa giỏi, nên loài này được lo việc âm nhạc ở cung trời Đế Thích. Phù điêu ở những chùa đời Lý mà người Việt quen gọi là tiên chính là các Khẩn-la-na nữ.

Những tác phẩm điêu khắc này chúng ta thấy đầy rẫy ở các tháp Chăm có niên đại xưa hơn chùa chiềng đời Lý. Bên cạnh còn có những tượng thú cũng hay gặp ở các công trình công giáo Chiêm Thành: sư tử, voi, bò (trâu), … Tượng bò (trâu) tuy hiếm nhưng đó là vết tích của bò thần Nandin thường thấy ở các tháp Chăm.

Dấu ấn văn hóa Chăm trong Đạo Mẫu


Hầu bóng hay lên đồng là một hình thái đặc trưng của Đạo Mẫu. Dạng thông linh này hiếm thấy ở nền văn hóa Trung Hoa. Chúng ta dễ dàng tìm thấy nhiều tư liệu sách cổ chữ Hán những hình thức thông linh như cầu mộng, bút tiên, … Trong khi hầu bóng là một dạng thức thông linh trực tiếp có nét khác, và nó có thể tìm thấy trong nền văn hóa Chăm. Cụ thể ở gần Nha Trang trước năm 1975 có một làng gọi là Xóm Bóng (sau người Việt đến ở đông nên không còn nữa, và đổi là xóm Chài) chuyên làm nghề bóng rỗi. Theo tín ngưỡng Chăm: “Bà bóng Pajao có nhiệm vụ nhảy múa, dâng lễ vật mời thần linh, nhập đồng tiên tri mọi việc vì hàng năm bà bóng vẫn có dịp giao cảm với thần linh trong một giấc ngủ triền miên” (Nguyễn Văn Luận. Người Chăm Hồi Giáo Miền Tây Nam Phần,. Sài Gòn 1974, tr 50)..Một trong những màn nổi cộm nhất trong lễ hầu bóng là xiên lình Khi xiên lình con nhang ở trạng thái xuất thần và âm nhạc của cung văn dùng làn điệu ‘đảo phách’ pha trộn tiếng nhạc khí gõ tạo một trạng thái âm thanh huyền ảo. Sau khi ‘thăng đồng’, người xiên lình không hề có cảm giác đau và chảy máu nơi đó. Nghi lễ này có nguồn gốc Bà-la-môn giáo vùng Nam Ấn, cũng thấy ở nhiều lễ hội vùng phía Nam Đông Nam Á, đặc biệt ở Mã Lai. Người Mã Lai xiên lình trong dịp lễ có tên là Thaipusam. Nguồn gốc lễ hội này từ Nam Ấn du nhập sang Mã Lai cách nay hàng trăm năm, hàng năm được tổ chức tại đền Batu Caves (thờ thần Murugan) ở ngoại ô thủ đô Kuala Lumpur. Nghi lễ xiên lình này nhằm tưởng nhớ thần Murugan dùng thanh sắt của thần Parvati (mẹ của thần Murugan) trao cho đánh thắng loài quỷ dữ

Quay trở lại dân tộc Việt, những tập tục cổ xưa trước khi có Đạo Mẫu không hề thấy có tư liệu hay vết tích khảo cổ chứng minh được nghi thức tế lễ này và nhiều cơ sở cho thấy nó xuất hiện từ thời Hậu Lê cùng với truyền thuyết Mẫu Thượng Thiên Liễu Hạnh. Do vậy nhiều xác tín đây là nghi lễ du nhập từ Chiêm Thành vào và Việt hóa dần.


Quá trình lên đồng luôn luôn có đi kèm một dàn bát âm chầu văn, trong đó cung văn là vị trí không thể thiếu Có nhà nghiên cứu cho rằng lối hát chầu văn khi hầu bóng là sự du nhập và biến thể lối hát “giàn” của người Chăm. Lối hát giàn này hiện vẫn còn trong các lễ hội của người Chăm. Khởi nguyên là sự du nhập nhạc chiêm Thành của các vua đời Lý-Trần, những khúc nhạc này lan truyền ra dân gian và áp dụng vào nhạc lễ của Đạo Mẫu. Về sau âm nhạc chầu văn được Việt hóa bằng những nhạc cụ có gốc Việt nam, hiện nay một nhạc chầu văn có đầy đủ nhạc khí sẽ gồm một đàn nguyệt, một đàn nhị, một sáo, một trống lớn, một trống nhỏ, một cảnh đôi, một phách (của người Chăm gồm đàn Kanhi, trống Gi-năng, kèn Sa-rai-nai, ….) nhưng giai điệu mang máng có những nét trầm bổng giống nhau, nhất là nhịp phách của bộ gõ. Bộ gõ tạo nên một không khí phấn hứng cao, góp phần giúp người ngồi đồng có cảm giác thoát xác để nhập thân với các vị Thánh (dĩ nhiên kết hợp với yếu tố tâm linh} tạo nên một trạng thái tinh thần đặc biệt khiến người ta làm những việc mà ở trạng thái bình thường khó làm nổi. Không khí này dễ dàng bắt gặp ở lễ hội Ka-tê của người Chăm hàng năm tổ chức ở tháp Pô Kluang Garai (Phan Rang, mà người Việt quen gọi Tháp Chàm nên ga xe lửa gần đó gọi là ga Tháp Chàm). Lễ hội này sẽ kết thúc bằng điệu múa thiêng của bà đồng bên trong tháp kèm theo những tiếng nhạc gây cảm giác của một buổi hầu đồng.

Hình ảnh kế tiếp là ông Lốt chạm khắc trên các cột đền phủ của Đạo Mẫu. Ông Lốt chính là hai con rắn quấn trên cột. Chúng ta lần về quá khứ trước thời Đạo Mẫu ra đời thì dân Việt không có tục thờ rắn, ngược lại hình tượng rồng rất phổ biến do ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa. Nhiều người nói rằng ông Lốt chính là Thanh Xà và Bạch Xà trong chuyện thần thoại Trung Hoa. Nhưng xét màu sắc trang trí ông Lốt thì rõ ràng không phù hợp, hơn nữa một tôn giáo khó lấy hình tượng “yêu quái” để thờ. Rất nhiều khả năng đó là rắn thần Nagar của Ấn Giáo mà Phật giáo hay gọi là rồng. Trên các bức phù điêu của những tháp Chăm hiện diện rất nhiều hình ảnh rắn thần Nagar với những nét mỹ thuật khá trùng hợp với ông Lốt trong Đạo Mẫu.

Vì thế, rất có thể Đạo Mẫu là dòng tín ngưỡng du nhập từ Chiêm Thành vào Việt Nam rồi Việt hóa dần. Sự du nhập đó mang tính rất tự nhiên của con người khi khai phá vùng đất mới đầy hiểm nguy rình rập. Tâm trạng sợ hãi đó được trấn an bằng sự tiếp nhận thần linh nơi vùng đất mới làm sức mạnh thiêng liêng phù trợ cho mình. Chúng ta có thể hiểu được tâm trạng này qua hình ảnh Chúa Tiên Nguyễn Hoàng dễ dàng thừa nhận Bà Thiên Mụ áo đỏ của người Chăm làm vị thần bảo vệ đất Thuận Hóa của Chúa. Nhiều bài nghiên cứu trên Tạp Chí Những Người Bạn Huế Cũ và của Trường Viễn Đông Bác Cổ cũng chứng minh nhiều pho tượng Chăm được người Việt đem thờ mà chẳng cần biết gốc gác thần tích.

Liệu thời cổ xưa hơn nữa có mối giao lưu Việt-Chăm hay không? Một vài chứng cứ sử liệu cho thấy có. Đề tài này sẽ bàn trong bài viết sau này, nếu có thể.


Kim Sí Điểu (Garuda)đời Lý

Chùa Phật Tích – Bắc Ninh

Kim Sí Điểu (Garuda) đời Trần

Chùa Thái Lạc

phù điêu Nhạc công -đời Lý

chùa Phật Tích

Đức Chính biên khảo

*Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính biên khảo  và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ Tác giả Đức Chính .

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm


Read Full Post »

Nguồn: Tổng hợp

Thiên Y A Na và Tháp Bà – Po Nagar

Bà Thiên Y A Na

Tháp Bà có tên chính thức là Kalan Po Nagar (Tháp Po Nagar), tức đền tháp thờ thần Po Nagar (tiếng Chăm là Yan Po Nagar). Thật ra Po Nagar không phải là một vị thần Ấn giáo, mà là Nữ vương thời Chiêm Thành còn mang tên Hoàn Vương Quốc (646-653). Theo lời truyền tụng Nữ vương có nhiều công lao xây dựng vương quốc phồn thịnh (lúc đó Việt Nam vẫn còn trong thời kỳ Bắc thuộc), theo tập tục tín ngưỡng bản địa được người Chăm tôn lên làm thần chủ về đất đai và nông nghiệp hay Bà Mẹ Xứ Sở. Danh tính này được bác sĩ Trần Văn Ký thừa nhận:: “Trên các bia ký lưu lại ở tháp, nếu ghi bằng chữ Phạn cổ thì tên của Bà là Bhagavati Kautharesvati, và ghi bằng chữ Chàm thì gọi đầy đủ là Yang Po Inư Nagar, theo đó thì “Yang” là Thần; “Pô” là tôn kính, là ngài; Inư là Mẫu, là mẹ; và Nagar: xứ sở, đất nước.” [Tháp Bà Nha Trang và Lược Sử Chiêm Thành], Khi người Việt chiếm đất Chiêm Thành, nữ thần này được thừa nhận tương tự như Chúa Nguyễn Hoàng thừa nhận Bà Thiên Mụ ở Huế vậy. Từ đó Nữ thần có thêm tên là Y A Na (trại từ (Po Nagar) và theo tập quán thời Nguyễn vua sắc phong thêm chữ Thiên nên gọi là Thiên Y A Na.

Bà Đen – Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi

(Tượng thờ ở Tháp Bà Po Nagar – Nha Trang)

Thần tích của Nữ thần theo thời gian được Việt hóa, đến năm 1856 Phan Thanh Giản cho khắc một bia đá được dựng ở tháp, toàn văn bài bia Tháp cổ Thiên Y đã được chép lại vào sách Đại Nam Nhất Thống Chí, đại ý bài văn như sau: “Xưa trong vùng Đại Điền có hai vợ chồng già trồng dưa hấu sinh sống. Khi dưa chín thì về đêm cứ bị phá trộm. Ông lão rình và thấy một cô gái mới lớn dùng dưa để đùa giỡn dưới trăng. Ông lão vặn hỏi thì biết là trẻ mồ côi bèn đem về làm con nuôi, và hai vợ chồng rất thương yêu cô gái. Một ngày mưa lụt lớn, nhớ chốn cũ ở Tam thần Sơn, cô nhập vào một khúc gổ kỳ nam đang trôi về phương bắc. Dân phương bắc thấy gỗ thơm trôi giạt đua nhau gắng sức kéo về nhưng không nổi. Thái tử đang ở tuổi 20, con của vua cai trị nghe tin liền tìm đến bãi biển và lạ thay một mình khuân được gỗ về cung. Từ đấy thường vỗ về cây kỳ nam và bồi hồi ngẩn ngơ. Bỗng một đêm thấy có bóng một cô gái diễm kiều hiện ra, thái tử vội nắm tay giữ lại gặn hỏi và biết được sự tích. Thái tử tâu rõ mọi chuyện với vua cha và được vua cho kết hôn. Hai vợ chồng sinh được hai đứa con, trai tên là Trí và gái là Quý. Một thời gian sau lại nhớ chốn cũ ở phương nam, vợ thái tử dắt hai con nhập vào gỗ kỳ nam trôi về cửa Cù Huân, rồi lần về núi Đại Điền nhưng ông bà lão trồng dưa đã qua đời. Bà liền lập đền thờ. Từ đó bà dạy dân trong vùng biết cách trồng lúa. Về sau Bà còn cho đục đá ở núi Cù Lao tạc tượng bà, rồi giữa ban ngày bà thăng thiên biến mất. Thái tử mãi sau cho người kéo thuyền đi tìm vợ, nhưng bọn người này khi đến cửa Cù Huân lại hiếp đáp dân lành và khinh miệt linh tượng, nên chợt có một trận cuồng phong nổi lên đánh úp thuyền biến thành một tảng đá to. Từ đó dân làng thấy Bà hiển linh thường cỡi voi trắng đi dạo trên đỉnh núi với tiếng sấm vang động. Có khi bà cỡi tấm lụa bay giữa không trung hay cỡi cá sấu trong vùng dảo Yến, núi Cù. Dân trong vùng bèn xây tháp thờ trên núi Cù Lao, cầu khấn việc gì cũng linh ứng. Tháp giữa thờ Chúa Tiên (tức Thần Thiên Y), tháp bên trái thờ vợ chồng lão trồng dưa, bên phải thờ thái tử. Phía sau lập đền nhỏ thờ hai người con. Người Chàm tôn Bà là Ana Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Triều Nguyễn phong tặng Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đằng Thần và cử ba người dân làng Cù Lao làm Từ phu.” Triều đình dựa vào đó sắc phong cho Nữ thần với mỹ danh Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng đẳng thần và gia phong Hồng nhơn phổ tế linh ứng Thượng đẳng thần

Linga (ở Tháp Bà)

Thần vật của Tháp Bà giáo

Tập San Bạn Huế Cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hué) cũng dịch lại điển tích trên và nói thêm trước các ngọn tháp có một bia ghi chữ tượng hình chính người bản địa vẫn không hiểu viết gì (Bài Histoire de la Déesse Thien-Y-A-Na par Đào Thái Hành). Và cũng trong Tập san này, Sallet (avril-juin 1923) có chú thêm ở Đa Hòa, Điện Bàn, Bà còn có danh hiệu “Chúa Ngọc Ngạn Thượng Sơn Thần”, có hai người con trai là Cậu Quý và Cậu Tài. (dẫn từ Le Culte des Pierres của A. Cadière). Nhưng dân gian ở miền Trung lại hay gọi Bà Đen, tên gọi này dễ có sự nhầm lẫn với một Bà Đen khác ở miền Nam. Bà Đen ở miền Nam được thờ ở núi mang cùng tên thuộc tỉnh Tây Ninh được triều Nguyễn sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu.

Tuy cùng tên gọi nhưng là hai nữ thần khác nhau. Bà Đen ở Tây Ninh, do Lê Văn Duyệt trình tấu xin triều đình sắc phong, có thần tích đại khái như sau: “Xưa trên núi Bà Đen, lúc ấy còn gọi là núi Một vì quanh vùng trơ trọi hòn núi này, có một tượng Phật rất to. Người người thường lên viếng Phật, trong đó có một tiểu thư tên là Lý Thị Thiên Hương, tuy là phận gái nhưng văn hay võ giỏi. Thiên Hương có nhan sắc và trong làng có chàng trai tên Lê Sĩ Triết đem lòng yêu thương. Vì có sắc đẹp, Thiên Hương cũng phải lòng một viên quan, người này dùng gian kế và quyền lực ép duyên may nhờ Lê Sĩ Triết ra tay cứu thoát. Cha mẹ cô cảm nghĩa đồng ý gả cô cho chàng trai nghĩa dũng này. Sau đât nước loạn lạc, chàng trai đi tòng quân. Lúc chồng vắng nhà, một hôm có bọn cướp vây bắt khi đang lễ Phật trên núi, cô chống cự và trốn vào rừng mất tích. Đến đời Minh Mạng, một hòa thượng trụ trì trên núi ứng mộng thấy một người con gái xinh đep, da ngăm đen, xưng tên Lý Thị Thiên Hương bị cướp rượt té xuống vực chết,đã về báo mộng chỉ chỗ cho hòa thượng tìm đến. Thấy có sự hiển linh như thế nên dân gian lập miếu thờ cúng.” Ở đây nói thêm hơi dài dòng nhằm phân biệt cho cụ thể cách gọi hai miền.

Mandapa sau khi trùng tu

Tháp Bà Po Nagar

Theo nguồn Wikipedia tiếng Việt: “Tháp Bà là ngôi đền nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cao khoảng 50 mét so với mực nước biển, ở cửa sông Cái (sông Nha Trang) tại Nha Trang, cách trung tâm thành phố khoảng 2 km về phía bắc, nay thuộc phường Vĩnh Phước. ” và tháp không phải đời sau xây lên để thờ Bà mà chính Nữ vương đã cho dựng lên thờ nữ thần Bhagavati. Tư liệu này cho biết thêm lúc đầu ngôi tháp bằng gỗ nhưng trong thờ “tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng”. Tượng nữ thần này bị quân Nam Đảo (tức Indonesia) cướp đi sau khi tàn phá ngôi tháp vào năm 774. Sau đó được Satyavarman cho dựng lại bằng gạch, năm 784 thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. Đến đời vua Harivarman I và con trai ông là Vikrantavarman III lượt xây dựng thêm 5 tháp nữa (tức 6 tháp).

Cứ liệu này cho thấy thời Nữ vương xây dựng bằng gỗ là chính xác, còn tượng bằng vàng cần xem xét lại. Theo cuốn Lịch Sử Champa được tổng hợp từ nguồn Wikipedia viết “Indravarman III. Vào năm 918, Indravarman III cho đúc tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng dựng tại Tháp Bà, bức tượng này bị quân Chân Lạp cướp vào khoảng năm 945 – 946. Năm 965, Jaya Indravarman I cho dựng lại tượng nữ thần Bhagavati bằng đá ở Kauthara.” (thời kỳ này tương đương nhà Đinh ở Việt Nam).

Như thế việc thờ cúng của tháp chia làm hai thời kỳ: một thời kỳ thờ nữ thần Bhagavatitrong thần thoại Ấn Độ và thời kỳ sau thờ Nữ vương Po Nagar vì được coi là hóa thân của nữ thần Bhagavati. Trong bài The My Son and Po Nagar Nha Trang Santiarues, dựa vào các bản sao văn bia trong đền dang lưu giữa ở Trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Trần Kỳ Phương đồng ý quan điểm này: “Qua các văn bia, chúng ta thấy tượng nữ thần Bhagavati được vua Satyavarman dựng lên tại đền năm 784 sau khi vua chiến thắng quân Nam Đảo năm 774. Tượng nữ thần bằng vàng được đặt tại đây từ năm 817 đến năm 918. Năm 950 tượng vàng đó bị quân Khờ-me cướp và đến năm 965 vua Haya Indravarman làm lại bằng sa thạch”.Cứ liệu dựa trên văn bia này đáng tin cậy, như vậy không phải quân Nam Đảo (Java) mà là quân Khờ-me lấy pho tượng vàng này. Một tài liệu khác dựa vào bia ký cũng xác nhận do quân Khờ-me cướp tượng vàng chứ không phải người Nam Đảo: Le Royaume de Champa, của Georges Maspero, 1928: Cuốn sách này có viết: “D8ến năm 945 hay 946 quân của vua Cam-bốt Rajendravarman xâm lược Champa và chiếm đền Po Nagar.”[Trang 118]. Sau đó Trần Kỳ Phương nói thêm: “Năm 1050, vua Sri Paramesvarvarman tôn xưng nữ vương thành thần với danh hiệu Yapu-Nagara/Yang Pu Nagar” Người được tôn xưng và thờ trong tháp chính là nữ vương Po Nagar, trước khi lên ngôi là công chúa Ramavali. [Trang 12]

Theo một nguồn tư liệu khác cho biết thời xây dựng tháp Po Nagar thì Chiêm Thành chia làm 2 nước, đúng hơn là 2 bộ lạc: Bộ lạc Dừa ở phía Bắc và bộ lạc Cau ở phía Nam. Tháp nằm trong lãnh thổ của vương quốc Cau, bị phá hủy nhiều lần bởi người đảo Java (tài liệu trên gọi là Nam Đảo) vào năm 774 và người Khờ-me vào năm 930. Tư liệu này còn cho biết xưa kia có tất cả 10 ngọn tháp mà nay chỉ còn lưu lại có 4 [httpwww.asiedesheritages.comsitechampachampa.htm]. Kiến trúc chính của cụm tháp này có tên gọi là Mandapa, có nghĩa là Phòng cầu nguyện có những cột đá đồ sộ, mà nay vẫn còn và đã được trùng tu lại, Phần kiến trúc này rất quy mô có thể nhận thấy ngay khi đi vào khu di tích. Dữ liệu này hoàn toàn phù hợp với lập luận vừa bàn. Đồng Dương xây dựng ở Quảng Nam tức phía Bắc Nha Trang, thuộc bộ lạc Dừa. Như vậy trước thế kỷ thứ 8 Chiêm Thành có 2 tiếu quốc, phía Bắc chịu ảnh hưởng của Phật giáo và phía Nam là Ấn giáo (cụ thể Thấp-bà giáo). Xứ Cau miền Nam hay bị thủy quân vùng Nam Đảo và quân Khờ-me quấy nhiễu, phía Bắc tiểu quốc Dừa bị Đại Việt đe dọa thôn tính.

Hiện nay, tháp chính thờ Nữ thần Po Nagar nằm ở phía bắc khu di tích, niên đại thế kỷ 12, cao 22,5 m, đỉnh tháp có chạm phù điêu thần Shiva cưỡi bò thần Nandin. Ngoài ra trong tháp còn có nhiều tượng thần khác, chung quanh có tượng các linh thú theo thần thoại Ấn Độ và dĩ nhiên không thể thiếu linga (biểu tượng của thần Shiva, vị thần chính của Chiêm Thành). Dưới đây là một số hình ảnh.


Ngoài Mandapa, cụm di tích này còn có tháp giữa. Tháp này được xây dựng vào thế kỷ thứ 12 từ gạch tháo ra ở những ngôi đền cũ khác. Ngoài ra còn có một số tháp khác nay đã hư nát nhiều. Dưới là bình đồ của cụm di tích này.

Đó chỉ mới là di sản văn hóa, Tháp Bà còn lưu giữ một tài sản hết sức quý báu: di sản lịch sử. Theo các nhà sử học Chiêm Thành gần như không để lại tài liệu ghi chép về lịch sử (hoặc bị mất không chừng?). Những điều này được bù lấp bằng các bia ký ở các đền tháp, đặc biệt ở Tháp Bà Po Nagar lưu lại rất nhiều văn bia có giá trị. Wikipedia tiếng Việt phân loại các bia ký đó nhu sau:

• Nhóm A: Trên bia đá hình lục giác, do vua Satyavarman dựng năm 781 ghi chuyện tháp bị giặc biển đốt phá năm 774, việc xây dựng tượng thần Sri Satya Mukhalinga vào năm 784.

• Nhóm B: Do vua Vikrantavarman III ghi lại công lao xây dựng của các tiên vương.

• Nhóm C và nhóm D: Do vua Vikrantavarman II ghi các lễ vật dâng cúng chư thần.

• Nhóm E: Ghi việc vua Indravarman II dựng pho tượng Bhagavati (tức Po Nagar) bằng vàng vào năm 918; pho tượng này về sau bị người Khmer xâm lăng cướp đi, và đã được thay thế bằng tượng bằng đá vào năm 965.

Bia ký ở Tháp Bà Po Nagar

Bia đá ở hai bên cửa của tháp chính ghi việc cúng ruộng và dân công nô lệ cho nữ thần. Bia ở phía nam của tháp chính ghi việc vua Jaya Harivarman I ca tụng thần Yang Po Nagar vào năm 1178. Bia ở phía bắc tháp chính ghi việc dựng đền thờ thần Bhagavati Matrilingesvara vào năm 1256. Ngoài ra còn bia đá dựng năm 1050 của vua Paramesvaravarman I ghi việc tái lập tượng Bà, việc dâng cúng ruộng đất và nô lệ đủ sắc tộc: người Campa (Chăm), Kvir (Khmer), Lov (Tàu), Pukan (Mã), Syam (Xiêm) vv… Bia của vua Rudravarman III (Chế Củ) dựng năm 1064 ghi việc xây cổng tháp rất tốn kém, và liệt kê những cống phẩm quí giá. Bia năm 1143 ghi lời xưng tụng Bà. Bia năm 1165 của vua Indravarman IV ghi việc dâng cúng một kim mão cho nữ thần Bhagavati Kautharesvati (Dựa vào lời ghi này có thể tạm dịch là “Đức thánh mẫu vùng Kauthara” và so sánh với các bia khác, có thể đoán là người Chăm chỉ thờ thần Parvati như Thánh Mẫu của từng địa phương; ví dụ ở Phú Yên và Ninh Thuận cũng có tháp thờ Thánh Mẫu của vùng đó, chứ chưa hẳn là ở mức độ toàn xứ Chiêm Thành). Các bia sau cùng ở thế kỷ thứ 13 hay 14 tiếp tục ghi những vật dâng cúng Bhagavati. [Wikipedia]

Thực tế cho thấy nhờ những bia đá này mà người ta biết được từng có thời Chiêm Thành chia làm hai tiểu quốc Cau và Dưa; những lần tấn công của quân Nam Đải và quân Khờ-me, các vị vua của những vương triều Champa để đối chiếu với tên phiên âm Hán Việt, … Qua đó nhiều bí mật lịch sử dần hé mở.

Dựa vào các bản sao rập lưu giữ tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp các nhà nghiên cứu đã lần tìm nhiều manh mối lịch sử Champa mà xưa nay chỉ dựa mù mờ vào sử Việt và sử Trung Hoa. Ví dụ:

– Bản số 14, sao rập ở Tháp Bà Po nagar cho biết một chi tiết: cư dân vùng Phan Rang xưa kia xưng tên dân tộc họ là Vrlas;

– Bia Mỹ Sơn số 90 thuật về câu chuyện công chùa Huyền Trân, vợ vua Chế Mân, trốn chạy việc tuẫn táng.

– Bia Tháp Bà Po Nagar số 38 D có ghi lại sự kiện người Khờ-me xâm lăng xứ Champa (mà sử Việt và Sử Trung Hoa không đề cập đến)


Và cả những truyền thuyết về dân tộc và đất nước Chăm. Ví dụ bia Đồng Dương số 66 có chép: “Xưa kia đất nườc này rất huy hoàng và hùng mạnh, thần dân sống ấm no và sinh sôi nảy nở. Trên đất nước này chỉ có một vị vua, Prithivindravarman, giàu có và sống từ đời này qua đời khác, ngài là Đế Thiên (Indra) của mọi vị thần thên cõi thế này”

Nhờ thế mà sai này người ta đối chiếu được rất nhiều vị vua Chăm tương ứng với tên gọi trong Sử Việt như Ba Mỹ Thuếu (tức Parames’varavarman), Ngô Nhựt Hoan (Indravarman II), Băng Vương La Duệ (Sri Harivarman II), Sạ Đẩu (Jaya Sinhavarman II), Chế Củ (Rudravarman III), .Chế mân (Jaya Sinhavarman III), Chế Bồng Nga (Po Bhinethuor),…. Ngược lại vì không có bia tháp mà nhiều vị vua Chiêm Thành không đối chiếu được như: Khu Liên, Phạm Văn, Phạm Hùng Phạm Hồ Đạt, Trà Hoa Bồ Đề, Ma Ha Bí Lai, … thậm chí vào thời cận đại nhà Hậu Lê có hai vị vua vẫn chưa đối chiếu được tên tiếng Phạn-Chăm là Trà Nguyệt và Trà Toàn. Chẳng qua các vị vua này không có dựng tháp và khắc bia kể công tích và sự biến trên đất nước, các sử gia đành dùng tạm tiếng Hán Việt và đó là một lỗ hổng khuyết trong sự thật lịch sử. Bởi lẽ có nhiều tên vị vua bằng tiếng Phạn-Chăm khắc trên bia đá nhưng không thấy nói đến trong sử Việt và sử Trung Hoa như vua Sri Satyamukhalingadeva, vua Sri Paramabuddhaloka, hoàng hậu Haradevi, …, biến sử Champa thành những đoạn rời rạc. Hy vọng sau này những khám phá khảo cổ và nghiên cứu lịch sử sẽ dần khơi tỏ khoảng trống này.

Đức Chính tổng hợp

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm

Read Full Post »

Nguồn Bảo tàng Guimet

Thần Visnu cỡi Kim Sí Điểu (Visnu Garudâsana)

Ngũ Hành Sơn, Việt Nam ( ?)

Nghệ thuật Chăm, nối tiếp Mỹ Sơn E1, thế kỷ 8-9

Bằng sa thạch, phong cách đa sắc muộn

Cao: 58 cm

Mã số: MA 3572

Tác phẩm này hiện vẫn còn bảo tồn rất tốt, thể hiện thần Visnu ngồi giạng chân cưỡi trên con Kim Sí Điểu (Garuda), vật cưỡi của thần. Vị thần này vốn có bốn tay cầm những bảo bối, hiện chỉ còn hai tay với món bảo bối: chiếc vỏ ốc và quả cầu. Thần đội chiếc mũ lễ hình bát giác, mặt có ria mép và chòm râu rậm ở cằm. Dái tai có xỏ lỗ đeo đồ trang sức quý. Nét mặt thần mang dấu ấn chủng tộc đặc trưng trong nền nghệ thuật Chăm. Thần mặc chiếc khố sampot ngắn, cưỡi trên con vật hình dáng kỳ lạ là Kim Sí Điểu (Garuda). Kim Sí Điểu là một con chim thần thoại (linh điểu) có thân hình người nhưng mang đầu chim. Kim Sí Điểu quỳ một chân chạm đất, hai tay ôm chân chủ nhân là thần Visnu. Qua quy chuẩn tạo hình Kim Sí Điểu và hình dạng tròn trịa của nó có thể thấy pho tượng này phỏng theo phong cách các xưởng chế tác miền Bắc Ấn.

Tác phẩm này đại diện cho các vết tích thời kỳ đa sắc muộn, nó gợi lại nhiều hình tượng nhiều màu sắc thời xưa kia.

Rất nhiều khả năng nguồn gốc pho tượng này thuộc Ngũ Hành Sơn (người Pháp dịch dảy núi Ngũ Hành Sơn là Montagnes de Marbre), thuộc huyện Ngũ Hành Sơn, tỉnh Đà Nẵng. Lưu ý các phong cách nghệ thuật của Champa thường mang tên khu di chỉ hay đền đài mà nó tiêu biểu. Nên pho tượng này được xếp vào thời kỳ nối tiếp phong cách Mỹ Sơn E1 (khoảng năm 650-730), là chứng tích cổ xưa nhất cho thấy có một thành phố Thánh địa Mỹ Sơn của người Chăm.

Đức Chính dịch và giới thiệu

*Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính biên dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ Tác giả Đức Chính.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm


Read Full Post »

Nguồn Musée Guimet

Bài 1: Điêu Khắc Chăm: kho tàng Việt nam

12 October 2005 – 6 February 2006

Triển lãm được tổ chức bởi Viện Bảo tàng Quốc Gia về Nghệ Thuật Châu Á Guimet với sự bảo trợ của Ngân hàng Crédit Agricole cùng đối tác tài trợ là Vietnam Airlines và La Maison de l’Indochine.

Thần voi Ganesha – Thánh địa Mỹ Sơn, tháp E 5 (tỉng Quảng nam – việt Nam) thuộc thế kỷ thứ 7, bằng sa thạch, cao 96 cm, đang bảo tồn ổ Bảo tàng Đà Nẵng. Cat.11 © Thierry Ollivier

Triển lãm này mang đến các kiệt tác từ hai bộ sưu tập chính về Nghệ Thuật Chăm ở Việt Nam: Bộ mang đến từ Đà Nẵng (48 tác phẩm) và bộ từ Viện Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh (15 tác phẩm) Thêm vào còn có 7 bức điêu khắc đang bảo tồn tại Thánh địa Mỹ Sơn (tỉnh Quảng Nam), 23 tác phẩm được tuyển chọn ra từ Viện Bảo tàng Guimet, 2 của Viện Bảo tàng Rietberg Museum ở Zurich, và 01 từ Viện Bảo tàng Guimet tại Lyon. Triển lãm này là một phần trong sự hợp tác giữa Việt Nam và Pháp nói chung, và đặc biệt hơn nữa giữa Viện Bảo tàng Đà Nẵng với Viện Bảo tàng Guimet nói riêng. Năm 2002, Viện bảo tàng Guimet đã phối hợp với Viện Bảo tàng Đà Nẵng khai trương xưởng phục hồi các tác phẩm điêu khắc, việc này thắt chặt mối quan hệ văn hóa lâu đời giữa Việt Nam và Pháp. Cuộc triển lãm này là một kết quả..

Thần Devi – Hương Quế (tỉnh Quảng Nam – Việt Nam, thế kỷ thứ 10, bằng đá, bảo tồn tại Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Cat.35 © Thierry Ollivier

Toàn bộ có tác phẩm điêu khắc bằng đá, đồng và quý kim tiêu biểu cho lịch sử và minh họa các tôn giáo của vương quốc Champa cổ từng nằm ở Nam Trung Bộ Việt Nam ngày nay, vương quốc này hiện không còn tồn tại. Các tác phẩm được trưng bày theo niên đại, từ tác phẩm cổ nhất hiện tìm được (khoảng thế kỷ thứ 5) cho đến tác phẩm cuối (khoảng thế kỷ 15), giúp có một cái nhìn về sự phát triển hệ tượng Chăm trước khi vương quốc Champa suy tàn dần vào thế kỷ 19.

Vài dòng lược sử

Tài liệu Trung Hoa có ghi chép từ cuối thế kỷ thứ 2 đã có một vương quốc tên Lâm Ấp, tiền thân của nước Champa, Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy vùng biên cương nước Lâm Ấp chịu sự đô hộ của một Đế quốc trong vùng là nước Việt Nam ngày nay, sau tách ra thành một nước độc lập gọi là Champa mà sách Trung Hoa quen phiên âm là Chiêm-bà. Mãi đến thế kỷ thứ 6-7, các công trình kiến trúc và điêu khắc mới có bằng chứng rõ nét sự tồn tại một nhóm quốc gia chịu sự Ấn hóa nằm dọc theo Miền Trung Việt Nam.

Tượng Phật Đồng Dương (tỉnh Quảng Nam, Việt Nam) thế kỷ thứ 8-9, bằng đồng, cao 108 cm, bảo tồn tại Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Cat.17 © Thierry Ollivie

Vương quốc Champa có nền văn hóa riêng mang dấu ấn của Ấn Độ về ngôn ngữ và tôn giáo: một số theo Phật giáo và một số theo Ấn giáo, ngôn ngữ là tiếng Phạn. Cổ sử của vương quốc này hiện chẳng còn bao nhiêu, nhưng thay vào đó các nghiên cứu văn bia khắc ở các đền đài, bằng tiếng Phạn và tiếng Chăm cổ, có giá trị rất lớn. Do vậy, nghệ thuật Champa hiển lộ ra là một trong những nền nghệ thuật cổ của Châu Á và Đông Nam Á. Nền nghệ thuật này mang lại những tác phẩm tinh tế và mang tính thừa kế nguyên thủy từ nền văn hóa Ấn Độ cổ đại.

Người Chăm

Người Chăm gốc dân tộc Nam Đảo (Austronesian) đến định cư dọc bờ biển và lưu vực các con sông thuộc Miền Trung và Miền Nam Việt Nam hiện nay từ Thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Hiện các nhà khảo cổ cùng thừa nhận nền văn hóa Sa Huỳnh (800-200 Trước Công nguyên) là dấu vết xưa nhất nói lên sự hiện diện của người Chăm trên miền đất này, mà cũng cho thấy nền văn hóa đó có tiếp xúc giao thương với Trung Hoa và Ấn Độ. Những điều này khẳng định từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên người Chăm đã tiếp nhận các nền tảng văn minh Ấn Độ: chữ viết và tôn giáo.

Phù điêu ở trán cửa: thần Vishnu ngồi trên rắn thần Ananta cuốn tròn . Trà Kiệu – Quảng Nam, bằng đá, cai 125 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo Tàng Đà Nẵng. Cat.53 © Thierry Ollivier

Từ thế kỷ thứ 10 người Chăm bị quân Đại Việt chinh phục và đẩy lùi dần về phía nam, ngày nay trở thành một trong 54 dân tộc ít người của Việt Nam với dân số 130.000 người, chủ yếu sống ở vùng Phan Rang. Ngiười Chăm bị xóa tên trên bản đồ địa chính trị vùng Đông Nam Á vào năm 1832 khi phần đất cuối cùng ở phía nam bị sáp nhập vào các tỉnh của Việt Nam. Thực tế vào thời kỳ này này phần lớn lãnh thổ trước đó là nước Champa đã bị bỏ phế suốt nhiều thế kỷ cho người Việt rồi và các đền đài đầy những tác phẩm điêu khắc để mặt cho thời gian tàn phá, bỏ mặc cho người mới đến chiếm đóng biến đổi chúng đi.

Một vài nét chủ đạo về nghệ thuật Chăm

Vào cuối thế kỷ 19 những người Pháp sinh sống ở Việt Nam bắt đầu quan tâm đến nền văn hóa cổ đầy những di tích kỳ ảo và cuốn hút này. Các bộ sưu tập đầu tiên do những tay nghiệp dư, nhất là ngững người được sự bảo trợ của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, đã kiểm kê, quét dọn và phục hồi các đền đài Champa. Trong một lần đưa ra triển lãm, các bức ảnh chụp của những lần khai quật đầu tiên ở hai khu di chỉ lớn Mỹ Sơn và Đồng Dương, cũng như ở nhiều di chỉ lớn khác, đã minh chứng cho chất lượng công trình của họ,

Trang trí bệ: vũ nữ quấn khăn; Trà Kiệu – Quảng Nam, thế kỷ thứ 10, bằng đá, cao 78 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.Cat.49 © Thierry Ollivier

Hệ tượng Chăm và tôn giáo

Đền đài Chăm được xây bằng gạch và trang trí bằng đá là những đền tháp được kiến trúc theo phong cách Nam Ấn. Chúng mang hình tượng ngọn núi thiêng, nơi trú xứ của các vị thần. Bộ tượng trong kỳ triển lãm này gắn bó với các đền tháp đó. Các nghiên cứu trước đây về nước Champa và nền nghệ thuật vương quốc này cho thấy ảnh hưởng Ấn Độ trên các đề nđài và tác phẩm đuêu khắc là điều rất dễ nhận ra. Các ngôi đền xây lên cho các vua Chăm (gọi là Kalan) là loại đền tháp làm nơi trú xứ cho thần linh được thờ cúng ngay tại Trần gian này. Nó gồm một ngôi đền theo phong cách Ấn Độ: vuông vức, thon nhỏ dần cho tới đỉnh với những tầng giả. Loại gạch dùng xây dựng mang tính đặc biệt của dân tộc Chăm suốt lịch sử của họ, chẳng có nước nào vùng Đông Nam Á dùng loại gạch giống vậy.

Bộ tượng ở các đền tháp này lưu giữ cả hai nền đồ tượng học của hai tôn giáo lớn ở Ấn Độ: Phật giáo và Ấn giáo, cùng với một số cách thể hiện thần linh khác. Đường nét điêu khác luôn luôn được cách điệu hóa, nhưng vẫn tồn động một vài nhân cách hóa. Suốt mấy ngàn năm tôn giáo chính ở xứ Champa là đạo Thấp-bà thờ thần Shiva (Shivaism). Dù rằng Ấn giáo thường hay được các quân vương bản địa ưu đãi, Phật giáo cũng được du nhập vào Champa. Sự duy trì tiếp xúc của người Chăm với Ấn Độ và Trung Hoa kể từ những thế kỷ đầu sau Công nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Phật giáo đến nước này. Các bộ sử Trung Hoa có ghi chép Phật giáo có mặt ở Champa từ thế kỷ thứ 5. .

Phật Bà Quan Âm, Hoài Nhơn – Bình Địn, thế kỷ 8-9, bằng đồng, cao 64 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. © Thierry Ollivier

Hai thế kỷ sau, một nhà hành hương Trung Hoa ghi nhận vương quốc Champa là một trong những nước rất tôn sùng Phật gíáo. Thời đó họ theo Phật giáo Đại thừa (Mahayana) với chứng tích là hình ảnh rất đại chúng Quan Thế Âm Bồ Tát, biểu tượng cho lòng từ bi và là một trong những nền tảng của Phật giáo Đại thừa. Nhưng đến thế kỷ thứ 8-9, sự hoằng hóa Phật giáo Đại thừa ở Champa bị thay thế, đó là kết quả của sự giao thương giữa vùng Đông Bắc Ấn Độ (ND: vùng lãnh địa của Ấn giáo) với Đông Nam Á.

Thế kỷ thứ 10 là thời hoàng kim của nghệ thuật Chăm.Nhiều đền đài thời kỳ nay còn lưu giữ đến chúng ta với tình trạng tốt cùng với số rất lớn các tác phẩm điêu khắc của các di chỉ như Khương Mỹ, Mỹ Sơn hay Trà Kiệu. Các tác phẩm vào đầu thời kỳ này (phong cách Khương Mỹ, tiền bán thế kỷ thứ 10) bảo tồn một số phong cách Đồng Dương: đền có đỉnh nhọn, vẽ mặt còn tương đối sắc nét. Ở giai đoạn thứ hai của chủ nghĩa cổ điển Chăm (phong cách Trà Kiệu, hậu bán thế kỷ thứ10 và đầu thế kỷ thứ 11), sắc thái dịu dàng hơn và các yếu tố tarng trí (nữ trang, y phục, v.v…) mềm mại hơn. Nhìn tổng thể họa tiết trang trí kiến trúc và đền đài của chúng đều khắc họa cùng một phối cảnh thanh thoát và thuần khiết.

Các di chỉ

Nam Thần; Đồng Dương – tỉnh Quảng Nam, cuối thế kỷ thứ 9 đầu thế kỷ thứ 10, cao 114 cm, bằng đá. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Đà Nẵng. Cat 23 © Thierry Ollivier

Mỹ Sơn

Mỹ Son, có nghĩa là “ngọn núi đẹp”, là một trong những di chỉ chính của Champa. Nằm ngay chính giữa một loại hình địa chất đài vòng, các ngôi đền kết lại thành một quần thể ôm ngôi đền chính ở trung tâm. Nằm tách biệt khỏi các đô thị và trung tâm thương mại, Mỹ Sơn từng mang đặc điểm riêng biệt của thần Shiva. Trong thời gian khai quật Mỹ Sơn vào năm 1903, Henri Parmentier đã phát hiện ra một bộ sưu tập vài pho tượng hết sức giống nhau.

Nhiều khả năng thuở ban đầu các pho tượng này được đặt trong một ngôi đền thu nhỏ ở dưới chân ngôi đền chính Mỹ Sơn thờ thần Shiva dưới dạng linga (sinh thực khí). trước khi ra chiếc bệ khắc chạm loại hình thần linh này (từ đó giải đáp được chúng), nhiều lời lý giải đã được đưa ra. Các pho tượng đó là nhữ nghộ thần canh chừng trời đất (dikpala) coi giữ tứ phương và một phương trung ương. Một số hộ thần cỡi trên con thú (vật cỡi của thần), con thú đó chạm khắc dưới chân bệ tượng, hay là thuộc tính được thần cầm giữa nơi tay. Hôm nay, các tượng thần này được đưa đến từ ba viện bảo tàng của Việt Nam để triển lãm, tất cả đều được phát hiện từ năm 1903 trở về sau..

Tượng Phật Đồng Dương, thế kỷ 13-14, bằng đồng, cao 108 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Cat. 17 © Thierry Ollivierr

Đền tháp Đồng Dương

Do vua Indravarman II xây cúng năm 875, chánh điện thờ Phật Đồng Dương được dựng phía Nam đền thờ thần Shiva khoảng chục cây số. Được xây dựng ở một đồng bằng rộng, chắc hẳn là khu đô thị lớn mang tên Indrapura, các đền tháp này bao gồm một quần thể rất to lớn các đền tháp được bố trí cách đều và liên kết với nhau theo trục Đông-Tây. Chúng nối liền nhau bởi những chái nhà lớn (tiếng Chăm gọi là gopura) thông cửa đền tháp này qua đền tháp kia. và dọc theo có những bức tượng hộ thần (tiếng Chăm gọi là dvarapala), vẽ mặt đầy đe dọa. Di chỉ này được Henri Parmentier và Charles Carpeaux phát lộ và nghiên cứu vào mùa thu năm 1902, cho thấy có một nền Phật giáo Đại thừa phát triển ở xứ này (về sau các cuộc tấn công của quân Mỹ hồi chiến tranh gần như phá hủy nó hoàn toàn). Khác hình tượng thờ cúng trong các đền tháp một phần chịu ảnh hưởng của Ấn Độ và Tích Lan, một phần chịu ảnh hưởng đền đài Phật giáo của vùng Trung Á và Trung Hoa.

Trà Kiệu

Kitao Shigemasa (1739-1820) Phỏng theo đồ tượng Bồ tát Phổ Hiền 108 x 31,5 cm cat.24 © Ota memorial museum

Tượng thú vật tuy đa dạng nhưng chủ yếu là tượng voi và sư tử, kèm theo là hình các vũ nữ quấn khăn. Các tác phẩm điêu khắc này được phát hiện ở Trà Kiệu bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 và dặc biệt trong lần tổ chức khai quật năm 1927-27 của Jean-Yves Claeys. Các hình voi/sư tử xen nhau là dấu ấn phác họa kiểu trang trí và biểu tượng của Ấn Độ. Các vũ nữ quấn khăn (chủ đề có lẽ thuộc nguồn gốc Trung Hoa) xuất hiện ở các đền đài riêng lẻ trong khu di chỉ

Thế kỷ thứ 11

Trong bối cảnh đầy xáo trộn lịch sử của thế kỷ 17 xảy ra với vương quốc Champa trước hiểm họa đô hộ một tôn giáo mới lại đặt nền móng ở miền Nam nước này. Lại thêm một vài điện thờ xây dựng lên ở Mỹ Sơn và các vùng phụ cận, trong khi đó điện thờ lớn nhấ ltại được dựg nlên cách đó 500 km về hướng nam. Đó là cụm “tháp bạc” (ND: tức cụm Tháp Bánh Ít) đầy ấn tượng thờ thần Shiva được dựng lên trên một ngọn đồi cao, trông giống như mấy ngọn kim tự tháp liên kế nhau. Tại di chỉ này năm 1889 Eugène Navelle phát hiện ra một tượg tnhần Shiva lớn mà hiện nay được coi là kiệt tác trong bộ sưu tập Chăm ở Viện Bảo tàng Guimet.

Thần Vishnu ngồi trên rắn thần Ananta được mô tả trên lanh-tô tháp Mỹ Sơn E 1 (tỉnh Quảng Nam), thuộc thế kỷ thứ 7, bằng đá, dài 240 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Đà Nẵng. Cat. 5 © Thierry Ollivier

Tháp Mẫm

Pho tượng đó chỉ còn lại phần cuối thân thần gajasimha (voi-sư tử) uy nghi hiện đặt ở trung tâm gian Triển lãm; nó được coi là một trong những di vật để công nhận sự hiện hữu của Tháp Mẫm. Người tìm thấy pho tượng này là một nông dân; lúc đầu người này cứ tưởng đó là một cối đá thôn quê nên định vần đi (bởi mặt hình thú úp xuống đất). Sau khi đào bới xuống một chút thì mới biết đó l;à một tác phẩm điêu khắc.

Thời suy tàn của nghệ thuật Chăm

Từ năm 1471 vương quốc Champa chỉ còn lại hai tình phía nam Kauthara và Panduranga. Thời vàng son về chính trị và thương mại của nhiều thế kỷ trước đó bị thay thế bằng bóng mây mù của sức mạnh chinh phục của Việt Nam. Từ thế kỷ 13 sức sáng tạo nghệ thuật Chăm đi vào buổi hoàng hôn dằng dặc và không sao biến chuyển khác được. Thời kỳ cuối cùng trong lịch sử Champa này chỉ còn lưu lại một vài mẩu kiến trúc, điện thờ, nhưng bù lại cho chúng ta nhiều tác phẩm lớn, các tác phẩm này biểu hiện một sự trừu tượng với kiểu cách sắc sảo. .

Viên Bảo tàng Quốc Gia về Nghệ Thuật Châu Á Guimet, do Crédit Agricole bảo trợ

Thần duy trì vũ trụ Ishana ? Ảnh 30 Mỹ Sơn, nhóm A (tỉnh Quảng Nam), thế kỷ thứ 10, bằng đá, cao 78 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Đà Nẵng Cat. 72 © Thierry Ollivier

Độ Mẫu Tara (?), Đồng Dương – tỉnh Quảng Nam. cuối thế kỷ thứ 9 và đầu thế kỷ thứ 10, bằng đồng dát vàng, cao 115 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Đà Nẵng. Cat. 18 © Thierry Ollivier

Họa tiết trang trí ở bệ: Con voi đang bước đi. Trà Kiệu – Quảng Nam, thế kỷ thứ 10, cao 63 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Cat. 44 © Thierry Ollivier


Vishnu cỡi vật cỡi của ngài là Kim sí điểu (Garuda). Ngũ Hành Sơn – tỉnh Quảng Nam, đầu thế kỷ thứ 9, bằng đá, cao 58 cm. Bảo tồn ở Viện Bảo tàng Guimet – Paris. Cat. 12 © Thierry Ollivier


ấu kiện họa tiết trang trí kiến trúc: Kim sí điểu (Garuda) nhiếp phục long thần (nagar). Tháp mẫm- Bình Định; thế kỷ 12-13, bằng đá, cao 109 cm. © Thierry


Đức Chính dịch và giới thiệu

*

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính biên dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ Tác giả Đức Chính .

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm


Read Full Post »

Older Posts »