Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘tượng Phật’

Tượng Phật Mục Đồng (Pho tượng theo lời tục truyền là tượng phật nổi được bảo quản tới ngày nay). Cao 31cm. Đất sét sơn màu, chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công, Tiền Giang). Ảnh Nguyễn Đại Phúc

Cặp câu đối khắc trên hai trụ cổng chùa Long Phước (xã An Đức, Ba Tri, Bến Tre) đã chỉ ra đây vốn là ngôi chùa do mục đồng khởi tạo và sau đó, người trụ trì đầu tiên là nhà sư Minh Trí. Chúng tôi đã nghe một số câu chuyện truyền khẩu về loại chùa mục đồng này và cứ bán tín bán nghi về cái lõi sự thật lịch sử của nó. Do đó, khi đứng trước chùa Long Phước, cái “chứng cứ văn tự” đó đã làm tôi xác tín về sự tồn tại của loại chùa do trẻ chăn trâu / bò “khai sơn tạo tự”. Từ ấy, mỗi lần có dịp đi đây đó, chúng tôi luôn lưu tâm đến việc ở đây có ngôi chùa mục đồng nào không và nếu như được mách bảo là có, thì liền tìm đến để xem cho bằng được các di vật còn lại – đặc biệt là loại tượng, thường được nặn bằng đất sét, mà theo lời truyền khẩu là do đám mục đồng tạo tác. Một cách không đầy đủ, đến nay chúng tôi đã tận mắt thấy khoản hơn 40 ngôi chùa mục đồng ở khắp các địa phương ở xứ lục tỉnh Nam kỳ.

1. Chùa Mục đồng có thể hiểu là ngôi chùa làng, thuộc cơ cấu của thiết chế văn hóa thôn / làng thời trước, gồm “đình – chùa – miếu – võ”, hiểu là ngôi chùa thờ Phật nho nhỏ mà dân làng tự ý lập nên để tự giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Ở đó, thờ thần, Phật và Phật được thờ tự theo tâm thức của thứ Phật giáo dân gian hơn là để tu học giáo nghĩa đích thực của Phật pháp. Cũng có chùa mục đồng về sau này trở thành ngôi bửu sát danh tiếng như chùa Sắc tứ Linh Thứu ở miệt Xoài Hột (Tiền Giang), song đa phần thì tồn tại như một ngôi chùa làng, nằm trong cái không gian văn hóa làng xã: đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt… và các truyền thuyết về chúng vẫn cứ tồn tại theo năm tháng, mặc dù chùa đã có tên tự hẳn hoi, có chư tăng đến trụ trì và hoằng hóa đạo pháp… Ở An Phước tự (tục danh chùa Mục đồng Hóc Tra/An Bình Tây, Ba Tri, Bến Tre) – cách chùa Long Phước nói trên vài cây số, người ta kể rằng: Thoạt tiên đám mục đồng hay tụ tập chơi, nặn các tượng thần tượng Phật và lập một cái am lá để thờ các cốt tượng dười chòm cây tra gần một hóc nước. Do vậy, chùa có tên là “chùa Hóc Tra”. Di tích còn lại là pho tượng Bồ tát cỡi cọp vàng và tượng một ông Địa có tình tướng y hệt ông Địa múa lân. Cả hai đều đạt trình độ tạo hình mà khó có thể nói là do đám chăn trâu tạo tác!

Ở chùa Da Lươn (tên chữ Thiên Trường tự – Đồng Sơn, Gò Công) lại có truyền thuyết tường tận hơn về lịch sử ngôi chùa: Thuở xưa, bọn mục đồng bày trò nặn tượng thần, Phật bằng đất sét chơi. Chơi chán lại đem tượng thả xuống ao ông Tú… cho Phật tắm mát! Lạ thay các tượng ấy lại nổi lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng lên để một nơi và che một am tranh để thờ. Sau đó, có một nhà sư từ xa đến, thấy cảnh chùa đơn sơ hiu quạnh bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Ngày qua, tháng lại, vị thiền sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn để dọn một chỗ đất lập thành chùa. Người dân không biết danh tính của ông, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và ngôi chùa đó cũng có tên là chùa Da Lươn. Sau nhiều lần trùng tu, chùa đổi tên là Thiên Trường tự.

Chùa Phật Nổi (Phước Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ (Củ Chi TP. HCM) được thành lập cách đây 200 năm cũng là một ngôi chùa mục đồng. Tục truyền lúc đó, ông Phan Sử (Thiện Sử – Như Thành) cùng bè bạn trong xóm, nhân một hôm thả trâu vào rừng, bày trò lặn xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng Phật chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về nhà, bỏ các tượng Phật giữa rừng. Đêm đó bọn trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Sau khi gạn hỏi, cha mẹ bọn trẻ biết chuyện, bèn cùng nhau tính chuyện lập chùa thờ các tượng ấy – để gọi là chuộc tội với Phật! Thế nhưng Trùm cả và Trùm chủ trong làng không chấp thuận việc lập chùa vì lý do dị đoan đó. Để làm rõ mọi việc, Hương chức, đem các tượng Phật đất sét đó gác trên chiếc cầu khỉ bắc ngang qua bàu Đất Sét và rút cầu. Tục truyền, trong số các tượng rơi xuống thì có 8 tượng Phật nổi trên mặt nước. Thế là dân làng xúm nhau, kẻ có công, người có của, dựng ngôi chùa là để thờ các tượng Phật đó. Năm 1963, chùa bị Mỹ bỏ bom sập, nên sau đó dời vào chợ Trung Hòa. Di tích còn lại là một thân tượng bằng đất sét và một số tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác, nhưng có thần thái độc đáo..

Nói chung truyền thuyết về các nguyên nhân khởi phát của các ngôi chùa mục đồng mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tất cả đều được hình thành trên mẫu đề duy nhất: trẻ chăn trâu nặn tượng đất sét và các tượng ấy khi thả xuống nước đều nổi. Trong lịch sử, tín lý thiêng liêng về các pho tượng nổi trôi dạt vào nơi nào thì ở đó dân lập đền chùa để thờ là rất phổ biến và từ tâm thức văn hóa sâu kín đó, giờ đây các cổ mẫu ấy lại tái sinh và tích hợp vào loại tượng mục đồng như một phương thức ảo hóa.

2. Đằng sau những tình tiết truyền kỳ, là một thực tế: có một tập hợp Phật tượng dân gian hình thành một cách tự phát trong thời khẩn hoang lập làng ở Nam bộ mà tác giả của các pho tượng đó là các sư sãi, tín đồ phật tử… và được gán cho trẻ mục đồng (1). Rõ ràng là nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở Nam bộ từ buổi đầu đến những năm 1950 là một tiến trình song hành của cả hai dòng phái dân gian và chuyên nghiệp. Dòng tượng dân gian biểu hiện rõ nhất và nhiều nhất là ở tượng đất và tượng gỗ (có thể kể thêm loại tượng đất nung và tượng làm bằng hợp chất); ở đó, loại tượng đất sét, được gọi là tượng mục đồng, có thể coi là loại hình khởi phát của lịch sử tạo hình Phật tượng.

Đặc trưng cơ bản của Phật tượng mục đồng là sự thô phác và hồn nhiên làm sững sờ người xem như một thoáng thảng thốt khi bất chợt nghe câu hò buông dài trên sông. Nói cách khác, chúng được tạo tác không theo qui phạm tạo hình, không hề biết đến các nghi qui về đồ tượng học Phật giáo: quí tướng, tọa thức, ấn quyết, pháp phục… Chúng được tạo tác bằng thủ pháp riêng, chủ quan theo căn cơ của người tạo tác. Chúng hình thành như thể là vô tâm, vô chấp, vô sở trụ… Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là dụng công, dụng trí của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Tính vô chiêu thức đã dẫn đến sự độc đáo của từng Phật tượng, và có thể gượng ép lấy thuật ngữ của hội họa mà nói thì thủ pháp “đại tả ý” là dự phóng sáng tạo của tác giả tượng mục đồng: nó chủ vào hình khối, dừng lại ở mực tạo dáng, không quá chăm chú vào chi tiết; cái chú trọng ấy là thần khí, sắc thái tâm linh.

Do đó, về mặt tạo hình chúng ta thấy tính giản lược một cách biểu cảm và những mảng khối thô phác là đặc điểm của tượng mục đồng. Lấy tập hợp Phật tượng mục đồng ở chùa Thanh Sơn (Hóc Môn, TP. HCM) làm ví dụ, chúng ta thấy chúng giản lược đến mức là nếu căn cứ vào các đặc điểm của hình tướng, tọa thức, ấn quyết thì khó mà định dạng được chính xác cho từng tượng: tất thảy đều ngồi theo thức tọa thiền và tay kết định ấn.

3. Nói là vô chiêu thức, nhưng không phải là sự phóng túng hoàn toàn mà cơ hồ việc biểu đạt cũng bắt nguồn từ một hoài niệm nào đó về hình tướng chư Phật, Bồ tát trong tâm thức của người tạo tác để ít ra cũng có sự khu biệt nhất định giữa Phật hình, Tỳ khoe hình với hình tướng của các thần linh không thuộc đối tượng thờ tự của Phật giáo. Ngoài hình tướng chung, các chi tiết tạo hình khác cũng được lưu tâm như tư thế tọa thiền (đúng ra là “ngồi xếp bằng”) và trong phần lớn các trường hợp là hai bàn tay đều biểu hiện một thức ấn quyết (mudra) nào đó – tất nhiên là không hoàn toàn đúng như qui thức mà đồ tượng Phật giáo đã xác định. Chẳng hạn tượng Phật tọa thiền ở chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công), tuy đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn toát lên vẻ an định và từ bi của đức Phật. Điều này khác biệt rõ nếu so sánh với tượng Tà Mun (thần bảo hộ cộng đồng, gốc của người Tà Mun) ở chùa mục đồng Phước Đồng (Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương). Ở đây, tượng Tà Mun có đường nét mạnh, màu sắc phi thực tế, hình thù biến dạng: tất thảy đều mang tính chất của nghệ thuật thuộc trường phái biểu hiện. Qua so sánh, chúng ta thấy Phật tượng tuy không bị câu chấp vào các nguyên tắc đồ tượng học, nhưng trong lòng người tạo tác đã tiềm ẩn một cổ mẫu Phật tượng – một tâm ảnh về Phật, để từ đó mà phát tâm tạo tựợng. Nói cách khác, Phật giáo nói chung, Phật tượng nói riêng, trải qua lịch sử đã trở thành văn hóa của dân tộc, văn hóa ở đây hiểu như di sản còn lại qua thời gian, văn hóa hiểu theo nghĩa tất cả những gì đã có đều bị mất đi thì cái còn lại là văn hóa; và rồi khi bao nỗi gian truân của công cuộc khẩn hoang lập nghiệp đã có phần ổn định thì giờ đây tâm cảnh của những lưu dân lại bừng lên một khát khao tâm linh, một nhu cầu về văn hóa – tinh thần: họ moi đất-sét-dưới-chân mình để nặn thành Phật tượng và lập một ngôi chùa lá để thờ Phật. Ở đây cũng lưu ý rằng đa số chùa mục đồng đều thờ cả Phật tượng lẫn tượng thần linh đa tạp. Với cái nhìn văn hóa như vậy, Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác vậy. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam. Trong chừng mực nhất định, có thể nói Phật tượng mục đồng ra đời trong tâm thức đa thần luận với đặc điểm thô phác, chúng có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật hồng hoang mà chúng ta bắt gặp ở những khám phá khảo cổ học thời sơ sử.

 

Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc

______________________________________________________

  1. Theo quan niệm phổ biến ở Nam bộ thì mục đồng là con cháu của Thần Nông, theo đó các thế lực siêu nhiên như ma quỉ, cô hồn đều phải kiêng dè và tuân phục. Do vậy, trẻ mục đồng được quyền hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô hồn. Tục truyền, trẻ mục đồng ngoắc tay vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) cập vô bờ. Nói chung, trẻ mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng” dưới con mắt của cộng đồng và do niềm xác tín chúng là con cháu của Thần Nông nên chúng có khả năng liên thông với cõi thiêng, cảnh giới bên trên và bên ngoài trần thế. Phàm các nổ lực truy cứu về nguyên ủy các yếu tố truyền kỳ đều là chuyện… lông rùa sừng thỏ. Ở đây nêu ra một số thông tin để tạm giải thích lý do gán việc tạo tượng cho mục đồng.
Advertisements

Read Full Post »

Tượng phật, thần và các nhân vật phù trợ

Trên cơ sở những tín ngưỡng cổ sơ của thời Hùng Vương dựng nước, ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên Việt Nam đã tiếp nhận cả cưỡng bức và tự nguyện những tôn giáo của các nền Văn hóa lớn từ phương Bắc và phương Tây. Đó là Đạo – Nho – Phật. Đạo giáo Trung Quốc có nhiều nét gần với tín ngưỡng thờ Thần, Tiên của người Việt; và Phật giáo của ấn Độ cũng nhanh chóng giao hoan với hệ thống nữ thần nông nghiệp của văn hóa lúa nước Việt Nam, và rồi hai thứ tôn giáo này quyện vào nhau, đi vào tâm thức người dân, bám rễ khắp các xóm làng, phát triển đều đặn xuyên thời Bắc thuộc sang thời độc lập tự chủ và lan tỏa trong xã hội ngày nay. Nho giáo từ cơ sở nho sĩ qúy tộc thống trị dần thấm vào tầng lớp trên của xã hội người Việt, là cơ sở chính trị cho bộ máy Nhà nước quân chủ vận hành mãi đến đầu thế kỷ XX. Ba tôn giáo ấy từ chỗ song tồn đến hòa quyện vào nhau. Chẳng những nhiều quán Đạo cũng là chùa Phật, lại còn thờ cả Khổng Tử, mà một số chùa chính thức mang tên Tam Giáo hoặc ngoài hệ thống tượng Phật còn có tượng Khổng Tử và Lão Tử. ở nông thôn, bên cạnh đình chùa có văn chỉ. ở trung ương có Văn Miếu với hệ thống tượng Khổng Tử và Tứ Phối. Tình hình trên cho hay những tượng cổ đi vào tâm linh dân tộc chính là Thần, Phật và các nhân vật phù trợ.

Là Tổ của từng tôn giáo, đã trở thành những vị Thần tối linh, nhưng cả Thích Ca, Lão Tử và Khổng Tử đều có lý lịch rõ ràng với nguồn gốc cụ thể, từ hình hài đến tính tình đều rất người. Vì thế tượng Thích Ca từ lúc sơ sinh, đến khi tu khổ hạnh được gọi là Tuyết Sơn, khi giác ngộ thành Đức Phật Thế Tôn và cuối cùng nhập Niết Bàn, dù hình tích gắn với các quý tướng và điềm tốt, song luôn được thể hiện theo cấu trúc người thật việc thật, rất đạo cũng rất đời, luôn luôn gần gũi với mọi người, rất phổ biến khắp các làng quê và thị tứ. Tượng Lão Tử ở trong quán Đạo hay đôi khi ở trong chùa thường được thể hiện như một cụ già Việt Nam quắc thước với bộ râu dài trắng, cũng rất gần với tượng thần Thổ địa mà người dân Việt luôn quan niệm ” đất có Thổ công, sông có Hà bá” nghĩa là có chủ. Gắn với Lão Tử, trong một số quán Đạo còn có cả tượng Thánh Phụ và Thánh Mẫu là cha mẹ của Ngài cũng đều được tạc như những ông già và bà già Việt Nam ở vùng quê, đôn hậu. Còn Nho giáo lấy Tổ là Khổng Tử, một số chùa và quán cũng có tượng Ngài, song tiêu biểu phải là tượng ở Văn Miếu Hà Nội, cao to, uy nghi, đức độ. Phía trước Ngài là bộ tượng Tứ Phối gồm bốn người học trò ngoan và giỏi của Ngài, tất cả được tạo dáng thực theo tư thế các quan văn đầu triều.

Các nhân vật trên là những người thực việc thực gắn với ba tôn giáo lớn quán xuyến suốt lịch sử thành văn Việt Nam. Trong đó, Nho giáo thực chất là một triết thuyết chính trị, không có thần điện riêng, còn Phật giáo và Đạo giáo với tính tôn giáo lớn đã xây dựng được cả một thần điện phong phú với rất nhiều nhân vật tưởng tượng có chức trách và tính cách riêng. Dưới góc độ phân loại tượng cổ theo đề tài, chúng ta có thể hệ thống lại những tượng đã được giới thiệu trong các chương II và III.

Về Thần điện Phật Giáo, tùy chùa lớn hay nhỏ mà số tượng có thể thêm bớt, song nếu tương đối đầy đủ sẽ gồm các loại tượng:

– Về Phật: Tam Thế, A Di Đà, Thế Tôn, Di Lặc. Đôi khi có Phật nhập Niết Bàn. Cũng có thể gộp vào đây các tượng Thích Ca Sơ Sinh, Tuyết Sơn.

– Về Bồ Tát: Quan Âm Nam Hải (với các biến thể: Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Quan Âm Chuẩn Đề) và các dạng gần gũi là Quan Âm Tọa Sơn, Quan Âm Tống Tử. Bên cạnh đó là bộ Tứ đại Bồ Tát: Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền. Một số chùa còn thêm Tứ Bồ Tát: Sách, Quyền, ái, Ngữ.

– Về Hộ Pháp: Khuyến Thiện, Trừng ác. Một số chùa có tượng Vi Đà thái tử làm nhiệm vụ bảo vệ Phật Pháp thay hai vị trên. Cũng tính chất này phải kể đến tám vị Kim Cương: Thanh Trừ Tai, Tích Độc Thần, Hoàng Tùy Cầu, Bạch Tịnh Thủy, Xích Thanh Hỏa, Định Trừ Tai, Tử Hiền Thần, Đại Thần Lực. Một số chùa còn có các tượng Thiên Lý Nhãn và Thiên Lý Nhĩ cũng thuộc loại thần bảo vệ Phật Pháp.

– Về La Hán: Theo sách Pháp trụ ký thì đức Phật chỉ định 16 vị La Hán sống mãi ở cõi đời này để tế độ chúng sinh. Đó là các vị Tôn Giả: Tân Độ La Bạt La Nọa Xà (tức Tân Đầu Lư Pha La Đọa Thệ), Ca Nhạ Ca Phạt Ta, Ca Nhạ Ca Bạt Ly Noa Xà, Tô Tần Đà, Nhạ Cư La, Bạt Đà La (tức Bạt Đa Bà La), Ca Lý Ca, Phạt Xà La Phất Đà La, Thú Bác Ca, Ban Thác Ca, La Hỗ La (tức La Vân), Nà Già Tê Na, Nhân Yết Đà, Phạt Na Bà Tư, A Thị Đa, Chú Đồ Bán Thác Ca (tức Chu Lợi Bàn Dà Ca). Về sau, có người thêm hai vị Tôn Giả nữa để thành 18, hoặc là Khánh Hữu (tức tác giả sách Pháp trụ ký) và Tân Đầu Lư (lại là tên tắt của vị La Hán đầu tiên), hoặc là Ca Diếp (lại là vị Tổ kế đăng số 1) và Quân Đồ Bát Thán.

– Về Tổ kế đăng: Lấy 20 vị Tổ đầu của Tây thổ nhưng bỏ Tổ 11 và Tổ 15. Đó là các vị Tôn Giả: Ma Ha Ca Diếp, A Nan Đà, Thương Na Hòa Tu, Ưu Ba Cúc Đa, Đề Đa Ca, Di Giá Ca, Bà Tu Mật, Phật Đà Nan Đề, Phục Đà Mật Đa, Hiệp, Mã Minh, Ca Tỳ Ma La, Long Thụ, La Hầu La Đa, Tăng Già Nan Đề, Già Da Xá Đa, Cưu Ma La Đa, Xà Dạ Đa.

– Về Diêm Vương: có 10 vị gọi là “Thập điện Diêm Vương”,đó là: Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ Quan Vương, Diêm La Vương, Biến Thành Vương, Thái Sơn Vương, Bình Đẳng Vương, Đô Thị Vương, Chuyển Luân Vương

– Về phù trợ Thích Ca Sơ Sinh: Phạm Thiên, Đế Thích.

– Về Phù trợ Ngọc Hoàng: Nam Tào, Bắc Đẩu. Bộ tượng này vốn của Đạo giáo nhập vào Phật Giáo.

– Về quản lý cảnh chùa: Giám Trai, Thổ Địa, Đức Ông và Già lam – Chân Tể, Thánh Tăng và Đại Sĩ – Diệm Nhiên.

– Về Hậu Phật: Một số người thực đã mua Hậu.

– Về Tổ chùa: Bồ Đề Đạt Ma (vị Tổ cuối của Tây Thổ và đầu của Đông Độ) và các cao tăng của chùa. Những tượng này đặt ở nhà Tổ

– Về điện Mẫu: vốn thuộc tín ngưỡng dân gian được duy trì trong một nhà riêng, thông thường chỉ gồm có Tam Tòa Thánh Mẫu: Mẫu Thiên (Thiên Phủ), Mẫu Thoải (Thủy Phủ), Mẫu Thượng Ngàn(Nhạc Phủ), lại thêm Mẫu Địa (Địa phủ) tạo thành Tứ Phủ. Nếu rộng có thể thêm các Quan, ông Hoàng, Chầu Bà, Cô và Cậu. Để làm đối trọng với Mẫu có Đức Thánh Cha Trần Hưng Đạo với các công chúa Quế Hoa và Quỳnh Hoa.

Về Thần điện Đạo giáo được thể hiện ở các quán Đạo. Nhưng vì quán Đạo rất sớm kết hợp với chùa Phật, thường được dân địa phương gọi là chùa, vì thế trong quán cũng gặp một số tượng của chùa, thậm chí ở Văn Miếu nữa. Tuy vậy, Thần điện chung của Đạo giáo là:

– Về Tam Thanh: Ngọc Thanh, Thái Thanh, Thượng Thanh tức ba vị Thần tối thượng là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân và Đạo Đức Thiên Tôn.

– Về Lão Tử: Thái Thượng Lão Quân và Thánh Phụ, Thánh Mẫu.

– Về tầng cao: Ngọc Hoàng thượng đế (tức Hoàng Quân giáo chủ) với hai thị giả Kim Đồng – Ngọc Nữ và hai quan giúp việc là Nam Tòa – Bắc Đẩu.

– Về vũ trụ: Cửu Diệu Tinh Quân gồm Mặt Trời, Mặt Trăng, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Hổ Phù, Kế Đô.

– Về thế giới: Ngũ Nhạc gồm Đông phương Sóc, Tây Vương Mẫu, Huyền Thiên Trấn Vũ, Cửu Thiên Huyền Nữ.

– Về Tứ trấn: các tượng trấn trị ma quỷ ở bốn phương.

Có nơi còn cả Văn Xương và Đế Quân chủ về các hoạt động văn và võ.

Thần điện của Nho giáo đơn giản hơn cả, về tượng ít nơi có, thường thờ bài vị. Văn Miếu Hà Nội có hệ tượng:

– Tổ Sư: Khổng Tử

– Tứ Phối: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử.

Thần điện của Đạo Mẫu đã ghép vào Phật điện của chùa, tuy nhiên khi có điều kiện phát triển thì nâng cấp thành đền (đền Sòng, đền Ghềnh, đền Bắc Lệ…), rồi thành phủ (phủ Giầy, phủ Tây Hồ), nhưng hệ thống tượng thờ vẫn thế.

(cinet.gov.vn)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Tượng Phật thời Nguyễn ở Huế

Bức tượng Bồ Tát Chuẩn Đề kiểu dáng mập, khuôn mặt đầy đặn tròn trịa và rất hiền.

Bức tượng Bồ Tát Chuẩn Đề kiểu dáng mập, khuôn mặt đầy đặn tròn trịa và rất hiền.

Trong di sản văn hoá và nghệ thuật truyền thống của Phật giáo Việt Nam, điêu khắc tượng thờ có một lịch sư, phát triển liên tục và cô đúc, phản ánh sinh động đời sống tâm linh tín ngưỡng của nhiều thế hệ người dân Việt.

Thống nhất…

Nhà Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân, xây dựng kinh thành Huế và dựng chùa thờ Phật vỗ an dân chúng, nghệ thuật điêu khắc tượng Phật giáo cũng theo đó mà được nâng cao. Buổi đầu còn có vẻ đơn điệu về kiểu dáng và cứng nhắc về quy phạm. Nhưng kể từ khi Vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802, ông đã cho trùng tu, xây dựng một loạt những ngôi chùa từ Nam chí Bắc.

Từ đó hàng trăm pho tượng cũng được làm mới. Các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… nối tiếp, cải tiến về chất liệu nhưng nhìn chung vẫn thống nhất về hình mẫu. Từ kích thước gần nguyên mẫu rập khuôn có khi dẫn đến sự cảm nhận rất thiếu sinh khí, nhưng tính chủ đạo vẫn cho thấy một sự trung thành với đường lối vỗ an dân chúng theo chủ trương chính trị dân gian hoá “cư Nho mộ Thích”.

H2-152
Bức tượng Quán Thế Âm người ta còn trang trí thêm bảo cái có rồng chầu phía sau tượng.

Nếu so sánh với dòng tượng Phật giáo ở Việt Nam với các thời đại khác nhau trước và sau nhà Nguyễn thì tượng Phật giáo thời Nguyễn đã có một sự thống nhất về mặt hình thể, khuôn mặt và cách xử lý tượng đa chiều.

Những bức tượng Phật đều tập trung chủ yếu vào tính chất đặc tả theo chiều hướng dân gian gần gũi hơn là đức tin thuần tuý. Hầu hết các bức tượng Phật đều có thân hình, nét mặt và kiểu dáng rất “hồn nhiên”. Một sự cố ý mang tính triết lý hơn là điêu khắc, đồng thời kiểu tượng có nhiều nét hồn nhiên và ngây thơ của nét mặt trẻ em cũng cho thấy ý đồ của nghệ nhân và chủ nhân muốn nói lên một sự trong sáng, gần gũi trong mỗi bức tượng Phật.

Độc đáo những bức tượng Bồ Tát và Thánh Tăng

Những bức tượng Bồ Tát mà điển hình nhất là Bồ Tát Quán Thế Âm dưới thời Nguyễn hiện còn ở Huế cũng rất đặc trưng, đa số đều ở tư thế tượng ngồi thoải mái, nhẹ nhàng mềm mại trên đài sen và bệ bằng gỗ được chạm khắc và sơn son thếp vàng rất đẹp.

Tượng thể hiện một sự an lạc và vô sự trong đời sống của con người. Rất đặc biệt, nhiều bức tượng Quán Thế Âm người ta còn trang trí thêm bảo cái có rồng chầu phía sau tượng. Những bức tượng Bồ Tát Chuẩn Đề kiểu dáng mập, khuôn mặt đầy đặn tròn trịa và rất hiền, có nhiều nếp áo nhăn chạy từ trên xuống dưới trong tư thế ngồi kiết già nên càng tăng thêm phần mềm mại cho bức tượng.

H1-152
Những bức tượng Phật có thân hình và nét mặt “hồn nhiên”.

Những bức tượng Thánh Tăng dưới thời Nguyễn còn lại rất ít tại Huế, đặc biệt đôi tượng Thánh Tăng A Nan – Ca Diếp tại một ngôi chùa ở huyện Quảng Điền mà chúng tôi có quan sát được rất lạ. Tượng nhỏ, lùn và rất đơn giản, ít đường nét, ở tư thế đứng trên một bệ có chạm khắc hoa văn thô, trong y phục dài, hai tay chắp hình búp sen. Tỉ lệ tượng không cân đối nhưng nhìn thì lại rất “dễ thương” và an lạc. Bộ tượng La Hán đang thờ ở Quốc tự Thánh Duyên cũng có đường nét lạ, tượng ở tư thế ngồi thoải mái, nét mặt hồn nhiên vô tư mà không “đăm chiêu” như thường thấy.

Ngoài tượng Phật, Bồ Tát và Thánh Tăng ra, ở Huế còn có nhiều bức tượng khác như Thập Điện Minh Vương tượng Hộ Pháp… dưới thời Nguyễn cũng rất đặc trưng. Tượng Thập Điện là độc đáo hơn cả, tính chất dân gian trong thể loại tượng này là rất cao. Cả bộ (10 pho) nên sự cộng hưởng, nét tương quan đắp đổi qua lại giữa các pho tượng đã làm nên sự phong phú trong kiểu dáng, đường nét và hình tượng.

Một điều đặc biệt là hầu hết các pho tượng Phật giáo thời Nguyễn thường ít có nét tôn nghiêm nặng tính tôn giáo kinh điển; đồng thời cũng rất ít pho tượng mà người ta ghi lại niên đại, tên tuổi người chú hoặc nghệ nhân tạc pho tượng.

Trên thực tế và những tài liệu sách vở còn lại, tượng Phật giáo thời nhà Nguyễn còn lại ở Huế không thể không khiến chúng ta liên tưởng đến lòng tin (niềm tin tôn giáo) và trình độ dân trí dưới thời nhà Nguyễn là ở mức độ phổ thông, dân gian hoá, gần gũi với đại chúng làm nông nghiệp thời bấy giờ.

Tượng thì to, nhưng vẻ sinh động nghệ thuật thì rất hạn chế, đó là dấu hiệu cuối cùng của một giai đoạn nghệ thuật điêu khắc tượng Phật giáo cổ nhưng đang được bảo quản rải rác ở Huế không phải là nhiều và đang có dấu hiệu mất dần…

 

Trí Năng – Hoàng Văn Minh

Read Full Post »