Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘tượng đất nung’

Binh Mã Dõng Tần Thủy Hoàng được chế tạo như thế nào

Năm 1989 , khi đo trắc và thăm dò trên vùng đất trồng rau ở xã Lục Thôn Bảo quận Thị Ương thành phố Tây An , nhóm công tác Hán Trường An Sở nghiên cứu khảo cổ Viện khoa học xã hội TQ đã phát hiện 21 lò nung gốm Binh Mã Dõng < tượng lính và tượng ngựa >cỡ lớn đời Tây Hán cách đây khoảng 2100 năm , đồng thời khai quật ra hàng nghìn tượng gốm . Đó là những lò nung Binh Mã Dõng tùy táng dành cho Nhà vua và hoàng quyền . Những lò nung đó với quy mô đáng kể , sản lượng rất cao , trong đó có hai lò nung còn đầy ăm ắp phôi tượng lính và tượng ngựa , trung bình mỗi lò có từ 350 đến 400 tượng lính và tượng ngựa . Điều này có nghĩa là tất cả 21 lò nung , mỗi lần có thể nung đến 7350 đến 8400 Binh Mã Dõng , sự phát hiện đó khiến người ta không còn cảm thấy kinh ngạc trước trận thế rầm rộ của Binh Mã Dõng Tần Thủy Hoàng nữa .

Những hiện vật Binh Mã Dõng khai quật tại hiện trường đã đưa ra đáp án về việc nung tượng lính và tượng ngựa . Tượng lính và tượng ngựa hoàn toàn làm theo mẫu , song khuôn mặt , mắt , mũi , môi và tai đều qua chạm khắc trước khi đưa vào lò nung .Trước khi nung không tô mầu , song tuyệt đại đa số Binh Mã Dõng đều tô mầu áo trắng sau khi ra lò nung . Phương pháp bày biện Binh Mã Dõng trong lò nung cũng rất lý thú . Hoàn toàn khác với sự tưởng tượng của con người , phôi Binh Mã Dõng không phải chân ở dưới , mà là đầu ở dưới , tức là đảo ngược lại . Cách bày này rất khoa học , bởi vì phần trên cơ thể con người nặng hơn phần dưới , cho nên xếp đảo ngược sẽ vững hơn và không dễ bị đổ . Điều này nói lên ngay từ hơn 2000 năm về trước , nhân dân lao động TQ đã nắm vững nguyên lý của trọng tâm khoa học . Sau khi phát hiện Binh Mã Dõng , người ta mô phỏng làm tượng ngựa , nhưng do ban đầu chưa nắm được phương pháp này , xếp phôi tượng ngựa theo suy nghĩ bình thường , tức là chân ở dưới , cho nên dẫn đến hiện tượng bị sụp đổ , nhiều lần bị thất bại . Ngoài ra , Đời Tần đã thực thi chế độ “trách nhiệm nghiêm khắc” , có nghĩa là yêu cầu công nhân trạm khắc tên mình lên tượng lính và tượng ngựa do mình tự tay làm . Đáng lẽ đó là biện pháp giám sát và kiểm tra số lượng và chất lượng của Binh Mã Dõng , nhưng đã để lại cho người sau hàng loạt tên tuổi các nghệ nhân . Hiện nay có thể phân biệt rõ gồm có 85 nghệ nhân , trong đó có Cung Bính , Cung Cương v.v.

Một chiến binh đất nung được trưng bày ở Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008.

Một chiến binh đất nung được trưng bày ở Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008.

Lăng Tần Thủy Hoàng

Lăng Tần Thủy Hoàng ở thành phố Tây An miền Tây Trung Quốc là một trong những lăng tẩm nhà vua có quy mô lớn nhất, kết cấu độc đáo nhất và nội hàm phong phú nhất trên thế giới. Là một trong những mộ bồi táng theo lăng Tần Thủy Hoàng, Binh mã dõng nổi tiếng ngang với Kim Tự Tháp Ai Cập, được coi là một trong tám kỳ quan trên thế giới. Tần Thủy Hoàng là nhà vua đầu tiên của xã hội phong kiến Trung Quốc <năm 259 đến năm 210 trước công nguyên>, ông là nhân vật lịch sử được tranh cãi nhiều nhất trên lịch sử Trung Quốc. Tần Thủy Hoàng là nhà vua đầu tiên thống nhất Trung Quốc, ông áp dụng hàng loạt biện pháp xúc tiến kinh tế, văn hóa xã hội phát triển, ví dụ thống nhất tiền tệ, văn tự, đo lường <tức đơn vị chiều dài, dung tích và trọng lượng>, trong khi đó, để chống sự xâm lược của chính quyền dân tộc thiểu số miền bắc, ông còn cho xây Trường Thành chuyên dùng để phòng thủ quân địch, những biện pháp này khiến Tần Thủy Hoàng trở thành nhà chính trị nổi tiếng trên lịch sử Trung Quốc. Song mặt khác, Tần Thủy Hoàng lại là một nhà vua hết sức tàn bạo và trụy lạc. Để cấm cố tư tưởng của mọi ngừơi ông ta từng áp dụng hành động dã man “đốt sách sử chôn sống Nho sĩ”, đốt hết tất cả sách tịch không phù hợp với ý chí thống trị của ông ta, thậm chí chôn sống một số người có học nhưng có sự nhìn nhận khác với tư tưởng ông ta, hòng bảo vệ ách thống trị của triều đình nhà Tần. Ngoài ra, trong thời gian Tần Thủy Hoàng thống trị, ông vơ vét của cải của dân, cho xây cất những cung điện tráng lệ như lăng tẩm, cung A Phòng v,v… để hưởng lạc. Sau khi thống nhất đất nước không bao lâu, Tần Thủy Hoàng bắt đầu cho xây lăng tẩm của mình. Ông đã huy động 700 nghìn phu đến xây mộ trong thời gian gần 40 năm, cho tới khi ông ta chết mà vẫn chưa xây xong. Lăng Tần Thủy Hoàng nằm ở Lệ sơn ngoại ô thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây, trên một diện tích 56 Km vuông, đế lăng gần như hình chữ nhật, hướng nam bắc dài 350 mét, hướng đông tây rộng 345 mét, cao 76 mét, về tổng thể lăng có hình Kim Tự Tháp. Qua khảo sát, các cán bộ làm công tác khảo cổ phát hiện, xung quanh lăng mộ có hơn 500 ngôi mộ tuỳ táng người và vật. Trong mộ tuỳ táng, có hầm mộ chôn xe ngựa đồng tượng trưng cho xe ngựa của Tần Thủy Hoàng, có hầm mộ chuồng ngựa tượng trưng cho triều đình nuôi ngựa, có hầm mộ binh mã tượng trưng cho muôn ngàn lực lượng binh mã của triều đình nhà Tần v,v… Binh mã dõng được coi là kỳ tích thứ 8 trên thế giới, việc phát hiện ra nó là trong một dịp hết sức tình cờ.

 

Năm 1974, nông dân địa phương chuẩn bị đào giếng, kết qủa đào ra rất nhiều đồ gốm, mấy người nông dân đó cũng không để ý, chuẩn bị vứt bỏ đi, một cán bộ khảo cổ có mặt tại hiện trường, sau khi quan sát, liền nghĩ ngay đây là một phát hiện quan trọng, liền báo cáo tình hình cho quan chức cục văn vật của huyện, thế là, Binh mã dõng chấn động thế giới mới được khai quật lên. Hiện nay, Binh mã dõng đã khai quật lên 500 tượng binh sĩ, 18 cỗ chiến xa gồm hơn 100 con ngựa gốm. Những tượng binh sĩ có chiều cao trung bình khoảng 1,8 m, trông rất sống động, mỗi người một vẻ, thể hiện trình độ nghệ thuật điêu khắc cao siêu của thời nhà Tần. Binh mã dõng Tần Thủy Hoàng được nhân dân các nước trên thế giới yêu thích, nhiều du khách các nước từ xa đến Trung Quốc là để thăm quan Binh Mã Dõng. Khi đến thăm Trung Quốc, quan chức cấp cao của một số nước cũng đưa ra yêu cầu đi thăm Binh Mã Dõng, cựu tổng thống Mỹ Ri-gân từng khen Binh Mã Dõng là kỳ tích của loài người. Do nguyên nhân công nghệ bảo hộ văn vật và để bảo hộ lăng Tần Thủy Hoàng được tốt hơn, hiện nay, chính phủ Trung Quốc không có ý định khai quật ngôi mộ chính trong khuôn viên lăng Tần Thủy Hoàng. Mấy năm qua, đã khai quật được hơn 50 nghìn văn vật lịch sử quan trọng chôn theo trong lăng mộ, trong đó có rất nhiều vật quý hiếm trên thế giới như xe ngựa đồng v,v… Xe ngựa đồng được các cán bộ khảo cổ Trung Quốc phát hiện vào năm 1980, phần chính của xe ngựa là làm bằng đồng đen, các linh phụ kiện đều bằng vàng và bạc, các phần trên xe ngựa đều được gắn bằng máy móc. Thiết kế của xe ngựa rất tinh sảo, kích cỡ bằng một nửa xe ngựa thật, hoàn toàn phỏng theo xe thật làm ra hết sức kỳ, đã tái hiện một cách chân thật dáng dấp oai phong của Tần Thủy Hoàng ngồi trên xe ngựa, Tần Thuỷ Hoàng mong rằng sau khi qua đời, vẫn tiếp tục ách thống trị của mình. Song nào ngờ, sau khi ông ta chết mới có ba năm, triều đình nhà Tần đã bị phong trào nông dân lật đổ. Thế nhưng, lăng mộ Tần Thủy Hoàng có quy mô lớn nhất, văn vật phong phú nhất trong các lăng mộ vua chúa phong kiến Trung Quốc đã tồn tại suốt hơn 2000 năm, trở thành “nhân chứng ”của lịch sử Trung Quốc. Do lăng Tần Thủy Hoàng có giá trị lịch sử to lớn, cho nên năm 1987, lăng Tần Thủy Hoàng được Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Maxreading.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC



Advertisements

Read Full Post »

Các loại Phật tượng thờ

Đồ tượng học là phương pháp phân định những loại tượng thờ tại những cơ sở tín ngưỡng đình chùa, miếu điện… hay trong dân gian. Những nghệ nhân trong ngành đồ tượng học đã nghiên cứu những pho tượng cổ điển đồng thời gia công cải tiến lại từng khuôn mặt, thể dáng, thủ ấn, trì vật sao cho thích hợp. Chính do những gia giảm các chi tiết của đồ tượng, mà nghệ nhân ngành chế tác tượng hình có thể biểu đạt nguyên tắc nghi qui và đồ tượng. Nghi qui là cácnghi lễ, tư thế, trang phục thích ứng. Đồ tượng là hình thể củatượng đi, đứng hay ngồi. Việc thực hiện đồ tượng phải vâng theo: (a) kinh điển ghi chép của từng vị; (b) quy pháp và Phật thoại; (c) nguyên tắc tạo hình trong nghệ thuật điêu khắc.

Hình tướng Phật và La Hán: Về hình tướng Phật tượng nói chung, dựa theo những nguyên tắc trong nghệ thuật tạo hình, thường phân chia ra các loại: Phật hình, Bồ Tát hình, La Hán hình, Thần Vương hình, Thiên Vương hình, Quỷ hình và Súc hình. Mỗi thể loại còn được chế tác theo nguyên tắc cách điệu, biểu trưng, tả chân, ấn tượng. Điều cơ bản để tạo nên sự khu biệt ấy một phần quan trọng là do các tư tọa lập, các thức thủ ấn, trang phục.

Tượng Phật: Có 5 cách thể hiện Phật Thích Ca diễn tả những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của đức Thế Tôn: (a) Tượng Cửu Long (chín con rồng chầu) thể hiện lúc đức Thích Ca đản sanh. (b) Tượng Tuyết Sơn: thể hiện giai đoạn tìm đạo, tu khổ hạnh. (c) Tượng Niệm Hoa: thể hiện giai đoạn đức Bổn sư cầm hoa sen thuyếtpháp. (d) Tĩnh toạ: đức Phật thành chánh quả. (e) Nhập diệt: đức Phật nhập Niết bàn, trong tư thế nằm.

Tượng Phật đản sinh: Tượng nầy được chế tác nhiều loại khác nhau bằng tượng gốm ở khắp mọi miền đất nước. Đặc trưng của pho tượng nầy là tượng Ngài đứng trên một đài sen, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất. Chi tiết biểu thị Phật trong hình tượng là hai taicó thùy châu dài theo lối hiểu “tai dài như tai Phật”. Trong những pho tượng tạc bảo lưu đến nay, sự tuân thủ vào quy pháp tạo hình cũng không thống nhất: chẳng hạn: pho tượng đức Thích Ca Đản sanh tại nhiều ngôi chùa ở miền Bắc và miền Trung thì tay phải chỉ lên trời; còn pho tượng lưu hành tại chùa Tây Phương, chùa Yên Tử, chùa BáoQuốc thì ngược lại, tay trái chỉ lên trời. Tính chất không nguyên tắc nầy cũng thấy trong những pho tượng gỗ, tượng đồng ở các ngôi chùa miền Nam. Về sau từ thập niên 60 của thế kỷ XX, trong những loại tượng đúc thành khuôn bằng thạch cao hay bằng xi măng, thì mới phổ biến hàng loạt những pho tượng “tay mặt chỉ lên trời”.Những pho tượng nầy đều dựa theo ý niệm “trụ như sơn” chứ không theo lối “hành như phong” ở những pho tượng Phật đản sanh còn lưu hành tại miền Nam VN hiện nay,sự tuân thủ đúng nguyên tắc đồ tượng cũng được áp dụng trong những loại tượng khác.

Tượng Di Đà toạ thiền: Tượng Phật nầy được chế tác chân phương và có phần đăng đối. Đầucó tóc xoắn ốc, giữa đỉnh đầu có nhục kế nổi cao, tai dài xuống gần vai, áo cà sa rộng trùm cả hai bả vai, cổ tròn, tay áo dài rộng. Phật ngồi theo thế kiết già trên tứ phượng toạ; chung quanh trang trí hình sen. Hai tay đặt chồng lên nhau theo thế “thủ ấn thiền định” (Dhyana mudra). Đây cũng là họa tiết và kiểu thức của các pho tượng Bồ Tát Quan Âm, mà có những đường nét theo kiểu tượng hình Di Đà Tam tôn; nhưng nhiều ngôi chùa miền Trung và miền Nam lại không thấy tượng của ngài Bồ Tát Đại Thế Chí. Nhìn chung, tượng đức Phật Di Đà được chế tác theo đúng chuẩnmực, thể hiện được “tướng hảo quang minh” và “tùy hảo vô lượng”.Chưa thấy có đủ các loại tượng “tam thập nhị tướng” và “bát thập tùy hản” mà kinh sách thường ghi chép.

Tượng đức Phật Di Lặc: Trong đồ tượng học, tượng Phật Di Lặc là tập hợp dược thể hiện trong diện mạo hình tướng “Di Lặc Lục tặc”: đầu tròn, áo hậu,ngồi bệ lập phương, y toạ, tĩnh tâm, thiền định.

Tượng Quan Âm: Những pho tượng lưu hành đều theo sáu cách thể hiện quy định (a) Quan Âm Chuẩn Đề: theo công thức thì tượng nầy có ba mặt và 18 tay. (b) Thiên thủ, Thiên nhãn: đức Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt như pho tượng ở chùa Bút Tháp. (c) Quan Âm tọa sơn: thể hiện đức Quan Âm ngồi trên đỉnh núi. (d) Phật Bà: thể hiện Phật bà Quan Âm đội mũni, ngồi toà sen. (e) Quan Âm Tống Tử: thẻ hiện đức Quan Âm ngồi bế đức bé, một bên có Thiện Sĩ (biểu trưng bằng hình con vẹt).

Tượng Bồ Tát Chuẩn Đề: Trong đồ tượng, xét về hình tướng của Bồ tát Chuẩn Đề không khácgì so với Quan Thế Âm Bồ Tát. Pho tượng thường trình bày nhiều tay: có tượng 6 tay, có tượng tay, có tượng 18 tay, biểu trưng cho công năng trong từng giai đoạn và trường hợp hành trì. Tại chùa Trăm Gian và chùa Diên Hựu, pho tượng Bồ Tát Chuẩn Đề lại thêm nhiều taynữa, ngồi kiết già. Tại một số chùa khác thì đài toạ và tư thế có hai loại tượng khác nhau: Một loại trình bày Chuẩn Đề cỡi công (gọi là Khổng Tước tọa); loại thứ hai gọi là Chuẩn Đề Lục giác toạ.Nếu so với quy pháp đề tượng chính thức của Ngài Chuẩn Đề thì cácpho tượng Chuẩn Đề ở nhiều chùa chiền Việt Nam có phần được giảnlược hơn. Những trì vật thông thường là Nhật Nguyệt Quan Âm.

Địa Tạng Vương Bồ Tát: Trong tập hợp những loại đất nung về đồ tượng đức Địa Tạng Vương Bồ Tát được phân chia ra làm hai loại chính: Loại thứ nhất làtượng ngồi trên ngai, chung quanh có các thị hầu oai nghiêm; loại thứ nhì, Ngài ngồi trên con thanh sư, mỗi biểu trưng cho việc hành trì chánh pháp. Cả hai đều có những điểm chung nhất trong nghệ thuậttạo hình: đầu đội mũ Tì Lư (hay Thiên Sứ Tì Lư), toàn thân khoác Y bá nạp, một tay để ngửa trước bụng, trên có một Hồ bình hay Bửu bát; tay kia giơ cao lên; ngón áp út khuyên tròn lên ngón cái.

Phật thoại ghi: Tướng pháp nầy biểu trưng cho ấn thí vô úy. Ngoàira, một số tượng biểu trưng cho “ấn an ủy”. Trong một số đồ tượng khác, tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát còn cóhai đệ tử theo hầu: Mẫn Công và Đạo Minh. Một số tượng khác thì còn thêm Chủ Mạng Quỷ Vương. Trong nhiều thể loại tượng đất nung về pho tượng nầy thì gậy tích của ngài Địa Tạng Vương lại thấy ở tượng của Chủ Mạng Quỷ Vương; trong khi đó trái châu biểu hiện cho thần lực của Ngài thì thấy ở pho tượng Mẫn Công. Giải thích điều nầy, Pháp Thoại ghi: Hình tướng Địa Tạng Vương ở đây là một trong 6 trường hợp hoá thân của Ngài, được gọi là Lục Địa Tạng. Lục Địa Tạng là: Đàn Đầu Địa Tạng, Bảo Châu Địa Tạng, Bản Ấn Địa Tạng, Trì Địa Địa Tạng, Trừ Chướng Địa Tạng và Nhật Quang Địa Tạng.

Tượng La Hán: Hình tướng của các bộ tượng La Hán ở tập hợp tượng đất nung, hầuhết được biểu hiện dưới dạng Thinh Văn hình. Biểu tướng nầy còn gọi là Tỳ Kheo hình, tức là có hình tướng chiếu theo hình tướng của đúc Bổn Sư Thích Ca khi còn tại thế; tuy nhiên tóc không xoắn mà đầu cạo trọc, đỉnh đầu không có nhục kế, áo hậu có dây thắt lưng. Nói chung, hình tướng La Hán có phần thoát sáo, và trong chừng mực nào đó, đã thoát khỏi những nét đặc trưng nhân dạng của người Tây Vực hay Trung Hoa, mà lại có nhân dạng Việt Nam khá rõ nét.

Ở nhóm tượng nầy thường có hai loại: ngồi trên ngai và cưỡi thú. Nhưng dù thuộc thể loại nào chăng đi nữa, thì hình tướng cũng có phần hiện thực hơn so với các tượng thuộc nhóm Phật hình, Bồ Táthình, hay những nhóm tượng thuộc Thiên Vương, Hộ Pháp, Thiện Hữu,Ác Hữu, Kim Cang, thường được gọi chung là Thiên Thần Hộ Pháp.

Tứ Thiên Vương: Tứ Thiên Vương còn được gọi là Hộ Thế Tứ Vương là 4 hình tướng tiêu biểu cho Thiên Vương Hình. Cả bốn vị đều ngự ở cõi trời “Tứ Thiên Vương Thiên” (Caturmaha Rajakasika) thuộc về cõi trời dục giới; lưng chừng trên ngọn núi trung tâm vũ trụ gọi là “Tu Di Sơn”, thấp hơn cõi trời Đao Lỵ của Đế Thích. Tứ Thiên Vương là ngoại thần của Đế Thích có trách nhiệm thống quản cõi trời theo 4 hướng: Trì Quốc Thiên Vương (Virudka) (Hướng đông), Quảng Mục Thiên Vương (Viruphaka) (Hướng tây), Tăng Trưởng Thiên Vương (Dhirtarastra) (Hướng nam), Đa Văn Thiên Vương (Dhananda) (Hướng bắc). Tứ Thiên Vương đã từng nghe đức Phật thuyết pháp kinh Đại Thừa vàcũng đã nguyện độ trì Tam Bảo. Do vậy mà các chính điện chùa chiền đều có tượng Tứ Thiên Vương. Biểu tướng của các tướng Thiên vương là một tướng nhà trời oai nghiêm: đi giày trận, mặc áo giáp, đầu đội kim khôi, tay cầm bửu bối; đàn tỳ bà, bảo kiếm, vòng kim cang, ngọc châu, che dù, có con “hoa hồ điêu”. Đó làhình tướng phổ biến trong các tượng thuộc đề tài nầy cũng nhưtrong điệu múa “Tứ Thiên Vương” ở loại diễn xướng cung đình Huế. Một số làng miền Nam cũng theo nghi lễ như vậy. Tuy nhiên, ở đây, các loại bửu bối đã được giản lược bớt, chẳng hạn như mũ kim khôi được thay bằng mũ “ngũ Phật” với hình 5 cánh sen.

Bát Bộ Kim Cang: Đây là các vị Kim Cang Lực Sĩ (Vajrapani) cũng được gọi là Kim Cang Thần; thường chỉ chung các vị thần cầm chày Kim Cang (như Kim Cang Thủ, chấp Kim Cang) biểu hiện uy thế lớn lao, bảo vệ Phật pháp ở khắp tám bộ chúng (Thiên, Long, Quỷ Vương, Dạ Xoa, Càn Thát Bà,A Tu La, Khần Na La, Ma Ha La Già). (theo Đoàn Trung Còn). Nghiên cứu kỹ những đồ tượng đất nung và đồ gốm cải tiến, thì những vị Kim Cang Thần được chế tác với dạng các võ tướng: đầu đội kim khôi, mình mặc áo giáp, vai có phong đai, tay cầm hoa sen, ngọc châu… Tuy là Thiên Hình tướng như Bát Bộ Kim Cang đều có diện mạo thanh tú, khuôn mặt hiền hậu, phúc đức. Điều nầy khácvới vẻ oai vệ và dữ dội của các loại tượng Kim Cang khác.

Điêu khắc tiêu biểu:

Một trong những ngôi chùa còn được bảo lưu từ thời Lê Sơ khá hoàn thiện là chùa Tây Phương, tại núi Câu Lậu, huyện Thạch Thất, ngoại thành Hà Nội. Những công trình điêu khắc tại chùa Tây Phương khá hoàn chỉnh, đãđóng vai trò chính yếu về điêu khắc cuối thế kỷ XVIII, với sắc thái Tịnh Độ Tông. Những pho tượng tại chùa nầy không điêu khắc cùng một lúc nhưng phần nhiều đều được hoàn tất vào năm 1794, trong lễ khánh thành chùa. Có pho tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát 12 tay vào thế kỷ XVII là tượng cổ nhất của thế kỷ XVII còn lưu lại; muộn nhất trong nhóm tượng nầy là 2 tượng Kim Cương, được mang từ nơi khác đến; tượng đức Quan thế Âm 112 tay vào thế kỷ XIX sau đó; còn hầu hết đều thuộc thế kỷ XVIII.

Những nhóm tượng tại chùa Tây Phương còn lại thì phải kể đến:

(1) 7 pho tượng Kim Cương. (2) Bộ tượng Di Đà Tam Tôn; tượng Thích Ca Tuyết Sơn, tượng Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, tượng Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3) Bộ tượng Tam Thế. (4) 18 pho tượng các vị tổ Thiền tông.Sự sắp đặt các hệ thống nầy có tính loại hình cao, mang tinh thần nhập thế của Phật Giáo.Tuy là Bát Bộ Kim Cương (8 pho tượng) nhưng hiện nay chùa Tây Phương chỉ còn 7. Tất cả đều có chiều cao vào khoảng 2,2m tính từ đầu xuống không kể tầm vươn của các binh khí, thể hiện được trình độ rất cao của nghệ thuât điêu khắc, lắp ghép các thành phần gỗ, cũng như cách bố cục, chuyển động, trên một thân thể mang giáp trụ trong các thế võ.

Các chi tiết trang trí mang tính chất hiện thực, về khuôn mặt mỗi người thì theo một khác nhau, mang tính chất cường điệu. Chiều cao vào khoảng ba mét, được sắp đặt chung quanh góc chùa trong thế phù trì. Những nghệ nhân nổi tiếng tại huyện Ba Vì đã chăm lo điêu khắc;họ đã căn cứ vào đức tính và chức năng của mỗi vị Thần, để từ đó,bố cục, trang trí những đường nét sao cho hợp lý về cử chỉ cũng như trang phục cho từng vị một. Những tay thợ khéo cũng đã nghiên cứu từng binh khí, giáp trụ, từng chiêu thức tiến thoái, bàn tấn trong võ thuật, tạo những đường nét sinh động, tinh vi lạ thường. Những nét chính của sự sáng tạo và nghiên cứu tâm lý nầy mà những pho tượng Bát Đại Kim Cương nầy đã trở thành mẫu mực về nghệ thuật diễn đạt dung mạo của chư Thánh.

Linh động nhất trong toàn thể những công trình nầy thì phải kể đến các pho tượng chư vị La Hán. Tượng lớn bằng người thật, có tượng đứng, có tượng ngồi, ở phía tường hậu của thượng điện. Tất cả còn lại 14 pho tượng (trước kia là 18 pho); mỗi pho tượng đều biểu hiện cử chỉ, phong thái riêng, trang phục riêng.

Một số La Hán chùa phương Tây:

 

 

nguồn: buddhismtoday.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Đội quân đất nung 8.000 binh mã của Tần Thủy Hoàng

small_1245815603.nv

Đội quân đất nung hay Tượng binh mã Tần Thủy Hoàng là một quần thể tượng gồm 8.000 binh sỹ, ngựa bằng đất nung gần lăng mộ Tần Thủy Hoàng, có nhiệm vụ bảo vệ linh hồn của vị hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Hoa.

Đội quân đất nung đã bị lịch sử lãng quên cho đến tận năm 1974, khi các nông dân đào giếng phát hiện ra ở gần thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, tây bắc Trung Quốc.

Đội quân đất nung đã bị lịch sử lãng quên cho đến tận năm 1974, khi các nông dân đào giếng phát hiện ra ở gần thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, tây bắc Trung Quốc.

Một chiến binh đất nung được trưng bày ở Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008.

Một chiến binh đất nung được trưng bày ở Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008.

Trong ảnh là các chiến binh đất nung, được đào trong lần khai quật đầu tiên từ năm 1978-1984 tại một bảo tàng ở Tây An. Trong lần khai quật đầu tiên người ta đã đào được hàng trăm chiến binh.

Trong ảnh là các chiến binh đất nung, được đào trong lần khai quật đầu tiên từ năm 1978-1984 tại một bảo tàng ở Tây An. Trong lần khai quật đầu tiên người ta đã đào được hàng trăm chiến binh.

Các nhà khảo cổ học hiện đã khởi động lần khai quật Đội quân đất nung thứ ba.

Các nhà khảo cổ học hiện đã khởi động lần khai quật Đội quân đất nung thứ ba.

Đội quân này được tạo ra để bảo vệ cho linh hồn của Hoàng đế Tần Thủy Hoàng.

Đội quân này được tạo ra để bảo vệ cho linh hồn của Hoàng đế Tần Thủy Hoàng.

Những bức tượng đất nung mới đầu có thể được sơn màu. Nhưng sau hơn 2.000 năm nằm dưới đất, màu của chúng đã biến mất.

Những bức tượng đất nung mới đầu có thể được sơn màu. Nhưng sau hơn 2.000 năm nằm dưới đất, màu của chúng đã biến mất.

Mỗi một bức tượng có một vẻ riêng và được nặn một cách khéo léo bằng tay từ năm 221 trước Công nguyên.

Mỗi một bức tượng có một vẻ riêng và được nặn một cách khéo léo bằng tay từ năm 221 trước Công nguyên.

terracotta180609_8

Tìm hiểu từng chiến binh trong đội quân cũng là một điều vô cùng thú vị.

Tìm hiểu từng chiến binh trong đội quân cũng là một điều vô cùng thú vị.

Qua vẻ ngoài, người ta có thể xác định được chiến binh đó là người vùng nào ở Trung Quốc.

Qua vẻ ngoài, người ta có thể xác định được chiến binh đó là người vùng nào ở Trung Quốc.

terracotta180609_4

terracotta180609_3

terracotta180609_2

terracotta180609_1

Tần Thủy Hoàng là hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Hoa. Ông cũng có công quy chuẩn các công cụ đo lường và tiền tệ ở khắp Trung Hoa.Cũng giống như danh tiếng của Tần Thủy Hoàng, đội quân đất của ông có sức trường tồn đáng kinh ngạc đối với các nhà khoa học.

Tóm tắc về khai quật lăng mộ Tần Thủy Hoàng

Trong lúc đào giếng tìm nguồn nước, người dân ở huyện Lâm Đồng, cách thành phố cổ Tây An (Trung Quốc) 35km đã phát hiện một cửa hầm với rất nhiều binh mã rỗng. Các chuyên gia đánh giá, đây là một hầm mộ cổ thuộc loại lớn nhất thế giới, được xây dựng từ thời vua Tần Thủy Hoàng…

Sự kiện phát hiện ra hầm mộ binh mã rỗng – một kỳ quan của nền văn minh thời cổ đại ở Trung Quốc, đã làm cho cả thế giới chú ý. Kể từ khi xây dựng Viện Bảo tàng văn hóa binh mã rỗng năm 1983 đến nay, du khách các nước trên thế giới đã tới tấp đến thăm. Binh mã rỗng cũng đã từng được đưa đi trưng bày ở nhiều nước và gây nên tiếng vang mạnh mẽ. Tháng 12/1987, Tổ chức Khoa học Giáo dục và Văn hóa Liên hiệp quốc đã đưa binh mã rỗng vào danh sách di sản của thế giới.

Tần Thủy Hoàng, vị vua đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, được an táng tại phía Bắc núi Lệ, huyện Lâm Đồng, tỉnh Thiểm Tây. Trải qua cuộc bể dâu kéo dài hơn 2000 năm, hiện sắc thái ban đầu của lăng mộ này không còn nữa. Theo ghi chép của sử sách, mộ Tần Thủy Hòang cao khoảng 115m, chu vi hơn 2.076m. Do thời gian và sự đào bới của con người trong suốt 2000 năm qua nên quả đồi đã nhỏ đi rất nhiều. Hiện nay, lăng mộ chỉ còn cao hơn 70m, chu vi khoảng 1.400m. Các nhà khoa học đã phát hiện ngôi mộ cổ này có tường trong và tường ngoài. Tường trong dài khoảng 4.000m, tường ngoài dài 6.000m. Trên thực tế, bố cục của lăng Tần Thủy Hòang là sự mô phỏng lại đô thành Hàm Dương. Qua điều tra và khai quật, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã phát hiện ở đây có rất nhiều di tích kiến trúc và cổ vật quý hiếm.

Ngoài ngôi mộ khổng lồ trên mặt đất, cùng cụm kiến trúc bề thế sang trọng và nhiều hầm mộ tùy táng, còn có một cung điện nằm rất sâu dưới lòng đất. Hầm mộ xây dựng dựa theo địa hình núi đồi, có sông ngòi và hồ nước (người ta còn cho thêm thủy ngân để dòng sông chảy xiết hơn), bên trong có chứa các loại vũ khí, cung tên bắn tự động, để đề phòng những kẻ đào trộm mộ. Cho đến nay, Trung Quốc vẫn chưa khai quật hầm mộ lăng Tần Thủy Hoàng, cho nên người ta không thể nhìn thấy những kiến trúc và cổ vật quý ở trong đó. Cách đây vài năm, các nhà khoa học đã thăm dò lăng mộ vua Tần Thủy Hòang bằng những phương pháp khoa học hiện đại, cho thấy, trong hầm mộ xuất hiện những phản ứng khác thường đối với thủy ngân. Điều này có nghĩa là trong hầm mộ có hàm lượng thủy ngân cao hơn nhiều so với khu vực xung quanh mộ. Cho đến nay, Trung Quốc đã phát hiện 4 hầm mộ binh mã rỗng, trong đó có 1 hầm chưa xây dựng xong, vì vậy ở đây không có tượng lính và tượng ngựa tùy táng. Trong 3 hầm mộ binh mã rỗng, hầm số 1 có quy mô lớn nhất, chạy từ đông sang tây, dài 210m, rộng khoảng 60m, tổng diện tích khoảng 13.000m2. Trong 3 hầm mộ binh mã rỗng còn lại, hầm số 1 là hầm của hữu quân, thiết lập một thế trận hùng mạnh với bộ binh là chính. Hầm mộ số 2 là hầm mộ của tả quân với thế trận rất quy mô, gồm có chiến xa, kỵ binh và bộ binh. Hầm mộ chưa xây dựng xong theo dự định là hầm mộ dành cho trung quân…

Binh mã rỗng không những có giá trị về mặt nghệ thuật, mà còn có thể giúp các nhà nghệ thuật đương đại giải đáp thắc mắc về vấn đề chiến tranh thời cổ đại ở Trung Quốc. Hầm mộ binh mã rỗng thời vua Tần rất quy mô, tổng cộng 20.780m2, hiện nay Trung Quốc chỉ mới khai quật được một phần. Xét về cách xếp các tượng lính và tượng ngựa đã khai quật cho thấy, cả 3 mộ cổ đã chôn hơn 130 chiến xa, 500 ngựa gốm kéo xe, 116 chiếc yên ngựa của kỵ binh, gần 8.000 tượng lính kéo xe, tượng kỵ binh và bộ binh. Những tượng lính và tượng ngựa trông rất giống người thật và ngựa thật, đứng xếp hàng oai nghiêm trật tự là hình ảnh thu nhỏ, nói lên tiềm lực quân đội hùng hậu của đời Tần. Riêng các tượng lính đều cao trên 1,8m. Chính vì được làm từng cái một cho nên các tượng trông khác nhau, nét mặt rất sinh động.

Việc khai quật binh mã rỗng vào năm 1974 đã một lần nữa đánh thức nền văn minh thời cổ Trung Quốc, mở ra cánh cửa kho tàng lịch sử bị vùi trong thời gian. Những đội lính và đội ngựa mà chúng ta nhìn thấy hiện nay đều có màu tro, màu vốn có của gốm, thế nhưng màu vốn có của các tượng lính và tượng ngựa cách đây hơn 2000 năm thực ra không phải màu tro. Toàn bộ binh mã rỗng đời Tần đều được các nghệ nhân tô màu. Do hầm mộ bị cháy, bị chôn vùi dưới đất và ngâm nước hơn 2.000 năm nên màu đã bị phai, chỉ một số vùng cục bộ còn giữ nguyên màu.

Có thể nói, binh mã rỗng không những là sự miêu tả sinh động về quân đội nước Tần, mà còn đạt đến đỉnh cao kỳ diệu trong lịch sử nghệ thuật chạm khắc và nặn tượng của Trung Quốc.

(Nguồn: VTR.ORG.VN ảnh Báo Dân Trí)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »