Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘tượng cổ’

Nhân mùa Phật Đản tặng các bạn đọc bộ hình chụp (có chú thích tiếng Anh) cực “đỉnh” của Brian English ! Nhấn vào dòng chữ tiếng Anh có gắn link để xem.

BRIAN ENGLISH PHOTOGRAPHY

Buddha_Jain-150
The beautiful and sensitive imagery of Brian English

*MỤC LỤC  – VIDEO – SLIDE SHOW

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »

Tượng phật, thần và các nhân vật phù trợ

Trên cơ sở những tín ngưỡng cổ sơ của thời Hùng Vương dựng nước, ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên Việt Nam đã tiếp nhận cả cưỡng bức và tự nguyện những tôn giáo của các nền Văn hóa lớn từ phương Bắc và phương Tây. Đó là Đạo – Nho – Phật. Đạo giáo Trung Quốc có nhiều nét gần với tín ngưỡng thờ Thần, Tiên của người Việt; và Phật giáo của ấn Độ cũng nhanh chóng giao hoan với hệ thống nữ thần nông nghiệp của văn hóa lúa nước Việt Nam, và rồi hai thứ tôn giáo này quyện vào nhau, đi vào tâm thức người dân, bám rễ khắp các xóm làng, phát triển đều đặn xuyên thời Bắc thuộc sang thời độc lập tự chủ và lan tỏa trong xã hội ngày nay. Nho giáo từ cơ sở nho sĩ qúy tộc thống trị dần thấm vào tầng lớp trên của xã hội người Việt, là cơ sở chính trị cho bộ máy Nhà nước quân chủ vận hành mãi đến đầu thế kỷ XX. Ba tôn giáo ấy từ chỗ song tồn đến hòa quyện vào nhau. Chẳng những nhiều quán Đạo cũng là chùa Phật, lại còn thờ cả Khổng Tử, mà một số chùa chính thức mang tên Tam Giáo hoặc ngoài hệ thống tượng Phật còn có tượng Khổng Tử và Lão Tử. ở nông thôn, bên cạnh đình chùa có văn chỉ. ở trung ương có Văn Miếu với hệ thống tượng Khổng Tử và Tứ Phối. Tình hình trên cho hay những tượng cổ đi vào tâm linh dân tộc chính là Thần, Phật và các nhân vật phù trợ.

Là Tổ của từng tôn giáo, đã trở thành những vị Thần tối linh, nhưng cả Thích Ca, Lão Tử và Khổng Tử đều có lý lịch rõ ràng với nguồn gốc cụ thể, từ hình hài đến tính tình đều rất người. Vì thế tượng Thích Ca từ lúc sơ sinh, đến khi tu khổ hạnh được gọi là Tuyết Sơn, khi giác ngộ thành Đức Phật Thế Tôn và cuối cùng nhập Niết Bàn, dù hình tích gắn với các quý tướng và điềm tốt, song luôn được thể hiện theo cấu trúc người thật việc thật, rất đạo cũng rất đời, luôn luôn gần gũi với mọi người, rất phổ biến khắp các làng quê và thị tứ. Tượng Lão Tử ở trong quán Đạo hay đôi khi ở trong chùa thường được thể hiện như một cụ già Việt Nam quắc thước với bộ râu dài trắng, cũng rất gần với tượng thần Thổ địa mà người dân Việt luôn quan niệm ” đất có Thổ công, sông có Hà bá” nghĩa là có chủ. Gắn với Lão Tử, trong một số quán Đạo còn có cả tượng Thánh Phụ và Thánh Mẫu là cha mẹ của Ngài cũng đều được tạc như những ông già và bà già Việt Nam ở vùng quê, đôn hậu. Còn Nho giáo lấy Tổ là Khổng Tử, một số chùa và quán cũng có tượng Ngài, song tiêu biểu phải là tượng ở Văn Miếu Hà Nội, cao to, uy nghi, đức độ. Phía trước Ngài là bộ tượng Tứ Phối gồm bốn người học trò ngoan và giỏi của Ngài, tất cả được tạo dáng thực theo tư thế các quan văn đầu triều.

Các nhân vật trên là những người thực việc thực gắn với ba tôn giáo lớn quán xuyến suốt lịch sử thành văn Việt Nam. Trong đó, Nho giáo thực chất là một triết thuyết chính trị, không có thần điện riêng, còn Phật giáo và Đạo giáo với tính tôn giáo lớn đã xây dựng được cả một thần điện phong phú với rất nhiều nhân vật tưởng tượng có chức trách và tính cách riêng. Dưới góc độ phân loại tượng cổ theo đề tài, chúng ta có thể hệ thống lại những tượng đã được giới thiệu trong các chương II và III.

Về Thần điện Phật Giáo, tùy chùa lớn hay nhỏ mà số tượng có thể thêm bớt, song nếu tương đối đầy đủ sẽ gồm các loại tượng:

– Về Phật: Tam Thế, A Di Đà, Thế Tôn, Di Lặc. Đôi khi có Phật nhập Niết Bàn. Cũng có thể gộp vào đây các tượng Thích Ca Sơ Sinh, Tuyết Sơn.

– Về Bồ Tát: Quan Âm Nam Hải (với các biến thể: Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Quan Âm Chuẩn Đề) và các dạng gần gũi là Quan Âm Tọa Sơn, Quan Âm Tống Tử. Bên cạnh đó là bộ Tứ đại Bồ Tát: Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền. Một số chùa còn thêm Tứ Bồ Tát: Sách, Quyền, ái, Ngữ.

– Về Hộ Pháp: Khuyến Thiện, Trừng ác. Một số chùa có tượng Vi Đà thái tử làm nhiệm vụ bảo vệ Phật Pháp thay hai vị trên. Cũng tính chất này phải kể đến tám vị Kim Cương: Thanh Trừ Tai, Tích Độc Thần, Hoàng Tùy Cầu, Bạch Tịnh Thủy, Xích Thanh Hỏa, Định Trừ Tai, Tử Hiền Thần, Đại Thần Lực. Một số chùa còn có các tượng Thiên Lý Nhãn và Thiên Lý Nhĩ cũng thuộc loại thần bảo vệ Phật Pháp.

– Về La Hán: Theo sách Pháp trụ ký thì đức Phật chỉ định 16 vị La Hán sống mãi ở cõi đời này để tế độ chúng sinh. Đó là các vị Tôn Giả: Tân Độ La Bạt La Nọa Xà (tức Tân Đầu Lư Pha La Đọa Thệ), Ca Nhạ Ca Phạt Ta, Ca Nhạ Ca Bạt Ly Noa Xà, Tô Tần Đà, Nhạ Cư La, Bạt Đà La (tức Bạt Đa Bà La), Ca Lý Ca, Phạt Xà La Phất Đà La, Thú Bác Ca, Ban Thác Ca, La Hỗ La (tức La Vân), Nà Già Tê Na, Nhân Yết Đà, Phạt Na Bà Tư, A Thị Đa, Chú Đồ Bán Thác Ca (tức Chu Lợi Bàn Dà Ca). Về sau, có người thêm hai vị Tôn Giả nữa để thành 18, hoặc là Khánh Hữu (tức tác giả sách Pháp trụ ký) và Tân Đầu Lư (lại là tên tắt của vị La Hán đầu tiên), hoặc là Ca Diếp (lại là vị Tổ kế đăng số 1) và Quân Đồ Bát Thán.

– Về Tổ kế đăng: Lấy 20 vị Tổ đầu của Tây thổ nhưng bỏ Tổ 11 và Tổ 15. Đó là các vị Tôn Giả: Ma Ha Ca Diếp, A Nan Đà, Thương Na Hòa Tu, Ưu Ba Cúc Đa, Đề Đa Ca, Di Giá Ca, Bà Tu Mật, Phật Đà Nan Đề, Phục Đà Mật Đa, Hiệp, Mã Minh, Ca Tỳ Ma La, Long Thụ, La Hầu La Đa, Tăng Già Nan Đề, Già Da Xá Đa, Cưu Ma La Đa, Xà Dạ Đa.

– Về Diêm Vương: có 10 vị gọi là “Thập điện Diêm Vương”,đó là: Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ Quan Vương, Diêm La Vương, Biến Thành Vương, Thái Sơn Vương, Bình Đẳng Vương, Đô Thị Vương, Chuyển Luân Vương

– Về phù trợ Thích Ca Sơ Sinh: Phạm Thiên, Đế Thích.

– Về Phù trợ Ngọc Hoàng: Nam Tào, Bắc Đẩu. Bộ tượng này vốn của Đạo giáo nhập vào Phật Giáo.

– Về quản lý cảnh chùa: Giám Trai, Thổ Địa, Đức Ông và Già lam – Chân Tể, Thánh Tăng và Đại Sĩ – Diệm Nhiên.

– Về Hậu Phật: Một số người thực đã mua Hậu.

– Về Tổ chùa: Bồ Đề Đạt Ma (vị Tổ cuối của Tây Thổ và đầu của Đông Độ) và các cao tăng của chùa. Những tượng này đặt ở nhà Tổ

– Về điện Mẫu: vốn thuộc tín ngưỡng dân gian được duy trì trong một nhà riêng, thông thường chỉ gồm có Tam Tòa Thánh Mẫu: Mẫu Thiên (Thiên Phủ), Mẫu Thoải (Thủy Phủ), Mẫu Thượng Ngàn(Nhạc Phủ), lại thêm Mẫu Địa (Địa phủ) tạo thành Tứ Phủ. Nếu rộng có thể thêm các Quan, ông Hoàng, Chầu Bà, Cô và Cậu. Để làm đối trọng với Mẫu có Đức Thánh Cha Trần Hưng Đạo với các công chúa Quế Hoa và Quỳnh Hoa.

Về Thần điện Đạo giáo được thể hiện ở các quán Đạo. Nhưng vì quán Đạo rất sớm kết hợp với chùa Phật, thường được dân địa phương gọi là chùa, vì thế trong quán cũng gặp một số tượng của chùa, thậm chí ở Văn Miếu nữa. Tuy vậy, Thần điện chung của Đạo giáo là:

– Về Tam Thanh: Ngọc Thanh, Thái Thanh, Thượng Thanh tức ba vị Thần tối thượng là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân và Đạo Đức Thiên Tôn.

– Về Lão Tử: Thái Thượng Lão Quân và Thánh Phụ, Thánh Mẫu.

– Về tầng cao: Ngọc Hoàng thượng đế (tức Hoàng Quân giáo chủ) với hai thị giả Kim Đồng – Ngọc Nữ và hai quan giúp việc là Nam Tòa – Bắc Đẩu.

– Về vũ trụ: Cửu Diệu Tinh Quân gồm Mặt Trời, Mặt Trăng, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Hổ Phù, Kế Đô.

– Về thế giới: Ngũ Nhạc gồm Đông phương Sóc, Tây Vương Mẫu, Huyền Thiên Trấn Vũ, Cửu Thiên Huyền Nữ.

– Về Tứ trấn: các tượng trấn trị ma quỷ ở bốn phương.

Có nơi còn cả Văn Xương và Đế Quân chủ về các hoạt động văn và võ.

Thần điện của Nho giáo đơn giản hơn cả, về tượng ít nơi có, thường thờ bài vị. Văn Miếu Hà Nội có hệ tượng:

– Tổ Sư: Khổng Tử

– Tứ Phối: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử.

Thần điện của Đạo Mẫu đã ghép vào Phật điện của chùa, tuy nhiên khi có điều kiện phát triển thì nâng cấp thành đền (đền Sòng, đền Ghềnh, đền Bắc Lệ…), rồi thành phủ (phủ Giầy, phủ Tây Hồ), nhưng hệ thống tượng thờ vẫn thế.

(cinet.gov.vn)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Pho tượng cổ – truyện ngắn

Phát hiện tượng rởm. Phó chủ tịch tỉnh bàng hoàng. Sai lầm nối tiếp sai lầm. Cứ vứt quách một chỗ, rồi tuyên bố chờ giám định, dăm ba tháng là người ta quên ngay. Đằng này phó chủ tịch tỉnh nổi giận mất khôn, truyền bảo đem tượng vứt ngay đi. Cảnh sát dong xe ra đường, không biết vứt tượng đi đâu, nhân qua bờ mương, vứt luôn xuống đó. Hai pho tượng trở về gần đúng vị trí cũ, chỉ có điều bị đổ lộn vộc, cặp lông mày dựng ngược cứ ngửa lên nhìn trời…

Tiến sĩ Phúc, bạn của bố tôi là một chuyên gia bảo tàng nổi tiếng, nhưng cách đây ít lâu, ông bị thân bại danh liệt cũng vì cái nghiệp này.

Chuyện thoạt nghe rất đơn giản: Một buổi chiều trên đường về nhà, vào lúc sẩm tối, ông phát hiện bên bờ mương có hai pho tượng hình thù cổ quái, lông mày dựng ngược, tay cầm chuỳ, ngồi trên hai con sư tử bằng gỗ. Tiến sĩ Phúc dừng xe, chiếu đèn pha vào hai pho tượng, rõ ràng là bọn buôn thần bán thánh mang hàng về đến đây rồi bỏ của chạy lấy người. Tiến sĩ Phúc vội rút điện thoại ra gọi cho chủ tịch xã, trưởng công an xã, trưởng công an huyện, rồi phó chủ tịch tỉnh phụ trách văn xã. Lời lẽ thống thiết. Ba mươi phút sau, xe cảnh sát đến, nhân dân kéo ra xem ùn ùn, hoan hô tiến sĩ Phúc cứu được tượng cổ. Đứng trước đám đông, tiến sĩ Phúc phát biểu rất hăng hái, người ta vỗ tay rào rào, hò nhau mang chăn đệm gấm lụa ra bọc lót cho hai pho tượng đưa lên xe về tỉnh. Từ bờ mương đến quốc lộ, hương khói nghi ngút, khấn vái xì xụp…

Nào ngờ một người dày dạn kinh nghiệm như tiến sĩ Phúc cũng quá bất cẩn. Về đến tỉnh thì một anh công an viên tình cờ phát hiện ra tượng là đồ rởm, bởi sau lớp sơn son thiếp vàng rỉ tróc bên ngoài chỉ là khối thạch cao rẻ tiền. Hỏi ra mới biết đó là tượng vứt đi từ xưởng điêu khắc của hoạ sĩ Vĩnh Thành. Thế nhưng lúc phát hiện ra thì đã muộn. Chín giờ tối hôm đó, tiến sĩ Phúc đã lên toạ đàm về hai pho tượng cổ trên Đài truyền hình tỉnh cùng với phó chủ tịch tỉnh, giám đốc Công an tỉnh. Cô phóng viên truyền hình xinh đẹp Phan Trinh, 26 tuổi, luôn miệng khen ngợi: chiến công vang dội của người dân và đồng chí phó chủ tịch tỉnh ta, nếu cả nước đều phát huy tinh thần cảnh giác và ý thức trách nhiệm như thế này thì nạn chảy máu cổ vật chắc chắn sẽ bị chặn đứng.

11 giờ đêm hôm đó, một cơ quan truyền thông trung ương điểm lại tin này. Cả nước đều biết….

Phát hiện tượng rởm. Phó chủ tịch tỉnh bàng hoàng. Sai lầm nối tiếp sai lầm. Cứ vứt quách một chỗ, rồi tuyên bố chờ giám định, dăm ba tháng là người ta quên ngay. Đằng này phó chủ tịch tỉnh nổi giận mất khôn, truyền bảo đem tượng vứt ngay đi. Cảnh sát dong xe ra đường, không biết vứt tượng đi đâu, nhân qua bờ mương, vứt luôn xuống đó. Hai pho tượng trở về gần đúng vị trí cũ, chỉ có điều bị đổ lộn vộc, cặp lông mày dựng ngược cứ ngửa lên nhìn trời…

2. Chuyện bại lộ ra cả xã, cả huyện. Thế là tiến sĩ Phúc bị mất mặt. Người ta khịt mũi vào trình độ chuyên môn của ông. Phó chủ tịch tỉnh gọi ông lên mắng cho một trận. Trưởng công an huyện còn vu cho tội cố tình báo tin giả cho công an. Kết cục tiến sĩ Phúc bị cho thôi việc ở Bảo tàng tỉnh, thân bại danh liệt, còn hai pho tượng thì vẫn vứt lăn lóc ở bờ mương như ban đầu, ai đi qua cũng cười tiến sĩ Phúc. Không chịu nổi, một đêm mưa gió, tiến sĩ Phúc phải thuê bốn anh cửu vạn khiêng tượng vứt đi. Nhưng vứt đi đâu cho khuất mắt bây giờ. Cách cổ truyền là chôn xuống đất (hạ thổ), nhưng ở thành phố này đào đâu ra đất để chôn, người chết còn phải đặt trước sinh phần cơ mà. Thôi thì cho các ngài tắm mát ở ngoài sông Cái gọi là hạ thuỷ cũng được.

Hai pho tượng rơi tùm xuống sông, mất tăm.

3. Dân làng quên đi, nhưng tiến sĩ Phúc thì không quên được cái nhục đó. Mấy tháng sau ông vẫn như người mất hồn. Năm sau nữa thì đổ bệnh. Thuốc thang mãi không khỏi. Có người mách qua bên kia sông có đền thờ Kim Tân độ này thiêng lắm, xin chân nhang ở đó về hoà nước uống, bệnh gì cũng khỏi. Tiến sĩ Phúc chỉ cười trừ. Đời ông dù thân bại danh liệt, nhưng còn tỉnh táo đến lúc chết, sao lại có thể đi chữa bệnh một cách hồ đồ như vậy được. Vả lại, ông nghiên cứu về mỹ thuật cổ, tượng nào dù thiêng đến mấy, ông cũng mang xuống vật ra lau chùi, ngắm nghía, bình phẩm dưới góc độ khoa học. Ông biết tỏng các ngài sự thực là thế nào rồi.

Dù tiến sĩ Phúc gạt đi, nhưng người nhà cứ sang xin thuốc về. Tiến sĩ uống thuốc thế nào mà hết bệnh, qua mấy hôm đã phong độ như ngày nào. Tự nhiên ngộ ra lẽ sinh tử ở đời. Bèn sang sông để cảm tạ. Ông Từ đền Kim Tân từng nghe danh tiến sĩ Phúc đón tiếp rất cẩn trọng, lại nhờ giám định cho các cổ vật trong đền. Cơm no, rượu say, tiến sĩ Phúc bỗng lấy lại được hứng thú ngày nào với cái nghiệp đồ cổ. Ông Từ quá cẩn thận, đợi đến tối, mới dẫn tiến sĩ Phúc vào hậu cung, nơi để báu vật của đền, vì nó mà đền bỗng nổi linh khắp cả nước. Hậu cung tối quá, tiến sĩ Phúc bảo phải thắp đèn lên mới khảo cứu được. Đèn vừa thắp lên, tiến sĩ Phúc đã choáng người: Chính giữa điện là hai ông tướng, lông mày xếch ngược, tay cầm chuỳ, cưỡi trên con sư tử gỗ.

Giọng ông Từ bên tai tiến sĩ Phúc như có tiếng vang: “Năm ngoái, nhằm ngày lành tháng tốt, Ngài từ đâu ngao du theo dòng thuỷ lưu về an tọa trước đền, không chịu đi. Bốn mươi tám lực đinh chúng tôi, làm lễ rước Ngài vào đó. Từ đó đền mới có linh thánh. Chân nhang chữa được bách bệnh… Chúng tôi muốn ông khảo cứu xem Ngài từ đâu mà mang linh thánh đến đền chúng tôi?”

Đỗ Doãn Phương (văn nghệ quân đội)

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »