Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘phù lãng’

Đến Bát Tràng mua hàng Phù Lãng, về Hà Ðông vớ phải lụa… Tàu” ?!

Chợ gốm Bát Tràng những ngày đầu xuân khá sầm uất. Ngay lối ra vào là một quầy hàng lớn bán đồ gốm men da lươn. Vào sâu trong chợ, càng thấy loại men này được bày bán phổ biến. Hỏi một chủ quầy, tôi nhận được câu trả lời: “Của Bát Tràng đấy, người ta làm gốm da lươn bán được, tội gì mình không làm”.
Bát Tràng và Phù Lãng là hai dòng gốm có từ lâu đời. Ðặc trưng của Bát Tràng là làm xương gốm bằng đất sét trắng (xưa Bát Tràng có tên Bạch Thổ Phường, tức “phường Ðất Trắng” vì có mỏ đất sét trắng, nay đất sét trắng phải mua từ nơi khác), xương gốm đó được tráng men, với những màu men cơ bản như: men ngọc, men nâu, hoa lam… Trong khi đó, xương gốm Phù Lãng là đất sét có màu hồng nhạt, khi nung ở nhiệt độ cao, xương gốm chuyển màu gan gà, với hai màu men chủ đạo là nâu vàng và nâu đen (thường gọi là men da lươn). Nếu vẻ đẹp của Bát Tràng là sự đa dạng về nước men, những nét vẽ tinh tế, thì hồn cốt của Phù Lãng được tạo nên từ sự dân dã, mộc mạc của nước men da lươn.
Hơn chục năm trước, Phù Lãng suýt nữa mất nghề nếu không kịp thời chuyển từ sản xuất đồ gia dụng như chum, vại, ang, tiểu sành… sang đồ gốm mỹ nghệ. Nước men da lươn mộc mạc được người Phù Lãng kết hợp với những đường nét, những tạo hình mang đậm chất nông thôn Việt đã tạo nên sức hút kỳ lạ của gốm Phù Lãng. Theo những chủ cửa hàng ở chợ gốm Bát Tràng, khi thấy gốm mỹ nghệ Phù Lãng ăn khách, người ta nhập về bán kiếm lời. Thế rồi sẵn nghề trong tay, người ta làm phỏng theo phong cách Phù Lãng. Tôi liên lạc với Trần Mạnh Thiều – chủ nhân thương hiệu “Gốm Thiều” của Phù Lãng. Mạnh Thiều phàn nàn: “Ðiều ấy xảy ra vài năm rồi, những mẫu đẹp của Phù Lãng vừa ra lò thì chỉ vài hôm sau Bát Tràng đã sản xuất mẫu như thế. Bát Tràng giao thông thủy bộ thuận tiện, gần trung tâm, mạnh về vốn, đấy là khó khăn lớn cho gốm Phù Lãng “.
Ngoài những sản phẩm “nhái” Phù Lãng, thì những sản phẩm “nhái” Trung Quốc, thậm chí cả những sản phẩm phỏng theo gốm Chăm cũng xuất hiện khá nhiều. Trao đổi ý kiến với chúng tôi, anh Nguyễn Văn Ðạt, một nghệ nhân làng gốm Bát Tràng, không khỏi băn khoăn: “Ðây là điều đáng buồn với những nghệ nhân Bát Tràng. Những người làm nghề thật sự như chúng tôi luôn sáng tạo trên nền truyền thống của làng mình là chủ đạo. Tuy nhiên, cũng có những người vì lợi nhuận…”.
Nếu như Bát Tràng là làng nghề đặc trưng của Thủ đô thì đất Hà Tây cũ vốn được mệnh danh là “quê lụa”. Quê lụa ở đây là lụa Hà Ðông. Lụa Hà Ðông nổi tiếng là thế, nhưng ngay khi đến tận đất lụa Hà Ðông, thì người ta lại mua phải lụa không rõ nguồn gốc. Trong đó, có một số loại vải na ná như lụa Hà Ðông, mà nhiều người cho rằng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Càng buồn hơn cho du khách khi đi bao nhiêu cây số gió bụi đến tận gốc gác của nghề lụa nức tiếng gần xa vẫn mua phải lụa rởm, mà giá thì cao không khác gì lụa xịn. Vạn Phúc nằm trong tua của nhiều hãng du lịch lữ hành, nên các du khách đến từ nhiều vùng, miền đất nước cũng như khách quốc tế cùng chịu chung cảnh “mua nhầm”. Những sản phẩm này thường có chất lượng kém hơn so với lụa Vạn Phúc và giá cả ở trên thị trường cũng rẻ hơn rất nhiều.
Tìm đến nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc, ông Chỉnh thẳng thắn thừa nhận: “Ðúng là có hiện tượng trộn hàng không rõ nguồn gốc để bán lẫn với hàng lụa Vạn Phúc. Hiệp hội làng nghề không cấm bán hàng từ nơi khác, nhưng phải ghi rõ xuất xứ. Nhưng vẫn có một số người kém ý thức, “lập lờ đánh lận con đen”.
Nguy cơ đánh mất bản sắc
Hai làng nghề được coi là nức tiếng nhất của Thủ đô bây giờ, mỗi làng một vẻ, nhưng đều ít nhiều có dấu hiệu của một đoàn tàu đang có nguy cơ chệch hướng. Cả Bát Tràng lẫn Vạn Phúc đều là những làng nghề làm ra những sản phẩm có tính mỹ thuật, đòi hỏi sự sáng tạo cao. Nhưng thay vì tìm tòi để sáng tạo ra những mẫu mới với chất lượng cao trên nền truyền thống của làng nghề, không ít người tìm đến một con đường ngắn hơn. Những gì đang diễn ra cho thấy sự sáng tạo không được đặt ở vị trí xứng đáng.
Các sản phẩm gốm da lươn được bày bán tràn lan ở làng gốm
Bát Tràng.
Không chỉ làm phỏng theo những dòng gốm khác, mà những sáng tạo của các nghệ nhân chân chính ở Bát Tràng cũng bị nhiều người đánh cắp không thương tiếc. Một nghệ nhân giấu tên ở Bát Tràng cho biết, khi anh vừa nghiên cứu chế ra được một loại men mới, thì ngay lập tức nhiều hộ gia đình tìm cách bắt chước. Và sáng chế về loại men đó của anh, dù mất rất nhiều công sức và thời gian nghiên cứu, chỉ có giá trị trong vài lần đốt lò, vì sau đó, hàng loạt sản phẩm tương tự như thế được bắt chước và làm với giá rẻ hơn. Ở Vạn Phúc, ngoài thương hiệu thuộc sở hữu chung của cả làng, không có một thương hiệu nào bật lên với những sáng tạo riêng, cũng chỉ vì lý do một thời gian sau khi mẫu lụa ra đời, cả làng cùng dệt, và người sáng tạo cũng chỉ còn cách chấp nhận… hòa cả làng!
Trao đổi ý kiến với chúng tôi về việc làm thế nào để loại trừ những hiện tượng “phá” thương hiệu ra khỏi làng nghề, nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh cho biết: “Hiệp hội không có thẩm quyền đi phạt những người vi phạm. Nhưng hiện giờ chúng tôi đã có dự án xây dựng khu trung tâm giới thiệu và bán sản phẩm Vạn Phúc. Dự kiến trung tâm rộng chừng 1.000 m2, được xây ba tầng. Ngoài ra, có khu nhà cổ giới thiệu quy trình làm lụa. Chúng tôi sẽ gây dựng để trung tâm là địa chỉ tin cậy của khách hàng. Những người làm ăn theo kiểu “chụp giật” sẽ không được tham gia trung tâm. Không tham gia trung tâm, đồng nghĩa với việc không được Hiệp hội làng nghề bảo đảm về chất lượng. Từ đó, sẽ loại trừ những tiêu cực khỏi làng nghề”. Cách làm của Vạn Phúc, có lẽ là một gợi ý hay cho nhiều làng nghề của Hà Nội nói chung, trong cuộc “đấu tranh” để giữ gìn bản sắc trong cơ chế thị trường.
Sau khi hợp nhất Hà Tây với Hà Nội, Thủ đô hiện có hàng trăm làng nghề khác nhau. Tiếng tăm của những làng nghề kể trên có được, chính là bản sắc được dày công tích tụ qua nhiều đời. Nhưng cơ chế thị trường khiến bản sắc của không ít làng nghề phai nhạt mà hai làng nghề nổi tiếng nói trên là những thí dụ tiêu biểu. Hy vọng rằng, người ta sẽ sớm nhận ra, cái lợi trước mắt có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lâu dài, nếu những làng nghề đậm bản sắc văn hóa đánh mất những nét độc đáo riêng có của mình…
nguồn  ” Nhân Dân”

Advertisements

Read Full Post »

Gốm Phù Lãng xưa và nay

Làng Phù Lãng (thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh), cách thị xã Bắc Ninh khoảng 10km và cách sông Lục Đầu khoảng 4km. Ngày cuối tuần du khách có thể tới đây để tìm hiểu về nghề gốm truyền thống, về lịch sử của làng, cũng như tận hưởng cuộc sống thôn dã vẫn còn đậm nét ở vùng đất này.

Nếu xuất phát từ Hà Nội, bạn chỉ mất khoảng 1 tiếng để tới làng Phù Lãng.

Nay Phù Lãng có 3 thôn: Trung thôn, Thượng thôn, Hạ thôn. Theo Tô Nguyễn, Trình Nguyễn trong sách Kinh Bắc – Hà Bắc thì ông tổ nghề gốm Phù Lãng là Lưu Phong Tú. Vào cuối thời Lý, ông được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc.

Trong dịp đi này, ông học được nghề làm gốm và truyền dạy cho người trong nước. Đầu tiên, nghề này được truyền vào vùng dân cư đôi bờ sông Lục Đầu sau đó chuyển về vùng Vạn Kiếp (Hải Dương). Vào khoảng đầu thời Trần (thế kỷ XIII) nghề được truyền đến đất Phù Lãng Trung.

Có thể thấy, sản phẩm chính của gốm Phù Lãng xưa là chum vại, ấm đất, chậu cảnh, tiểu sành… Ngày nay với những bàn tay tài hoa muốn khôi phục và gìn giữ nghề truyền thống của làng, các nghệ nhân thế hệ mới như nghệ nhân Vũ Hữu Nhung – với cái tên quen gọi Gốm Nhung, nghệ nhân Thiều với tên quan thuộc Gốm Thiều đã phát triển những tinh hoa của nghề gốm với nghệ thuật tạo hình khối, hoa văn.

Nhiều sản phẩm và mẫu gốm mới như: tranh gốm, lọ hoa gốm, ấm chén gốm, gốm trang trí, gốm ốp tường, lư hương… đã và đang được khách, doanh nhân, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước yêu thích.

Nét đặc trưng nổi bật trong trang trí gốm Phù Lãng là sử dụng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong, mà người Phù Lãng quen gọi là chạm kép các đề tài: tứ linh, nghê, hạc, mặt hổ phù, chữ Thọ, hồi văn, cánh sen, sóng nước…

Đối với những sản phẩm được sản xuất đại trà như gốm dân dụng, người Phù Lãng rất ít trang trí. Tuy nhiên, gốm Phù Lãng có ưu thế ở chất men màu tự nhiên, bền và lạ, dáng gốm mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất và đậm nét điêu khắc.

Hiện nay, đồ gốm dùng trong tín ngưỡng dân gian Phù Lãng vẫn còn hiện diện trong một số di tích lịch sử ở châu thổ sông Hồng như các đình, đền, chùa… Tới đây, du khách có thể cùng những người thợ gốm tạo ra những sản phẩm cho riêng mình để kỷ niệm cho một chuyến đi đầy thú vị.

Điều đặc biệt là làng gốm Phù Lãng còn nhiều vẻ nguyên sơ, cuộc sống của người dân nơi đây cũng mộc mạc như chính chất liệu làm gốm vậy!

Theo Sài Gòn giải phóng

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Ông tổ nghề một số làng nghề gốm

Ở Việt NamThờ tổ nghề là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện sự biết ơn những vị sáng lập, mở mang tri thức ngành nghề cho nhân dân, di dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ǎn quả nhớ kẻ trồng cây”…

1. Đôi điều về tín ngưỡng thờ tổ nghề

Tổ nghề (còn gọi là Tổ sư, Thánh sư, Nghệ sư – người phát minh, sáng lập, gây dựng nên một nghề (thường là nghề thủ công mỹ nghệ) hoặc là người thứ nhất đem nghề ở nơi khác truyền lại cho dân chúng trong một làng hay miền nào đó, được người đời sau tôn thờ như bậc thánh. Tổ nghề có thể là nam giới hoặc nữ giới.

Nghề thủ công mỹ nghệ ở nước ta rất phát triển, có truyền thống lâu đời, sản phẩm phong phú, đa dạng về chất liệu, kiểu loại. Có thể kể một số nghề như: Nghề dệt chiếu cói, dệt the, dệt lụa, dệt nhiễu, thêu, thợ may, thợ mộc, nghề kim hoàn, chạm bạc, khảm xà cừ, nghề giấy, nghề mây tre, làm nón, nghề sơn, chạm khắc đá, đúc đồng, nghề gốm… Những người làm nghề thường ở thành phường nhóm, làng (làng nghề). Biết ơn những vị sáng lập truyền nghề cho mình và di dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ǎn quả nhớ kẻ trồng cây”, họ thờ phụng các vị tổ của nghề mình đang làm. Có thể lập bàn thờ tổ nghề tại gia, và vào ngày tuần tiết, sóc, vọng, giỗ tết, đều có cúng cấp. Nhưng phổ biến hơn cả là các phường nghề, làng nghề lập miếu, đền riêng để thờ tổ nghề riêng của nghề mà phường, làng mình đang làm. Đặc biệt, nhiều vị tổ nghề còn được thờ làm thành hoàng làng.

Trong một nǎm, lễ cúng tổ nghề quan trọng nhất là nhằm vào ngày kỵ nhật của vị tổ nghề, đối với những vị mọi người đều biết hoặc là một ngày nhất định mà mọi người trong phường, trong làng cùng theo một nghề kể là ngày kỵ nhật của tổ nghề mình.

Thờ phụng tổ nghề, người ta cầu mong Ngài phù hộ cho công việc được suôn sẻ, buôn may bán đắt hoặc lúc đi xa tránh được mọi sự rủi ro. Sau khi công việc có kết quả, người ta làm lễ tạ ơn. Ngày kỵ nhật tổ nghề tại các phường còn gọi là ngày giỗ phường.

2. Ông tổ nghề một số làng nghề gốm ở Việt Nam

Gốm là một trong những phát minh quan trọng của tổ tiên ta từ ngàn đời nay, đồ gốm đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của nhân dân ta.

Gốm cổ truyền Việt Nam đã có cách đây sáu, bảy ngàn năm. Gốm xuất hiện trong những di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Hạ Long… Rồi ta thấy trong di chỉ thuộc hậu kỳ đồ đá mới Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậu, giai đoạn Gò Mun… Đồ gốm cổ truyền nước ta đã có những bước phát triển cao và hết sức phong phú.



Sản phẩm gốm men lam của Bát Tràng

Trong truyền thuyết, sự xuất hiện của đồ gốm, đồ sứ như một điều bí hiểm, linh thiêng “Đồ gốm, sứ là loại chất bột nằm sâu trong lòng đất, ở những nơi linh thiêng có ma quỷ canh giữ. Muốn khai thác được phải chọn ngày lành tháng tốt. Lên tới mặt đất, nhờ ánh sáng chói lọi của mặt trời soi dọi chất bột đó mới biến thành gốm, sứ…”

Thực ra đó chỉ là truyền thuyết ly kỳ để tăng cái phần quan trọng của kỹ nghệ gốm, sứ xa xưa. Thực chất hàng gốm, sứ ra đời nhờ đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ thủ công. Lịch sử Việt Nam, tập 1, trang 38 có ghi: “Trong giai đoạn Phùng Nguyên, kỹ thuật tạo chế đồ đá đã đạt đến trình độ cực thịnh. Những chiếc rìu, vồ đục… quy mô to nhỏ khác nhau, được chế tạo bằng cách mài, cưa khoan, rất hoàn thiện. Những vòng tay, hoa tai, hạt chuỗi… bằng đá được chau chuốt, tiện, gọt tinh vi. Những loại hình đồ gốm (nồi, bát, cốc, vò…) có hình dáng đẹp, chắc, khoẻ, phần nhiều đã được chế tạo từ bàn tay. Mặt ngoài đồ gốm phủ đầy hoa văn trang trí với những đường vạch sắc sảo, những nét cong uyển chuyển, mềm mại, được phối trí, đối xứng và hài hòa. Đó là một biểu hiện về óc thẩm mỹ khá cao của người Việt Nam lúc bấy giờ….”

Vậy là kỹ nghệ gốm giai đoạn Phùng Nguyên (cách ta gần 4.000 năm) ở nước ta đã phát triển mạnh. Con người buổi đó đã biết nghĩ ra bàn xoay và chế tạo ra thứ men để phủ ngoài, tăng thêm vẻ đẹp kỳ diệu của đồ gốm.

Đây là một thời kỳ của nước Văn Lang. Cho tới thời Âu Lạc, kỹ nghệ gốm đã phát triển mạnh lắm. Nghề nung gạch, làm ngói… cũng đã có từ ngày này.

Phải nói thời cực thịnh của gốm sứ là thời kỳ Lý – Trần (thế kỷ XI – XIV). Đó là những năm đất nước phồn thịnh, kinh tế mạnh mẽ, quân sự vững mạnh, văn hóa phát triển, đất nước an bình, mọi kỹ nghệ được khuyến khích phát đạt.

Nghề gốm, xem ra phát triển rải rác khắp đất nước. Ở tỉnh nào cũng có những vùng làm nghề gốm. Cứ ven các dòng sông, chúng ta gặp nhiều mảnh sành, mảnh gốm còn vương sót lại. Hoặc chúng ta gặp những dãy lò gốm đang ăn khói nghi ngút. Những trung tâm sứ gốm ở nước ta, xuất hiện từ thời Lý – Trần mà đến nay vẫn còn hưng thịnh nghề nghiệp, đó là Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Quế Quyển (Hà Nam Ninh), Chum Thanh (Thanh Hóa)… Mỗi vùng quê gốm lại giữ kỹ nghệ riêng biệt. Và mỗi nơi, lại có mặt hàng gốm đặc trưng riêng của mình, tạo thêm cái đa dạng và phong phú của công nghệ gốm Việt Nam. Nếu nói trung tâm gốm ở nước ta, phải nói tới Bát Tràng – Thổ Hà – Hương Canh. Một đặc điểm riêng biệt và rõ nét nhất của nghề gốm là đều phát triển dọc sát các triền sông. Bởi lẽ nó tiện đường chuyên chở, và đất sét dọc các triền sông là thứ nguyên liệu quý để sản xuất gốm, sứ.



Gốm Bát Tràng ngày nay

Theo tài liệu giới thiệu Lịch sử nghề gốm ở Thổ Hà của Ty Văn hóa Hà Bắc, và tài liệu Tìm hiểu nghề gốm ở Bát Tràng, tư liệu đánh máy của Viện Mỹ thuật, năm 1964, cho biết: Vào khoảng thời Lý – Trần có người đỗ Thái học sinh (đặc biệt chức Thái học sinh thì mới có từ thời Trần) được cử đi sứ nhà Tống (Trung Quốc) là: Hứa Vĩnh Kiều, người làng Bồ Bát (Thanh Hóa), Đào Trí Tiến, người làng Thổ Hà (Hà Bắc), Lưu Phong Tú, người làng Kẻ Sặt (Hải Dương). Cả ba ông này, khi đi sứ đã học được nghề sứ gốm. Khi về nước, ba ông chọn ngày lành tháng tốt lập đàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền nghề cho dân làng. Công nghệ có được phân như sau: Ông Kiều về Bồ Bát, ông Tiến về Thổ Hà, ông Tú về Phù Lãng, và:

– Làng Bồ Bát chuyên chế các hàng gốm sắc trắng.

– Làng Thổ Hà chuyên chế các hàng gốm sắc đỏ.

– Làng Phù Lãng chuyên chế các hàng gốm sắc vàng, thẫm.

Nửa năm sau nghiên cứu, chế tạo thành công, ba ông lấy các đồ gốm do tay mình chế được, dâng Vua xem. Nhà Vua thấy sản vật đẹp, liền khen thưởng các quan sứ thần bốn chữ “Trung ái Quán Thế” và phong cho ba ông danh “Khởi nghệ tiên triết”. Tục truyền, dịp này, dân làng ở ba nơi đều tế lễ sầm uất và linh đình. Sau dâng ba tuần rượu, dân chúng nhảy nhót hoan hô để biểu dương các ngài đem nghề về truyền cho dân. Sau khi ba ông mất, dân chúng ba nơi đều tôn ba ông là “Tổ sư”, tức “Tổ nghề”.

Phường gốm Bồ Bát sau có rời ra ngoài Bắc. Dọc theo con sông Hồng, tới một bãi sông có đất thó trắng, họ dừng lại lập lò gốm ở đó, với tên gọi Bạch Phường thổ, sau này đổi là Bát Tràng phường. Và ngày nay, ta quen gọi là Bát Tràng.

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »