Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘phù điêu’

Viện Bảo Tàng Điêu Khắc Chăm Đà Nẵng tọa lạc tại góc đường Bạch Đằng và Trưng Nữ Vương với diện tích là 6.673 m vuông  . Tòa nhà được thiết kế bởi hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair. Trong quá trình xây dựng và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng góp lớn của chuyên gia khảo cổ Henri Parmentier, của EFEO và là một trong những người đầu tiên có đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa Chăm .

Được xây dựng trên một gò đất cao , toàn bộ phía ngoài  viện bảo tàng sơn một màu vàng nhìn đơn giản và rất cổ kính ,với một không gian thoáng mát và trong lành ,những hàng cây trồng dọc theo các lối đi , cây cổ thụ làm tăng thêm vẻ cổ kính của bảo tàng , phía ngoài khuôn viện của bảo tàng các mảng đài thờ , tượng đá được xếp đặt rải rác  hài hòa với cảnh vật xung quanh , tạo cho người đến tham quan có một cảm giác ngỡ ngàng và  hứng thú khi tiếp xúc với những tác phẩm điêu khắc mà thoạt nhìn ta thấy có vẻ bí ẩn và xa lạ .

Từ những năm cuối thế kỷ XIX  khi một số người Pháp bắt đầu chú ý đến di tích Chăm thì rất nhiều các tháp Chăm đã ở trong tình trạng hư hỏng và đổ nát  , họ là những người Pháp yêu nghành khảo cổ và những người làm việc cho trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp ( L’ École francais d’ Éxtrême – Orient, viết tắt là EFEO) , họ và   những đồng nghiệp người Việt Nam đã cùng nhau bắt đầu  thu thập , bảo tồn và nghiên cứu tác phẩm điêu khắc Chăm .  Đến  đầu thế kỷ XX một số hiện vật được chuyển đi  Pháp , một số được  chuyển ra Bảo Tàng Hà Nội & Bảo Tàng Sài Gòn , nhưng phần nhiều các tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng . Từ năm 1902 với ý định xây dựng một bảo tàng tại Đà nẵng để lưu giữ và trưng bày những tác phẩm điêu khắc Chăm mà họ thu thập được và sau 17 năm thì tòa nhà đầu tiên của bảo tàng chính thức hoàn thành .

Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng được xây dựng năm 1915 chính thức khánh thành vào năm 1919 là một bảo tàng trưng bày các hiện vật Chăm quy mô và độc đáo nhất Việt Nam  chuyên sưu tập , cất giữ và trưng bày các di vật điêu khắc Chăm được tìm thấy ở các tháp , thành lũy Chăm ,  các vùng tại Đà nẵng , Quảng nam và các tỉnh  lân cận   Các tác phẩm được trưng bày ,  lưu giữ tại bảo tàng điêu khắc Chăm là những tác phẩm tượng , đài thờ , phù điêu và vật trang trí , hầu hết là  các tác phẩm  nguyên bản được làm từ 3 chất liệu chính là Sa Thạch ,đất nung và đồng , phần lớn là sa thạch có niên đại từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ XV thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau   được phân  theo các gian tương ứng với các khu vực địa lý nơi chúng được phát hiện như Mỹ Sơn ( thế kỷ thứ VII – VIII )  , Đồng Dương  ( thế kỷ thứ  IX ),  Trà Kiệu ( thế kỷ thứ X ) Tháp Mẫm  ( thế kỷ thứ  XII – XIV ) và các hành lang Quảng Trị , Quảng Nam , Quảng Ngãi , Kon Tum , Quảng Bình và Bình Định . Các tác phẩm  tiêu biểu của nền nghệ thuật này có một vẻ đẹp kỳ lạ độc đáo , gần gũi thiêng liêng , tinh tế  , một thế giới thần linh và kỳ bí  .. tất cả đều sống động , chi tiết và một sức hấp dẫn vô cùng mãnh liệt  . Đó là phần còn lại của cà một hệ thống tín ngưỡng , một kho tàng văn hóa phong phú .

Mặc dầu đã qua hai lần mở rộng , lần đầu là đầu năm 1930 – 1936  xây dựng thêm hai phòng trưng bày hai bên thẳng góc về phía trước của tòa nhà cũ,  để trưng bày các hiện vật thu thập được 1920 – 1930 Theo ý tưởng của Henri Parmentier,  hiện vật được phân loại để trưng bày theo nguồn gốc địa điểm nơi chúng được phát hiện hoặc khai quật. Không gian của toà nhà bảo tàng gần 1000 m2 đã được bố trí thành những khu vực trưng bày, tạm gọi tên như sau:

*Phòng Mỹ Sơn – Quảng Trị,

*Phòng Trà Kiệu,

*Phòng Đồng Dương,

*Phòng Tháp Mẫm

*các hành lang Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum.

Ngoài ra còn có một phòng nhỏ làm kho. Cách bố trí không gian trưng bày này cơ bản vẫn được duy trì cho đến hiện nay.

Lần thứ hai xây thêm một toà nhà hai tầng ở phía sau khu nhà cũ, với diện tích sử dụng khoảng 2.000 m2 dành cho việc trưng bày và hơn 500 m2 dành làm kho, xưởng phục chế và phòng làm việc. Tại tầng 1 của khu nhà mới này hiện đang trưng bày những hiện vật trước đó còn để trong kho và một số hiện vật sưu tầm được sau năm 1975. Tầng 2 trưng bày về văn hóa Chăm đương đại bao gồm sưu tập về trang phục, nhạc cụ và hình ảnh lễ hội của đồng bào dân tộc Chăm.

Sau hai lần mở rộng Toàn bộ toà nhà và phong cách kiến trúc ban đầu của bảo tàng vẫn còn giữ lại cho đến ngày nay

Trước năm 2007, Bảo tàng Điêu khắc Chăm là một bộ phận của cơ quan Bảo tàng Đà Nẵng. Ngày 02 tháng 7  năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa – Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng.

Hãy đến và hãy ghé tham quan bảo tàng  , đừng bỏ qua nếu bạn có dịp ghé thành phố Đà Nẵng , một điểm đến lý thú và đầy bất ngờ đối với khách du  lịch

Một số thông tin cần biết :

1/ ĐỊA CHỈ :

*Văn Phòng : số 01-  đường Trưng Nữ Vương – Đà Nẵng

*Lối vào tham quan : Số 02 – đường 2 tháng 9 – Đà Nẵng

*Lối ra : Số 02 B  – đương 2 tháng 9 – Đà nẵng

2/ ĐƯỜNG ĐẾN :

* Từ sân bay Đà Nẵng  : đến Bảo tàng khoảng 4 km

*Từ ga xe lửa Đà Nẵng : đến Bảo tàng khoảng 6 km

*Từ Hội An đến Bảo Tàng : Khoảng 30 km

3/ GIỜ MỞ CỬA :

* Từ 7 giờ đến 17 giờ 30 hằng ngày.

4/VÉ VÀO CỬA :

*Người lớn: 30.000 đồng/người

*Học sinh – sinh Viên : 5000 đồng / người  ( xuất trình thẻ  )

*Trẻ em dưới 16 tuổi : miễn phí

5/HƯỚNG DẪN VIÊN :

*Những đoàn khách từ 5 người trở lên có yêu cầu về hướng dẫn viên có thể liên hệ trước tại quầy vé để sắp xếp.

*Thời gian:

từ 8 g –  10 g 30

từ 14 g – 16 g 30.

6/ QUY ĐỊNH :

*Khách đến tham quan phải mua vé.

*Không được mang theo vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy vào Bảo tàng.

*Phải gửi hành lý ở phòng thường trực, lưu ý không để tiền, vật quý trong hành lý

*Không sờ vào hiện vật .

*Không hút thuốc trong các gian trưng bày. Giữ gìn trật tự vệ sinh.

*Được phép chụp ảnh, quay phim với máy cầm tay. Các chương trình quay phim, chụp ảnh đặc biệt phải được sự đồng ý của Bảo tàng. Không được sử dụng hình ảnh, phim về Bảo tàng ĐKC và về hiện vật của Bảo tàng ĐKC để in, đăng trên bất kỳ phương tiện thông tin nào, kể cả trên các trang web, khi chưa có sự cho phép của Bảo tàng Điêu khắc Chăm.

7/SƠ ĐỒ BẢO TÀNG

8/LƯU NIỆM :

*Cửa hàng lưu niệm tại hành lang của Bảo tàng hoạt động theo giờ mở cửa của Bảo tàng

9/LIÊN HỆ :

• Quầy vé:

– Tel: (511) 3470114

 • Bảo vệ:

– Tel:  (511) 3572414

 • Phòng Tổ chức – Hành chính:

– Tel: (511) 3470116
– Fax: (84 511) 3574801

 • Phòng Hướng dẫn – Tuyên truyền:
– Tel: (511) 357 2935

 • Phòng Sưu tầm – Bảo quản:
– Tel: (511) 3821951

 • Góp ý : ChamMuseum@gmail.com

Một số hình ảnh được chụp tại bảo tàng điêu khắc Chăm

This slideshow requires JavaScript.

Khanhhoathuynga

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

Advertisements

Read Full Post »

Hồi sinh pháp lam Huế

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Ngoài trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam còn có giá trị trong nghệ thuật trang trí tranh, phù điêu. Pháp lam cùng với gốm và sơn mài là ba nghề được chọn tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009.

Đây là một nghề độc đáo bởi chỉ có ở Huế. Tuy nhiên do biến động lịch sử, pháp lam đã thất truyền gần 200 năm. Thời gian thất truyền quá lâu, ngay cả người dân Huế cũng cảm thấy xa lạ.

Gần 200 năm thất truyền bí ẩn

Pháp lam là kỹ thuật tráng men nhiều màu lên cốt đồng đỏ và nung chín tạo nên tác phẩm mỹ thuật hay chi tiết trang trí trong kiến trúc với họa tiết rực rỡ màu sắc.

Sản phẩm pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước Công nguyên khi thợ kim hoàn vùng Mycenaean (Hy Lạp) tráng men thủy tinh trên khuyên tai bằng vàng.

Ở Việt Nam, kỹ nghệ này du nhập vào đầu thế kỷ 19 do vua Minh Mạng đưa một số công nhân Việt Nam sang học nghề chế tác pháp lam ở Trung Quốc.

Sau đó, nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục (xưởng sản xuất pháp lam đặt ở khu Canh nông trong Thành nội) gồm 15 người do ông Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Ngoài ra, triều đình còn mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình).

Pháp lam Huế phát triển đến thời vua Tự Đức thì phôi pha dần rồi thất truyền một cách bí ẩn. Trong 60 năm tồn tại, từ năm 1827, pháp lam Huế đã sản xuất rất nhiều vật phẩm có giá trị để trang trí, cúng tế theo yêu cầu của triều đình, trong đó phục vụ cho nhu cầu trang trí nội ngoại thất, tế tự và nhu cầu thường nhật trong cung đình.

Cách đây 10 năm, ba nhà nghiên cứu khoa học ở Huế gồm tiến sĩ dược học Nguyễn Nhân Đức (Đại học Y Dược Huế), kỹ sư chuyên ngành silicat Trần Đình Hiệp (Công ty Xây lắp Thừa Thiên-Huế) và thạc sĩ vật lý Đỗ Hữu Triết (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế) đã cùng nghiên cứu để phục hồi pháp lam Huế.

Tuy ba người với ba trường phái khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở một điểm chung là cùng tạo ra được màu men, phục hồi thành công pháp lam Huế sau gần 200 năm vắng bóng.

Những người hồi sinh pháp lam

Trong hai năm 2003-2004, tiến sĩ Nguyễn Nhân Đức đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất pháp lam phục chế tu bổ di tích Huế” và thu được thành công khi tạo ra được ba mẫu phục chế hoàn hảo theo nguyên mẫu của di tích Huế.

Đóng góp lớn nhất, có giá trị thiết thực của tiến sĩ Đức cùng cộng sự của ông là làm sống lại kỹ nghệ trang trí pháp lam trên các đền vàng điện ngọc, niềm tự hào một thời của mỹ thuật cố đô Huế. Những sản phẩm do ông và cộng sự làm ra đã được ứng dụng vào việc trùng tu các công trình di tích Huế như trang trí chùa Thiên Mụ, điện Thái Hòa, hai nghi môn tại hoàng thành Huế.

Kỹ sư Trần Đình Hiệp thì hoàn thiện được kiểu tráng men trên mặt phẳng với độ bền màu trong nhiều môi trường khác nhau, hồi sinh loại pháp lam mỹ thuật trang trí và ngói âm dương.

Còn với Đỗ Hữu Triết, sau những năm tháng nghiên cứu về phục dựng bảo tồn di tích Huế, anh đã kết duyên với đề tài về phục hồi pháp lam. Niềm đam mê và ước vọng hồi sinh pháp lam Huế đã được anh truyền vào công trình luận án thạc sĩ với đề tài “Men và màu cho đồ gốm sứ ở di tích Huế” năm 2005.

Luận án được đánh giá rất cao khi người thực hiện đã phục hồi thành công men màu trong pháp lam mỹ nghệ, pháp lam trang trí nội thất và được ứng dụng vào sản xuất pháp lam.

Sau thành công đó, Triết thành lập Công ty pháp lam Sao Khuê (nay là Công ty TNHH Thái Hưng) để phục hồi kỹ nghệ sản xuất pháp lam, quy tụ 15 thợ có tay nghề giỏi về làm.

Anh Triết cho biết: “Pháp lam bị thất truyền là một mất mát quá lớn đối với nghệ thuật kiến trúc, nhất là những công trình pháp lam ở các di tích Huế bị xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng cần phải trùng tu. Ngoài giá trị trong việc trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam hồi sinh còn có giá trị to lớn trong nghệ thuật trang trí các sản phẩm như tranh, phù điêu. Đặc biệt, thành công trong việc phục hồi pháp lam đã tạo ra một loại tranh có chất liệu mới trong hội họa và được ứng dụng vào ngành mỹ nghệ, trang trí nội ngoại thất, đồng thời phục hồi và phát triển một nghề truyền thống đặc biệt của Huế đã bị thất truyền từ lâu”.

Tại Festival nghề truyền thống Huế 2009, anh Đỗ Hữu Triết đã cùng Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế trưng bày các sản phẩm pháp lam và mở một quy trình sản xuất pháp lam để du khách có thể tự tay vẽ lên pháp lam làm sản phẩm lưu niệm cho mình.

“Mặc dù đạt được những thành công bước đầu trong việc hồi sinh pháp lam Huế, tuy nhiên Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế mới chỉ làm được có ba loại hình kỹ thuật pháp lam, trong khi đó thế giới có đến 17 loại hình. Mục tiêu mà chúng tôi hướng tới là đạt trình độ của pháp lam thế giới” – anh Triết tâm sự.

Theo http://www.phapluattp.vn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »