Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘phong thủy’

Nhà cổ ở Huế

Tống Văn Thụy
Ảnh: Phan Gia Khánh và Lê Văn Thọ
Trích Nhà đẹp

Tháng ba, trời Huế vào xuân muộn. Có sống qua một mùa đông dài lê thê và ẩm ướt ở Huế mới thấy thêm chút nắng ấm hanh hao đầu mùa, chút hương hoa của trời đất cỏ cấy lúc giao mùa. Mời bạn cùng chúng tôi thả bộ một vòng thăm Huế.

Nét Huế đầu tiên bắt gặp có lẽ là nếp nhà. Cái ngôi nhà khung gỗ ẩn khuất trong vườn cây, nép mình sau hàng chè tàu, dâm bụt… cứ vấn vương hoài trong tôi.
Nhà cổ Huế vẫn còn đó đây ở miệt Kim Long, Nguyệt Biều, Bến Ngự, Vĩ Dạ… hay bên trong Thành Nội. Dù ở đâu, bố cục nhà cổ thường đồng nhất. Cổng chính đưa vào khuôn viên nhà thường chỉ có một lối đi (cửa phòng môn) như nhà An Hiên, Lạc Tịnh Viên…, bề thế hơn là cổng tam quan như Phủ Tuy Lý… Hai bên lối đi, chủ nhân trồng cây, hoa hoặc chè tàu. Cuối “ngõ hạnh” (chữ của Hoàng Phủ Ngọc Tường) là bình phong có nhiệm vụ che chắn. Sau bình phong, điểm xuyết có bể cạn, hòn non bộ, cây cảnh và hoa trái. Khuất kín bên trong góc nhà có khi là một lu nước nhỏ, chút âm tính cần thiết để làm trôi đi những nỗi lo toan bên ngoài.
Nhà nép mình trong vườn. Phía trước vườn thưa thoáng, đằng sau thì sum suê hơn. “Chuối sau cau trước”. Hàng rào phía sau thường là khóm tre dày chắn gió.
Con người, ngôi nhà và thiên nhiên như hòa quyện vào nhau, nên chỉ ở Huế mới có câu “sống như thảo dã” và hình như người Huế cũng có óc hưởng nhàn sớm (!)
Kim Long, từ 1636 là thủ phủ của Đàng Trong. Phủ Chúa gày xưa là một trong những nơi tập trung nhiều nhà cổ mà điển hình là nhà An Hiên.
Nhà vườn An Hiên được xây dựng từ 1895 bởi ông Hường Thập (Phạm Đăng Thập), cháu bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ. Năm 1920, chủ nhân bán lại cho Tùng Lễ. Đến năm 1936, ông bà Nguyễn Đình Chi – người phụ nữa đầu tiên đỗ Tú tài Tây tại Trung Kỳ – qua đời tháng 6/1977 tại đây. Hậu duệ hiện nay của ngôi nhà là ông Nguyễn Đình Châu.
Đến thăm nhà An Hiên, nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Đến đây như đi trong thời gian xưa, trở về với hồn dân tộc. Chỉ có Huế nơi cơm đùm trong lá sen, trái ớt chẻ ra thành hoa năm cánh mới có những khu vườn như vậy…”
Sau cơn lũ dữ tháng 11/1999, “Hoa trái quanh tôi” (1) vẫn xanh tươi trong vườn An Hiên.
Rất nhiều ngôi nhà cổ Huế tập trung tại Phú Mộng, Kim Long, trông ra nhánh sông Bạch Yến (sông Lấp). Đó là nhà anh Nguyễn Văn Trọng xây dựng cách đây 76 năm, nguyên của quan tri phủ Nguyễn Văn Phú, làm quan dưới triều Khải Định. Tại nhà số 3/2 Phú Mộng, Kim Long, rất tiếc dù đã cố gắng dò hỏi nhiều lần, chúng tôi vẫn không nắm được nguồn gốc ngôi nhà này.
Lạc Tịnh Viên, 65 Phan Đình Phùng – Huế, nhìn ra sông Bến Ngự (sông Lợi Nông) là nếp nhà tiêu biểu của nhà vườn Phủ đệ. Bốn phía nhà vườn được bao quanh bởi hàng chè tàu, cẩn, dâm bụt…
Cổng đưa vào nhà đắp nổi ba chữ Hán “Lạc Tịnh Viên”. Nhà được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 bởi Nguyễn Phúc Hồng Khẳng, con của Tùng Thiện Vương. Nằm ở trung tâm là nhà “Hy Trần Trai”, kiểu nhà rường ba gian hai chái, nền được tôn cao, thông thoáng. Nối với mái hiên “Hy Trần Trai” là “Nhà Nhân Hậu”, bốn bề không có vách, là nơi tiếp khách. Dọc hai bên là hai căn nhà xây dựng vào đầu thế kỷ 20: “Di Tâm Thích Thể Đường” (1901) và “Nhà Vấn Trai” (1910).
Đến Lạc Tịnh Viên, một trong những ngôi nhà được bảo quản tốt nhất Huế, bạn được thả mình trong cái thinh lặng, yên ả. Nếu may mắn, bạn còn được một phụ nữ, hậu duệ của Lạc Tịnh Viên, đón tiếp; nét Huế trong tà áo dài, giọng nói, phong thái khiêm cung mà đĩnh đạc…
Đến Phường Đúc, làng đúc đồng nổi tiếng ở hữu ngạn sông Hương, bạn nên ghé thăm nhà anh Nguyễn Hữu Thông, một nhà nghiên cứu văn hóa, ở số 164 Bùi Thị Xuân. Nhà vườn anh Thông phảng phất cái không khí miền trung du gò đồi Huế. Dân địa phương gọi là nhà cụ nghè Đường. Cụ là cháu nội ông Quản Lạc (Nguyễn Hữu Dược), người xây dựng ngôi nhà (1860 – 1866). Người Huế có câu “Lúa ông Khuyên. Tiền ông Quản lạc. Bạc ông Bồ Ghè” (2). Anh Nguyễn Hữu Thông là con của ông cụ nghè Đường.
Xuôi về Vỹ Dạ, đất các phủ – đệ, một trong những ngôi nhà rường được bảo quản gần như nguyên vẹn là nhà cụ Thượng Tôn Thất Gián, xây dựng muộn hơn (1937). Nhạc sĩ Tôn Thất Tiết, tác giả “Ngôi vườn thế giới bên kia” (Le jardin d’autre monde) đã lớn lên từ ngôi nhà vườn nhỏ này để bước vào ngôi nhà vườn lớn hơn của vũ trụ.
Loạt phóng sự ảnh về nhà cổ Huế chỉ là một cuộc dạo chơi, một chút tìm tòi với vài nét sơ phác về ngôi nhà Huế. Có quá nhiều nếp nhà cổ xưa độc đáo, tiêu biểu mà chúng tôi chỉ mới được nghe nói chứ chưa hề đặt chân đến. Đành hẹn một chuyến du xuân sau vậy.
Huế, 15/3/2000

(H1) Cổng Lạc Tịnh Viên, 65 Phan Đình Phùng, Huế.

(H2) “Nhà Nhân Hậu” (Lạc Tịnh Viên).

(H3) Bình phong Lạc Tịnh Viên.

(H4) Hàng hiên “Hy Trần Trai” (Lạc Tịnh Viên). Ngôi nhà rường cổ ba gian hai chái được xây dựng trên nền cao thông thoáng, nhìn ra sông Bến Ngự.

(H5) Nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên).

(H6) Nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên) xây dựng năm 1901, là nơi con cháu học hành.

(H7) Bàn thờ Phật (Lạc Tịnh Viên)
(H8) Hành hiên nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên).
Lạc Tịnh Viên – Ngôi nhà của cháu Nội Vua Minh Mạng

(H9) Hàng hiên nhà “Hy Trần Trai” (Lạc Tịnh Viên). Một trong những căn nhà rường được bảo quản tốt nhất ở Huế.
Nhà An Hiên – Từ cháu Bà Hoàng Thái Hậu đến người phụ nữa đầu tiên đỗ tú tài Tây tại Trung Kỳ

(H10) Nhà An Hiên (Kim Long) cổng vào

(H11) Mặt trước nhà

(H12) Nhà An Hiên – Bình Phong

(H13) Nhà An Hiên. Bàn thờ
(H14) Nhà An Hiên “Ngô Hạnh”

(H15) Nhà An Hiên. Phía bên trong.

(H16) Nhà An Hiên. Một góc nhà.
Nhà Thượng Thư Tôn Thất Gián

(H18) Bình phong nhà cụ Thượng Gián. Vĩ Dạ – Huế.
(H19) Một góc nhà rường Huế – Nhà Cụ Thượng Gián.

(H20) Mặt tiền nhà Cụ Thượng Gián.
(H21) Mô-típ trang trí bờ nóc. Nhà Cụ Thượng Gián.
Nhà Cụ Nghè Đường

(H22) Cổng vào nhà Cụ Nghè Đường,
nay là nhà anh Nguyễn Hữu Thông, 164 Bùi Thị Xuân – Huế.

(H23) Bên trong cổng vào
(H24) Sập gụ, bên trong nhà

(H25) Bên trong nhà.
(H26) Sân nhà
Nhà Tri Phủ Nguyễn Văn Phú

(H27) Nhà cổ vùng Phú Mộng – Kim Long,
nay là nhà anh Nguyễn Văn Trọng

(H28) Cổng vào nhà Tri Phủ Nguyễn Văn Phú.

(H30) Nhà anh Nguyễn Văn Trọng.
Tiền đường, Vì kèo Huế.

(H29) Phía trong nhà anh Nguyễn Văn Trọng.
Thời gian ở đây như ngừng lại.
(H31) Một góc nhà
————————–
(1) Tên bài bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về An Hiên.
(2) Ông Bồ Ghè là phiên âm tên một ông Tây, chủ hãng gạch bông ở Phường Đúc.

Tống Văn Thụy

Nguồn: Trích Nhà đẹp

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Advertisements

Read Full Post »

Tì Hưu (Thiên Lộc) – Linh vật cầu tài (bài 2)

Tì Hưu một trong những linh vật có giá trị thu hút tiền tài của người Trung Quốc

pixiu3

Sau khi nhà Thanh sụp đổ vào năm 1911, các cổng thành của ngoại thành dần dần bị phá bỏ để thành phố phát triển. Ngày nay chỉ còn lại hai cổng duy nhất đó là Đức Thắng Môn ở phía nam và Thiên An Môn ở phía bắc. Sở dĩ Đức Thắng Môn còn tồn tại là vì nó nằm đúng địa điểm quan trọng trong phong thủy và là vì nó có giữ một trong những con Thần Thú quan trọng của người Trung Quốc: con Tì Hưu (Pixiu)

Người Nhật có chú mèo ngậm đồng tiền vàng, người Châu Âu có chú ếch vàng thì người Trung Quốc có tượng Di Lặc, có Cá Vàng và có Tì Hưu để “dụ dỗ” tiền bạc về tay mình.

pixiu4

Tì Hưu là một trong ba thần thú của Trung Quốc, cũng là một trong chín con của Rồng. Tì Hưu có hình dạng như con chó nhưng miệng rộng, có cánh, có sừng vào không có hậu môn. Theo người Trung Quốc, con Tì Hưu: có sừng là để bảo vệ chủ, có miệng rộng là để gom tiền tài vào người, không có hậu môn là vì không có chỗ cho tiền tài thoát ra, có cánh là để cho chủ mau thăng quan tiến chức.

Qua nhiều triều đại, con Tì Hưu cũng dần dần thay đổi. Vào thời nhà đường, con Tì Hưu có cái mông rất to — vào lúc bấy giờ, nhà Đường cho là phải tròn trịa nẫy nở mới là đẹp.

Con Tì Hưu để trong Đức Thắng Môn cũng tương đối to, cỡ bằng một con cọp con, được canh giữ rất kĩ và cấm chụp ảnh.

Mọi người đều có thể xoa con Tì Hưu để có được sự trù trợ của nó. Cách thức xoa con Tì Hưu cũng cầu kỳ:

+ Trước nhất là xoa tai để nói cho nó nghe nó biết chủ là ai

+ Sau đó là xoa xuống miệng như là cho nó ăn cho nó thương chủ

+ Xoa xuống cánh để nó phù trợ cho mình mau thăng quan tiến chức

+ Xoa xuống chân tượng trưng cho sự nhanh nhẹn vững chải

+ Xoa xuống lưng cuối cùng là xuống mông rồi sau đó nắm hai tay lại bỏ vào túi. Coi như là đem tài lộc bỏ vào túi mình.

Tất nhiên là ở gian phòng bên cạnh là có các con Tì Hưu cho du khách thỉnh về để cầu tài. Theo hướng dẫn viên, muốn cho con Tì Hưu linh nghiệm thì con Tì Hưu phải hội đủ bốn yếu tố:

Thứ nhất là phải làm từ Đức Thắng Môn theo đúng kích thước phong thủy đo bằng thước Lỗ Ban. Thứ hai là phải làm bằng ngọc thật, làm bằng cái vật liệu khác không linh nghiệm. Thứ ba là phải để trong chùa 49 ngày sau đó (thứ tư) là đem trở lại Đức Thắng Môn để thầy địa lý viết chữ vào bụng nó. Sau đủ bốn điều kiện trên thì con Tì Hưu trở thành linh nghiệm có thể thỉnh về cầu tài.

Một điều kỳ thú nữa là con Tì Hưu luôn luôn phò trợ chủ nó. Dù chủ nó là ăn cướp, đâm thuê chém mướn nó cũng phò trợ tuốt tuồn tuột. Vì vậy những nơi kiếm tiền không hoàn toàn chính đáng như sòng bài, vũ trường ở Bắc Kinh luôn có con Tì Hưu phò trợ vì họ biết có thờ Phật thì trời phật cũng chả chứng dám cho đám cờ gian bạc lận.

Người Trung Quốc tin mấy chuyện lạ kỳ. Họ nói là sau khi thỉnh con Tì Hưu về thì nên lấy khăn sạch tắm cho nó, đánh răng cho nó. Rồi để nó vị trí nào có thể xoay mặt ra cửa sổ hay ra cửa chính để nó hút tiền tài phía ngoài vào. Nhà ai có cửa sổ nhìn ra ngân hàng thì coi như là trúng số độc đắc.

Ly kỳ không kém cách xoa con Tì Hưu là những câu chuyện Tì Hưu phò trợ chủ. Có một câu chuyện như thế này:

Hôm đó có một cặp vợ chồng tới Đức Thắng Môn thỉnh một con Tì Hưu thật to mang về nhà. Khi về đến Đài Loan thì mới thấy 1 bên tai của con Tì Hưu bị sứt mộng miếng. Vậy là hai ông bà lập tức quay lại Bắc Kinh khiếu nại. Khi tới Bắc Kinh, hai ông bà nằm trong khách sạn coi tin tức thì mới biết ở bên Đài Loan ngay gần nhà họ mới bị động đất. Như vậy là con Tì Hưu phò trợ họ đi ra khỏi khu vực đó để bảo vệ chủ.

Cũng có một chuyện ly kỳ không kém là: Chủ Ngân Hàng Xây Dựng từ khi đem hai còn Tì Hưu to nhất Trung Quốc về chưng ngay trước ngân hàng thì ngân hàng ăn nên làm ra. Từ một ngân hàng nhỏ đã trở thành một trong bốn ngân hàng lớn nhất Trung Quốc. Còn ông chủ thì tiến chức không ngừng lên tới bộ trưởng.

Người Trung Quốc rất mê tín, và những linh vật chiếm vị trí không nhỏ trong tín ngưỡng của họ. Tuy vậy, Phật tại tâm và nếu bạn làm ăn chính đáng bằng sức mình, cần cù, chăm chỉ thì Thần Tại sẽ luôn mỉm cười, còn nếu kiếm tiền không chân chính thì Tì Hưu cũng phải nứt vỡ hết để che chở cho chủ nhân. Như vậy thì thật khổ thân cho Tì Hưu lắm lắm !

Nguồn: Tô Thành

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Tì Hưu (Thiên Lộc) – Linh vật cầu tài

Tác giả Đức Chính

pixiu1

*Tỳ hưu: 貔貅; theo Từ Điển Hán Việt của Thiều Chửu, tỳ hưu con gấu trắng (bạch hùng), một giống thú rất mạnh cho nên đời xưa gọi các dũng sĩ là tì hưu (17n). Chẳng hạn trong Bình Ngô Đại Cáo Nguyễn Trãi Viết :”Viên tuyển tỳ hưu chi sĩ, Thân mệnh trảo nha tri thần” và Ngô Tất Tố dịch là “Sĩ tốt kén người hùng hổ, Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh”. Còn trong Văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, Đặng Đức Siêu viết: Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vi mà tìm tới quân vương; bởi vì thương muôn mạng tì hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ. (câu 10)

Nếu theo hai câu thơ này thì tín ngưỡng tỳ hưu không thể có sớm hơn thời Nguyễn (vì khái niệm tỳ hưu chỉ dũng tướng còn phố biến) và rất nhiều khả năng chỉ mới xuất hiện gần đây ở Việt Nam qua dòng giao lưu tín ngưỡng. Sự nở rộ tín ngưỡng tỳ hưu ở chính Trung Quốc có lẽ cũng cách nay không lâu vì Từ Điển Hán Việt của Thiều Chửu (xuất bản vào nửa đầu thế kỷ 20) viết dựa theo một số bộ tự điển của Trung Quốc cũng không thấy nói đến linh vật này. Khang Hi Từ Điển đời Thanh cũng vậy. Giữa con gấu trắng biến thành con của con Rồng phải chăng là một một sự biến hóa truyền thuyết giống như nghi án cho rằng ‘rồng’ là sự cải biên hoặc là từ rắn thần naga của Ấn Độ hay con sấu (Thuồng luồng) của Bách Việt.

pixiu2

Nhưng theo truyền thuyết, tì hưu lại là một linh thú do Rồng phối với một giống vật khác sinh ra (có tất cả chín loài như vậy), có hình từa tựa con Lân. Tì hưu còn gọi là hươu trời (thiên lộc) nên được coi chủ về thu giữ của cải (lộc) và có sừng để đâm tà ma cho gia chủ. Truyền thuyết còn nói khi gặp khó khăn về tiền bạc lo việc quốc gia, Minh Thái Tổ từng năm mộng thấy con tì hưu. Vua cho xây nơi con vật xuất hiện một cổng ngũ quan dẫn vào cung, từ đó quốc khố luôn đầy ắp và quốc gia giàu có. Sau đó vua cho khắc tượng ngọc tỳ hưu để trong cung cầu tài lộc. Nhưng có một truyền thuyết khác kể rằng khi Thương Hiệt thời thương cổ đi tìm dấu vết các loài để chế ra chữ viết có bắt gặp một vết chân lạ. Ông hỏi một người thợ săn thì được biết đó là con tỳ hưu. Người thợ săn còn cho biết thêm loài thú này rất hung dữ và ít khi xuất hiện.

Bắt đầu từ nhà Minh và nối theo là nhà Thanh các hoàng đế, cũng theo truyền thuyết, đều tạc tì hưu để cầu tài, nhưng cấm dân gian điều này (vì vậy không có trong từ điển chăng!?). Nhưng nhiều người vẫn lén làm theo. Theo giai thoại thì Hòa Thân có lén giấu một con tì hưu to hơn cả của vua, mông rất lớn, trong hòn giả sơn ở hoa viên dinh phủ của mình. Khi bị xử tội mới phát hiện ra và quan quân kiểm kê tài sản thấy nhiều hơn cả quốc khố mấy lần. Giai thoại này truyền tụng ra ngoài, tín ngưỡng tỳ hưu nở rộ và mãi về sau này mới truyền sang Việt Nam.

Tượng tỳ hưu nổi tiếng nhất Trung Quốc hiện nay là Đức Thắng Môn và bán tượng tỳ hưu (mới chế) cũng là ngành kinh doanh nơi này. Người ta truyền rao phải mua tượng từ nơi này và được thầy phù thủy ở đây phù chú mới linh nghiệm. Con vật này theo mô tả mình gấu, đầu lân, đuôi rậm, bờm uốn cong, không có hậu môn nên chỉ ăn vàng và không ‘đi tiêu’ ra chút gì cả. Do vậy rất nhiều người thỉnh tượng tì hưu về nhà cầu tài. Người ta tin rằng tỳ hưu làm bằng ngọc hay đá quý mới linh nghiệm, khi ăn phải hướng mặt ra ngoài để ăn vàng bạc (nếu quay vào trong ăn hết của nhà), thỉnh phải đủ hai con để một con thu của còn một con trừ tà, và nhất là không chạm ngón tay vào miệng tỳ hưu vì như thế bị nó hút hết tài lộc.

Trích “Từ điển Tâm thức và Tín ngưỡng Việt Nam” [Chưa xuất bản]

* Những từ in hoa đậm có mục tra riêng trong từ điển

Nói nhỏ thôi nhe: tôi quen một đại gia có tài sản vài chục tỉ. Mấy năm nay nghe theo thầy thỉnh tỳ hưu để giàu hơn nhưng nay ăn ngủ không yên vì ảnh hưởng khủng hoảng (chủ yếu cổ phiếu) làm ông ta sắp phá sản!? Chắc chắn một điều ông ta thỉnh tỳ hưu đúng cách nhất thế gian này và thờ cũng rất trịnh trọng. Tin hay không tùy các bạn.

Đức Chính

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Truyền thuyết về Tỳ Hưu – Con vật linh thiêng

Gần đây giới sành chơi thường sắm cho mình một con Tỳ Hưu để mang trên người hoặc đặt trong nhà. Tỳ Hưu có thể được làm nhẫn đeo tay, mặt dây hoặc để trong người với mong muốn mang lại may mắn và lợi lộc. Hoặc đặt trong nhà để tránh tà khí và sinh lợi. Thế nhưng Tỳ Hưu là gì? Và tác dụng của nó ra sao thì chắc ít người biết được.

Tỳ Hưu hai sừng thời xưa

Tỳ Hưu hai sừng thời xưa

Nguồn gốc của Tỳ Hưu

Truyền thuyết về Tỳ Hưu được xuất phát từ chin loại con của Rồng. Rồng sinh ra chín con, là chín loài thần thú nhưng không phải là rồng. Chín loài ấy, có 2 thuyết khác nhau, với thứ tự cũng khác nhau:

Thuyết 1: Tỳ hưu – Nhai xế – Trào phong – Bồ lao – Toan nghê – Bí hí – Bệ ngạn – Phụ hí – Si vẫn.

Thuyết 2: Bí hí – Si vẫn – Bồ lao – Bệ ngạn – Thao thiết – Công phúc – Nhai xế – Toan nghê – Tiêu đồ

Đặc điểm của các loài này được cho là như sau:

1. Tỳ Hưu (Tu Lỳ): Tỳ Hưu đầu như Kỳ Lân, có một sừng, thân của gấu, có cánh trên lưng. Tỳ Hưu một sừng là giống cực kỳ hung dữ, chuyên cắn hút tinh huyết của các loài yêu quái, ma quỷ nên còn gọi là con Tịch Tà. Loại Tỳ Hưu hai sừng là loài chuyên hút vàng bạc, châu báu trong trời đất nên được cho là con vật giữ tài lộc hay còn gọi là Thiên Lộc. Khi đó Tỳ Hưu có đặc điểm miệng to, ngực to, mông to nhưng không có hậu môn (chỉ để hút vào mà không làm mất đi cái gì). Nếu thỉnh một cặp Tỳ Hưu thì con cái là Tỳ, con đực là Hưu.

Tu Lỳ là kiện tác của Tỳ Hưu, với tư thế cuộn tròn, lưỡi cong, răng sắc đón lộc và giữ của. Khi mua Tỳ Hưu rất dễ bị nhầm thành Chó Trời , không hề có tác dụng tốt cho gia chủ.

Tỳ Hưu cũng có đặc điểm là thích âm nhạc, có tài thẩm âm. Vì thế nên Tỳ Hưu thường được khắc trên đầu cây đàn hồ cầm, nguyệt cầm, tì bà.

2. Nhai Xế (Nhai tí): loài mình rồng, đầu chó sói, cương liệt hung dữ, khát máu hiếu sát, thích chém giết chiến trận. Vì thế Nhai Xế được khắc ở thân vũ khí: ngậm lưỡi phủ, lưỡi gươm đao, trên vỏ gươm, chuôi cầm khí giới để thêm phần sát khí.

3. Trào Phong: có thân phượng, có thể hóa thành chim, đặc điểm thích sự nguy hiểm, nhìn ra vọng rộng. Do đó Trào Phong được tạc ngồi trên nóc nhà, đầu mái nhà nhìn về phía xa.

4. Bồ Lao: thích tiếng động lớn, âm thanh vang dội, vì thế quai chuông khắc hình Bồ Lao hai đầu quay ra hai bên ôm chặt quả chuông.

5. Toan Nghê: hình thù giống sư tử, thích khói lửa, mùi thơm, nuốt khói phun sương. Do đó Toan Nghê được khắc trên các lư hương, đỉnh trầm, ngồi trầm mặc trên đỉnh hay bám hai bên.

6. Bí Hí còn gọi là Quy Phu: giống con rùa, thích mang nặng, có thể cõng được tam sơn ngũ nhạc không bao giờ mỏi. Vì thế Bí Hí cõng bia, trụ đá, nhiều người nhầm với rùa.

7. Bệ Ngạn (Bệ hãn) còn gọi là Hiến chương: như con hổ, thích nghe phán xử, phân định; vì thế Bệ Ngạn được tạc ở công đường, nhà ngục, trên các tấm biển công đường.

8. Phụ Hí: mình dài giống rồng, thích văn chương thanh nhã, lời văn hay chữ tốt. Vì thế Phụ hí tạc trên đỉnh hoặc hai bên thân bia đá.

9. Si Vẫn (Li vẫn, Si vĩ): miệng trơn họng to, rất thích nuốt các vật lớn, lại có thể phun nước làm mưa. Vì thế Si Vẫn được tạc trên nóc nhà để phòng hỏa hoạn, khác với Trào Phong là đầu quay vào trong, nuốt lấy xà nhà hoặc bờ nóc.

10. Thao Thiết: thích ăn uống, càng nhiều đồ ăn càng tốt. Vì thế được khắc trên các vạc lớn, lại tượng trưng cho việc thu lấy tài lộc giống Tì Hưu.

11. Công Phúc (Bát phúc, Bát hạ): thích nước, nên được khắc tạc ở chân cầu, đê đập, cống nước để canh giữ.

12. Tiêu Đồ (Thúc đồ, Phô thủ): đầu giống sư tử, thích sự kín đáo yên tĩnh. Vì thế được tạc ngoài cửa, ngụ ý giữ yên cho ngôi nhà. Đầu Phô Thủ ngậm thêm cái vòng để khách đến dùng nó mà gõ.

Tương Truyền về Tỳ Hưu

Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.

Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.

Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.

Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy.Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.

Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung vua và hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.

Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng với sự linh nghiệm của con vật này khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.

Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.

Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Trung Quốc quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.

Truyền thuyết về loài Tỳ Hưu

Liên quan tới con vật linh thiêng Tỳ Hưu có nhiều truyền thuyết đáng để ta phải lưu ý. Nó có thể làm mất một triều đại hoặc làm bại một gia đình.

tỳ hưu-1

Chuyện Tỳ Hưu với Hoà Thân

Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại. Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường. Thời vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật “dưới một người trên triệu triệu người”. Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổ tiếng “Những gì nhà vua có thì Hoà Thân có, còn những gì Hoà Thân có thì vua chưa chắc đã có”.

Đến khi Hòa Thân bị giết quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có. Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ. Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có con Tỳ Hưu, mà con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua. Ngọc để tạc con Tỳ Hưu của Hoà Thân là ngọc phỉ thúy xanh lý mát rượi, trong khi vua chỉ dám tạc bằng bạch ngọc. Bụng và mông con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông con Tỳ Hưu của vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn vua.

Sau khi tịch thu con Tỳ Hưu, nhà vua không thể tịch thu chữ “Phúc” kia được bởi chữ Phúc đã được gắn chết vào đá hồng ngọc; nếu đập đá ra lấy chữ thì đá sẽ vỡ, như thế thì phúc tan. Mà chữ thì do vua Khang Hy viết nên không ai dám phạm thượng. Thế là đành để “Phúc” lại cho nhà Hòa Thân, có lẽ vì thế nên dù phạm nhiều tội tày đình nhưng Hòa Thân chỉ chết một mình, thay vì phải bị tru di tam tộc.

Chuyện Tỳ Hưu với nhà Thanh

Trước khi quân đội nhà Thanh nhập quan ải tiến chiếm giang sơn Đại Minh (hồi đó còn là Mãn Châu – tộc Nữ Chân dòng Đại Kim) đã nghiên cứu rất kĩ về văn hóa, phong thủy, biết rằng nhà Đại Minh long mạch đế vương còn thịnh lắm, nếu không phá được phong thủy của Bắc Kinh thì không thể nào chiếm chọn Trung Nguyên được, mà có chiếm được cũng không thể giữ được vì Trung Nguyên rộng lớn, Mãn Châu sẽ nhanh chóng bị nuốt chửng và bị đồng hóa. Trong truyền thuyết, Lưu Bá Ôn đã từng để lại lời dặn cho nhà Minh rằng muốn Đại Minh trường tồn thì phải giữ gìn đặt con Tỳ Hưu trên lầu thành Đức Thắng Môn, mặt ngoảnh về phía Vạn Lý trường thành để trấn áp dân Hung Nô, dân Nữ Chân. Chừng nào mặt Tỳ Hưu còn ngoảnh về phương ấy thì Đại Minh còn.

Mãn Châu biết được truyền thuyết ấy, biết được Sùng Chinh rất tin tưởng vào con Tỳ Hưu này, nên nghĩ ra 1 kế, cho 1 đại sư về phong thủy của mình, lập kế chiếm được lòng tin tưởng của Sùng Chinh, sau đó mới xui Sùng Chinh xoay lại con Tỳ Hưu vào, hướng về nội đô. Vận khí nhà Minh đã hết , Sùng Chinh đã nghe lời xui khiến, và giặc giã nổi lên khắp nơi, đầu tiên là Sấm Vương Lý Tự Thành (cũng là 1 anh hùng áo vải), và sau đó là sự cố Ngô Tam Quế mở ải Sơn Hải Quan, dẫn quân Thanh nhập quan ải. Nhà Minh tuyệt diệt, Sùng Chinh phải tự tay chém Trường Bình công chúa rồi treo cổ tự vẫn.

Bài do TS Phạm văn Long sưu tầm

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Tìm hiểu trang trí biểu tượng trên gốm sứ TQ – 14:

Bầu hồ lô (bầu eo) – hulu (葫芦)

Ý nghĩa biểu tượng trong trang trí nghệ thuật

Người Hoa cho rằng hình dáng của quả hồ lô tượng trưng cho trời và đất thống nhất trong một thể thu nhỏ. Phần trên của chiếc bình hồ lô tượng trưng cho trời, còn phần dưới là đất. Hồ lô theo truyền thuyết cổ TH lien quan đến sự hình thành nhân loại. Theo một phiên bản, nó đại diện cho trạng thái nguyên thủy của vũ trụ. Phục Hi hay Fuxi (伏羲)và Nữ Oa hay nuwa (女媧), tổ tiên của loài người, được hình thành chuyển hóa từ đó. Học giả Wen Yiduo dựa trên thần thoại “49 anh chị em” thu thập từ chuyện kể từ dân tộc Miao, Yao và các dân tộc khác, đã có kết luận Phục Hy và Nữ Oa thực chất là những quả bầu eo (bầu hồ lô).

Bình hồ lô (calabash) tượng trưng cho quyền năng chữa trị và bảo vệ để chống lại bệnh tật /tà ma. Tính biểu tượng này có thể bắt nguồn từ cách phát âm của từ “bầu hồ lô”, hulu (葫芦)mà từ “hồ” đầu tiên phát âm nghe tương tự như từ “hộ” (护), có nghĩa là ngăn cản bảo vệ. Nó cũng phát âm nghe giống như “hỗ” có nghĩa là phò trợ. Nó cũng là một từ đồng âm của từ “phúc” (fu) và từ “lô” (lu) có ý nghĩa hạnh phúc/ sản nghiệp.

Bởi vì quả bầu eo có nhiều hạt và mọc dạng dây leo nên nó cũng có ý nghĩa sinh sôi nảy nở của dòng giống đi kèm . Đôi khi thay vì bầu hồ lô, hình ảnh của trái dưa leo, quả dưa, quả bầu bí cũng được dung vì tất cả chúng đều có đặc tính nhiều hạt mà có thể biểu trưng cho sự phát triển của thế hệ sau.Đôi khi trong đồ án thiết kế trang trí biểu tượng người ta còn vẽ thêm chữ vạn (swastika)để nhấn mạnh thêm ý nghĩa của số nhiều.

Nậm rượu dáng hồ lô đời Càn Long - motif trang trí bầu eo (mang ý nghĩa phúc) đựợc làm mạnh nghĩa hơn với dơi, cũng phát âm là phúc.

Nậm rượu dáng hồ lô đời Càn Long - motif trang trí bầu eo (mang ý nghĩa phúc) đựợc làm mạnh nghĩa hơn với dơi, cũng phát âm là phúc.

Motif trang trí vẽ bầu eo trên lọ men lam cuối đời nhà Thanh.

Motif trang trí vẽ bầu eo trên lọ men lam cuối đời nhà Thanh.

Nậm rượu dáng bầu hồ lô đời Jiaqing nhà Minh

Nậm rượu dáng bầu hồ lô đời Jiaqing nhà Minh

Ý nghĩa trong phong thủy và những niềm tin khác

Hồ lô là một trong bát bửu ( tám món quý báu – eight precious things) của Đạo giáo , mà phong thủy có mối lien quan mật thiết:

Từ ngữ Bát bửu thường dùng để chỉ tám món bửu bối của Bát Tiên thường giữ luôn bên mình.

Mỗi vị Tiên trong Bát Tiên có thể luyện được nhiều bửu bối, nhưng Bát bửu là tám bửu bối thường dùng của Bát Tiên.

1. Lý Thiết Quả có 2 bửu bối: Hồ lô và gậy sắt.

2. Hớn Chung Ly có 2 bửu bối: Quạt Long tu, Phất chủ.

3. Lữ Ðồng Tân có 3 bửu bối: Gươm, Phất chủ, Ống tiêu.

4. Lam Thể Hòa có 1 bửu bối: Ngọc bản.

5. Trương Quả Lão có 2 bửu bối: Gậy và Lừa giấy.

6. Hà Tiên Cô có 1 bửu bối: Hoa sen.

7. Hàn Tương Tử có 2 bửu bối: Gươm và Giỏ Hoa lam.

8. Tào Quốc Cựu có 1 bửu bối: Thủ quyển bằng ngọc.

Quả bầu hồ lô vừa là một công cụ rất mạnh mẽ trong các thuật đạo Lão vừa được dùng để đựng rượu thánh cho các vị bồ tát trong đạo Phật. Tây Vương Mẫu thường xuất hiện trên những tấm bình phong, màn che kèm những câu đối cầu phúc cho mọi nhà. Ba hình tượng tuy khác nhau nhưng đều thể hiện niềm mong muốn trường thọ và hạnh phúc lâu bền.

Hồ lô quả bầu, dạt dào phúc lành

Ta thường thấy ông Thọ luôn mang theo mình cây gậy phép có treo quả bầu ở đầu gậy đựng linh đan trường thọ. Một vị bồ tát cũng quen thuộc với mọi người là Quan Âm Bồ tát cũng mang theo một chiếc bình giống như một chiếc bầu hồ lô nhỏ chứa đầy nước thần để ban phúc lành .

10.	Người Hoa cho rằng hình dáng của quả hồ lô tượng trưng cho trời và đất thống nhất trong một thể thu nhỏ

10. Người Hoa cho rằng hình dáng của quả hồ lô tượng trưng cho trời và đất thống nhất trong một thể thu nhỏ

Bày quả bầu khô trong và xung quanh nhà là để cầu xin điềm lành. Quả hồ lô sẽ giúp chủ nhân nhận được nhiều phúc lành và nhiều vị tiên sẽ viếng thăm. Đó cũng là lý do vì sao các đền thờ thường được trang trí bằng nhiều quả hồ lô.

Bày quả bầu khô trong và xung quanh nhà là để cầu xin điềm lành

Bày quả bầu khô trong và xung quanh nhà là để cầu xin điềm lành

Khi quả hồ lô được trang trí bằng các hình vẽ những đứa trẻ, thì có nghĩa là hàng vạn thế hệ tiếp theo đều có con trai nối dõi. Còn khi quả hồ lô được trang trí bởi những quả đào thì có nghĩa là những người cao tuổi trong gia đình sẽ luôn sống thọ cùng con cháu. Đeo một quả hồ lô thu nhỏ bằng vàng ở cổ sẽ tránh được những ảnh hưởng xấu và tai nạn.

Nơi Tòa Thánh Tây Ninh, ở cấp thứ tám của CTÐ, hai bên có đặt hai Dàn Bát bửu song song và đối xứng nhau để trấn nơi Chánh điện, trên đó có 8 bửu bối của Bát Tiên .

Ý nghĩa liên quan trong cụm từ “Hợp cẩn giao bôi”

Trong phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt nói riêng, người phương Đông nói chung, có tục “hợp cẩn giao bôi” – một trong những nghi thức quan trọng, được gửi gắm nhiều ước vọng hòa hợp, phồn sinh.( theo NGUYỄN NGỌC THƠ (Trường ĐHKHXH&NV))

 Untitled-6

Untitled-7

Có lẽ ai cũng hiểu được ý nghĩa này của phong tục, song dường như ít ai quan tâm và đặt câu hỏi “cẩn” là cái gì, và vì sao là “hợp cẩn”? Trên thực tế, chiếc “cẩn” là một nửa thân vỏ quả hồ lô khô (xẻ đôi) dùng thay thế cho bôi, cốc đựng rượu khi tiến hành nghi lễ. Do vậy, “cẩn” có nguồn gốc từ chiếc hồ lô tự nhiên.

Trong tự nhiên, hồ lô quả có hai loại hình dáng đặc thù: loại có thân phình to, cuống dài và loại có hai phần thân (trên, dưới) phình ra, giữa có eo nhỏ. Cả hai loại hồ lô này được dân gian ví như hình ảnh của người phụ nữ có mang nên từ xa xưa quả hồ lô mang trên mình ý nghĩa biểu trưng của sự sinh sôi. Bổ đôi một quả hồ lô khô và rỗng ruột ra sẽ có hai dụng cụ đặc biệt, mỗi cái là một chiếc “cẩn” (còn gọi là “bao cẩn”). Trong hôn nhân truyền thống, người ta rót rượu vào “cẩn” và tiến hành nghi thức “hợp cẩn giao bôi”. Như vậy, “cẩn” sẽ chỉ trở nên có ý nghĩa khi hai chiếc hợp vào thành một (thành hồ lô = hòa hợp, sinh sôi), cũng như cuộc hôn nhân chỉ có hạnh phúc và phồn sinh thật sự khi cả hai cùng hòa thành một gia đình đầm ấm, trọn vẹn.

KhanhHoaThuyNga soạn dịch

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Đặt tượng Bát Tiên đúng phương vị phong thủy.

Truyền thuyết Đạo Lão nói rằng Bát Tiên đều đã nếm qua rượu và đào tiên nên bất tử và được coi là biểu tượng của sự trường sinh và những điềm lành.

Tranh vẽ Bát Tiên

Tranh vẽ Bát Tiên

Tám vị tiên này thường được vẽ trên các tác phẩm gốm sứ của Trung Hoa để tượng trưng cho sự may mắn. Hình ảnh của họ còn được chạm trổ trên những tấm kim loại mỏng. Thường gặp nhất là hình ảnh “bát tiên quá hải” hoặc là từng vị được chạm trổ trên trên ngà voi, gỗ và đồng ( trong bài post trước có nói). Trong ngành học văn hóa truyền thống của Trung Hoa, cũng có những so sánh tám vị tiên đạo Lão này với mười tám vị La Hán trong Phật giáo.

Tượng Bát Tiên

Tượng Bát Tiên

Tám vị tiên của đạo Lão và mười tám vị La Hán của Phật giáo nắm giữ những quyền năng siêu nhiêu và có phép thuật. Sự hiện thân của những vị này trong các biểu tượng đặt trong nhà, chẳng hạn một bức tranh, pho tượng được tin rằng sẽ ban tặng sức khỏe, niềm hạnh phúc và may mắn đến cho gia chủ. Vì mỗi vị tiên đại diện cho những hoàn cảnh sống đặc biệt khác nhau, đồng thời nắm giữ những quyền năng riêng nên nếu muốn đặt một vị trong nhà thì bạn nên biết rõ ý nghĩa của từng vị.

bảng tóm lược ý nghĩa và phương vị của Bát Tiên.

bảng tóm lược ý nghĩa và phương vị của Bát Tiên.

Hồ lô bát quái đồ và Bát Tiên kết hợp

Hồ lô bát quái đồ và Bát Tiên kết hợp

Đầu tiên là vị tiên Chung Ly Quyền (Han Zhong Li), hiệu là Vân Phòng, làm Đại tướng trong triều đình nhà Hán nên còn được gọi là Hán Chung Ly hay Hớn Chung Ly. Ông có hình dáng mập mạp, trong chiếc áo phanh trần, để lộ chiếc bụng tròn, tay phe phẩy chiếc quạt thần dùng để cứu người bệnh. Khi mới sanh Chung Ly Quyền, cha mẹ ông thấy có điềm khác lạ là trên nóc nhà hào quang sáng đỏ. Chung Ly Quyền tượng trưng cho sức khỏe và quyền năng chữa bệnh. Có vị tiên này trong nhà sẽ giúp cho các thành viên trong gia đình tận hưởng môt cuộc sống khỏe mạnh, lâu dài.

Vị tiên thứ hai là Trương Quả Lão (Zang Guo Lao), tay mang một nhạc cụ giống như ống tre. Ông nắm giữ sự thông thái của tuổi già và có khả năng tự biến mất. Ông được tôn trọng như một nhà hiền triết ban sự thông thái, minh mẫn cho những người cao tuổi trong gia đình.Vị tiên thứ ba là Lã Động Tân ( Lee Dong Bin), một học giả ẩn dật được tôn sùng như thần hộ mệnh của những người bệnh. Ông thường mang sau lưng một thanh kiếm phép để xua đuổi những linh hồn quỷ dữ và loại bỏ những loại bỏ những đau khổ do các nguồn năng lượng xấu gây ra. Ở cánh tay phải, ông cầm một cây phất trần thường để chữa bệnh. Có mặt trong nhà, ông sẽ giúp cho mọi thành viên của gia đình tránh được bệnh tật mà theo Phong Thủy là do những âm hồn và âm khí tạo ra.

Vị thứ tư là Tào Quốc cữu (Chao Gu Jiu), em ruột của Tào Thái hậu, đời vua Tống. Thường mặc một chiếc áo nhà quan quý phái, ông toát ra một sự cao quý, thanh nhã. Ông giơ cao trong lòng bàn tay trái một bộ castanet để đem lại quyền cao chức trọng cho người trưởng tộc của gia đình. Những chính trị gia hoặc những cầu mong quyền lực nên thỉnh ông về thờ trong nhà.

Vị tiên thứ năm là Lý Thiết Quả (hay còn được gọi là Thiết Quải – cây sắt) ( Lee Tie Guai) , trông như một kẻ ăn mày, nhưng là người có thể thi triển những quyền năng siêu nhiên. Ngài họ Lý, tên là Huyền, hiệu là Ngưng Dương, nên thường gọi là Lý Ngưng Dương, diện mạo nghiêm trang, tinh tình hào sảng, học rộng biết nhiều, không mộ công danh, muốn đi tu tiên. Biết được Lão Tử đang dạy dạo trên Hoa Sơn, Lý Ngưng Dương liền tìm đến xin học. Chính vì thế mà hình ảnh của ngài tượng trưng cho trí tuệ và sự sáng suốt.

Tiên ông thứ sáu là Hàn Tương Tử (Han Xiang Zi), người đã sáng tác ra những bản nhạc êm dịu từ ống sáo thần. Tiếng sáo thu hút những điềm lành bao quanh ông, vì thế mà tất cả muông thú, côn trùng, cây cỏ đều phát triển mạnh mẽ khi ông xuất hiện. Khả năng đặc biệt của Hàn Tương Tử là có thể làm cho cây cối mọc nhanh trong tích tắc. Hình ảnh Hàn Tương Tử với rất nhiều những mầm cây trong chiếc bao tải đeo sau lưng tượng trưng cho một cuộc sống viên mãn.

Vị tiên tiếp theo là Lam Thể Hòa (Lan Chai He) tương truyền do Xích Cước Đại Tiên đầu thai xuống trần, nên còn nhớ tánh cũ, thường mặc áo rộng xanh, buộc dây lưng đen, một chân đi đất, một chân mang giày, mùa hè mặc áo bông mà không biết nóng nực, mùa đông chỉ mặc áo đơn mà không biết lạnh. Thường ngày, ông cầm cặp sanh dài, đi ra chợ, vừa ca vừa nhịp, để xin tiền bố thí. Những bài ca do ông tự đặt ra đều có ý khuyên đời bỏ dữ theo lành. Tiền xin được, ông cột vào dây lưng và bố thí cho người nghèo khổ. Tuy nhiên, trong rất nhiều tài liệu khác nhau thì cho rằng Lam Thể Hòa là một vị tiên nữ với biểu tượng là giỏ hoa, mang đến sức khỏe và niềm vui cho gia đình.

Vị tiên cuối cùng có tên là Hà Quỳnh hay Hà Tiên Cô  (He Xiang Gu) quê ở huyện Tăng Thành, tỉnh Quảng Châu. Khi còn bé, vị tiên này có sáu cái xoáy trên đầu mà ai cũng cho là kỳ tướng. Sau khi thành tiên, Hà Tiên Cô thường cầm hoa sen linh thiêng và cây phất trần. Thờ bà trong nhà thì những người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình sẽ hạnh phúc và gặp nhiều may mắn.

Nếu có điều kiện bày tám vị tiên cùng nhau theo tám hướng, như  bảng ở phần trên:

Chung Ly Quyền, hướng Đông, tính Mộc.
Trương Quả Lão, hướng Bắc, tính Thủy.
Lã Động Tân, hướng Tây Bắc, tính Kim.
Tào Quốc Cữu, hướng Đông Bắc, tính Thổ.
Lý Thiết Quải, hướng Nam, tính Hỏa.
Hàn Tương Tử, hướng Đông Nam, tính Mộc.
Lam Thể Hòa, hướng Tây, tính Kim.
Hà Tiên Cô, hướng Tây Nam, tính Thổ.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Phong thủy nhà cửa là gì?Cũng dễ hiểu thôi!

Thời xưa, những gia đình có học, có tiền, hoặc là quan chức, khi làm nhà cần xem phong thủy rất cẩn thận. Vị trí đặt ngôi nhà thường chọn nơi có dòng nước uốn quanh, đằng sau xa xa có đồi hoặc là núi thấp án giữ. Ngôi nhà gắn liền với thiên nhiên, có màu xanh cây lá, có dòng nước mát dịu, nhà tôn cảnh, cảnh làm nổi bật nhà. Địa thế làm nhà như vậy là để nhận khí thiêng sông núi, tinh hoa của mặt trời, mặt trăng. Không gian khoáng đạt thuận lợi cho việc di dưỡng tinh thần, rèn luyện ý chí. Những chuyện như thế, ngày nay tìm đâu ra với cảnh đất chật, người đông?!

Vị trí làm nhà ngày xưa chọn nơi: “Núi Cửu Hoa, chùa ẩn trong mây, sông Thanh Qua cầu vờn nhành liễu”. Thôn xóm nằm gọn trong vòng ôm của hàng liễu, có dòng nước uốn lượn, phía Bắc xa xa có núi xanh như bình phong chắn ngữ. Động và tĩnh hài hòa làm cho con người sinh sống ở trong môi trường thật là dễ chịu.

Phong thủy có cả một kho lí thuyết dài dòng để chỉ dẫn cách tìm đất làm nhà. Nhà làm trên vùng núi thì xem thế núi, luận long mạch để xác định đúng vị thế nhà. Vùng gò đồi ở nơi rộng thoáng thì bốn phía phải như quy chầu. Không được quá trống trải, không có vực hoặc thế đất trụt, trượt. Vùng đồng bằng phải có long mạch, có đường quanh bên phải, có ngòi nước bên trái, trước nhà có sân và vườn rộng, xa nữa là hồ, là ao. Sau nhà đất tạo thế như mây đùn, khói tỏa.

Một cách khái quát thì luận về nhà cửa cũng cần dựa vào lí thuyết cơ bản của phong thủy là Khí và lí khí . Thuyết khí về nhà ở chủ yếu là thuyết nạp khí và thuyết sắc khí. Nạp khí gồm địa khí và môn khí. Địa khí là khí trong đất tại nơi làm nhà. Môn khí là khí từ cổng đưa vào, từ cửa vào nhà. Sắc khí là màu sắc cảm nhận được qua ngôi nhà. Cần nói rõ cho khách quan là chúng ta chưa phân tích đúng sai mà chỉ mới đưa ra những luận điểm cơ bản của phong thủy sử dụng khi làm nhà.

Để luận ra địa khí trong thôn ấp hay phố xá là điều mơ hồ. Khi làm nhà không thể bỏ qua phương vị. Địa khí luận được từ phương vị dẫn khí. Chẳng hạn như Mộc tinh, Kim tinh, Thổ tinh, làm nhà ở đây thì con cháu làm nên, ăn ra. Hỏa tinh là long thần cần bác hoán (di dịch, hoán cải), nếu không, ở chẳng ra gì. Thủy tinh cần tụ hội thì của cải đến nhà. Minh đường (trước nhà) cần rộng và bằng phẳng.

Từ phương vị (vị trí theo hướng), từ luận về thanh long (mạch nước), bạch hổ (đường cái cạnh nhà), minh đường, chu tước (đất đai, hồ nước trước nhà), huyền vũ (đất sau nhà), phong thủy có những điều lưu ý quan trọng như: Lối ra vào của sườn núi hoặc thung lũng, tránh làm nhà. Điều này dễ hiểu vì những lối này thường bị hạn chế về kích thước chiều rộng. Gió thổi qua những lối này có vận tốc lớn hơn những chỗ khác nên tuy được cái mát mẻ nhờ gió lưu thông tốc độ cao nhưng cũng dễ vì thế mà cơ thể con người trong nhà dễ bị nhiễm lạnh. Gió luồn lách vào nhà tạo ra luồng gió lùa, y học cổ truyền đã nhận định, như vậy, dễ tạo ra cảm mạo phong hàn.

Trước nhà phải có minh đường rộng, thoáng. Điều này có thể hiểu là trước nhà có không gian rộng để đón nắng, làm rộng tầm mắt cho con người thoải mái, Huyền vũ không được quá cao, sau nhà không bị chắn cản làm cho khi mưa, nước không đe dọa xối xuống sau nhà, thậm chí đất có thể sập úp kín ngôi nhà ta ở. Tuy thế, sau nhà cũng không được có hố sâu. Có hố sâu sau nhà, phong thủy rất kiêng kị. Bên trái nhà có dòng nước quanh co, nước không bị tù túng mà cũng không được chảy xiết. Bên phải nhà có đường đi đủ rộng nhưng cũng không phải là lối đi tấp nập, ồn ào, náo nhiệt. Nhà không làm trên nền giếng lấp. Nhà làm trên giếng lấp sợ đất lấp chưa hoàn thổ sẽ lún sụt trong nhà hoặc ít ra tạo vùng ẩm thấp do đất xốp chứa nước nhiều hơn chỗ đất nguyên.

Nhà tránh ở ngã ba đường cái mà có lối xộc thẳng đâm vào mặt tiền. Nhà không làm nơi ngõ cụt, thường những nơi này hay có luồng gió quẩn, đưa bụi bẩn vào nhà. Không chọn vị trí nhà gần đền chùa, miếu mạo… Phong thủy có thể giải thích theo quan điểm của mình những điều cần tránh vừa nêu. Chẳng hạn nhà làm nơi cửa núi, cửa thung lũng thì gió độc vào nhà, gia đình li tán. Nhà làm trên nền giếng cũ thì gia chủ ốm đau. Nhà làm trong ngõ cụt gia chủ đơn côi. Nhà làm gần đền miếu gia chủ tâm thần bất định. Hàng ngày con người cần lao động để tồn tại mà luôn luôn tiếp xúc với không khí thần thánh, sao mà ổn định tâm lí được. Nhà làm mà phía sau có núi cao chủ nhà cuồng chữ…

Kích thước của ngôi nhà, của các bộ phận nhà cửa theo phong thủy cũng có quy tắc khá chặt chẽ. Để đo chiều dài, người xưa sử dụng “bộ” thay cho “thước” (xích). Chín thước là hai bộ. Mỗi thước xấp xỉ 40cm ngày nay. Số lượng ‘bộ” định cho từng bộ phận nhà hoặc toàn nhà cũng có phép tắc. Một “bộ” gọi là kiến, hai “bộ” là mãn, bốn “bộ” là bình, năm “bộ” là định, sáu “bộ” là chấp, bảy “bộ” là phá, tám “bộ” là nguy, chín “bộ” là thành, mười “bộ” là thu, mười một “bộ” là khai, mười hai “bộ” là bế. Đến “bộ” thứ mười ba thì lặp lại chu kỳ trên.

Kiến là kích thước cơ bản, trừ là bỏ bớt, mãn là đầy đủ, bình là vừa phải, định là không có thay đổi, chấp là nên nắm lấy, phá là tan vỡ, nguy là không ổn định, thành là đạt được điều hay, thu là nhận lấy, khai là mở mới, bế là dừng là tắc. Theo như thế mà chọn lấy điều mong muốn khi định kích thước nhà và các bộ phận nhà. Kích thước lại được luận đoán theo lành dữ rất khiên cưỡng. Chẳng hạn như kiến là nguyên cát (gốc của điều lành), trừ là sáng sủa, mãn là thiên hình, bình là quyền thiệt (uốn lưỡi), định là kim quỹ (thước vàng), chấp là thiên đức, phá là xung sát, nguy là ngọc đường, thành là tam hợp, thu là tặc kiếp (cướp giật), khai là sinh khí, bế là tai họa.

Nên chọn kích thước theo kiến, mãn, bình, thu. Kích thước chấp nhận được là trừ, nguy, định, chấp. Thành, khai dùng tốt. Hết sức tránh các kích thước trong bộ bế, phá. Chiều rộng nhà không chọn mãn, bình, thu, bế. Chiều dài nhà lấy theo trừ, định, chấp, khai. Số “bộ” của nhà hợp với quy tắc trừ, định, chấp, nguy, khai, kiến thì ở trong nhà ấy sớm sinh quý tử. Nhà có số “bộ” hợp với quy tắc trừ, định, nguy, khai, chấp, kiến thì người trong nhà mau thăng quan tiến chức.

Thuật phong thủy hết sức coi trọng sự mở cửa của nhà. Cửa, cổng, đón đưa môn khí mà như lí khí luận thì môn khí cùng với địa khí là hai tiêu chí quan trọng nhất của ngôi nhà. Cửa có thể tiếp nhiên khí nếu hướng lên trên, hướng xuống dưới thì tiếp địa khí, đón lành, tránh dữ. Để quyết định cửa của ngôi nhà, cần cân nhắc phương vị của cửa, xem cửa nên mở ra không gian nào. Chiều cao, bề rộng của cửa, vật đối diện với cửa đều hết sức quan trọng. Cửa nhìn ra không gian thoáng đãng, để có thể khi ngước lên ngắm trăng nhìn mây, coi ngang tầm mắt thì ngắm cây, nhìn hoa, đẹp biết mấy.

Sự cần thiết trong nhà cũng có những quy tắc theo phong thủy. Nơi đặt bài vị thờ cúng tránh đối diện với phương Thái Tuế. Đặt bài vị vào các năm Tí, Sửu, Dần, Hợi kiêng quay mặt hướng Bắc. Đặt bài vị vào các năm Mão, Thìn phải kiêng quay mặt về hướng Đông, Các năm Tỵ, Ngọ, Mùi, kiêng quay mặt hướng Nam. Các năm Thân, Dậu, Tuất kiêng quay mặt hướng Tây. Như thế, theo phong thủy, mỗi năm phải đặt lại bài vị một lần. Xưa nay, nhiều nhà chỉ đặt hướng bài vị một lần đâu đó phải họ làm ăn sa sút.

Còn tổ chức không gian trong kiến trúc mặt bằng cần theo những quy định cũng khá chặt chẽ như cần đảm bảo các quy tắc đối xứng, ngay ngắn, rộng hẹp. Cây cối trong kiến trúc sân vườn của khuôn viên nhà ở cũng cần cẩn thận. Trồng cây dâu trước nhà là điều kiêng kị vì điều đó đồng nghĩa với tang môn thần. Đó chẳng qua vì tiếng Tàu, tang là dâu, đồng âm với tang là nhà có đám nên kiêng mà thôi. Sau nhà lại không nên trồng cây hòe mà phải trồng ở nơi đón khách. Đó là vì muốn trình ra cái chí tam công nguyện ước. Truyện xưa kể Vương Dụ thời Tống trồng ba cây hòe ở sân trước và nói: “Hậu thế của ta sẽ có người làm đến tam công (tư mã, tư đồ, tư không) thật là thỏa chí của ta”. Sau đó nhà này có người làm đến chức tam công thật.

Phong thủy bắt đầu phát sinh từ Tiên Tần bên Tầu, dai dẳng kéo dài, đến bây giờ còn nhiều người bị ảnh hưởng.

Thuật phong thủy, trên thì xem thiên văn, dưới xét địa lý. Lí thuyết cơ bản từ học thuyết thái cực, âm dương, ngũ hành, tinh tượng cực kì bí hiểm. Thày phong thủy thêu dệt chuyện li kỳ, gán ghép nhiều sự kiện lịch sử, thổi phồng sự trùng hợp ngẫu nhiên tô cho phong thủy màu sắc kì ảo, làm cho dân chúng cảm thấy thần bí.

Hãy hỏi có vua chúa nào xây cung, đặt mộ mà không mời thày phong thủy tham mưu chính cho mình. Nhưng có đời vua chúa nào tồn tại vĩnh hằng?! Khi thuận thời, nhà xây cho thuê khen được thày đặt đất, coi hướng làm nhà. Khi ế ẩm khách thuê như mấy năm gần đây, gia chủ ai nỡ trách tại thày phong thủy. Thiết kế kiến trúc giải quyết tốt công năng, kết cấu bền vững, đường dáng hài hòa, gia chủ phấn khởi làm nên ăn ra. Đó là cái phong thủy tốt nhất cho người sắp làm nhà vậy!

 

MỤC LỤC – BÍ QUYẾT , Ý TƯỞNG & GỢI Ý TRONG  TTNT


Read Full Post »

Older Posts »