Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘pháp’

Hồi sinh pháp lam Huế

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Ngoài trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam còn có giá trị trong nghệ thuật trang trí tranh, phù điêu. Pháp lam cùng với gốm và sơn mài là ba nghề được chọn tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009.

Đây là một nghề độc đáo bởi chỉ có ở Huế. Tuy nhiên do biến động lịch sử, pháp lam đã thất truyền gần 200 năm. Thời gian thất truyền quá lâu, ngay cả người dân Huế cũng cảm thấy xa lạ.

Gần 200 năm thất truyền bí ẩn

Pháp lam là kỹ thuật tráng men nhiều màu lên cốt đồng đỏ và nung chín tạo nên tác phẩm mỹ thuật hay chi tiết trang trí trong kiến trúc với họa tiết rực rỡ màu sắc.

Sản phẩm pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước Công nguyên khi thợ kim hoàn vùng Mycenaean (Hy Lạp) tráng men thủy tinh trên khuyên tai bằng vàng.

Ở Việt Nam, kỹ nghệ này du nhập vào đầu thế kỷ 19 do vua Minh Mạng đưa một số công nhân Việt Nam sang học nghề chế tác pháp lam ở Trung Quốc.

Sau đó, nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục (xưởng sản xuất pháp lam đặt ở khu Canh nông trong Thành nội) gồm 15 người do ông Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Ngoài ra, triều đình còn mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình).

Pháp lam Huế phát triển đến thời vua Tự Đức thì phôi pha dần rồi thất truyền một cách bí ẩn. Trong 60 năm tồn tại, từ năm 1827, pháp lam Huế đã sản xuất rất nhiều vật phẩm có giá trị để trang trí, cúng tế theo yêu cầu của triều đình, trong đó phục vụ cho nhu cầu trang trí nội ngoại thất, tế tự và nhu cầu thường nhật trong cung đình.

Cách đây 10 năm, ba nhà nghiên cứu khoa học ở Huế gồm tiến sĩ dược học Nguyễn Nhân Đức (Đại học Y Dược Huế), kỹ sư chuyên ngành silicat Trần Đình Hiệp (Công ty Xây lắp Thừa Thiên-Huế) và thạc sĩ vật lý Đỗ Hữu Triết (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế) đã cùng nghiên cứu để phục hồi pháp lam Huế.

Tuy ba người với ba trường phái khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở một điểm chung là cùng tạo ra được màu men, phục hồi thành công pháp lam Huế sau gần 200 năm vắng bóng.

Những người hồi sinh pháp lam

Trong hai năm 2003-2004, tiến sĩ Nguyễn Nhân Đức đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất pháp lam phục chế tu bổ di tích Huế” và thu được thành công khi tạo ra được ba mẫu phục chế hoàn hảo theo nguyên mẫu của di tích Huế.

Đóng góp lớn nhất, có giá trị thiết thực của tiến sĩ Đức cùng cộng sự của ông là làm sống lại kỹ nghệ trang trí pháp lam trên các đền vàng điện ngọc, niềm tự hào một thời của mỹ thuật cố đô Huế. Những sản phẩm do ông và cộng sự làm ra đã được ứng dụng vào việc trùng tu các công trình di tích Huế như trang trí chùa Thiên Mụ, điện Thái Hòa, hai nghi môn tại hoàng thành Huế.

Kỹ sư Trần Đình Hiệp thì hoàn thiện được kiểu tráng men trên mặt phẳng với độ bền màu trong nhiều môi trường khác nhau, hồi sinh loại pháp lam mỹ thuật trang trí và ngói âm dương.

Còn với Đỗ Hữu Triết, sau những năm tháng nghiên cứu về phục dựng bảo tồn di tích Huế, anh đã kết duyên với đề tài về phục hồi pháp lam. Niềm đam mê và ước vọng hồi sinh pháp lam Huế đã được anh truyền vào công trình luận án thạc sĩ với đề tài “Men và màu cho đồ gốm sứ ở di tích Huế” năm 2005.

Luận án được đánh giá rất cao khi người thực hiện đã phục hồi thành công men màu trong pháp lam mỹ nghệ, pháp lam trang trí nội thất và được ứng dụng vào sản xuất pháp lam.

Sau thành công đó, Triết thành lập Công ty pháp lam Sao Khuê (nay là Công ty TNHH Thái Hưng) để phục hồi kỹ nghệ sản xuất pháp lam, quy tụ 15 thợ có tay nghề giỏi về làm.

Anh Triết cho biết: “Pháp lam bị thất truyền là một mất mát quá lớn đối với nghệ thuật kiến trúc, nhất là những công trình pháp lam ở các di tích Huế bị xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng cần phải trùng tu. Ngoài giá trị trong việc trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam hồi sinh còn có giá trị to lớn trong nghệ thuật trang trí các sản phẩm như tranh, phù điêu. Đặc biệt, thành công trong việc phục hồi pháp lam đã tạo ra một loại tranh có chất liệu mới trong hội họa và được ứng dụng vào ngành mỹ nghệ, trang trí nội ngoại thất, đồng thời phục hồi và phát triển một nghề truyền thống đặc biệt của Huế đã bị thất truyền từ lâu”.

Tại Festival nghề truyền thống Huế 2009, anh Đỗ Hữu Triết đã cùng Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế trưng bày các sản phẩm pháp lam và mở một quy trình sản xuất pháp lam để du khách có thể tự tay vẽ lên pháp lam làm sản phẩm lưu niệm cho mình.

“Mặc dù đạt được những thành công bước đầu trong việc hồi sinh pháp lam Huế, tuy nhiên Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế mới chỉ làm được có ba loại hình kỹ thuật pháp lam, trong khi đó thế giới có đến 17 loại hình. Mục tiêu mà chúng tôi hướng tới là đạt trình độ của pháp lam thế giới” – anh Triết tâm sự.

Theo http://www.phapluattp.vn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Tổng hợp tin các sự kiện trục vớt tàu cổ tại vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu

Sưu tập cổ vật Hòn Cau (toạ độ X)

x01

Từ những thông tin của ngư dân Vũng Tàu, Long Hải và hàng ngàn cổ vật được chào bán do lặn vớt được trên một con tàu chìm, gần đảo Hòn Cau – Côn Đảo. Ngày 4/6/1990 UBND Đặc khu VTCĐ thành lập Ban chỉ đạo khai quật con tàu, với sự hướng dẩn của các chuyên gia của Bộ Văn hoá Thông tin Thể thao và Du lịch, Visal và về sau có hợp tác liên doanh Visal- Hallstrom Holdings Oceanic của Thuỵ Điển là cơ quan thực hiện cuộc khai quật con tàu cổ.

Cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước lần đầu tiên ở Việt Nam trong thời gian 2 năm 1990, 1991 đã mang về hơn 68.000 hiện vật từ con tàu chìm, trong đó phần lớn là đồ gốm sứ có niên đại giữa sau thế kỷ XVII, thời Khang Hy, triều Thanh, Trung Quốc. Cũng từ kết quả khai quật này, hơn 28.000 món cổ vật Hòn Cau lần đầu tiên được tổ chức bán đấu giá tại Hà Lan, thể hiện mối giao lưu kinh tế – văn hoá của Việt Nam với thế giới trong thời kỳ đổi mới.

Bộ sưu tập cổ vật Hòn Cau ở Bảo tàng BRVT có đến hơn 8000 hiện vật, trong đó hầu hết những hiện vật độc bản của con tàu thuộc bộ sưu tập này. đồ gốm sứ men trắng vẽ lam độc đáo thời Khang Hy. Do đặc điểm là hàng hoá sản xuất theo đơn đặt hàng để chào bán ở Châu Âu, màu sắc, kiểu dáng, hoa văn trang trí khác lạ gốm sứ Trung Hoa truyền thống, mặc dù do những lò gốm nổi tiếng của Trung Quốc như: lò Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây, lò Đức Hoá ở Phúc Kiến sản xuất. Ngoài đồ gốm sứ, bộ sưu tập cổ vật Hòn Cau còn có rất nhiều hiện vật độc đáo khác là đồ đá, đồ đồng, đồ gổ, thực vật… liên quan chuyến hải trình của con tàu cổ và sinh hoạt của đoàn thuỷ thủ trên tàu.

Sưu tập gốm Thái Lan trên tàu cổ toạ độ X2

x02

Trong chuyến đi biển Tháng 5/1999, tàu đành cá do ông Phan Cao Thạch – chủ tàu đã phát hiện tại toạ độ X2 một con tàu chìm bị cát biển vùi lấp. Nhóm thợ lặn sau nhiều ngày làm việc đã mang về và bàn giao cho Bảo tàng tỉnh 298 hiện vật là đồ gốm với các chủng loại: vò, hủ, bình, bát đĩa, thố trang trí men màu đen, nâu, men ngọc (xanh lục). Những hiện vật này đựơc xác định là gốm Sukhothai và Sawankhalok của Thái Lan vào khoảng thế kỷ XV (tương tự những cổ vật tìm thấy trên tàu chìm Hòn Dầm – Kiên Giang do VISAL trục vớt năm 1993).

Sukhothai là vương quốc độc lập đầu tiên của Thái Lan vào năm 1238, sau khi lật đổ nền thống trị của vương quốc Khơme (từ thế kỷ thứ IX). Gốm Sukhothai, Sawankhalok của Thái lan có ảnh hưởng gốm Khơ me và kỷ thuật mới từ Trung Hoa thế kỷ XIII, XIV. Gốm Sukhothai có đặc trưng những hoạ tiết vẽ dưới men màu đen hoặc nâu, với kỷ thuật trang trí như khắc vạch, đắp nổi, vẽ màu có vân,  riêng gốm Sawankhalok có đặc điểm trang trí men ngọc. Vào thế kỷ XV, XVI khi gốm Trung Hoa ngưng việc xuất cảng ra nước ngoài, đồ gốm Thái Lan và cả Việt Nam có điều kiện để mở rộng thị trường đến các nước khác, con tàu chìm tại vùng biển BRVT chứa những cổ vật gốm Thái Lan với nhiều chủng loại : vò, bình, hủ tô, bát, đĩa… chứng tỏ điều đó.

Sưu tập gốm sứ Trung Hoa trên tàu cổ tọa độ X3

x03

Nhờ sự phát hiện của ngư dân ở Vũng Tàu, Long Hải và phối hợp của các cơ quan chức năng của tỉnh BRVT, năm 2000, Bảo tàng tỉnh đã tiếp nhận bộ sưu tập với 2.342 hiện vật là đồ gốm sứ Trung Hoa thời Ung Chính có niên đại thế kỷ XVIII. Chủng loại hiện vật gồm có: choé, bình, hủ, chén, bát, đĩa, hộp, tượng… với nhiều kiểu dáng, kỷ thuật chế tác, trang trí độc đáo của nghệ thuật gốm sứ Trung Hoa.

Bộ sưu tập gốm sứ  tàu chìm toạ độ X4 bổ sung nhiều thông tin về gốm sứ thế kỷ XVII, XVIII trên con đường buôn bán hàng hải qua biển Đông, làm phong phú thêm nhận thức về giá trị nghệ thuật, kỷ thuật chế tác  gốm sứ men trắng vẽ lam từ đầu đời nhà Thanh, đạt đỉnh cao vào thời Khang Hy, nay vẫn tiếp tục có giá trị trong trao đổi, mua bán với thị trường thế giới.

Sưu tập cổ vật Pháp từ vùng biển Bãi Dâu:

x04

Đầu năm 1997, ông Bùi Văn Chi, chuyên nghề lặn vớt phế liệu đã tìm thấy một con tàu chìm cách bờ biển Vũng Tàu tại Bải Dâu 4 hải lý về phía tây. Ở độ sâu 15m, xác con tàu chỉ còn phần thân, bị cát bùn phủ lấp. Sau nhiều ngày làm việc, nhóm thợ lặn đã đưa về 105 cổ vật là đồ gốm sứ, pha lê, thuỷ tinh, đồ đồng.

Bộ sưu tập sứ men trắng hầu hết là đồ nguyên, đáy một số đĩa ghi ký hiệu De POLE – Paris in chìm dưới men, khả năng là nơi sản xuất. Một số tô sứ có in chử E. BIEDERMANN & CO- SAIGON, cho phép nhận định hàng công ty nói trên tại Sài Gòn đặt hàng, vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Ngoài những cổ vật là đồ gia dụng, sinh hoạt như: tô, đĩa, thố, hộp, tách, ly…Còn có những vật dụng liên quan con tàu như: phù điêu con tàu gắn ở cabin, đèn di biển, đèn hoa tiêu…Bộ sưu tập cổ vật Pháp của tàu chìm Bải Dâu được đánh giá là sưu tập cổ vật khá hiếm ở Việt Nam.

Cổ vật trên tàu cổ Bình Châu

x05

Ngày 28 tháng 5 năm 1995, tàu đánh cá BT5534 do ông Nguyễn Văn Ba điều khiển, đã phát hiện những đồ gốm sứ trên con tàu chìm cách bờ biển Bình Châu huyện Xuyện Mộc 30km, ở độ sâu 25m.

Được sự giúp đở của các ngư dân và trạm biên Phòng Lộc An, Bảo tàng đã tiếp nhận 1.092 hiện vật gốm sứ, gồm đĩa, tô, bát gốm men trắng vẽ lam. Số hiện vật này được sản xuất từ vùng Nam Trung Hoa, khoảng nữa cuối thế kỷ XIX, đây là những sản phẩm của các lò gồm dân gian, phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày của công chúng rộng rãi, người dân lao động. Việc gốm sứ dân gian được xuất khẩu ra nước ngoài vào thế kỷ XIV, XX chứng tỏ vùng Nam Trung Hoa vẫn tiếp tục duy trì quan hệ thương mại hàng hải, mặt hàng gốm sứ vẫn giử được thị trường tiêu thụ.

Nguồn: Bảo Tàng Tổng Hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2/2009)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »