Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Phật tượng gốm sứ ở Nam bộ’

Tượng Phật Mục Đồng (Pho tượng theo lời tục truyền là tượng phật nổi được bảo quản tới ngày nay). Cao 31cm. Đất sét sơn màu, chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công, Tiền Giang). Ảnh Nguyễn Đại Phúc

Cặp câu đối khắc trên hai trụ cổng chùa Long Phước (xã An Đức, Ba Tri, Bến Tre) đã chỉ ra đây vốn là ngôi chùa do mục đồng khởi tạo và sau đó, người trụ trì đầu tiên là nhà sư Minh Trí. Chúng tôi đã nghe một số câu chuyện truyền khẩu về loại chùa mục đồng này và cứ bán tín bán nghi về cái lõi sự thật lịch sử của nó. Do đó, khi đứng trước chùa Long Phước, cái “chứng cứ văn tự” đó đã làm tôi xác tín về sự tồn tại của loại chùa do trẻ chăn trâu / bò “khai sơn tạo tự”. Từ ấy, mỗi lần có dịp đi đây đó, chúng tôi luôn lưu tâm đến việc ở đây có ngôi chùa mục đồng nào không và nếu như được mách bảo là có, thì liền tìm đến để xem cho bằng được các di vật còn lại – đặc biệt là loại tượng, thường được nặn bằng đất sét, mà theo lời truyền khẩu là do đám mục đồng tạo tác. Một cách không đầy đủ, đến nay chúng tôi đã tận mắt thấy khoản hơn 40 ngôi chùa mục đồng ở khắp các địa phương ở xứ lục tỉnh Nam kỳ.

1. Chùa Mục đồng có thể hiểu là ngôi chùa làng, thuộc cơ cấu của thiết chế văn hóa thôn / làng thời trước, gồm “đình – chùa – miếu – võ”, hiểu là ngôi chùa thờ Phật nho nhỏ mà dân làng tự ý lập nên để tự giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Ở đó, thờ thần, Phật và Phật được thờ tự theo tâm thức của thứ Phật giáo dân gian hơn là để tu học giáo nghĩa đích thực của Phật pháp. Cũng có chùa mục đồng về sau này trở thành ngôi bửu sát danh tiếng như chùa Sắc tứ Linh Thứu ở miệt Xoài Hột (Tiền Giang), song đa phần thì tồn tại như một ngôi chùa làng, nằm trong cái không gian văn hóa làng xã: đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt… và các truyền thuyết về chúng vẫn cứ tồn tại theo năm tháng, mặc dù chùa đã có tên tự hẳn hoi, có chư tăng đến trụ trì và hoằng hóa đạo pháp… Ở An Phước tự (tục danh chùa Mục đồng Hóc Tra/An Bình Tây, Ba Tri, Bến Tre) – cách chùa Long Phước nói trên vài cây số, người ta kể rằng: Thoạt tiên đám mục đồng hay tụ tập chơi, nặn các tượng thần tượng Phật và lập một cái am lá để thờ các cốt tượng dười chòm cây tra gần một hóc nước. Do vậy, chùa có tên là “chùa Hóc Tra”. Di tích còn lại là pho tượng Bồ tát cỡi cọp vàng và tượng một ông Địa có tình tướng y hệt ông Địa múa lân. Cả hai đều đạt trình độ tạo hình mà khó có thể nói là do đám chăn trâu tạo tác!

Ở chùa Da Lươn (tên chữ Thiên Trường tự – Đồng Sơn, Gò Công) lại có truyền thuyết tường tận hơn về lịch sử ngôi chùa: Thuở xưa, bọn mục đồng bày trò nặn tượng thần, Phật bằng đất sét chơi. Chơi chán lại đem tượng thả xuống ao ông Tú… cho Phật tắm mát! Lạ thay các tượng ấy lại nổi lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng lên để một nơi và che một am tranh để thờ. Sau đó, có một nhà sư từ xa đến, thấy cảnh chùa đơn sơ hiu quạnh bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Ngày qua, tháng lại, vị thiền sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn để dọn một chỗ đất lập thành chùa. Người dân không biết danh tính của ông, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và ngôi chùa đó cũng có tên là chùa Da Lươn. Sau nhiều lần trùng tu, chùa đổi tên là Thiên Trường tự.

Chùa Phật Nổi (Phước Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ (Củ Chi TP. HCM) được thành lập cách đây 200 năm cũng là một ngôi chùa mục đồng. Tục truyền lúc đó, ông Phan Sử (Thiện Sử – Như Thành) cùng bè bạn trong xóm, nhân một hôm thả trâu vào rừng, bày trò lặn xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng Phật chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về nhà, bỏ các tượng Phật giữa rừng. Đêm đó bọn trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Sau khi gạn hỏi, cha mẹ bọn trẻ biết chuyện, bèn cùng nhau tính chuyện lập chùa thờ các tượng ấy – để gọi là chuộc tội với Phật! Thế nhưng Trùm cả và Trùm chủ trong làng không chấp thuận việc lập chùa vì lý do dị đoan đó. Để làm rõ mọi việc, Hương chức, đem các tượng Phật đất sét đó gác trên chiếc cầu khỉ bắc ngang qua bàu Đất Sét và rút cầu. Tục truyền, trong số các tượng rơi xuống thì có 8 tượng Phật nổi trên mặt nước. Thế là dân làng xúm nhau, kẻ có công, người có của, dựng ngôi chùa là để thờ các tượng Phật đó. Năm 1963, chùa bị Mỹ bỏ bom sập, nên sau đó dời vào chợ Trung Hòa. Di tích còn lại là một thân tượng bằng đất sét và một số tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác, nhưng có thần thái độc đáo..

Nói chung truyền thuyết về các nguyên nhân khởi phát của các ngôi chùa mục đồng mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tất cả đều được hình thành trên mẫu đề duy nhất: trẻ chăn trâu nặn tượng đất sét và các tượng ấy khi thả xuống nước đều nổi. Trong lịch sử, tín lý thiêng liêng về các pho tượng nổi trôi dạt vào nơi nào thì ở đó dân lập đền chùa để thờ là rất phổ biến và từ tâm thức văn hóa sâu kín đó, giờ đây các cổ mẫu ấy lại tái sinh và tích hợp vào loại tượng mục đồng như một phương thức ảo hóa.

2. Đằng sau những tình tiết truyền kỳ, là một thực tế: có một tập hợp Phật tượng dân gian hình thành một cách tự phát trong thời khẩn hoang lập làng ở Nam bộ mà tác giả của các pho tượng đó là các sư sãi, tín đồ phật tử… và được gán cho trẻ mục đồng (1). Rõ ràng là nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở Nam bộ từ buổi đầu đến những năm 1950 là một tiến trình song hành của cả hai dòng phái dân gian và chuyên nghiệp. Dòng tượng dân gian biểu hiện rõ nhất và nhiều nhất là ở tượng đất và tượng gỗ (có thể kể thêm loại tượng đất nung và tượng làm bằng hợp chất); ở đó, loại tượng đất sét, được gọi là tượng mục đồng, có thể coi là loại hình khởi phát của lịch sử tạo hình Phật tượng.

Đặc trưng cơ bản của Phật tượng mục đồng là sự thô phác và hồn nhiên làm sững sờ người xem như một thoáng thảng thốt khi bất chợt nghe câu hò buông dài trên sông. Nói cách khác, chúng được tạo tác không theo qui phạm tạo hình, không hề biết đến các nghi qui về đồ tượng học Phật giáo: quí tướng, tọa thức, ấn quyết, pháp phục… Chúng được tạo tác bằng thủ pháp riêng, chủ quan theo căn cơ của người tạo tác. Chúng hình thành như thể là vô tâm, vô chấp, vô sở trụ… Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là dụng công, dụng trí của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Tính vô chiêu thức đã dẫn đến sự độc đáo của từng Phật tượng, và có thể gượng ép lấy thuật ngữ của hội họa mà nói thì thủ pháp “đại tả ý” là dự phóng sáng tạo của tác giả tượng mục đồng: nó chủ vào hình khối, dừng lại ở mực tạo dáng, không quá chăm chú vào chi tiết; cái chú trọng ấy là thần khí, sắc thái tâm linh.

Do đó, về mặt tạo hình chúng ta thấy tính giản lược một cách biểu cảm và những mảng khối thô phác là đặc điểm của tượng mục đồng. Lấy tập hợp Phật tượng mục đồng ở chùa Thanh Sơn (Hóc Môn, TP. HCM) làm ví dụ, chúng ta thấy chúng giản lược đến mức là nếu căn cứ vào các đặc điểm của hình tướng, tọa thức, ấn quyết thì khó mà định dạng được chính xác cho từng tượng: tất thảy đều ngồi theo thức tọa thiền và tay kết định ấn.

3. Nói là vô chiêu thức, nhưng không phải là sự phóng túng hoàn toàn mà cơ hồ việc biểu đạt cũng bắt nguồn từ một hoài niệm nào đó về hình tướng chư Phật, Bồ tát trong tâm thức của người tạo tác để ít ra cũng có sự khu biệt nhất định giữa Phật hình, Tỳ khoe hình với hình tướng của các thần linh không thuộc đối tượng thờ tự của Phật giáo. Ngoài hình tướng chung, các chi tiết tạo hình khác cũng được lưu tâm như tư thế tọa thiền (đúng ra là “ngồi xếp bằng”) và trong phần lớn các trường hợp là hai bàn tay đều biểu hiện một thức ấn quyết (mudra) nào đó – tất nhiên là không hoàn toàn đúng như qui thức mà đồ tượng Phật giáo đã xác định. Chẳng hạn tượng Phật tọa thiền ở chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công), tuy đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn toát lên vẻ an định và từ bi của đức Phật. Điều này khác biệt rõ nếu so sánh với tượng Tà Mun (thần bảo hộ cộng đồng, gốc của người Tà Mun) ở chùa mục đồng Phước Đồng (Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương). Ở đây, tượng Tà Mun có đường nét mạnh, màu sắc phi thực tế, hình thù biến dạng: tất thảy đều mang tính chất của nghệ thuật thuộc trường phái biểu hiện. Qua so sánh, chúng ta thấy Phật tượng tuy không bị câu chấp vào các nguyên tắc đồ tượng học, nhưng trong lòng người tạo tác đã tiềm ẩn một cổ mẫu Phật tượng – một tâm ảnh về Phật, để từ đó mà phát tâm tạo tựợng. Nói cách khác, Phật giáo nói chung, Phật tượng nói riêng, trải qua lịch sử đã trở thành văn hóa của dân tộc, văn hóa ở đây hiểu như di sản còn lại qua thời gian, văn hóa hiểu theo nghĩa tất cả những gì đã có đều bị mất đi thì cái còn lại là văn hóa; và rồi khi bao nỗi gian truân của công cuộc khẩn hoang lập nghiệp đã có phần ổn định thì giờ đây tâm cảnh của những lưu dân lại bừng lên một khát khao tâm linh, một nhu cầu về văn hóa – tinh thần: họ moi đất-sét-dưới-chân mình để nặn thành Phật tượng và lập một ngôi chùa lá để thờ Phật. Ở đây cũng lưu ý rằng đa số chùa mục đồng đều thờ cả Phật tượng lẫn tượng thần linh đa tạp. Với cái nhìn văn hóa như vậy, Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác vậy. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam. Trong chừng mực nhất định, có thể nói Phật tượng mục đồng ra đời trong tâm thức đa thần luận với đặc điểm thô phác, chúng có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật hồng hoang mà chúng ta bắt gặp ở những khám phá khảo cổ học thời sơ sử.

 

Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc

______________________________________________________

  1. Theo quan niệm phổ biến ở Nam bộ thì mục đồng là con cháu của Thần Nông, theo đó các thế lực siêu nhiên như ma quỉ, cô hồn đều phải kiêng dè và tuân phục. Do vậy, trẻ mục đồng được quyền hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô hồn. Tục truyền, trẻ mục đồng ngoắc tay vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) cập vô bờ. Nói chung, trẻ mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng” dưới con mắt của cộng đồng và do niềm xác tín chúng là con cháu của Thần Nông nên chúng có khả năng liên thông với cõi thiêng, cảnh giới bên trên và bên ngoài trần thế. Phàm các nổ lực truy cứu về nguyên ủy các yếu tố truyền kỳ đều là chuyện… lông rùa sừng thỏ. Ở đây nêu ra một số thông tin để tạm giải thích lý do gán việc tạo tượng cho mục đồng.

Read Full Post »

Phật tượng gốm sứ ở Nam bộ

1. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, trong đợt khảo sát các ngôi cổ tự, tôi đã thỉnh được một Phật tượng bằng đất nung, cao chừng 30 phân, gãy mất bàn tay phải, đã được “cất giấu” dưới hầm bệ thờ ở chùa Hội Sơn (Q.9, TP.Hồ Chí Minh). Hồi đó, thỉnh các tượng thờ gãy sứt là cốt để đem về nhà sửa chữa, đắp nặn lại cho lành lặn để chưng và cũng có cái để ngày nay nghiên cứu đặng… xóa dốt dần về nghệ thuật tạo hình.


Pho tượng gốm đất nung này được tạo tác theo “Tăng hình” hơn là “Phật hình”; riêng cái mũ thì hao hao cái mũ tỳ lư thường thấy ở tượng Địa Tạng Bồ tát. Hỏi, thầy trụ trì bảo đó là tượng “Phật trì chú”. Hỏi xuất xứ, thầy đáp: Một vị sư đời trước tự nặn bằng đất sét và gởi nung ở lò gạch gần chùa… xưa lắm rồi ! Đây là Phật tượng đầu tiên gợi lên trong tôi mối quan tâm về loại tượng làm bằng chất liệu đất nung và cho đến  nay, đối chiếu với nhiều dữ liệu, tôi xác tín rằng đây là Phật tượng gốm cổ xưa, có thể ra đời sau khi Tổ Khánh Long khai sơn tạo tự để tu hành (1), tức khoảng thế kỷ XVII, XVIII. Phật tượng này thực ra là thuộc loại “tượng Phật mục đồng”, hiểu là loại Phật tượng dân gian. Có điều khác biệt là hầu hết “tượng Phật mục đồng” nặn bằng đất sét, còn tượng này đem nung chín thành loại “ngõa khí”.

gomxu-1.gif

Phật trì chú (gốm đất nung đặc-Chùa Hội Sơn)

2. Đến những năm 1990, duyên may trong đợt đi thực tế thu thập tư liệu viết Địa chí tỉnh Đồng Nai, tôi đến một ngôi chùa, ở đó toàn bộ Phật tượng, trên dưới 100 pho, đều làm bằng đất nung thếp vàng và sơn màu tuyệt đẹp. Đó là chùa Hóc Ông Che (Hiển Lâm tự) ở Hóa An (Biên Hòa) do Hòa thượng Huệ Lâm (1887 – 1945) khai tạo hồi đầu thế kỷ XX. Tên gọi là Hiển Lâm tự nhưng ở đây là một quần thể nhiều cơ sở tín ngưỡng: chùa, miếu, am…

gomxu-2.gif

Địa Tạng bồ tát ( gốm đất nung sơn màu)

Ai vô chùa Hóc thì vô

Đừng quên (miếu) Chư vị, am Cô, đảnh Bà

(Ca dao địa phương)

Hầu hết các Phật tượng ở đây, theo kết quả điều tra hồi cố, đều do sư Điền (pháp danh Lệ Hạnh – Thiện Viên / 1893-1972) và các ông Bùi Văn Cần (chuyên làm đồ mã, học nghề làm gốm từ người anh rể  – người Hẹ), Bùi Văn Bồi (thợ chụm lò gốm chuyên nghiệp) tạo tác. Họ lấy đất sét nguyên liệu của lò lu Trần Lâm (Tân Vạn) đem về chùa làm tượng và nung tại chỗ bằng trấu. Cũng phải nói thêm rằng ông sư Điền có một “người thầy” nữa, vốn là huynh đệ của ông, là sư Thiện Hóa (1854-1944) – tác giả các Phật tượng làm bằng hợp chất ở chùa Châu Thới.

gomxu-5.gif

Bồ Đề Đạt ma ( gốm Cây Mai-chùa Phụng Sơn)

Có lẽ, đội ngũ nhóm những người làm tượng gốm đất nung năng nổ và đông đảo hơn, bởi loại tượng gốm đất nung này có số lượng nhiều và thấy ở nhiều ngôi chùa Đồng Nai, Dĩ An, Thủ Đức, xuống tận Bà Rịa-Vũng Tàu; lại thấy ở các chùa nội thành TP.Hồ Chí Minh, xuống tận Trà Ôn, Chợ Mới – cù lao Giêng (An Giang) (2).

gomxu3-a.gif

gomxu-7.gif

Giám trai (gốm cây Mai-Chùa Giác Viên)

Nói chung, loại tượng gốm đất nung nhẹ lửa (hầm non độ 6000C – 7000C) này chủ vào kỹ pháp dựng cốt và cắt dán. Tùy theo tư thế (ngồi, đứng, tọa thú) mà dựng cốt khác nhau để lấy đó làm giá đỡ cho việc cắt các lát đất theo kiểu cắt giấy dán làm đồ mã. Chính khâu cắt dán này đã tạo nên các dạng thức ngoại hình đa dạng và sinh động. Lại nữa, người tạo tác còn dùng khuôn âm bản để tạo nên các đồ án hoa văn trang trí trên lát đất trước khi dán, tạo nên những họa tiết trang trí đa dạng: tường vân, hồi ba, ngọc châu…

gomxu-8.gif

Phật Tổ (Gốm Biên Hòa)
 
gomxu9.gif
Tara trắng (gốm Biên Hòa)

Hiển nhiên là tập hợp Phật tượng gốm đất nung này là một tập thành phong phú về số lượng lẫn đề tài và kiểu thức mỹ thuật. Chính vì vậy, chúng đã góp phần của nó vào kho tàng mỹ thuật Phật giáo, mỹ thuật vùng đất mới nói chung.

3. Xét về mặt kỹ pháp dựng hình và trang trí, chúng ta dễ nhận ra ảnh hưởng của gốm Cây Mai (Sài Gòn xưa / tức Chợ Lớn sau này) – đặc biệt là kỹ thuật cắt dán và in khuôn các bộ phận rời. Tượng gốm Cây Mai chủ yếu là các sản phẩm sành cứng (nung ở nhiệt độ cao) có tô vẽ men màu (chiếm tỷ trọng lớn là xanh lục và lam cô ban), song cũng có một số tượng thờ đất nung sơn màu (như bộ Thập điện Minh vương ở chùa Phước Lưu / Trảng Bàng, các tượng thần ở chùa Từ Quang / quận 8, chùa Giải Bệnh ở Phú Lâm…). Nói cách khác, loại tượng gốm đất nung nói trên có nguồn gốc trực tiếp từ loại tượng đất nung Cây Mai này. Chúng ra đời đáp ứng nhu cầu thờ tự của các chùa làng, bởi giá thành rẻ hơn loại tượng sành cứng men màu sản xuất tại các lò gốm chuyên nghiệp.

gomxu10.gif

La Hán phục hổ ( gốm Lái Thiêu)

Gốm Cây Mai, theo các tài liệu thư tịch, hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, tập trung ở vùng đất quanh chùa Cây Mai – một cổ tự danh tiếng của đất Gia Định – mà đến nay, dấu tích còn lại là địa danh rạch Lò Gốm, đường Lò Siêu, Xóm Đất… và sau đó lan tỏa lên Trường Thọ (Thủ Đức), Lái Thiêu, Biên Hòa.

Phật tượng gốm Cây Mai có niên đại chính xác là tượng Giám Trai ở chùa Giác Viên với câu chữ đắp nổi trên bệ tượng: “Đề Ngạn / Nam Hưng Xương điếm tố / Canh Thìn niên …” (Năm Canh Thìn là năm 1880; Đề Ngạn là Sài Gòn ngày xưa / nay là Chợ Lớn). Đây là pho tượng có giá trị lịch sử lẫn giá trị tạo hình.

gomxu-11.gif

Phật chuyền pháp luân (gốm Lái Thiêu)

Cho đến nay, Phật tượng gốm Cây Mai còn tồn tại không nhiều, nhưng hầu như tất thảy đều là những pho tượng đẹp, được tạo tác công kỹ. Đáng kể là tượng Bồ Đề Đạt Ma (chùa Phụng Sơn, quận 11, TP. HCM), tượng Chuẩn Đề cỡi Khổng Tước (chùa Giác Sanh, quận 11, TP.HCM), tượng Tiêu Diện Đại Sĩ (chùa Phụng Sơn quận 11, và chùa Bảo An quận Bình Thạnh, TP.HCM), đặc biệt là bộ tượng Di Đà tam tôn kích cỡ to lớn ở chùa Phước Lưu (Trảng Bàng), do lò Bửu Nguyên tạo tác vào năm Ất Tỵ (1905) đáng được coi là vô giá.

Nói chung, gốm Cây Mai không tạo tác Phật tượng nhiều như các loại tượng thần, các quần thể tiểu tượng trang trí ở các đình, miếu, chùa Hoa; song khởi đi từ đó, Phật tượng gốm đất nung lại phát triển mạnh mẽ.

4. Gốm Cây Mai bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 1920-1940 do tốc độ đô thị hóa, nguồn đất nguyên liệu và củi đốt tại chỗ cạn kiệt nên dời dần về Trường Thọ (Thủ Đức), Lái Thiêu và Biên Hòa.

Ở Lái Thiêu và Biên Hòa, dòng gốm Cây Mai phát triển một thời gian; nhưng sau đó, theo một thỏa thuận giữa các chủ lò gốm, hai nơi này không sản xuất các mặt hàng gốm Cây Mai nữa (3 ). Có lẽ do thỏa thuận này mà ở khu vực ngoại vi Lái Thiêu và Biên Hòa: Bửu Long – Tân Vạn – Hóa An – Dĩ An – Thủ Đức… đã phát triển mạnh mẽ loại tượng gốm đất nung bán chuyên nghiệp, mang tính chất phiên bản của gốm Cây Mai nói trên. Mặt khác, cùng với sự phát triển các dòng sản phẩm gốm đặc thù, gốm Lái Thiêu và gốm mỹ nghệ Biên Hòa cũng đã cho ra đời các loại Phật tượng riêng.

Gốm Lái Thiêu, trong suốt hơn 150 năm qua, chủ vào sản xuất sản phẩm gia dụng, sản phẩm gốm mỹ nghệ chiếm tỷ trọng nhỏ: đôn, đôn voi, tiểu tượng. Theo đó, Phật tượng gốm trước đây là tượng nhỏ, cao chừng 15 – 30cm, để cung ứng cho việc thờ tự trong gia đình Phật tử, phổ biến là tượng Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Phật Bà Quan Âm, La hán phục hổ… (Trong một hai thập kỷ gần đây mới sản xuất tượng La hán đủ bộ, các loại tượng Phật kích cỡ lớn, cao 70 – 90cm). Nói chung, đa phần Phật tượng gốm Lái Thiêu được tạo tác bằng kỹ thuật khuôn rót nên ngoại hình, đường nét, y trang không mấy sắc sảo, rõ nét, ít dụng công tỉ mỉ như tượng gốm của Trường Mỹ nghệ Biên Hòa.

Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa, thoạt đầu được gọi là “Trường Bá nghệ” được thành lập vào năm 1902 và năm 1906 tuyển sinh ban Gốm. Tuy nhiên, từ những năm 1920 về sau thì sản phẩm gốm của các thế hệ thầy trò trường này mới xác lập được sản phẩm gốm đặc thù, được thế nhân gọi là “Gốm mỹ nghệ Biên Hòa”: trang trí nhiều màu (nổi tiếng là men xanh đồng / vert Biên Hòa và men lam Hồi / vert Islam), chạm khắc chìm và chấm men màu trong từng ô theo kiểu đồ pháp lam (cloisonné). Tuy có kế thừa những thành tựu của kỹ thuật chế tác, sản phẩm, lò nung và men… của gốm Cây Mai, nhưng sản phẩm gốm “Mỹ nghệ Biên Hòa” đã được nâng cao và công nghệ hóa ở những khâu cơ bản nên chất lượng và vẻ đẹp khác các loại gốm bản xứ truyền thống.

Gốm mỹ nghệ Biên Hòa sản xuất đủ các chủng loại sản phẩm. Riêng về tượng cũng khá phong phú, bao gồm tiếu tượng, tượng người, tượng thần, Phật. Riêng về Phật tượng, gốm mỹ nghệ Biên Hòa chủ yếu dựa vào các mẫu tượng cổ nổi tiếng của Tây Tạng, Trung Quốc, Campuchia… cả tượng tròn lẫn phù điêu: Phật đắc đạo, Phật nhập Niết bàn, Phật ngồi trên rắn chín đầu, Quan Âm (Quan Âm ngư lam, Quan Âm tọa nham, Tara trắng?)… Danh mục Phật tượng Biên Hòa hết sức phong phú, đó là chưa kể đến Phật tượng đúc bằng chất liệu bột đá (đá nhân tạo)…

Nhìn chung, khởi đi từ tượng gốm đất nung tự tạo, các dòng phái gốm sứ đã tạo tác nên một tập thành Phật tượng phong phú cả về số lượng, kiểu dáng và phong cách mỹ thuật. Đó là chưa kể đến tập hợp Phật tượng được tạo tác bằng gốm đen (hắc đào) ở An Giang vào những năm 1980.

Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc

(1) Xem Gia Định thành thông chí (biên soạn hồi đầu thế kỷ XIX). Bản dịch Tu trai Nguyễn Tạo, S, 1972. (2) Kể ra một số ngôi chùa: Bảo An (An Hòa, Long Thành, Đồng Nai), Bửu Sơn (Tân Bình, Thuận An, Sông Bé), Châu Thới (Thuận An, Sông Bé), Chúc Thọ / Thủ Huồng (Cù lao Phố), Diệu Giác (Bình Thạnh, TP.HCM), Hoàng Ân (Cù lao Phố), Hiển Lâm (Hóa An, Biên Hòa), Long Ẩn (Bửu Long, Biên Hòa), Long Hòa (Chơn Tiên, Bà Rịa-Vũng Tàu), Long Thiền (Bình Nghị, Gò Công Đông), Phước Hậu (Trà Ôn, Vĩnh Long), Tân Sơn (Bửu Hòa, Biên Hòa), Tân Quang (Hóa An, Biên Hòa), Thanh Long (Biên Hòa), Thanh Lương (Bửu Hòa, Biên Hòa), Thiên Long (TP.Biên Hòa), Trường Thọ (Gò Vấp, TP.HCM) (3) – Monographie de la province Thudaumot. B.S.E.I, 1910, p23-24. – Monographie de la province Biên Hoa. Pub. De S.E.I. Saigon, 1901, p. 43 – 44 – M. Robert: Monographie de la province Biên Hoa. Imp du Centre / Loui Minh, Saigon, 1924, p 119

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN




Read Full Post »