Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Óc Eo’

Văn hóa và cổ vật Óc Eo

Đầu thế kỷ 20, không ít người tin rằng đã tồn tại một đế quốc Phù Nam thịnh vượng, rộng lớn. Khi phồn thịnh nhất lãnh thổ của nó bao chiếm phần lớn khu vực hạ lưu sông Mê Kông.

Di vật Óc Eo - sưu tập tư nhân

Di vật Óc Eo - sưu tập tư nhân

VĂN HOÁ ÓC EO

văn hóa khảo cổ được đặt tên theo di tích Óc Eo thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Việt Nam. Di tích được phát hiện vào năm 1942 và được Malơrê (L. Malleret) khai quật lần đầu tiên vào năm 1944. Trước đó vào thế kỉ 19, những hiện vật trôi nổi của nền văn hoá này đã được giới nghiên cứu chú ý đến. Qua những cổ vật này, nhiều người đã liên hệ đến Vương quốc Phù Nam được ghi chép trong các thư tịch cổ, trong minh văn trên bi kí, trên các bệ thờ bằng đá.

covatoceo-1

Văn hóa Óc Eo (VHOE)

Từ 1977, các nhà khảo cổ Việt Nam đã nghiên cứu, thám sát và khai quật trên 90 di tích, làm rõ được phạm vi phân bố, các loại hình di tích, di vật của nền văn hoá này.

VHOE phân bố chủ yếu trong phạm vi các tỉnh Nam Bộ. Các di tích bao gồm: di chỉ cư trú có tầng văn hoá dày trên dưới 3 m, các công trình kiến trúc tôn giáo và các khu mộ táng. Hiện vật vô cùng phong phú. Nhóm tượng thờ có tượng Phật, tượng thần bằng các chất liệu gỗ, đá, đồng; tượng linh vật có yoni và linga, có hiện vật được làm bằng vàng. Nhóm phù điêu và con dấu khắc trên gốm, đá, thuỷ tinh, kim loại. Nhóm tiền kim khí đúc bằng vàng, đồng, chì thiếc, chì sắt. Nhiều hiện vật bằng vàng và vàng lá có hình chạm khắc, nhiều đồ trang sức bằng đá quý, đá màu, thuỷ tinh, kim loại, nhiều loại đồ gốm và những vật dụng bằng đất nung, đá, gỗ.

Những phát hiện mới đã làm rõ thêm vai trò của VHOE và cảng thị Óc Eo theo con đường tơ lụa trên biển đối với vùng Đông Nam Á hải đảo và sang tận Địa Trung Hải. Nhiều tư liệu phong phú của VHOE đã đóng góp vào nhận thức về một nền nghệ thuật Phật giáo và Hinđu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long vào thế kỉ 5. VHOE có sự kế thừa và phát triển lên từ các nền văn hoá tiền Óc Eo n_ trên mảnh đất Nam Bộ từ cuối thời đại đồ đồng. Hậu Óc Eo có liên quan đến nhà nước Chân Lạp và Thuỷ Chân Lạp.

Di chỉ Óc Eo:

Vào thập niên 1920, nhà khảo cổ học người Pháp đã dùng không ảnh chụp miền nam Việt Nam và phát hiện ra địa điểm này cùng với nhiều kênh đào và các thành phố cổ khác. Một trong những kênh đào này đã cắt tường thành của một khu vực rất rộng. Malleret thử tìm kiếm các cấu trúc này trên mặt đất và vào ngày 10 tháng 2 năm 1944, ông bắt đầu đào các hố khai quật. Malleret đã phát hiện được các di vật và nền móng các công trình chứng minh cho sự tồn tại của một địa điểm thương mại lớn mà các thư tịch của Trung Hoa đã từng miêu tả về vương quốc Phù Nam. Khu vực này rộng ước chừng 450 hécta.

Các kênh đào tách ra từ kênh đào chính tạo nên các hình chữ nhật đều đặn bên trong thành. Bên trong các khu vực hình chữ nhật này còn sót lại những dấu tích của các khu sản xuất đồ nữ trang, trong số các dấu tích tìm thấy các “hình khối” dùng để rót kim loại cùng với các đồ nữ trang. Các khu sản xuất thủ công mỹ nghệ khác cũng được tìm thấy tại đây. Malleret cũng khẳng định những di vật văn hóa ở đây thuộc hai giai đoạn. Cũng có các móng nhà bằng gỗ và các móng nhà bằng gạch của các toà nhà rộng hơn. Các viên gạch được trang trí bằng các hình sư tử, rắn mang bành, động vật một sừng và các động vật khác.  Những công bố sau đó của ông về bằng chứng của vương quốc Phù Nam cổ xưa, ước vào đầu công nguyên đến thế kỷ VII, đã gây chấn động trong giới cổ học thế giới.

Không cao niên về tuổi địa chất nhưng đồng bằng sông Cửu Long lại chứng kiến những bước chân văn minh đầu tiên của con người trên trái đất này. Những gì tìm được sơ bộ khi ấy cũng đã cho thấy dấu vết của thời đại đá mới bước sang thời đại kim khí, cư dân này cũng đã biết canh nông và đã có sự giao lưu với các nền văn hoá trong khu vực rộng lớn từ biển Đông thuộc Thái Bình Dương vươn dài về phía tây tới tận vịnh Bengan thuộc Ấn Độ.

Mất hơn 30 năm gián đoạn do chiến tranh, mãi sau 1975 những cuộc tìm kiếm dấu vết của vương quốc bị mất tích này mới được tiếp tục trở lại. Không chỉ có quanh vùng Óc Eo, dấu tích của vương quốc Phù Nam cổ xưa lần lượt hiện lên từ Cạnh Đền (Kiên Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), Gò Năm Tước, Gò Rộc Thanh (Long An) rồi ngày một lan toả ra các vùng Tiền Giang, TP.HCM, Đồng Nai, Vũng Tàu đến Nam Cát Tiên (miền Đông Nam Bộ).

Chắc chắn những vết lộ này còn chưa dừng lại ở đây nếu nó còn được tìm kiếm xa hơn về hướng Tây Nam trên lãnh thổ của hai quốc gia Campuchia và Thái Lan.

Sự phát hiện ngày một phong phú đã dẫn đến nhiều nhận định khác nhau về vai trò của khu di chỉ Óc Eo trong vương quốc cổ: “Là một đô thị rộng lớn, một thị cảng phồn vinh, một trung tâm kinh tế sống động với mối quan hệ giao thương Âu – Á khá rộng rãi.

Đồng thời, đô thị Óc Eo xưa cũng là một di tích tiêu biểu cho nền văn minh của một quốc gia cổ hình thành vào loại sớm nhất ở Đông Nam Á” (theo Louis Malleret); hay: “vùng di tích quanh núi Ba Thê với phạm vi rộng lớn tập trung nhiều di tích thờ cúng, lăng mộ, thật sự là một trung tâm lớn, đã quy tụ nhiều tinh hoa kỹ thuật – nghệ thuật các mặt của nền văn hoá này. Từ vị trí được xác định như vậy, chắc hẳn vùng này cũng là một trung tâm quyền lực” (nhận định của Lê Xuân Diệm).

Dù là trung tâm tập quyền hay kinh thương, cho đến thời điểm này, các nhà khảo cổ trong và ngoài nước vẫn thống nhất với nhau rằng, Óc Eo là trung tâm đô hội lớn nhất của toàn bộ nền văn hoá Phù Nam.

CỔ VẬT ÓC EO PHÁT HIỆN VÀ TRƯNG BÀY

covatoceo-3

năm 1944 ở VN, nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret khai quật cánh đồng óc Eo (xã Vọng Thê, Thoại Sơn, An Giang). Cuộc khai quật ấy khiến người ta củng cố lòng tin về vương quốc Phù Nam vốn đã láng máng biết trước đó qua thư tịch cổ Trung Quốc và minh văn trên bi ký.

TS Phạm Quốc Quân – Giám đốc Bảo tàng Lịch sử VN – cùng nhiều nhà sử học Đông – Tây nghiêng về phỏng đoán rằng Phù Nam không phải đế quốc cai trị và bóc lột mà chỉ là tập hợp của những tiểu quốc.

GS Lương Ninh, trong một chuyên khảo đã định vị một trong số nhiều tiểu vương quốc đó là Naravaranagara ở miền Tây sông Hậu, mà Óc Eo lại nằm trong đất của quốc gia cổ đại này. Tất nhiên, đây cũng chỉ là một giả thuyết.

Sau 1975, giới khảo cổ VN kế tục công cuộc nghiên cứu của L.Malleret, khai quật hàng loạt di chỉ từ Đồng Nai tới Kiên Giang, mang về cho các bảo tàng Nam Bộ hàng vạn hiện vật giá trị.

Hơn 300 cổ vật đặc sắc văn hoá óc Eo hiện  được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử VN cho thấy quyết tâm muốn chứng minh tính bản địa và sự phát triển của văn hoá óc Eo (TK 2 – TK 8) và vương quốc Phù Nam tại VN của các nhà sử học trong nước.

Từ di tích cư trú, di chỉ di vật kiến trúc, mộ táng, tượng thờ, đồ sinh hoạt và sản xuất…đều cho thấy cư dân óc Eo cách chúng ta 8 – 13 thế kỷ rất giàu có, tôn giáo tín ngưỡng phát triển và nghề buôn bán bằng đường biển thì… cực thịnh.

covatoceo-9

Đá quý, thiếc, thuỷ tinh, vàng, mã não, rồi đồ gốm, chì lưới, mộ táng ở nền Chùa, óc Eo, Đá Nổi, kiến trúc đền thờ Bà La Môn giáo ở Nền Chùa (Kiên Giang), óc Eo (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp)…, tất cả cho thấy một đời sống sinh động của cư dân Phù Nam. Độ tinh xảo trên một số đồ trang sức thể hiện rõ nét tài hoa của người thợ kim hoàn đương thời.

Sưu tập tiền với nhiều loại chất liệu bạc, đồng, kẽm, có những đồng tiền cắt tư, cắt tám để làm tiền lẻ tìm thấy ở óc Eo cũng khá phổ biến ở nhiều di tích ven Vịnh Thái Lan, bán đảo Mã Lai và Myanmar.

Như vậy, đã hình thành một dòng chảy thương mại nối liền óc Eo với Ấn Độ Dương bằng đường biển qua Vịnh Thái Lan và có thể bằng cả đường bộ theo đường nội địa. Những quả cân nhỏ bằng kẽm và những con dấu (kiểu bản địa, kiểu ấn Độ, kiểu La Mã, Hy Lạp) là bằng chứng của nền thương mại mang tính quốc tế.

Các nhà khảo cổ VN cũng tìm thấy hiện vật giai đoạn tiền Óc Eo, chứng tỏ sự phát triển theo quy trình tiếp biến của văn hoá Óc Eo. Hơi tiếc, ở cuộc trưng bày, dấu ấn bản địa, nội tại chưa hẳn đậm đặc.

TS Phạm Quốc Quân nói: “Trước đây người ta thường né tránh nhắc tới vương quốc Phù Nam và Champa, nhưng bây giờ chúng ta đã đưa chúng vào Lịch sử VN. Chúng tôi muốn phần nào chứng minh rằng dù có tiếp nhận, tiếp biến từ La Mã, Ba Tư, ấn Độ, thì Óc Eo vẫn là nền văn hóa phát triển nội tại, bản địa tiến tới đỉnh cao của nó là vương quốc Phù Nam”.

Tượng Óc Eo tìm thấy ở Gò Thành

Tượng Óc Eo tìm thấy ở Gò Thành

Cổ vật Óc Eo trưng bày tại Viện Bảo Tàng

Ngày 24.6.2004, lần đầu tiên sau giải phóng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh phối hợp với 11 bảo tàng ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ, cùng Bảo tàng Mỹ thuật và Bảo tàng Thành phố tổ chức trưng bày “Cổ vật văn hóa Óc Eo” quy mô lớn nhất từ năm 1944 đến nay. Hơn 400 hiện vật quý hiếm từ các vùng đất cực thịnh trước đây đã vén dần những màn sương từng bao phủ một nền văn hóa mang nhiều màu sắc bí ẩn để làm nên một diện mạo chung kể từ thời nhà khảo cổ người Pháp Louis Malleret có công phát hiện.

Hơn 400 cổ vật được trưng bày theo tiêu chí: chất liệu, lọai hình, niên đại; và chia thành bốn nhóm: cổ vật thuộc đồ gia dụng: khuôn đúc đồ trang sức, dụng cụ làm gốm, dụng cụ chế tác đồ kim hòan, nồi nấu kim lọai, bình có vòi, chì lưới, bàn nghiền… Đồ trang sức có các lọai nhẫn có chạm hình bò Nandin, bông tai hình lưỡi liềm, vòng đeo tay, chuỗi hạt, lá vàng hình hoa, chạm hình thú… Đồ trang trí đặc biệt ở cac cổ vật: đầu trụ, tượng đầu người, gạch kiến trúc, lá đề trang trí… Đồ thờ cúng gồm các cổ vật là tượng Phật, tượng thần, Linga, Yoni…

Tuy đây chỉ là một phần văn hóa Óc Eo (khu vực cư trú của nền văn hóa Óc Eo khá rộng, từ một phần đất Campuchia, Thái-lan, phía nam bán đảo Đông Dương, trừ Lào), song tính chất phong phú của bộ sưu tập này đã kích thích các nhà nghiên cứu và khảo cổ học đưa ra những giả thuyết mới. TS Phạm Hữu Công nhấn mạnh, một điều cơ bản mà khoa học chưa lý giải được tận bây giờ là nền văn hóa Óc Eo thuộc dân tộc nào, cho dù đã tìm thấy các bộ hài cốt. Theo nhiều nhà nghiên cứu về cổ nhân học, rất có thể đó là dân tộc đang sống dọc theo rìa Trường Sơn, hoặc ở vùng Bình Phước, Lộc Ninh (Mạ, Xtiêng, M’Nông…).

Tượng thần Visnu bằng đá, thế kỷ 7

Tượng thần Visnu bằng đá, thế kỷ 7

Nhưng cũng không phủ nhận được một điều rằng nền văn hóa Óc Eo trong quá khứ từng có mối giao du với những trung tâm văn hóa lớn đương thời như Trung Quốc (trong những di chỉ đào lên), đế quốc La Mã (phát hiện đồng tiền La Mã thế kỷ thứ 2 khắc tên hoàng đế) và Ba Tư qua một số bức phù điêu. Đặc biệt, ảnh hưởng từ Ấn Độ là lớn nhất. Tượng Phật rất nhiều ở các vùng trên đất nước ta (tượng gỗ, đá), tượng thần Rama, Visnu (nhưng điều khó hiểu là ít thấy tượng thần Siva), những mặt người thể hiện trong thần thoại Ấn Độ, những thuỷ quái… Đặc điểm của những tượng mặt người này là sống mũi cao, thẳng, mắt to tròn, rất hiếm tượng có gương mặt của người Đông Nam Á. Đó là một điều đáng chú ý cho các nhà nhân chủng học.

Tượng thần Brahma - niên đại 1500 năm - của BT An Giang

Tượng thần Brahma - niên đại 1500 năm - của BT An Giang

Điểm thứ hai, tuy không tìm thấy dấu vết tàu thuyền lớn đi các nước, nhưng có thể giải thích rằng đã có nhiều tàu thuyền từ các nước đến đây buôn bán giao dịch. Điểm thứ ba, không hề phát hiện ra vũ khí, nên có thể thấy đấy là một dân tộc sống hòa bình, và sự bình ổn của xã hội Óc Eo thời đó khá cao.

Các hiện vật tìm được gồm nhiều nhóm: đồ gốm, gỗ, đá, đồng, vàng. Nhóm đồ gốm khó có thể nhầm lẫn với đồ đương thời vì hình dáng đặc biệt và chất liệu đất nung do thời đó người ta còn chưa chế được men, như bình có vòi, phù điêu đậm chất Ấn Độ trang trí trên nền tháp, hình mặt người, đầu cột trụ, các viên gạch có hoa văn rất lạ, có in chữ vạn của nhà Phật.

Di vật Óc Eo, sưu tập tư nhân Long An

Di vật Óc Eo, sưu tập tư nhân Long An

Nhóm đồ gỗ gồm kiến trúc cột nhà sàn (hoặc biểu tượng linga), một vài vật dụng làm gốm, trục bánh xe và tượng Phật.

Nhóm kim loại có những vật tròn bằng thiếc bên trên có khắc hình mặt trời đang mọc, những đồng tiền cổ bị chặt làm bốn, làm tám, giá hai đầu thú bằng đồng, tượng thần Visnu, nữ thần Ấn Uma, tượng Phật Trung Quốc thời Bắc Nguỵ (thế kỷ thứ 3), gương đồng, các lá bùa bằng thiếc. Đồ vàng là những thành tựu lớn của cư dân Óc Eo: nhiều mảnh vàng được chế tác tinh vi, dát mỏng dính, có hình vẽ thần nhân của Bà La Môn, bò thần Nadin, nhẫn có bò Nadin (vật cưỡi của Siva). Theo TS Công, các cổ vật hiếm quý nhất là pho tượng Phật Thích Ca do chính cư dân Óc Eo chế tác, cao 1,2 m cách đây hơn 1.500 năm, tấm vàng dài ba, bốn tấc trên có khắc minh văn bằng chữ cổ Ấn Độ, đồng tiền La Mã…

Trong số các Bảo tàng tỉnh, Long An là nơi đóng góp nhiều hiện vật nhất: hơn 200. Riêng Đồng Tháp, một trong ba tỉnh giàu hiện vật văn hóa Óc Eo nhất ở Việt Nam (chỉ sau An Giang, trên Long An) lại từ chối mang hiện vật lên TP Hồ Chí Minh do tỉnh và Sở Văn hóa – Thông tin không cho phép. Như vậy, khiếm khuyết lần này là thiếu hụt các cổ vật khai quật ở Đồng Tháp.

Mặt người bằng đất nung.

Mặt người bằng đất nung.

Diện mạo văn hóa Óc Eo đã hiện khá rõ: một nền kinh tế phát triển về thủ công nghiệp, sớm mở mang buôn bán với nước ngoài, có quan hệ với một số trung tâm thương mại lớn trên thế giới và một trung tâm tôn giáo phát triển.

Tổng hợp từ Internet

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »