Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘nhà cổ’

 Nếu Hội An không còn phố cổ… 

 Hội An không còn là một phố thị đìu hiu sau khi trở thành Di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. Nhưng vẻ sôi động, nhộn nhịp hàng ngày chỉ là bề ngoài, còn trong sâu thẳm, nỗi khổ của người dân sống trong lòng thành phố di sản cùng bao lo âu về sự hiện hữu, tồn vong của khu phố cổ vẫn còn đó…

“Phố cổ là phố khổ”, “Nhà cổ là nhà khổ”…, nhiều người đã từng nói thế về Hội An. Khổ vì luôn phải thường trực chống đỡ sự xuống cấp của các kiến trúc cổ: nhà ở, nhà thờ họ, đình, chùa, hội quán…, khổ vì phải tuân thủ những quy định bảo tồn của chính quyền địa phương, khổ vì không thể xoay xở được kinh phí để sửa chữa, để hoàn nguyên di tích. Nhưng người Hội An vốn có truyền thống thích ứng với những điều kiện sống nhiều biến cải trong diễn trình lịch sử mấy trăm năm, vì thế khi những giá trị văn hóa của đô thị cổ được thế giới tôn vinh thì việc phải giữ gìn cho được những giá trị ấy được họ xác định là lẽ sống còn. Từ năm 1997, bằng nhiều nguồn kinh phí, Hội An đã đầu tư hơn 66 tỷ đồng tu bổ 166 di tích, hỗ trợ hơn 5,2 tỷ đồng tu bổ 110 di tích, các gia đình cũng đã tự bỏ tiền tu sửa mỗi năm khoảng 200 ngôi nhà…
 
Với 9 năm là di sản văn hóa thế giới, thay thế một Hội An – “phố thị đìu hiu”, một Hội An – “thành phố dưỡng già” là một nhịp sống đô thị với gần 20.000 người dân đang sinh sống sôi động, bán mua nhộn nhịp hàng ngày. Nhưng đó là vẻ bề ngoài, còn trong sâu thẳm, “nỗi khổ” của người dân sống trong lòng thành phố di sản cùng bao lo âu về sự hiện hữu, tồn vong của khu phố cổ vẫn còn đó. Bão lũ là hiểm họa ngày càng rõ nét, đe dọa hàng năm. Bình quân mỗi năm khu phố cổ phải chịu đựng từ hai đến ba cơn lũ, mỗi cơn kéo dài ba, bốn ngày với lưu tốc dòng chảy ngày càng hung bạo. Trong cơn lũ lịch sử vào trung tuần tháng 11/ 2007 có hơn 900 di tích trong tổng số hơn 1.000 di tích bị xuống cấp do phải ngâm nước và chống chọi với dòng nước chảy xiết nhiều ngày.
Nhưng một dòng lũ âm thầm mà không kém phần nguy hiểm đang tàn phá từng kèo nhà, cột nhà… hàng ngày, hàng giờ là mối mọt, nấm mốc. Hầu hết các di tích đều đang xuống cấp, nhiều di tích xuống cấp nghiêm trọng có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Nguồn kinh phí tu bổ một di tích nhà cổ gấp ba, bốn, thậm chí gấp chục lần so với nhà bê tông hiện đại, trong khi nguyên vật liệu để tu bổ như gỗ nhóm I, nhóm II hay ngói âm dương… và những vật liệu truyền thống khác thì không phải muốn mua là có, việc khai thác rừng Quảng Nam đã bị nghiêm cấm, các lò nung vôi, gạch, ngói theo cách thức truyền thống cũng bị cấm hoạt động để bảo vệ môi trường.
Mới đây, tôi có đọc bản dự thảo cuốn phim tài liệu về sự nghiệp bảo tồn Hội An trong vòng 10 năm, từ trước khi Hội An được công nhận di sản văn hóa thế giới (năm 1999) tới nay. Một con số khiến tôi không khỏi bận tâm đó là trong vòng 10 năm qua, ở khu phố cổ đã có 83 trường hợp chuyển nhượng chủ sở hữu và 181 trường hợp cho thuê nhà, nghĩa là đã có 264 chủ những ngôi nhà di tích, tương đương với 3.000 cư dân phố cổ Hội An đã phải rời khỏi ngôi nhà của mình vì bán hoặc cho người khác thuê (hơn 80% số người mua nhà, thuê nhà chủ yếu làm cửa hiệu để kinh doanh). Tất nhiên, việc giãn dân ra vùng ngoại vi khu phố cổ để tránh áp lực do dân số gây ra cho di sản là cần thiết, đúng đắn; việc chuyển nhượng cho thuê nhà khi chủ nhân di tích không đủ điều kiện kinh tế sửa chữa nơi ở của mình là điều không tránh khỏi nhưng con số 3.000 cư dân phố cổ rời khỏi, ngôi nhà mà họ đã gắn bó cả đời, thậm chí từ nhiều đời, thì làm sao khiến lòng người không khỏi xót xa?
 

 

Những dãy phố cổ ở Hội An gần như còn được giữ nguyên vẹn

 

Ngôi nhà Hội An từ bao đời xưa đã là ngôi nhà để buôn bán, tất nhiên rồi, vì nơi đây từng là cảng thị sầm uất với những cửa hiệu lớn đã trở thành thương hiệu nổi tiếng trong nhiều thế kỷ, nhưng ngôi nhà Hội An trước hết vẫn là ngôi nhà để người ta ở trong đó, lấy vợ, lấy chồng, sinh con, đẻ cái… Một ngôi nhà gắn bó máu thịt khác hẳn một ngôi nhà chỉ thuần túy dùng để kinh doanh. Hãy thử vào một vài shop vải lớn đã đổi chủ sở hữu trong khu phố cổ, bạn sẽ không thấy vị trí bàn thờ tổ tiên, không thấy bếp, không thấy giếng trời… đâu nữa. Những vị trí linh thiêng như bàn thờ đã bị dời đi vì chủ nhân mới không ở đây nên không thờ cúng ông bà, họ cũng không nấu nướng ngày ba bữa nên chẳng cần tới bếp, sân trời cũng được che lại để tận dụng diện tích làm nơi bày hàng hóa. Cuộc sống với những người chủ mới đã thực dụng tới mức họ biến nhà bếp với bàn thờ ông Táo thành kho chứa hàng và tận dụng diện tích đến nỗi che luôn khoảng không gian “giếng trời” – vốn được coi là kiến trúc đặc trưng của nhà cổ Hội An.

Người Hội An có muốn bán nhà không? Tôi cho rằng phần đông không muốn. Nhưng họ vẫn phải bán, một phần do không thể lo liệu được tiền tu bổ theo đúng yêu cầu của bảo tồn di sản, phần khác do hiện nay nhiều ngôi nhà đang có quá nhiều chủ sở hữu, giá nhà lên khiến ai thấy cũng muốn đòi chia chác. Vài năm trước, ngôi nhà của ông Trần Sung ở số 98 trên đường Bạch Đằng được Nhà nước hỗ trợ 60% kinh phí tu bổ, tức là ông Sung đã phải bỏ ra 40% của số tiền vài tỉ để ngôi nhà có thể vững chãi như hiện nay. Nhưng sau đó, bốn chị em gái của ông đã đâm đơn kiện đòi chia nhà. Ông Sung đã phải trả tiền cho hết thảy bốn chị em ruột – dẫu từ lâu nay họ đều đã có nhà ở nơi khác. Số tiền đó lớn tới nỗi, cho đến nay, ở Hội An, có lẽ nhân vật như ông Trần Sung vẫn là trường hợp duy nhất có thể trả tiền cho các đồng sở hữu để trở thành chủ nhân duy nhất trong ngôi nhà của mình.

Hai vợ chồng ông La Vĩnh Diệu hiện đang ở ngôi nhà 16 Nguyễn Thái, ngôi nhà này không đứng tên ông. Ông sống ở đây, buôn bán và làm bổn phận của đứa cháu, trông coi nhà thờ tổ tiên. Ngôi nhà có tuổi đời hơn 150 năm nên nhiều phần đã xuống cấp. Thi thoảng bà con họ hàng cũng gửi tiền về nhưng chỉ đủ để tu sửa khu nhà thờ. Mỗi mùa lũ lụt, những người làm công tác bảo tồn Hội An đều đến nhắc nhở và phụ giúp vợ chồng ông chống đỡ nhà bằng những cột chống tạm để nó qua khỏi mưa gió…

Việc bảo tồn ở Hội An cũng không tránh khỏi có khi xảy ra chuyện lơ là hoặc sai sót về chuyên môn. May mắn là khi xảy ra điều đó, người ta đã kịp thời sửa sai. Tôi còn nhớ rất rõ sự quyết liệt của ông Nguyễn Sự – Bí thư Thành ủy Hội An trước những vi phạm trong bảo tồn, sửa chữa nhà cổ: “Với tốc độ vi phạm như hiện nay thì chỉ trong ba, bốn năm nữa chúng ta sẽ không còn phố cổ. Việc giữ gìn từng ngôi nhà, từng đầu hồi, vì kèo, mắt cửa… là vấn đề sống còn. Chúng ta phải quyết liệt, dứt khoát phải quyết liệt xử lý, tôi đã nói rồi, nhà nào lát nền gạch bông phải bóc nền ra, dán la phông trần phải bóc trần xuống, nếu xây lầu cũng phải đập lầu đi…”. Có những chủ cửa hiệu lớn sau khi mua hai, ba ngôi nhà cổ liền kề đã thông tường, đục vách để thuận lợi hơn cho việc kinh doanh nhưng sau đó, theo sự vận động của chính quyền, họ đã trả lại những vách ngăn, bức tường cho căn nhà để giữ lại vẻ đẹp kiến trúc vốn có của ngôi nhà cổ.

Tôi từng nghe về một dự định lớn của Hội An, rằng Hội An sẽ xin Chính phủ và vận động các nguồn vốn có được để mua lại những ngôi nhà cổ và sau đó, Nhà nước sẽ cho chính chủ nhân của ngôi nhà ở lại trong ngôi nhà ấy với giá cho thuê, mong muốn sẽ giữ lại được “chất Hội An” với “hồn phố”, “hồn người”. Để mua một ngôi nhà cổ loại đặc biệt sẽ tốn khoảng trên dưới chục tỉ. Giả sử, chỉ mua một trăm ngôi nhà thôi cũng tốn hàng ngàn tỉ đồng, quả là khó thực hiện, nhất là vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế như hiện nay, nhưng nó cho thấy quyết tâm của người phố Hội. Trên thực tế, chính chủ những ngôi nhà cổ, đặc biệt là những người đã từng gắn bó cả đời, thậm chí nhiều đời với khu phố này, là những người có thể giữ gìn ngôi nhà và khu phố một cách tốt nhất. Dẫu biết dự định ấy có thể sẽ chỉ là giấc mơ, nhưng là một giấc mơ đẹp, cho chúng ta có quyền hy vọng…
Bài đăng trên trang vnciem.gov.vn
Hội An vẫn được xem như một bảo tàng sống
về kiến trúc và lối sống đô thị
Advertisements

Read Full Post »

Ngôi nhà cổ đẹp nhất miền Tây

Ngôi nhà cổ 130 năm tuổi ở Bình Thủy (TP Cần Thơ) là một tư dinh lộng lẫy hài hòa mang vẻ đẹp đặc trưng của vùng châu thổ Nam Bộ. Cho đến nay, ngôi nhà từng là địa điểm tham quan hấp dẫn của du khách, là “trường quay” của nhiều bộ phim cổ sử này vẫn còn giữ được vẹn nguyên vẻ đẹp của kiến trúc và những vật dụng quý hiếm bên trong.

Ngôi nhà cổ 130 năm tuổi ở Bình Thủy, TP. Cần Thơ

Ngôi nhà cổ 130 năm tuổi ở Bình Thủy, TP. Cần Thơ

Ngôi nhà được xây từ hơn 130 năm trước với muôn vàn công phu chăm chút bởi tay nghề của nhiều đoàn thợ giỏi tuyển khắp miền bắc miền trung, và cả nghệ nhân Phúc Kiến – Quảng Châu (Trung Quốc) về tô đắp. Đây là tư dinh của một thương nhân trí thức: ông Hội đồng Dương Chấn Kỷ nổi tiếng giàu có hào hoa từ nghề buôn bán mễ cốc khắp xứ gạo trắng nước trong.

Kiến trúc độc đáo của tòa nhà cho thấy tầm cao thẩm mỹ của chủ nhân giữa buổi giao thời thế kỷ XIX-XX , trong sự hòa nhập văn hóa Đông-Tây vẫn giữ được vẻ riêng của nếp sống châu thổ Nam Bộ.

Toàn bộ tư dinh bố cục cân xứng âm dương với cổng tam quan, sân gạch tàu, năm gian nhà xây trát bằng keo ô dước, hai mái lợp ngói Phước Lộc Thọ kiểu Tam đa, đèn đặt bốn góc Long Ly Quy Phụng dạng Tứ quý, cột kèo gỗ lim đen bóng hai vòng ôm chưa giáp được gắn kết khít khao bởi kỹ thuật mộng ngàm.

Bên trong ngôi nhà hầu như nguyên vẹn những vật dụng chế tác từ thế kỷ trước như sập gụ, tủ chè, trường kỷ, khánh từ, thành vọng sơn son thếp vàng; những món đồ cổ quý giá nhiều trăm năm tuổi như bàn ghế đời nhà Thanh, bàn ghế mặt ngọc thạch Vân Nam, tách chén nậm rượu thời Minh-Thanh, bình cổ Thượng Ngọc…

Hàng chục đoàn làm phim đã mượn địa điểm này làm nền cho những bộ phim mang tính cổ sử hoặc huyền thoại như Người đẹp Tây Đô, Công tử Bạc Liêu, Chân trời nơi ấy, Cây tre trăm đốt, Người tình.

Cuốn sổ lưu niệm gia đình còn ghi dày đặc chữ viết nước ngoài từ các châu Phi Mỹ, Á Âu của vô số các đoàn khách tham quan. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ lưu bút năm 1983 “Mong rằng những tác phẩm này được gìn giữ tốt để bảo tồn tài sản văn hóa quý báu của dân tộc”. Nhà báo Pháp P.Sabatier khẳng định “Ngôi nhà họ Dương là một kho báu của nghệ thuật kiến trúc Việt Nam.

Mới đây, được biết ngôi nhà cổ Bình Thủy đã có vài người đánh tiếng hỏi mua với giá một triệu USD, chủ nhân không muốn bán mà chỉ mong lãnh đạo thành phố có chính sách hỗ trợ để cùng trùng tu lại di tích này.

nhacobinh-thuy-2

Ông Dương Minh Hiển – cháu đích tôn của cố Hội đồng Kỷ, người đang quản lý tòa cổ trang cho biết ngay từ những năm đầu sau giải phóng, nhà cổ Bình Thủy đã là tư dinh đầu tiên được ngành Du lịch Cần Thơ hợp đồng làm địa chỉ cho khách đến tham quan. Hợp đồng đã hết hiệu lực từ lâu, mấy năm nay thỉnh thoảng mới có khách nước ngoài biết tiếng ghé tới, vì hiếu khách ông vẫn mở cửa đón tiếp dù nguồn sống đạm bạc của cả nhà vẫn chỉ là hoa lợi thu hái từ mảnh vườn rộng gần một ha. Gần đây UBND TP Cần Thơ đã họp bàn về việc sẽ đầu tư chỉnh trang lại cả một làng cổ trải dài trên tuyến đường hơn hai mươi cây số, trong đó điểm nhấn chính là nhà cổ Bình Châu.

Tôi nhớ cử chỉ thắp hương khoan thai bùi ngùi của ông trước bàn thờ gia tộc họ Dương tranh tối tranh sáng vương đầy mọt gỗ. Sang năm ông Hiển đã vào tuổi tám mươi. Liệu đến ngày đó tòa nhà cổ Bình Thủy đã trở thành “điểm nhấn” trong các điểm hẹn chính thức của ngành du lịch Cần Thơ hay chưa?

Nguồn: Tiền Phong – ND

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Thú chơi nhà cổ

Những căn nhà được xây dựng nhiều tỉ đồng với kiến trúc hiện đại xem ra đã “đề mốt” ở Sài Gòn, nên nhà cổ đang được ưa chuộng.

Giới giàu có hiện đang săn lùng khắp nơi, cố tậu cho được một căn nhà cổ, càng cổ xưa, chạm trổ càng tinh xảo càng có giá trị.

Thú chơi bạc tỉ

“Phong trào chơi nhà cổ sẽ còn tiếp tục khi giới nhà giàu đang có xu hướng hoài cổ.”

Theo những người chuyên kinh doanh nhà cổ tại Tp.HCM thì phong trào chơi nhà cổ rộ lên trong ba năm trở lại đây. Người mua thích nhất những căn nhà cổ thuộc loại hàng hiếm, như nhà sàn của các tù trưởng, già làng dân tộc thiểu số được cất cả trăm năm trước, nhà của các quan lại triều Nguyễn với ngói cổ, rường, cột bằng gỗ lim đen bóng…

Những căn nhà cổ bạc tỉ đó sẽ được dựng trong khuôn viên biệt thự để làm nơi nhậu nhẹt, tiếp khách, sum họp gia đình và thư giãn. Chủ nhiều nhà hàng cũng lùng mua nhà cổ để tạo phong cách riêng và thu hút khách.

“Một căn nhà cổ đúng nghĩa giá thấp nhất hiện nay là một tỉ đồng trở lên. Dân chơi nhà cổ căn cứ vào thời gian tồn tại của căn nhà và kiểu kiến trúc của nó mà định giá tiền” – ông Lê Văn Bảy, chủ một điểm kinh doanh nhà cổ ở đại lộ Bình Dương (tỉnh Bình Dương), cho biết.

Trị giá của một căn nhà cổ căn cứ vào độ hoàn chỉnh hay không của cột, kèo, mè, mái ngói, hoa văn chạm trổ… Nhà cổ càng cao giá nếu còn trọn bộ nội thất như tủ thờ, ván ngựa, hoành phi, câu đối… Theo lời ông Bảy, có những căn nhà cổ với nội thất trọn bộ được rao bán với giá cả triệu USD.

Cũng theo ông Bảy, hiện nay, dọc các con đường vùng ven Tp.HCM như Lê Văn Khương, Hà Huy Giáp, Bình Dương, quốc lộ 22… ngày càng có nhiều điểm kinh doanh nhà cổ. Muốn mua được một căn nhà cổ ưng ý phải đặt hàng trước sáu tháng, có khi cả năm.

Dân buôn nhà cổ sau khi nhận “cọc” sẽ liên hệ với đầu mối ở các tỉnh, thành. Có những căn nhà cổ hư hỏng được “săn” về giao cho những thợ mộc lành nghề phục chế, tu bổ, trước khi giao cho khách.

Muốn nhà cổ kiểm Nam Bộ thì về miệt Bình Dương, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhà kiểu quan lại triều Nguyễn thì ra miệt Huế, nhà sàn cổ thì phải ra Tây Bắc, lên Tây Nguyên, muốn nhà cổ của người Chăm thì phải về Bình Thuận, Ninh Thuận… Hiện nay, những căn nhà cổ được xem là “hot” nhất là nhà cổ theo kiểu Huế.

Giới buôn nhà cổ đồn đại, mới đây, một đại gia ngành xây dựng đã bỏ ra đúng 1,2 triệu USD để mua “trọn gói” một ngôi nhà cổ có đầy đủ nội thất của một người trong tôn thất nhà Nguyễn. Nghe đâu, căn nhà này có từ thời vua Minh Mạng.

“Nếu lần được đầu mối, có khi mua được giá hời, mỗi căn nhà cổ cũng kiếm được vài chục triệu đồng tiền lời”- bà Nguyễn Thị Vinh, chủ một điểm buôn bán nhà cổ trên đường Lê Văn Khương, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, cho biết.

Hoài cổ

Phong trào chơi nhà cổ đang tạo nên một cơn sốt ở Tp.HCM.

Hiện còn không ít căn nhà cổ ở thôn quê có tuổi thọ hàng trăm năm. Do không có điều kiện tu sửa hoặc vì không hiểu hết giá trị của nhà, nhiều chủ nhân của chúng vui vẻ bán đi để có tiền cất nhà mới cho hợp thời. Đó chính là cơ hội “vàng” cho giới kinh doanh nhà cổ.

Ông L.M.T, phó chủ tịch hội đồng quản trị một ngân hàng lớn ở quận 5, vừa mua một căn nhà cổ có từ thời vua Thiệu Trị, đúng 2 tỉ đồng để về dựng tại khuân viên biệt thự bên An Phú, quận 2, nói: “Thú chơi nhà cổ thu hút tôi vì không chỉ kiến trúc, nghệ thuật lạ mắt mà tạo sự yên tĩnh, thư thái cho tinh thần. Sau những lúc làm việc căng thẳng, ngồi thả mình trong ngôi nhà cổ, mình có cảm giác thư thái và bình lặng trở lại.”

Ông Lê Đức, chủ doanh nghiệp khinh doanh bồn chứa nước Nguyên Hạnh ở quận 12, vừa bỏ ra 1,1 tỉ đồng mua một căn nhà sàn cổ của vùng Tây Nguyên để dựng trong khuôn viên biệt thự ở An Phú Đông. Ông đang nhờ người tìm cho đủ bộ cồng, chiêng, ché rượu… để những ngày nghỉ sẽ sống với cảm giác như một già làng bên bếp lửa, rượu cần. “Sống trong căn nhà cổ, không gian cổ, tách biệt với cuộc sống ồn ào, cảm thấy thoải mái tinh thần, thanh thản lạ lùng”, ông Đức nói vậy.

Người Đô Thị

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Nghệ thuật trang trí trong một căn nhà cổ ở Bình Dương

Tìm hiểu về các ngôi nhà cổ người Việt ở Bình Dương, mà nét nổi bật và mang tính đặc trưng của lối kiến trúc nghệ thuật phải nói đến 3 ngôi nhà của họ Trần, nằm trong khu chợ Thủ Dầu Một ngày nay. Trong đó, có 2 ngôi nhà được công nhận di tích cấp quốc gia (nhà Bác sĩ Trần Công Vàng và nhà ông Trần Văn Hổ).

Ngôi nhà ông Trần Văn Hổ tọa lạc số 18 đường Bạch Đằng, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ông Trần Văn Hổ (tự Đẩu) – nguyên là Đốc Phủ sứ thời thuộc Pháp. Công trình được xây dựng năm Canh Dần (1890), tháng Trọng Xuân (tháng 2), nhằm niên hiệu Thành Thái thứ 2 cách ngày nay (2008) là 116 năm. Công nhận di tích quốc gia ngày 29-4-1993, tổng diện tích còn lại là 1.296m2 .

Hiện nay, di tích còn lại là một ngôi nhà chính, đây là ngôi nhà lớn chủ yếu là để thờ cúng ở gian giữa. Ngôi nhà trông bề thế và trang nghiêm, biểu hiện cung cách tôn ti trật tự, nề nếp. Mặt chính diện ngôi nhà quay về hướng Tây Nam, hướng sông Sài Gòn để hưởng được làn gió mát trong lành quanh năm.

Lối kiến trúc của ngôi nhà theo dạng chữ “Đinh”, tổng diện tích xây dựng là 200m2, kiểu nhà được người dân Thủ Dầu Một xưa rất ưa thích. Trước sân được che phủ bởi cảnh thiên nhiên thu nhỏ của vườn hoa, cây cảnh, hòn non bộ được trang trí đầy đủ cảnh sinh hoạt “Ngư – Tiều – Canh – Mục”. Ngôi nhà có dáng dấp nhìn từ ngoài vào hơi thấp, với mái ngói rêu phong, tạo cảnh sắc thiên nhiên của sự cổ kính, thanh tịnh tách hẳn với ồn ào náo nhiệt của cảnh phố chợ bên ngoài.

Bước vào bên trong là nét đẹp trang trí thể hiện sự sung túc của ngôi nhà. Nguyên vật liệu toàn là gỗ quý như Cẩm lai, Giáng hương, Gõ, Sến, Mật… được sử dụng bài trí lớp lớp, từ mái nhà xuống cửa võng và cả bậc ngạch. Từ những song gỗ, đường nét ô vuông đến các mảng phù điêu đều được bố trí đối xứng đến từng chi tiết, tạo nên bề thế trang nghiêm, thể hiện phong cách vương quyền.

Ngôi nhà xây dựng theo kiểu 3 gian, 2 chái gồm 36 cột tròn. Mái ngói âm dương dài thoai thoải và thấp mang đậm nét nhà truyền thống người Việt. Trên nóc nhà có hồi văn, hình bát quái. Loại nhà này có nhiều ưu điểm so với các nhà cổ truyền khác ở chỗ có bộ khung sườn cứng cáp, lòng nhà rộng rãi. Kết cấu bộ vì kèo theo kiểu nối cột cái với cột con bằng “giả thủ” tạo không gian thoáng đãng, hệ thống kẻ ngòi phong phú (theo lối kẻ ngòi đãng: ngắn, ráp, nối nhau) gắn chặt xà, kẻ, bẫy vào đầu cột theo không gian 3 chiều. Kẻ, bẩy vươn qua không gian, ăn mộng vào đầu cột tạo cho nghé kẻ thêm phần vững chắc ở điểm nối giữa nách và cột. “Bẩy” (đầu kèo) ở đây được chạm thẳng vào cục gỗ “Tứ linh”, xà nách thì chạm Tứ thời, kẻ ngòi (thân kèo) thì ngoài chạm ra còn tạo hình dáng uốn lượn trông mềm mại.

Từ hệ thống mái vững chắc, có phần hơi thấp, bên trong nội tự được ngăn đôi bức tường giả hình chữ U tạo chiều sâu. Mảng giữa tường và khánh thờ là các bức Hoàng phi được sơn son thiếp vàng, các bức liễn bằng những câu đối cẩn xà cừ đính trên cột.

Gian giữa phía trên là khám thờ với tấm Thủ quyển chạm nổi hình Tứ linh hoàng tráng, giữa bức thủ quyển ấy là ba hàng chữ đề danh hiệu các vị thần được thơ. Phía trái là thờ thần Táo với danh hiệu “Đông Trù Tư Mạng”, giữa là thờ trời với danh hiệu “Hiệp Thiên Đại Đế”, bên phải thờ phúc thần với danh hiệu “Phúc Đức Chánh Thần”, phía dưới thờ gia tiên nhiều đời, hai bên nơi thờ chính là hai câu đối:

Canh độc lưỡng đồ, độc khả vinh thân, canh khả phú

Cần kiệm nhị, cần năng sáng nghiệp, kiệm năng doanh.

Tạm dịch:

Cày ruộng và đọc sách là hai con đường: đọc sách có thể hiển vinh. Còn cày ruộng chắc là giàu có.

Hai chữ cần và kiệm thì vần (siêng năng) ta có thể dựng nên sự nghiệp, còn tiết kiệm cũng có thể đủ đầy.

Ở hai bên phải và trái, có hai bức thờ cẩn xà cừ rất công phu và độc đáo. Bức bên phải đề hai chữ “Hạc Toán” (sống lâu như tuổi Hạc), bức bên đề “Qui linh” (tuổi thọ như Rùa thiêng). Bốn chữ ấy đều cẩn ốc xà cừ màu ngũ sắc óng ánh tuyệt đẹp với lối viết cách điệu, mỗi nét chữ là hình ảnh của chim muông hoa lá tạo thành. Hai bên mỗi bức thờ là đôi câu đối viết kiễu chữ “Chân lư” (một loại chữ mà cho đến nay chưa đọc được), cẩn ốc xà cừ nét chữ khó đọc thể hiện sự huyền bí pha lẫn sự khéo léo của các nghệ nhân tài hoa xưa.

Hai bên thờ chính, có cặp đối:

Hoa đường thụy ái hoàng khai phú hậu chi cơ

Đại địa linh chung triệu khải văn minh chi vận.

Tạm dịch:

Rực rỡ mây lành rộng mở nền phú hậu

Địa linh hun đúc gầy dựng vận văn minh

(ước mơ vừa giàu vừa có văn hóa).

Ở hai bên gian thờ giữa là hai buồng (phòng) ngủ của chủ nhà (buồng ông và buồng bà) bài trí 2 bộ ván nằm ngủ (dạng nguyên khối gỗ). Trên hai cửa buồng có hai bức hoành đề: Ngự dược, Diên phi (cá nhảy, diều bay: Có ý mong thi đậu hoặc thăng quan lên chức). Nơi đây còn có các bao lam đều trang trí đẹp, công phu. Đối xứng hai bên hông buồng ngủ là hai tủ đứng cẩn xà cừ màu sắc sặc sỡ, tủ dùng bài trí các vật dụng trong nhà.

Nét độc đáo của ngôi nhà là lớp cửa thứ hai, tất cả đều chạm nổi, khắc chìm, khắc lộng… thể hiện toàn bộ trên các khung cửa, cách cửa: khung cửa chính dựng theo lối Tam quan, ở đây là một bức tranh khá hoành tráng với cảnh có hình bán nguyệt được trổ lộng, thể hiện cảnh lầu son gác tía ở cung đình. Bề mặt của khung cửa chạm trổ Tứ thời, bên trên là đề tài, bên dưới đề câu đối, tạo nếp hài hòa sinh động qua cảm giác khoảng thời gian của mỗi mùa.

Phần thể hiện các đề tài trên cửa được chia ra các ô vuông. Ô chữ nhật thể hiện Tứ Linh: Long với sóng nước vân mây, Lân với cuộc giấy, Qui với chân đèn, Hạt với cây Tùng. Các hoa văn tứ hữu “Mai – Lan – Cúc – Trúc” với những đường diềm chi tiết khéo léo được phân bố hợp lý nét chạm – khắc tinh tế.

Các tấm lá gió đường diềm ở giữa cột được gia công, chạm lộng, hình chữ Thọ, các chắn song song đều nhau, ngăn cách một cách chuẩn mực. Ở đây công trình chạm lộng từ bẩy, kẻ ngòi, xà nách, bao lam, khám thờ… song cũng có nhiều chủ đề khác nhau nhưng vẫn tập trung của 2 đề án trang trí chính: Đồ án trang trí theo các đề tài tôn giáo phong kiến như: Tứ linh, Đồ án trang trí dân gian lấy thảo mộc, hoa quả làm chủ đề chính như: Bát bảo, Bát quả, Tứ hữu, Tứ thời… Mỗi chủ đề là sự thể hiện một mãn tâm hồn, một phần đời sống, một cảnh thiên nhiên với nhiều ý nghĩa khác nhau.

Bộ phận văn hóa chữ Hán được thể hiện ở những tấm hoành phi, cặp liễn, trên bức thờ, thủ quyển, tấm hoành, câu đối. Những bài thơ, văn ở đây đều được thể hiện ngắn gọn, súc tích. Có câu mang tính ước lệ, khuôn sáo nhưng nội dung vẫn giàu tính nhân văn, chẳng hạn để diễn tả nét đẹp của mặt tiền ngôi nhà đã có câu: Định tiền sinh thụy thảo

Liêm ngoại xuất kỳ hoa

Tạm dịch:

Trước sâu sinh cỏ lành

Ngoài rèm mọc hoa quý.

Ở nơi hàng cột nhì trong ngôi nhà trên bốn cột có treo bốn bức tranh “Tứ bình” (thật đáng tiếc nay chỉ còn lại 3 bức tranh) khảm ốc rất đẹp, đẹp đến từng đường nét cẩn ốc rất tinh xảo nhuyễn – nhỏ và uyển chuyển sinh động.

Bức thứ nhất vẽ chủ đề “Mai – Nhạn” với hai câu thơ:

Nguyệt Minh thời hữu Nhạn lai quy

Lan bất tri mai nguyên Nhạn ước.

Tạm dịch:

Vào đêm trăng sáng nhạn trở về,

Lan nào hay biết nhạn với mai đà ước hẹn).

Bức thứ hai vẽ chủ đề “Trúc – Phượng” với hai câu thơ:

Tập lai nghi phượng tảo tầm qui

Cúc tảo tri tha thường trúc thực.

Tạm dịch:

Đàn phượng tìm về vừa đúng lúc

Nhưng cúc cũng đã sớm ưa tìm ăn trái trúc!

Bức thứ ba vẽ chủ đề “Cúc – Yến” với bốn câu thơ:

Chất bạn cúc li kiên vãn tiết

Hương tùy chu thất tán thu phong

Phong nguyên chấn lập li tao lí

Yến kết di phục cư bội trung.

Tạm dịch:

Cúc luôn giữ khí tiết

Hương vào nhà thơm theo gió thu

Thẳng tới chốn phòng văn

Hay dầu én đã đến nơi đây làm tổ.

Nơi lạc khoảng một trong ba bức tranh này đề: Quý Tỵ Niên Khiến Tạo (1833). Như vậy, phần trang trí nội thất không phải tiến hành cùng một lúc với công trình xây cất ngôi nhà.

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

    minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

    minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

Một di tích kiến trúc cổ được đặt trên một nền văn hóa nghệ thuật chạm trổ – điêu khắc gỗ thể hiện hài hòa và điêu luyện, được tồn tại và bảo lưu quý giá về chất liệu sử dụng cả về nghệ thuật trang trí làm cho người xem khó có thể phân biệt tách rời giữa ranh giới đâu là chạm và đâu là khắc các đường nét sắc bén tinh vi, tỉ mỉ đến từng đường nét uốn lượn từ lớn đến nét nhỏ nhất, từ độ sâu đến nét cạn… tất cả đều thể hiện một nét riêng độc đáo của loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống Việt Nam.

Cái đẹp của công trình kiến trúc ngôi nhà là người chủ đã xác định được địa thế, địa hình: đồi, dòng sông, nắng trời, trăng và phong cảnh xung quanh hòa hợp. Đó là đặc điểm truyền thống trong kiến trúc cổ của dân tộc Việt Nam, kiến trúc ngôi nhà với sự hài hòa với địa hình, phong cảnh và thiên nhiên vùng nhiệt đới.

Giá trị kết cấu kiến trúc của ngôi nhà cổ Trần Văn Hổ được thể hiện ở cách bố trí không gian bên trong ngôi nhà. Nghệ thuật trang trí cho thấy ngôi nhà vừa cổ điển, vừa sâu kín và ấm cúng, thanh thoát. Nghệ thuật chạm trổ tinh vi từ các vì kèo, bao lam, khán thờ – uy nghi của tấm Thủ quyển chạm hình Tứ linh hoàng tráng nhũ vàng, các bức hoành phi sơn son thiếp vàng, các bức liễn cẩn xà cừ theo motyp truyền thống như: Tứ linh, Bát bửu, Hồi văn, Chữ thọ… cùng với những đường nét theo kiểu hình học. Những cây trính đều được uốn cong và chạy chỉ, trên thích với kiểu cánh dơi theo kiểu truyền thống từ miền Bắc và miền Trung nước ta. Đặc biệt, là những cái lá dung ở mỗi đuôi kèo được chạm khắc tinh xảo, thể hiện nét tiêu biểu của kiểu nhà cổ Việt Nam, nói lên óc thẩm mỹ đặc sắc của nghệ nhân đất Thủ xưa.

Phần giàu có nhất của ngôi nhà được thể hiện ở vật trang trí từ các bộ bàn ghế, tủ chè, tủ thờ, hoành phi, câu đối, trường kỹ, ván nằm (dạng nguyên khối gỗ) có niên đại cổ xưa và giá trị nghệ thuật, kinh tế cao. Ngoài chất liệu gỗ được sử dụng như sao, gõ, huỳnh đàn, cẩm lai, mật… được chạm trổ với các kiểu nghệ thuật khác nhau: chạm lọng, chạm nổi, khắc, chạm giũa thật tinh xảo, hệ thống các hiện vật trong trang trí nội thất đều nâng lên được giá trị đặc biệt về mỹ thuật lẫn niên đại.

Qua những nét đặc trưng nổi bật về trang trí mỹ thuật của kiến trúc nghệ thuật dân dụng. Ngôi nhà cổ Trần Văn Hổ là sự hội tụ mọi yếu tố văn hóa khác nhau, phù hợp với điều kiện tự nhiên khí hậu thổ nhưỡng, về kinh tế – xã hội thời bấy giờ. Với nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc ngôi nhà tồn tại trên vùng đất trù phú (Phú Cường) đã đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc gỗ ở thế kỷ XIX, mang phong cách đặc trưng của địa phương đất “Thủ” – Bình Dương ngày nay.

Hiện nay, di tích được Ban Quản lý di tích tỉnh quản lý và khai thác phát huy tác dụng giá trị nghệ thuật quý giá ấy. Giá trị của ngôi nhà được bảo tồn và trùng tu, tôn tạo ngày một đẹp hơn. Hàng năm ngôi nhà đón tiếp nhiều du khách trong và ngoài nước tham quan chiêm ngưỡng và nghiên cứu. Tại đây, hàng tháng còn tổ chức lớp học về nhạc cụ dân tộc, đờn ca tài tử Nam bộ… làm cho ngôi nhà trở nên sinh động hơn và ngôi nhà góp phần giúp giới trẻ tìm về với cội nguồn, gần gũi với nghệ thuật truyền thống dân tộc, làm giàu tính nhân văn tâm hồn Việt trong thời hội nhập và phát triển.

Nguồn Hội Khoa Học Lịch Sử Bình Dương  (VĂN THỊ THÙY TRANG)

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Nhà cổ ở Bình Dương

(hình ảnh trang trí không có nội dung minh họa)

Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ. Cấu trúc địa chất cơ bản là vùng bán sơn địa nhưng có nhiều dạng địa hình tự nhiên như đồi gò, đồng bằng, sông ngòi, rừng nguyên sinh… Nơi đây là vùng đất lý tưởng vì sự đa dạng về thổ nhưỡng và môi trường sinh thái: vừa giàu có về rừng cây gỗ quý nổi tiếng một thời, vừa có chất đất thuận lợi để trồng cây công nghiệp và có cả đồng bằng phù sa màu mỡ.

nhaco

Trên vùng đất trù phú được thiên nhiên ưu đãi nên nhìn chung dân cư Bình Dương có đời sống ổn định, nền nếp, phong lưu, văn hóa phát triển. Theo Đại Nam Nhất Thống chí  thời Tự Đức, Bình Dương xưa thuộc trấn Phiên An, giữa hai huyện Bình Dương (Tân Bình) và Phước Long, dân cư trù mật, nhà ngói, phố chợ liền lạc, là xứ phồn hoa đô hội của đất Gia Định, cả nước không đâu sánh bằng. Ngày nay dấu ấn xứ phồn hoa đô hội  ở Bình Dương vẫn còn được lưu giữ qua nhiều ngôi nhà cổ, một loại hình di tích văn hóa độc đáo của vùng đất này.

Làng xã ở Bình Dương thường nằm yên bình, tĩnh lặng giữa thiên nhiên đầy cây xanh của vườn cây trái hay vườn cây cảnh, trên vùng đồi gò đã được khai phá thành vườn tược hay trên những cù lao nằm giữa dòng Đồng Nai. Có lẽ phong cảnh nhà vườn với nếp sống phong lưu thể hiện rõ nhất nơi những căn nhà bề thế, cổ kính trên những cù lao trù phú như cù lao Mỹ Hoà, Mỹ Quới (tên cũ của Bạch Đằng, Tân Uyên) cù lao Rùa, cù lao Thạnh Hội… Cù lao ở đây đã được con người chọn để cư trú từ lâu đời, nơi có nhiều dòng họ giàu có “tam đại đồng đường” trong những ngôi nhà cổ đồ sộ giữa vườn cây trái bạt ngàn, không gian tĩnh mịch và môi trường sinh thái trong lành.

Tại Bình Dương hầu như có đủ các kiểu nhà thường thấy ở Nam Bộ.

Nhà chữ đinh: là loại nhà phổ biến nhất tại Bình Dương. Kiểu nhà này có hai căn, căn nhà trên nằm ngang và căn dưới nằm xuôi, đòn dông của hai căn này thẳng góc với nhau, giống như chữ đinh (丁¡)  trong Hán tự. Đặc điểm của nhà chữ đinh là cửa cái của nhà trên trổ ở chiều dài của ngôi nhà, còn cửa cái của nhà dưới trổ ở chiều rộng (tức ở  đầu hồi nhà), do đó cửa cái hai căn nhà trên và nhà dưới đều mở ra cùng một hướng, có chung mái hiên trước, tạo sự đồng nhất cho toàn bộ ngôi nhà. Kiến trúc nhà chữ đinh thể hiện ý thức về trật tự phong kiến rất rõ. Nhà trên quan trọng vì là nơi thờ cúng tổ tiên nên thường bề thế, cao hơn nhà dưới, đây cũng là nơi sinh hoạt chủ yếu của nam giới. Nhà dưới là nơi ở chung của gia đình, nơi sinh hoạt thường xuyên của phụ nữ. Dù nhà bằng vật liệu bán kiên cố hay kiên cố, phần lớn nhà chữ đinh tại Bình Dương đều thuộc dạng nhà chữ đinh có cầu nối  đặc trưng của miền Trung, tức là nhà có phần trung gian nối vách và mái giữa nhà trên và nhà dưới thành một tổng thể chứ không tách rời nhau.

Để cất được một căn nhà chữ đinh, trước tiên phải có diện tích đất khá rộng, sau nữa chi phí cho vật liệu xây dựng khá cao, vì vậy chỉ những gia đình khá giả trở lên mới có khả năng đáp ứng. Có những ngôi nhà chữ đinh diện tích nhà trên đến 250m2 (ngang 10m dài 25m), được xây dựng bề thế với những cột gỗ lớn, các bộ phận trang trí kiến trúc được chạm khắc tinh xảo. Đi khắp Bình Dương, nhất là những nơi có cư dân lâu đời như thị xã Thủ Dầu Một, huyện Tân Uyên, Dĩ An, Thuận An… đâu đâu cũng có những ngôi nhà chữ đinh cổ xưa với dạng nhà vườn giống nhau. Phổ biến là nhà chữ đinh có kích thước trung bình, mái ngói cổ rêu phong, hiền hòa giữa những vườn cây xanh, tạo cho cảnh quan cư trú một vẻ đẹp yên bình và sung túc.

Nhà chữ Nhị  cũng khá phổ biến tại Bình Dương. Loại nhà này có hai căn: nhà trên ở phía trước và nhà dưới liền ngay phía sau nhà trên, do đó hai cây đòn dông của nhà trên và nhà dưới nằm song song với nhau như chữ nhị (二þ). Bố cục mỗi căn nhà thường là ba gian, tuy nhiên sau này người ta cất nhà dưới dài thêm một gian so với nhà trên để lấy ánh sáng. Nhà dưới là không gian cư trú, còn nhà trên chủ yếu dành làm nơi thờ tự. Nhà chữ nhị cũng thuộc loại nhà có diện tích đất tương đối lớn.

Nhà chữ Đinh và nhà chữ Nhị là những ngôi nhà có tuổi khá xưa, phần lớn được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, chủ nhân thường là người giàu có. Tuy đã trải qua trùng tu nhiều lần nhưng nhờ xây dựng bằng các loại gỗ quý, thợ dựng khéo léo và kỹ lưỡng, con cháu  có sự lưu tâm giữ gìn nên đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn.

Nhà ba gian hoặc ba gian hai chái là loại nhà phổ biến trong dân chúng. Không gian của căn nhà vừa để ở, vừa có chức năng thờ tự và tiếp khách. Nhà ba gian phân bố ở vùng nông thôn và cả thành phố. Để tận dụng diện tích làm nhà ở, theo độ che rộng của mái nhà, người ta xây dựng thêm một hoặc hai chái hai bên nhà ba gian.

– Nhà năm gian hai chái  tại Bình Dương được tầng lớp điền chủ, phú gia, trí thức giàu có ưa chuộng. Kiểu nhà này chiếm diện tích đất rộng, kỹ thuật xây dựng công phu, vật liệu tốn kém vì là sự kết hợp giữa kiểu nhà gỗ truyền thống với phong cách kiến trúc và vật liệu xây dựng của phương Tây, thường được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XX: nền nhà cao có bậc tam cấp, tường xây gạch dày, tô hồ quét vôi. Cột nhà có khi là cột bê-tông nhưng vì kèo gỗ và lợp ngói, có trần nhà.

nhacoa

Nhà cổ ở Bình Dương cũng thể hiện tính chất chung của nhà cổ Nam bộ, đó là có kết cấu nhà cột giữa (nhà rôi) và nhà xuyên trính (nhà rường) theo hệ thống khung chịu lực truyền thống như ở miền Bắc, miền Trung. Về sau có thêm dạng nhà đúc kết cấu bê tông chịu lực theo kiểu phương Tây.

Nhà cột giữa thuộc kết cấu cổ truyền, cột cái (cột giữa) kết gắn trực tiếp vào đòn dông và giao điểm của hai cây kèo, tạo thành một bộ vì nhà giản đơn, thích hợp với loại hình nhà thô sơ, bán kiên cố. Hạn chế của nhà cột giữa là không gian nhà chật hẹp do sự hiện diện của hàng cột giữa.

Nhà xuyên trính  còn gọi là nhà rường phổ biến hơn nhà cột giữa. Bộ khung sườn nhà này không có hàng cột cái ở giữa nên không gian nội thất khá rộng rãi. Một số nhà rường biến thể là nhà bát dần được xây cất rất qui mô. Mái ngói của dạng nhà bát dần kéo sà thấp xuống (giống như chữ Bát…..trong Hán tự). Bên ngoài nhìn vào kiểu “mái xụ” này thấy nhà có vẻ thấp, nhưng bước vào bên trong sẽ thấy hệ thống kèo cột và trần nhà rất cao làm cho nhà thoáng mát vì kiểu mái đó có tác dụng che mưa và ánh nắng chói chang vùng nhiệt đới, đồng thời hạn chế được tầm nhìn từ bên ngoài. Nhà ông Trần Công Vàng ở thị xã Thủ Dầu Một là một ngôi nhà rường theo kiểu chữ đinh, gồm 5 gian 2 chái, dài 24m, ngang 22m với 6 hàng 24 cây cột, đầu kèo chạm trổ tinh xảo. Cột nhà xưa thường bằng các danh mộc như sao, cẩm lai, gỗ mun.

Bình Dương hiện còn nhiều ngôi nhà cổ có giá trị về kiến trúc và nghệ thuật, niên đại trên dưới 100 năm, chủ yếu tập trung ở thị xã Thủ Dầu Một và huyện Tân Uyên, như nhà ông Trần Văn Tề (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Trần Văn Hổ (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Trần Công Vàng (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Nguyễn Văn Đằng (xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên), nhà ông Đỗ Cao Thứa (xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên), nhà ông Nguyễn Tri Quang (xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một)… Trong số đó có hai ngôi nhà được công nhận Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia vào năm 1993, đó là nhà ông Trần Văn Hổ và nhà ông Trần Công Vàng.

Hầu hết nhà cổ ở Bình Dương có giá trị về mỹ thuật kiến trúc và trang trí là nhà chữ đinh. Riêng nhà của một số gia đình giàu có nổi tiếng ở thị xã Thủ Dầu Một, ở huyện Tân Uyên thì có qui mô khá lớn và hình thức đa dạng chứ không chỉ là kiểu nhà chữ đinh truyền thống. Nhà ông Trần Văn Hổ thuộc kiểu nhà 5 gian 2 chái rất rộng lớn, hoàn toàn bằng gỗ chạm trổ kỹ lưỡng từ cột, kèo đến vách. Kiểu nhà này xưa vốn là đặc quyền của tầng lớp quan lại cao cấp thời Nguyễn, thường dân không được phép xây dựng. Nhà ông Nguyễn Văn Đằng theo kiểu nhà chữ công £¨工¤£©  có hai gian lớn gọi là Đông lang – Tây lang; hay kiểu nhà chữ khẩu £¨口£© (gồm 4 căn với hướng đòn dông tạo thành hình vuông) của ông Nguyễn Tri Quang. Hầu hết những căn nhà cổ vừa nêu trên đều khẳng định chức năng thờ cúng ông bà tổ tiên và thể hiện niềm tự hào về gia tộc trên các bức đại tự như Trung Nghĩa Đường, Trần Miêu Duệ, Nguyễn Phủ Đường… tại gian thờ chính trong nhà.

Việc xây dựng nhà ngày xưa rất công phu. Gia tộc ông Đỗ Cao Thứa cho biết nhà xây 3 năm mới hoàn thành, do những người “thợ Bắc” thi công. Vì địa thế vùng Tân Uyên thấp nên nhà phải đắp nền cao rất công phu. Đất phải lấy từ ấp Bình Hóa (xã Uyên Hưng) vận chuyển bằng xe bò đến bờ sông, sau đó chở đất bằng ghe qua sông rồi mướn người gánh về đổ đắp nền nhà. Nền cao hơn mặt đất 0,8m, xung quanh nền nhà được bọc móng rất kiên cố bằng những tảng đá ong vốn có nhiều ở miền Đông Nam Bộ.

nhacoab

Nhà cổ tại Bình Dương là dấu ấn thời kỳ phong kiến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Hầu hết nhà cửa thời kỳ này còn tồn tại cho tới nay đều nhờ kỹ thuật xây dựng kiên cố với các loại danh mộc quý, chắc như lim, căm xe, cà chất… Khung sườn các nhà xưa hầu hết sử dụng kỹ thuật lắp ghép tự nhiên (lắp mộng) chưa dùng đinh sắt. Các bức vách gỗ phía trước nhà hoặc vách ngăn giữa gian thờ tự với gian nhà trong, những cây kèo, hoành phi, câu đối, bao lam, bàn thờ, trang thờ, bình phong… đều được chạm trổ tinh xảo theo phong cách chạm lộng, chạm thủng, chạm chìm khéo léo. Ngôi nhà vừa là công trình kiến trúc tài hoa, vừa chứa đựng những tác phẩm điêu khắc phản ánh các giai đoạn của nền mỹ thuật Nam Bộ: giai đoạn sớm là chạm trổ trên gỗ mộc, toàn bộ chỉ để gỗ tự nhiên, giai đoạn muộn hơn là dùng sơn ta để sơn son thếp vàng hoặc cẩn ốc, khảm trai, sơn mài…

Thời kỳ đầu nhà cổ tại Bình Dương được thi công xây dựng và trang trí chạm trổ bởi các nhóm thợ mộc nổi tiếng khéo tay từ miền Trung vào như thợ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên, Bình Định (thường gọi chung là “thợ Huế”). Bên cạnh đó còn có thợ mộc của “trường phái thợ Thủ” (Thủ Dầu Một) với tay nghề giỏi nức tiếng đã dần đảm trách vai trò chính yếu trong xây cất nhà và trang trí nội thất. “Thợ Thủ” không chỉ  hành nghề ở Bình Dương mà còn ở nhiều nơi khác. Người ta rước “thợ Thủ” về xây nhà và nuôi nhóm thợ trong nhà hàng năm để họ chạm khắc trang trí cho ngôi nhà. Những thế hệ nghệ nhân “thợ Thủ” đã trải nghiệm tài nghệ của mình và lưu danh về kỹ thuật xây cất và nghệ thuật trang trí nội thất những ngôi nhà trên khắp Nam Bộ. Trong “Nam kỳ nhân vật phong tục diễn ca” Nguyễn Liên Phong đã nêu:

…“Nhà khéo cất tốn bạc muôn

Tiếng đồn thợ Thủ ráp khuôn kỹ càng”

Những nghệ nhân nghề mộc khéo léo, tài giỏi của Bình Dương xưa đã để lại những tác phẩm nghệ thuật của mình trên các kèo đùi ếch, trên “lá dung” đầu kèo, bao lam, hoành phi, câu đối, bàn ghế, tủ thờ… được chạm, cẩn tinh xảo, làm nổi bật sắc gỗ mộc thanh cảnh, vàng óng, đỏ tươi và sắc mun ánh ngời bóng loáng của sơn ta, của xà cừ… Đặc biệt toàn bộ vách trước những căn nhà truyền thống ở Bình Dương thường được “thợ Thủ” chạm trổ tỉ mỉ tài hoa, tạo nên vẻ đẹp sinh động nhưng tôn nghiêm cho căn nhà. Từng khung vuông, khung chữ nhật của bức vách trước được chạm khắc nhiều đồ án hoa văn các môtíp điển hình như tứ linh, tứ quý, quả lựu, hoa mẫu đơn… Vách trước cũng thường chạm đôi “mắt cửa” hay biểu tượng của âm dương, nhật nguyệt và khung viền cửa trước (bao lam) thường chạm trổ kiểu đòn võng khéo léo.

Nhà xưa ở Bình Dương hầu hết lợp ngói âm dương, nền nhà lót gạch tàu đỏ. Trong nhà theo mô thức trang trí nội thất thống nhất, gồm bộ trường kỷ gỗ đen ở gian giữa phía trước bàn thờ, hai gian nhà hai bên bày hai bộ ván ngựa. Ở một góc nhà có tủ kiếng để chưng bày các cổ vật kỉ niệm. Bàn thờ, nhất là các câu đối trên cột hoặc các bài minh bằng Hán tự đặt trên bàn thờ tổ tiên đều được cẩn ốc hoặc sơn son thếp vàng. Nội dung các câu đối, bài minh hầu hết đều đề cao lòng hiếu đễ với ông bà tổ tiên, nề nếp gia phong, việc kính trọng và phụng dưỡng cha me. Ngoài dấu ấn đặc trưng của tâm thức Nho giáo đương thời thể hiện như yếu tố chủ đạo trong nội dung các câu đối, bài minh… chủ đề trang trí trong những ngôi nhà xưa tại Bình Dương còn thấy một nội dung khác của văn hoá Nho giáo, đó là những bài thơ cổ tả phong cảnh hay là điển tích xưa. Ngoài đồ trang trí nội thất chủ yếu bằng gỗ như tủ thờ, bàn thờ, trường kỷ, bộ ván, mấy bộ bàn ghế… trong nhà còn có nhiều đồ gốm Biên Hòa, gốm Lái Thiêu như đôn tròn, lục giác, đôn voi, chậu kiểng, độc bình. Nhiều ngôi nhà cổ còn có vài vật dụng Tây phương như đèn Măng sông, quạt trần, máy hát đĩa…

Về Bình Dương đắm mình trong không gian tĩnh lặng của những ngôi nhà cổ giữa khu vườn êm ả, tiếng ồn, khói bụi đường xa dường như không len lỏi vào đến nơi đây, cuộc sống xô bồ gấp gáp chốn thị thành dường như không hiện diện ở nơi đây… Chợt thấy mình như được quay về với những ngày xưa yêu dấu…

Tham khảo: Tài liệu của Ban quản lý di tích tỉnh Bình Dương – TS Nguyễn thị Hậu

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Nhà cổ dân gian tại Bà Rịa, Vũng Tàu

Trên vùng đất Bà Rịa -Vũng Tàu ngày nay, vẫn còn tồn tại hàng trăm ngôi nhà cổ xưa . Mỗi một ngôi nhà không chỉ là một tác phẩm kiến trúc có giá trị mang đậm nét tài hoa của những nghệ nhân hàng mấy trăm năm trước mà còn  ẩn chứa sâu sắc những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể .

nhacobaria

Bà Rịa Vũng Tàu vốn nổi tiếng là một vùng đất trù phú, xuất hiện khá sớm trong lịch sử khai phá của người Việt.Từ thế kỷ XVII lớp cư dân đầu tiên ngoài vùng Ngũ Quảng đã tiến vào Nam lập nghiệp. Họ dừng chân nơi đây và cùng nhau khai khẩn đất hoang, khơi thông nguồn lạch, lập ấp dựng làng. Trên vùng đất trù phú được thiên nhiên ưu đãi, nên dân cư Bà Rịa Vũng Tàu xưa có đời sống ổn định, nề nếp, phong lưu, văn hóa phát triển. Ngày nay, dấu ấn về một cuộc sống phong lưu nhưng nề nếp ấy vẫn còn được lưu giữ trong nhiều ngôi nhà cổ kính với nét rêu phong phủ mờ bởi thời gian. Trải qua hàng thế kỷ,  dãi dầu cùng mưa nắng của xứ nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt, nhưng những ngôi nhà cổ xưa vẫn giữ được nét đẹp bình dị . Mỗi ngôi nhà đều ghi dấu những kỷ niệm, những câu chuyện dài của cha ông trong hành trình đi mở cõi vùng đất phương Nam.

Thống kê chưa đầy đủ cho thấy, trên địa bàn Bà Rịa – Vũng Tàu hiện còn 177 kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống, có niên đại xây dựng cách nay gần 70 năm đến trên 100 năm, tập trung chủ yếu ở các huyện Long Điền, Đất Đỏ, thị xã Bà Rịa. Trong số đó có 46 nhà có niên đại xây dựng trước năm 1900. Qua bao biến cố lịch sử, biến cố cuộc đời nhưng nhiều ngôi nhà vẫn được các thế hệ con cháu nối tiếp nhau gìn giữ nguyên vẹn. Nhà ở dân gian truyền thống trên địa bàn tỉnh có nguồn gốc từ loại nhà cột giữa và nhà rường của các tỉnh miền Trung.  Chúng được xây cất từ những kíp thợ từ xứ Ngũ Quảng, miền Trung vào Bà Rịa lập nghiệp, từ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18,  chứ không phải từ kinh nghiệm truyền thừa của những chủ nhân ở vùng đất Mô Xoài vốn sớm có mặt khoảng đầu thể kỷ XV. Vì thế, nhà cổ xưa ở  BRVT đđược  nhìn nhận như một phần quan trọng của kho tàng văn hóa kiến trúc quý giá của cư dân vùng đất Bà Rịa Vũng Tàu tạo dựng được trong quá trình mưu sinh và khai khẩn vùng đất phương Nam.

nhacobaria01

Theo kiến trúc sư Mai Quý – giám đốc trung tâm  kiến trúc sư miền Nam: Nhà cổ xưa ở Bà Rịa Vũng Tàu rất phong phú về kiểu dáng kiến trúc gồm kiểu chữ Nhất, chữ Nhị, chữ Tam, chữ Đinh, chữ Công…Hầu hết đều lợp ngói âm dương, ngói vẩy cá hay ngói mốc, nền nhà lót gạch tàu đỏ. Nhà có ba gian trên làm nơi thờ tự và tiếp khách, ba gian dưới dùng cho người nhà sinh họat, nghỉ ngơi và chứa lương thực dự trữ. Bề thế và sự am tường của gia chủ được thể hiện rõ trong cách bày trí trong ba gian thờ tự . Gian giữa đặt bàn thờ Phật, hai gian bên thờ tổ tiên, ông bà. Những gia đình giàu có thường mời những nhóm thợ mộc nổi tiếng về đặt làm khám thờ bằng gỗ quý, chạm trổ tinh xảo với các mô típ truyền thống như : lưỡng long chầu nguyệt, hổ phù, tùng, trúc, cúc, mai…sau đó sơn son thếp vàng . Các tủ thờ thường được cẩn xà cừ công phu, trên bàn thờ bài trí hai bên đặt bộ chân đèn bằng đồng, giữa là chiếc đỉnh dùng để đốt trầm, bát nhan sứ trắng men lam hoặc men đồng. Phía trước tủ thờ còn đặt thêm sập thờ, nơi bày trái cây, món ăn trong ngày tết, giỗ chạp.Phía ngoài cùng đặt thêm bộ bàn ghế dùng tiếp khách . Tại xà ngang của gian giữa còn treo thêm vài bức đại tự bằng chữ Hán cũng được sơn son thếp vàng. Hai bên cột cái và cột quân treo hai cặp câu đối .Nội dung đề cao lòng hiếu đễ với ông bà tổ tiên, nề nếp gia phong, việc kính trọng và phụng dưỡng cha me. Cách bài trí này không chỉ nói lên sự quyền quý của chủ nhân tại thời điểm tạo dựng mà chủ nhân của những ngôi nhà cổ này hẳn có ý muốn để lại dấu ấn của mình cho con cháu sau này

Hai bên gian còn lại là nơi đặt hai bộ ván ngựa bằng gỗ, để cho đàn ông và khách nghỉ ngơi. Bộ ván ngựa thường được làm bằng gỗ tốt, dày 20 cm, kiểu chân quỳ. Nhiều bộ ván dùng lâu trở nên đen bóng rất đẹp. Ba gian nhà dành cho sinh họat đặt vài bộ ván ngựa, bàn ghế đơn sơ làm nơi sinh họat,ăn uống, nghỉ ngơi, khâu vá. Phía trước nhà là khỏang không thư giãn, được bố trí một hòn non bộ, trồng vài chậu mai vàng, mai chiếu thủy, thiên tuế hoặc nguyệt quế… tỏa hương thơm ngát bốn mùa.

Nhà chữ Đinh là một trong những kiểu nhà cổ phổ biến nhất tại Bà Rịa Vũng Tàu, thường có có kích thước trung bình, mái ngói cổ rêu phong, hiền hòa giữa những vườn cây xanh, tạo cho cảnh quan cư trú một vẻ đẹp yên bình và sung túc.

Kiểu nhà này có hai căn, căn nhà trên nằm ngang và căn dưới nằm xuôi, đòn dông của hai căn này thẳng góc với nhau, giống như chữ Đinh   trong Hán tự. Điển hình nhất là nhà của ông Lê Văn Còn, ở khu phố Phước Trung- thị trấn Đất Đỏ. Trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, bao biến cố của lịch sử những thành viên trong gia đình không còn nhớ chính xác ngôi nhà đượcxây dựng từ năm nào, chỉ phỏng đoán được xây dựng từ những năm cuối thể kỷ 19 đầu thể kỷ 20.

Cửa cái của nhà trên trổ ở chiều dài của ngôi nhà, còn cửa cái của nhà dưới trổ ở chiều rộng, do đó cửa cái hai căn nhà trên và nhà dưới đều mở ra cùng một hướng, có chung mái hiên trước, tạo sự đồng nhất cho toàn bộ ngôi nhà. Kiến trúc nhà chữ Đinh thể hiện ý thức về trật tự phong kiến rất rõ. Nhà trên quan trọng vì là nơi thờ cúng tổ tiên nên thường bề thế, cao hơn nhà dưới. Và đây cũng là nơi sinh hoạt chủ yếu của nam giới trong gia đình.Nhà dưới là nơi ở chung của gia đình, nơi sinh hoạt thường xuyên của phụ nữ.

nhacobaria02

Nói đến nhà cổ ở Bà Rịa Vũng Tàu, không thể không nhắc đến nhà của ông Nguyễn Văn Hồng , ở khu phố Thanh Long _ thị Trấn Đất Đỏ. Ngôi nhà này đã từng được mượn làm bối cảnh cho nhiều bộ phim Việt Nam. Tổng thể căn nhà theo hình chữ Nhất với lối kiến trúc thuần Việt cổ. Mặt tiền nhà về hướng Nam – theo thuật phong thủy – “Lấy vợ hiền hòa, xây nhà hướng Nam”. Hệ thống cột kèo toàn bằng danh mộc quý hiếm. Trên các đầu kèo, đầu đòn,  kể cả những chi tiết nhỏ trong các ngóc ngách đều chạm khắc kỳ công theo kiểu tứ linh,  mai – điểu, liễu – phụng .  Hai bên cột cái và cột quân treo hai cặp câu đối. Nội thất trong nhà được trang trí theo mô thức thống nhất, gồm bộ trường kỷ gỗ đen ở gian giữa phía trước bàn thờ, hai gian nhà hai bên bày hai bộ ván ngựa.  Phía trước hiên nhà bố trí hòn non bộ và vài chậu cây cảnh tạo nên không gian tươi xanh. Anh Hồng cho biết : căn nhà này được ông sơ của anh- vốn là Đại hương cổ cả đình làng, một người có học thức và có uy tín trong làng, xây cất từ năm 1922. Để tạo dựng được căn nhà này, ông sơ của anh phải mời cánh thợ khéo tay nhất của miền Trung vào nuôi ăn, nuôi ở để làm nhà  suốt hơn một năm ròng.

Nhà chữ Đinh và nhà chữ Nhất là những ngôi nhà có tuổi khá xưa, phần lớn được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, chủ nhân thường là người giàu có. Tuy đã trải qua trùng tu nhiều lần nhưng nhờ xây dựng bằng các loại gỗ quý, thợ dựng khéo léo và kỹ lưỡng, con cháu  có sự lưu tâm giữ gìn nên đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn.

Nhà cổ tại Bà Rịa Vũng Tàu không phải chỉ được thi công xây dựng và trang trí chạm trổ bởi các nhóm thợ mộc nổi tiếng khéo tay từ miền Trung vào như thợ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên, Bình Định mà còn có một số căn được  nhóm mộc của “trường phái thợ Thủ” (ở Thủ Dầu Một – Bình Dương) với tay nghề giỏi nức tiếng  đảm trách vai trò chính yếu trong xây cất nhà và trang trí nội thất. Điển hình như căn nhà anh Phạm Văn Võ, ở ấp An Trung- Xã An Nhất- Long Điền . Năm Nhâm Tý 1902, ông nội của anh đã  khởi công xây cất và rước nhóm “thợ Thủ” về xây nhà và nuôi nhóm thợ trong nhà để họ chạm khắc trang trí cho ngôi nhà. Không thua gì thợ mộc xứ Ngũ Quãng, những nghệ nhân “thợ Thủ” khéo léo tài hoa đã chạm khắc, chạm trổ kỳ công trên những thân cột, rường, kèo, mái nhà những hình long lân quy phụng, song long chầu nguyệt hay những câu chuyện về nhân -lễ- nghĩa- trí -tín …mang những ý tưởng về một cuộc sống thanh bình, nhàn hạ, đậm đà tình quê hương, nghĩa đồng bào.

Nhà cổ ở Bà Rịa Vũng Tàu gắn liền với giai đọan lịch sử quan trọng, nơi dừng chân đầu tiên của cha ông ta đến khai phá mảnh đất này. Nó còn là nhân chứng trong suốt quá trình con người  đấu tranh với những biến cố thiên nhiên và lịch sử để tồn tại . Người Việt xưa vốn coi ngôi nhà là tổ ấm tâm linh nên nhà cổ cũng mang đậm nét văn hóa đặc thù của nhiều thế hệ, gắn liền với truyền thống uống nước nhớ nguồn, tôn ti trật tự, mối quan hệ gắn bó trong gia đình, họ hàng, dòng tộc. Tuy nhiên, hiện nay nhiều ngôi nhà cổ đang có nguy cơ biến mất . Nhiều gia đình do kinh tế khó khăn, thiếu thốn chưa có điều kiện để trùng tu, nên xuống cấp trầm trọng hoặc chủ nhà sửa chữa theo ý muốn của họ, nên đã làm biến dạng. Vì vậy “cái cổ” trong một ngôi nhà cổ đã mất đi sự đồng bộ.

Ông Phạm Chí Thân- giám đốc bảo tàng tổng hợp tỉnh cho biết: Nhà cổ là nét duyên xưa,nét đẹp văn hóa mà người xưa để lại cho bao đời sau – thông qua việc tạo nên những ngôi nhà cổ vô giá.Giữ gìn, bảo tồn và phục dựng đúng cách những ngôi nhà cổ cũng là một nét đẹp – một sự kế thừa truyền thống văn hóa của cha ông để lại.

theo BRT

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Những kiến trúc, công trình xưa nhất Sài Gòn

Continental – khách sạn cổ nhất Sài Gòn

alt
Khách Sạn Continental đầu thế kỷ

Là một trong năm di tích lịch sử của Sài Gòn, khách sạn (KS) Continental tọa lạc ở góc ngã tư Công trường Quốc tế – Đồng Khởi.  KS được xây dựng vào năm 1880, do KTS người Pháp thiết kế, và mang tên Continental ngay từ những ngày đầu. Sau 1975, có lúc KS đổi tên thành Hải Âu. 1989, sau khi chỉnh trang, nâng cấp, KS đã lấy lại tên cũ. Continental có diện tích tổng thể 3.430m2, cao 3 tầng. Tuy số phòng không nhiều, nhưng diện tích mỗi phòng ở đây cũng thuộc vào loại kỷ lục, có phòng rộng tới 80m2 và cao tới 4m! Continental từng đón tiếp Tổng thống Pháp J. Chirac, Thống đốc bang California, người mẫu Kate Mode và nhà văn Mỹ nổi tiếng Gramham Green. Tác phẩm “Quiet American” (Người Mỹ thầm lặng) đã ra đời tại phòng 214 của khách sạn Continental.

Thảo Cầm Viên, công viên lâu đời nhất TP

alt
Thảo Cầm Viên Sài Gòn

Đến tháng 3.2005, Thảo Cầm Viên (TCV) được 141 năm tuổi! Khởi công xây dựng vào tháng 3.1864, ban đầu TCV là một công viên rộng 12 ha, do Nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp J.B.Louis Pierre sáng lập và làm Giám đốc đầu tiên. Năm 1865, TCV được mở rộng thêm 8 ha nữa, và là vườn ươm nhiều giống cây du nhập có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, ca cao, măng cụt, vú sữa, sầu riêng, xà cừ, dầu rái… đồng thời người Pháp cũng phát triển ở đây một số chuồng nuôi thú hoang dã, vì vậy công viên này còn được gọi là Sở Thú. 1924, TCV được mở rộng thêm 13 ha. 1956, chính quyền Sài Gòn cho tu sửa, tái thiết lại và năm 1966 lấy tên gọi chính thức là Thảo Cầm Viên. Từ năm 1989, TCV lại được cải tạo, mở rộng và du nhập thêm nhiều giống mới, trồng thêm một số loài cây quý. Tổng diện tích chuồng trại của TCV lên đến 21.352m2, có 1.823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại hoa cây kiểng quý. Năm 1990, TCV là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. TCV cũng là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông Dương.

Nhà máy điện xưa nhất Sài Gòn

alt
Nhà máy đèn Chợ Quán

Chợ Quán là nhà máy điện đầu tiên được xây dựng ở Sài Gòn vào năm 1896, tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5. Khởi đầu, nhà máy cung cấp điện công cộng bằng dòng điện ba pha, với công suất chưa tới 120 MW. Máy phát điện chạy bằng hơi nước, có năm lò hơi với 150m2 chứa nước luân lưu. Một máy phát chính công suất 1000 ampères/giờ chuyển động bằng vòng quay để phân phối điện bảo vệ an toàn và kiểm soát dòng điện. Hiện nay nhà máy đã được trang bị hiện đại, cung ứng điện cho lưới điện TP và lưới điện quốc gia.

Ngôi đình lâu đời nhất TP Sài Gòn

alt
Đình Thần Chí Hòa

Đó là đình Thần Chí Hòa tại 475 đường Cách Mạng Tháng 8, phường 13, quận 10. Đây là ngôi đình dù chưa xác định được chính xác năm xây dựng, nhưng các nhà nghiên cứu đều khẳng định đình vào khoảng 300 năm tuổi. Ngôi đình cổ kính và lâu đời này từng được Vua Tự Đức ban sắc phong ngày 29.11 năm Nhâm Tý (1852).

Nơi đây, Cụ Võ Trường Toản đã từng dạy học, ông đã đào tạo ra nhiều nhân tài cho đất nước, đến nay di bút của ông còn in sâu trên cặp liễn treo trước chính điện đình. Phan Xích Long cũng từng mượn võ ca của đình để làm nơi dạy võ chống thực dân. Ngày 16.2.1997 (Âm lịch) đình Thần Chí Hòa được Nhà nước CHXHCN Việt Nam công nhận là di tích lịch sử Quốc gia.

alt
Cúng thần ở Đình Thần Chí Minh

Khi mới ra đời đình Chí Hòa được làm bằng đá và trước khi được vua Tự Đức ban sắc phong mới được xây dựng lại như ngày nay. Tại Sài Gòn, đình Thần Chí Hòa được xếp hạng nhất trong tất cả các đình hiện có và cũng đứng đầu danh sách 10 đình Chùa cổ và lâu đời nhất của thành phố.

Lê Quý Đôn: Ngôi trường cổ nhất

alt
Trường Lê Quý Đôn ngày nay

Trường Lê Quý Đôn được xây dựng vào năm 1874, hoàn tất vào năm 1877. Ban đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học Bản xứ) rồi đổi tên thành Collège Chasseloup Laubat. Sau 1954, trường mang tên là Jean Jacques Rousseau và vẫn do người Pháp quản lý. Đến 1967, trường mới được giao lại cho chính quyền Sài Gòn. Từ 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, trường mang tên Trung học Lê Quý Đôn. Trải qua hơn một thế kỷ, kiến trúc ban đầu vẫn được giữ như xưa, gồm bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại có hình chữ “khẩu”. Khuôn viên nguyên thủy của trường gồm cả diện tích của hai trường PTCS Lê Quý Đôn và PTTH Lê Quý Đôn, có hai cổng chính: một quay ra đường Nguyễn Thị Minh Khai (Hồng T6ạp Tự cũ) và một hướng về Võ Văn Tần (Trần Quý Cáp cũ). Rất nhiều cựu học sinh của trường đã trở thành những nhân vật nổi tiếng như nhà trí thức Cao Triều Phát, nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, giáo sư Trần Văn Giàu, nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển…

Nhà Bảo tàng lâu năm nhất TP

alt
Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam

Là Nhà Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nằm trong khuôn viên Thảo Cầm Viên ngày nay. Ngày 24.11.1927, người Pháp cho xây dựng Viện Bảo tàng Blanchard De La Brosse trong khuôn viên Sở Thú theo thiết kế của kiến trúc sư Delaval, với kiểu kiến trúc độc đáo hơi giống tháp cung điện mùa hè Bắc Kinh. Đến năm 1956, chính quyền Sài Gòn đổi tên thành Viện Bảo tàng quốc gia Sài Gòn, trưng bày mỹ thuật của Việt Nam, Chàm, Khmer, Trung Quốc, Nhật Bản và các sắc tộc thiểu số. Năm 1970, bảo tàng được xây dựng mở rộng thêm phần phía sau một dãy nhà hình chữ U do Kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế. Năm 1979, Viện bảo tàng lại được đổi tên thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và tồn tại đến ngày nay, với 15 phòng trưng bày nhiều hiện vật cổ, phản ánh nền văn hóa của đại gia đình dân tộc VN suốt 4.000 năm dựng nước và giữ nước. Ngoài ra, còn có 6 phòng trưng bày chuyên đề giới thiệu các giai đoạn lịch sử văn hóa ở miền Nam.

Cây cầu lâu năm nhất TP Sài Gòn

Có người cho rằng chiếc cầu lâu năm nhất tại Sài Gòn là cầu Móng (nối quận 1 với quận 4). Nhưng cây cầu này lại không có hồ sơ lưu trữ, nên khó xác định độ tuổi chính xác. Hiện tại TP có nhiều người nhất trí cho rằng có một cây cầu lâu năm nhất hiện còn tồn tại, đó là Cầu Sơn. Cầu Sơn được xây dựng từ cuối thế kỷ 18 dưới thời nhà Nguyễn. Trước đây vùng này chuyên sống bằng nghề trồng cây sơn lấy nhựa cung cấp cho nhu cầu của nhà nước phong kiến đương thời, nên cầu khi được xây dựng cũng mang luôn tên cầu Sơn. Cầu Sơn dài 19m, rộng 11m và mỗi bên lề rộng 0,5m. Hiện cầu Sơn thuộc ranh giới hai phường 25 và 26 quận Bình Thạnh nằm trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh.

An Bình – Bệnh viện cổ nhất

alt

Bệnh viện miễn phí An Bình tọa lạc trên một khu đất rộng 17.361m2 ở đường An Bình, quận 5. Ban đầu, đây là một ngôi chùa của người Hoa, được xây cất từ năm 1829. Tại đây đã có những hoạt động y tế nhân đạo, khám và điều trị miễn phí cho dân dựa vào nền tảng y học cổ truyền. Do nhu cầu về dịch vụ y tế của nhân dân ngày càng tăng, vào năm 1916 bệnh viện được chính thức xây dựng. Đến 1945 bệnh viện đưa vào sử dụng và có tên là Bệnh viện Triều Châu. Sau nhiều lần sửa chữa, nâng cấp, bệnh viện đã có bộ mặt như ngày nay. Năm 1978, bệnh viện được công lập hóa trở thành bệnh viện đa khoa với tên gọi An Bình. Ngày 19.5.1994, bệnh viện An Bình lại nhận một trách nhiệm mới “chăm sóc sức khỏe cho nhân dân lao động nghèo của thành phố”. Từ đó đến nay bệnh viện mang tên “Bệnh viện miễn phí An Bình”.

Ngôi nhà cổ nhất Saigon

Ngôi nhà cổ nhất Sài Gòn nằm trong khuôn viên Tòa Giám mục, tọa lạc tại số 180 Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi nhà này đã được tu sửa nhiều lần. Lần cuối vào năm 1980, nhưng hình dáng và vẻ ngoài nguyên thủy của nó cách đây 200 năm vẫn không thay đổi. Cuối thế kỷ 18, các quan lại triều Nguyễn thường sống trong những ngôi nhà với kiểu dáng như thế. Ngôi nhà với ba gian, hai chái. Hệ thống rường ngắn và mái ngói lợp âm dương đã hình thành một kiến trúc gỗ Việt Nam truyền thống với những bức vách là những thanh gỗ mỏng được xếp vuông góc. Những vách gỗ này không chỉ giữ vai trò bảo vệ tốt cho ngôi nhà mà còn là hệ thống thông gió tuyệt vời.

Sau năm 1945, những bức vách gỗ bị mối mọt ăn đã được thay thế bằng gạch. Trong lần tu sửa vào năm 1980, những người thợ đã thay phần lõi bên trong của những cột gỗ bị mối mọt ăn bằng cách đổ bê tông vào. Phần mặt ngoài những cột gỗ này vẫn được giữ nguyên nên chúng trông vẫn có vẻ cổ xưa. Đồng thời, những người thợ này cũng đã nâng phần đế cột lên 30cm.

Năm 1790, Nguyễn Ánh, vị Vua cuối cùng của triều Nguyễn, đã cho xây dựng ngôi nhà này để Giám mục xứ Adran, Pierre Pigneau de Behaine trú ngụ. Vị Giám mục này đã giúp đở Nguyễn Ánh trong cuộc chiến tranh chống lại những người nông dân áo vải Tây Sơn. Chính trong ngôi nhà này, Vị Giám mục này đã dạy học cho Hoàng tử Cảnh, con trai của Nguyễn Ánh.

Khởi thủy, ngôi nhà tọa lạc gần kênh Thị Nghè, nằm trong khu vực Thảo cầm Viên hiện giờ. Năm 1799, sau khi Pierre Pigneau mất, một Giám mục Pháp khác đã đến thay thế và ở trong ngôi nhà, nhưng giữa những năm 1811 và 1864, do triều đình Huế cấm đạo Công Giáo, ngôi nhà bị đóng cửa. Trong triều đại Tự Đức, ông Vua này đã ký hòa ước với Pháp và ngôi nhà được chuyển lại cho Tòa Giám mục và di chuyển về đường Alexandre de Rhodes, gần nhà thờ Chánh tòa. Năm 1900, cùng với Tòa Giám mục, ngôi nhà được di chuyển về địa điểm hiện tại. Hiện nó được sử dụng như nhà nguyện.

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Older Posts »