Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘nghề gốm’

Gốm cổ Trù Sơn – Đô Lương

Ít ai biết rằng, ở Đô Lương (Nghệ An) cũng có một làng gốm cổ. Chỉ khi nói đến những chiếc nồi đất kho cá, nấu cơm thường thấy ở bếp nhà dân các tỉnh miền Trung, nay còn xuất hiện trong các nhà hàng “cơm niêu”, thì nhiều người mới biết đó là sản phẩm của làng Trù.

Làng nghề nồi đất xã Trù Sơn (Đô Lương - Nghệ An), xưa gọi là Kẻ Trù hay làng Trù Ú. Cũng như nhiều làng nghề cổ khác, làng nghề truyền thống độc đáo này đang dần bị mai một

Làng nghề nồi đất xã Trù Sơn (Đô Lương - Nghệ An), xưa gọi là Kẻ Trù hay làng Trù Ú. Cũng như nhiều làng nghề cổ khác, làng nghề truyền thống độc đáo này đang dần bị mai một

Nghề nghèo nuôi kẻ khó

Làng Trù Sơn, còn gọi là làng Nồi, xưa thuộc Trù Ú, cách thị trấn Đô Lương 20km về phía đông nam, là một làng nghèo với nguồn thu chính từ nghề trồng lúa. Người Trù Sơn gọi nghề gốm của mình là nghề “vắt đất làm nồi”, và có lẽ họ chẳng bao giờ nghĩ có ngày mình lại được ra Hà Nội để “trình diễn” cái công việc nhà nông “quê mùa” ấy trước người dân thủ đô, các cháu học sinh và cả du khách nước ngoài.

Anh Trần Doãn Hùng, Trưởng Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Đô Lương (Nghệ An) nói: “Họ rất vui vì đây là lần đầu tiên được ra Hà Nội, “biểu diễn” cách làm nồi cho đông đảo người dân thủ đô xem, lại còn được thăm lăng Bác, được “lên ti vi” nữa”.

Có thể hình dung về niềm vui ấy khi nhìn những người nông dân nhỏ bé, đen đúa với giọng nói mang âm sắc nằng nặng nhưng khuôn mặt rạng rỡ nụ cười, tận tình hướng dẫn các thao tác làm gốm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trung tuần tháng ba vừa qua.

Những chiếc nồi gốm đủ loại to nhỏ được chị Hương, chị Liên, chị Thái -những “nghệ nhân” của làng – loang loáng bày ra trước mắt mọi người. Các thao tác tạo dáng sản phẩm gốm Trù Sơn khá đơn giản nhưng đòi hòi sự nhuần nhuyễn và khéo léo. Có lẽ vì vậy, ở Trù Sơn chỉ có phụ nữ đảm đương công việc này. Chị Thái cho biết, con gái lên mười ở làng đã bắt đầu học làm nghề gốm, khoảng 13, 14 tuổi đã là một người thợ thành thạo.

Khác với Phù Lãng hay Bát Tràng, người thợ gốm Trù Sơn không để cả khối đất lên bàn xoay, mà dùng đất đã nhào nhuyễn vắt theo hình con chạch mà họ gọi là rói để ghép nối từng phần.

Tất cả các công cụ làm gốm cũng chỉ gồm một cái bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và những khoanh nứa mỏng (gọi là khót) để tạo dáng và làm nhẵn. Vật liệu dùng để nung gốm chỉ là lá cây, có khi là rơm rạ.

Nung nồi đất

Nung nồi đất

Vất vả nhất là khâu lấy đất và làm nhuyễn đất, thường do đàn ông đảm nhiệm, bởi họ phải đến tận làng Hội Yên (Nghi Văn, Nghi Lộc) cách Trù Sơn 10km mới có loại đất sét để làm gốm.

Cũng theo một câu chuyện mà người già ở làng thường kể thì nghề làm nồi có nguồn gốc từ Nghi Lộc (có lẽ là nơi người Trù Sơn thường sang lấy đất). Rằng, ngày xưa, có người con gái ở nơi ấy về Trù Sơn làm dâu. Theo luật, nghề chỉ truyền cho con dâu chứ không truyền cho con gái. Nhưng bà mẹ của cô gái khi đến Trù Sơn thăm con, thấy cuộc sống vất vả khó nhọc quá, đành bí mật truyền lại cái nghề này. Nhưng giờ đây ở Nghi Lộc, nghề làm gốm đã bị mai một. Theo khảo sát của các cán bộ Bảo tàng Dân tộc học, hiện nay ở miền Trung chỉ còn Trù Sơn là giữ được nghề làm nồi truyền thống này.

Anh Đoàn Văn Nam, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Nghệ An cho biết, theo những tài liệu mà anh có được, thì nghề làm gốm có ở Trù Sơn từ đời Trần, khoảng thế kỷ 13. Còn anh Nguyễn Văn Hứa (55 tuổi, xóm 10, Trù Sơn – một trong những gia đình lâu năm làm gốm, vợ anh là Phạm Thị Liên cũng ra Hà Nội trình diễn kỹ thuật làm gốm lần này) thì nói: khi anh lớn lên, ông nội anh đã nói nghề gốm có từ lâu đời rồi.

Thực ra, không ai biết chính xác cái nghề “vắt đất làm nồi” có ở Trù Sơn từ thời nào, nhưng mọi người đều chắc chắn một điều rằng vì nghèo khó, vất vả mà có nó. Ở một nơi khí hậu khắc nghiệt, bốn bề chỉ có đất, người nông dân đã biết tìm cách tạo ra từ hòn đất những sản phẩm phục vụ cho đời sống sinh hoạt của mình, sau đó mới nghĩ đến chuyện mang đi bán. Mỗi sản phẩm làm ra cũng chỉ bán với giá từ 1 đến 5 nghìn đồng, nhưng từ bao đời nay, họ vẫn sống dựa vào nghề. Bà Lê Thị Thuỷ (Thượng Giáp, Trù Sơn) nói: “Quê tui không có nghề ni thì chết đói”.

Đến nay, cuộc sống của dân nơi đây vẫn còn nhiều khó khăn vất vả. Và cái nghề của tổ tiên để lại cứ thế mà tồn tại từ đời này qua đời khác, không cần một bí quyết gì thật đặc biệt, cũng chẳng cần vốn liếng gì to tát. Tuy vậy, đó lại là một sản phẩm hết sức đặc trưng của văn hóa nơi đây, của những con người xứ Nghệ nổi tiếng vì khắc khổ và hồn nhiên chất phác.

Vươn tới một “đẳng cấp” cao hơn?

Sản phẩm gốm Trù Sơn chủ yếu là nồi nhưng khá đa dạng. Có khoảng 30 loại nồi, từ nồi to nấu nước, nồi thường nấu cơm, nồi nhỏ kho thịt cá, đến nồi đình gánh nước, ủ giá đỗ, hông xôi, nấu rượu, rồi các loại chảo rang, siêu sắc thuốc… Xưa kia còn có cả nồi to đựng hài cốt lúc cải táng, các loại ống nhổ, áo chai để cất rượu vang, bù đựng nước mát. Ngày nay, các nghệ nhân cũng đã mày mò tạo ra một vài loại sản phẩm mới như giỏ treo phong lan, ống đựng tiền tiết kiệm khá độc đáo…

Gốm Trù Sơn như một cô gái quê chưa hề được trang điểm, không biết làm dáng nhưng lại có những nét duyên ngầm. Đặc điểm khá riêng biệt của dòng gốm này là đơn giản, thô mộc, không men tráng và hoàn toàn không có dấu hiệu của nghệ thuật trang trí. Tuy nhiên, gốm Trù Sơn có những ưu điểm rõ rệt về độ mỏng và nhẹ. Ông Lê Ngọc Hân (Hội Mỹ thuật Việt Nam) cho rằng, với độ mỏng lý tưởng đó cùng độ thấm nước gần như không có và thành phần xương đất tốt, gốm Trù Sơn có đầy đủ tố chất để vươn lên một đẳng cấp cao hơn, tạo nên những sản phẩm gốm nghệ thuật.

Tìm cho gốm Trù Sơn một hướng đi để phát triển đến một đẳng cấp cao hơn chỉ mới là ý tưởng của những nhà chuyên môn. Còn đối với các cán bộ văn hóa- thông tin huyện Đô Lương cũng như tỉnh Nghệ An thì chỉ mong sao gìn giữ được những nét duyên mộc mạc nguyên sơ của nó, mà sản phẩm vẫn bán được đều đều, để người dân yên tâm mà không bỏ nghề.

Anh Hứa cũng cho biết, thời gian gần đây, “thị trường” của gốm Trù Sơn không chỉ từ Thanh Hóa đến Quảng Bình, mà còn đến tận Hải Phòng, Nha Trang, Bình Định. Và năm 1996, đã có một chuyến hàng xuất sang Đan Mạch.

Tuy nhiên, do sự phát triển ồ ạt của đồ nhôm, đồ nhựa, số lượng sản phẩm của Trù Sơn cũng ngày càng hạn chế. Trước đây có khoảng từ 80-90% người theo làm nghề gốm, thì hiện nay chỉ còn khoảng 20-30%. “Bọn trẻ lớn lên chỉ lo đi khỏi làng để làm ăn thôi, giờ chỉ còn người già chẳng biết làm gì nữa thì làm nồi vậy, trước là để kiếm thêm đôi đồng, sau để giữ cái nghề tổ tiên để lại”. Thế nhưng anh Hứa cũng như chị Liên, chị Thái, chị Hương – những người thợ gốm lâu năm ở Trù Sơn, đều tin tưởng rằng, nghề gốm nơi đây sẽ được giữ gìn mãi mãi.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Gốm truyền thống Hòn Đất, Kiên Giang

Nghề gốm ở Hòn Đất thuộc tỉnh Kiên Giang đã phát triển thành nghề truyền thống của một bộ phận cư dân xứ Hòn gần 100 năm qua góp phần ổ định cuộc sống của nhiều gia đình nơi đây.

Tuy nhiên, mấy chục năm qua nghề gốm ở Hòn Đất chủ yếu là sản xuất các mặt hàng truyền thống như lò ràng, lị than, nồi đất, khuôn bánh khọt , các loại am, chum đựng nước, diệm dùng đặc rượu, v.v…

Mấy năm gần đây, đời sống của nhân dân được nâng lên cùng với thị trường đa dạng hoá các mặt hàng gia dụng như bếp ga, đồ điện, các mặt hàng được sản xuất từ nhuôm, sành, sứ cao cấp vừa tiện lợi, giá cả phù hợp với điều kiện kinh tế của đại bộ phận nhân dân đã làm ảnh hưởng đến giá thành và đầu ra của sản phẩm gốm Hòn Đất.

Do đó, để nghề gốm ở Hòn Đất tồn tại và phát triển đòi hỏi cấp thiết đối với những người sống bằng nghề gốm là phải thay đổi hình thức sản xuất sao cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển của xã hội.

Để giải bài toán về làng nghề gốm ở Hòn Đất, đầu năm 2007 với sự tài trợ của Trung tâm khuyến công tỉnh Kiên Giang một mô hình sản xuất gốm mới theo hình thức sản xuất hàng mỹ nghệ, do Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đồng Thịnh ở xã Bình Sơn đang triển khai thực hiện.

Đây là một hình thức sản xuất mới với những mặt hàng gốm được sản xuất đảm bảo cả ba tiêu chí: kỹ thuật, mỹ thuật và giá thành sản phẩm. Qua bước đầu thực nghiệm cho thấy đây là một triển vọng mới đối với nghề làm gốm ở Hòn Đất.

Theo sự hướng dẫn của anh Đào Hùng Phương, Trưởng phòng Công Thương Khoa học Công nghệ Hòn Đất chúng tôi đến thăm làng nghề gốm thủ công thuộc ấp Đầu Doi, Thị Trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất.

Hiện nay trong ấp có trên 500 hộ dân, đã có gần một nửa với trên 500 lao động làm nghề sản xuất mặt hàng gốm.

Đất sét của xứ Hòn có độ mịm và dẻo rất cao nên khi nắn, nung ít hư, sản phẩm lại có độ bền nên được rất nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. Vào những năm 1980 là giai đoạn sung túc nhất của làng gốm Đầu Doi.

Các mặt hàng gia dụng làm bằng gốm ở thời điểm đó bán rất chạy nên hầu người dân địa phương sống nhờ vào nghề gốm. Nhà nào cũng có từ hai đến ba lò gốm và sản phẩm được ủ nung thường xuyên.

Nhiều gia đình có điều kiện còn tranh thủ mùa nắng sản xuất, tích luỹ để có hàng bán vào những tháng mùa mưa.

Giá mỗi cái lò ràng ở thời điểm đó có lúc tính bằng một giạ lúa. Có lẻ đây là giai đoạn ăn nên, làm ra nhất đối với những người dân ấp Đầu Doi.

Mấy năm gần đây các mặt hàng gia dụng được sản xuất từ gốm đã ít được người tiêu dùng quan tâm sử dụng hơn.

Hầu hết những gia đình thuộc diện trung bình trở lên đã dùng bếp ga, nồi cơm điện hoặc xây lò chụm bằng củi, trấu bằng gạch thay cho việc nấu củi bằng lò ràng, nồi đất.

Các mặt hàng gia dụng khác cũng dần được thay thế bằng đồ sành, sứ, nhuôm, nhựa, Inox nên các mặt hàng bằng gốm bán ít chạy và giá thành lại thấp. Giá sản phẩm thấp nên công thợ cũng rẻ. Một người thợ làm suốt ngày chỉ kiếm được 20.000 đồng tiền công.

Đến thăm gia đình chú Trần Văn Tuồng, gia đình chú cũng đã có trên 30 năm sống nhờ vào nghề gốm. Thế nhưng theo chú Tuồng cho biết hiện nay làm nghề gốm rất khó sống.

Một cái cà ràng loại lớn chỉ bán được 7.000 đồng. Lò than được rạng bằng thiết, trét xi măng thật kỉ loại lớn bán được hơn 40.000 đồng. Còn lại những loại nồi đất, lò nhỏ chỉ bán vài ba ngàn đđồng.

Nếu như so sánh với giá lúa ở thời điểm như hiện nay, gần hai chục cái cà ràng mới mua được một gịa lúa. Mặc dù giá thành thấp như vậy nhưng số lượng tiêu thụ cũng rất ít. Mội tháng chỉ bán hơn ngàn sản phẩm các loại đã là nhiều.

Chú Tuồng tâm sự:” Mấy mười năm chỉ làm quen với nghề này nên việc đổi nghề là rất khó. Còn con Trai chú Tuồng, em Trần Thanh Nam cho biết:” Nhiều khi cũng muốn tìm cách làm mới để duy trì và phát triển để cải thiện nghề gốm của gia đình nhưng chưa biết làm cách nào ?”

Đó cũng là những trăn trở và suy nghĩ của anh Huỳnh Như Sanh, giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Thịnh. Là hoạ sĩ lại kiếm sống bằng công việc kế toán cho một công ty ở Kiên Lương.

Cứ mỗi lần có dịp đi ngang qua làng nghề gốm ở ấp Đầu Doi, anh Sanh lại thấy thương cho người dân làng nghề.

Lao động cật lực nhưng thu nhập lại thấp. Nhìn thấy màu gốm tươi gói, anh tiết cho những sản phẩm làm ra quá thô sơ, giá thành không cao. Với anh Sanh việc thay đổi cách sản xuất gốm để vừa có giá trị kinh tế cao hơn đã thôi thúc anh bắt tay vào nghiên cứu cách làm mới.

Anh Sanh đã bỏ công tìm hiểu xây dựng dự án sản xuất mặt hàng gốm mỹ nghệ chất lượng cao.Với dự án này anh Sanh đã thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Thịnh.

Để có kinh phí đầu tư đi vào sản xuất anh Sanh đã vận động bạn bè, gia đình ủng hộ trên với số vốn đầu tư ban đầu là 500 triệu đồng, trong đó trung tâm khuyến công tài trợ 150 triệu đồng.

Với một người mới vào nghề, mà là nghề làm gốm mỹ nghệ quả là quá nhiều trở ngại. Tất cả điều bắt đầu từ con số không.

Để làm được việc, anh Sanh đã vận động một số thợ trẻ, say mê nghề cùng anh làm việc, Trung tâm Khuyến công Tỉnh Kiên Giang giúp anh rất nhiều trong việc chuyển giao kỹ thuật xây lò nung, tìm hiểu về độ mịn, độ nềm dẻo của đất, v.v… Riêng anh Sanh đã tự thiết kế ra hơn chục mẫu sản phẩm để đưa vào sản xuất thử.

Chúng tôi đến thăm cơ sở sản xuất của anh Sanh trong những ngày giáp tết. Nói là cơ sở sản xuất nhưng qui mô cũng còn rất nhỏ hẹp. Khuôn viên làm việc với diện tích gần 200m2 vừa là nhà kho, nhà trưng bày sản phẩm, khu làm việc cho gần chục công nhân, lò nung, khu chế tác tượng của hoạ sĩ.

Theo sự giới thiệu của anh Sanh sau hơn gần một năm vừa nghiên cứu, vừa sản xuất thí điểm cơ sở của anh đã cho ra trên 1.000 sản phẩm với khoản 30 mẫu sản phẩm.

Đặc biệt là sản phẩm bình hoa loại lớn có gần 100 chiếc, nhưng là mẫu sãn phẩm độc bình . Mỗi kích cỡ , mỗi mẫu chỉ sản xuất một chiếc duy nhất như Bình Hồ Lơ cao gần một mét, bình cấm hoa lại lớn và loại trung bình với nhiều kiểu dáng và hoa văn khác nhau.

Tất cả các loại bình này được nung từ đất gốm của xứ Hòn với màu rất sắc. Những chiếc bình hoa này khi trang trí trưng bày trên những chiếc đế làm chân bình được chế tác từ gốc cây tràm.

Cây sắn đã tạo thêm vẻ đẹp tự nhiên hài hoà giữa: Màu đỏ đất gốm, của cây lá và hoa nhưng lại rất sang trọng và điệu nghệ khi được bày trí trong phòng khách hàng ngày hay trong phịng khách.

Bên cạnh việc sản xuất sản phẩm độc bình, Công ty Đồng Thịnh cũng sản xuất một số mặt hàng mỹ nghệ bằng gốm màu như: Những loại tranh nỗi bằng gốm, các loại sản phẩm dùng để trang trí.

Do mới sản xuất thử nghiệm nên sản phẩm chưa thật sự sắc sảo nhưng từ thành công bước đầu đã mở ra một triển vọng mới, một hình thức sản xuất để có sản phẩm mới hơn và có giá trị hơn đối với việc sản xuất gốm ở Hòn Đất


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Cảnh Đức Trấn Ngự Diêu Xưởng – Jingdezhen imperial kiln


cdt110

Cảnh Đức Trấn là một thành phố nằm ở phía đông bắc tỉnh Giang Tây. Vùng đất này xưa có tên là Xương Nam Trấn, nơi có nhiều mỏ kaolin hảo hạng và những cánh rừng gỗ sài cung cấp loại củi tốt nhất để đốt lò nung gốm sứ. Vào đời Cảnh Đức (1004 – 1007), vua Thần Tông nhà Tống (960 – 1279) đã chọn Xương Nam Trấn để thiết lập ngự diêu (yuyao), chuyên chế tác các món đồ gốm dành cho nhà vua và hoàng gia triều Tống sử dụng. Tất cả những món gốm sứ chế tác tại ngự diêu ở Xương Nam Trấn đều có khắc bốn chữ Hán Cảnh Đức ngự chế (đồ ngự dụng của triều Cảnh Đức). Từ đó, người ta gọi tất cả những món gốm sứ chế tác tại ngự diêu Xương Nam Trấn là gốm Cảnh Đức. Lâu dần tên Cảnh Đức trở thành của vùng đất này – Cảnh Đức Trấn, thay cho tên gọi Xương Nam Trấn trước đây.

cdt210

Thời Minh (1368 – 1644), Cảnh Đức Trấn cùng với Châu Hiên Trấn (ở Hà Nam); Hán Khẩu Trấn (ở Hồ Bắc); Phúc Sơn Trấn (ở Quảng Đông) được liệt vào tứ trấn lớn nhất Trung Hoa. Tiếp sau triều Tống, các triều Nguyên (1271 – 1368), Minh (1368 – 1644) và Thanh (1644 – 1911) đều đặt ngự diêu xưởng ở Cảnh Đức Trấn, chuyên làm các mặt hàng gốm sứ cao cấp để hoàng gia và triều đình sử dụng. Ngoài ngự diêu chỉ làm gốm sứ cho riêng nhà vua, Cảnh Đức Trấn còn có hệ thống quan diêu (guanyao) và dân diêu (minyao) với hàng ngàn lò gốm sứ trải khắp trấn. Vào thế kỷ XVII, một sứ đoàn nước Pháp đến thăm Cảnh Đức Trấn, chứng kiến hoạt động sản xuất gốm sứ ở đây, đã kinh ngạc ghi vào nhật ký hành trình: “Ban ngày, khói đốt lò bốc lên tận chín tầng mây. Ban đêm, lửa đốt lò thắp sáng cả bầu trời”. cdt35Ngày nay, Cảnh Đức Trấn vẫn tiếp tục giữ vai trò là một trung tâm sản xuất gốm sứ lớn nhất Trung Quốc, nên được xưng tụng là thủ đô gốm sứ của Trung Hoa.

Hiện nay, Cảnh Đức Trấn còn lưu giữ được 133 công trình kiến trúc lịch sử và cảnh quan văn hóa, được Cục văn vật Trung Quốc công nhận là di chỉ quốc gia. Một trong những di chỉ nổi tiếng nhất của Cảnh Đức Trấn là ngự diêu xưởng Châu Sơn.

Châu Sơn là một quả đồi thấp, tọa lạc ở trung tâm Cảnh Đức Trấn. Vào đời Minh Tuyên Đức (1426 – 1620), nơi đây đã được chọn làm nơi thử nghiệm chế tác những món đồ gốm sứ cao cấp cho Minh triều. Xưởng chế tác này tiếp tục hoạt động và đạt được những thành tựu khả quan dưới các đời Thành Hóa (1465 – 1487), Vạn Lịch (1573 – 1620) của triều Minh. Năm 1639, Minh triều chính thức thiết lập ngự diêu xưởng ở Châu Sơn, chuyên làm đồ gốm cho vua dùng. Triều đình cử một viên quan cao cấp của bộ Công đến Châu Sơn làm quản thủ để điều hành ngự diêu xưởng này. cdt41Cũng trong năm đó, một tòa lầu bằng gỗ cao 4 tầng, tên là Long Châu Các, được dựng trên đỉnh của Châu Sơn và trở thành một biểu tượng lịch sử của Cảnh Đức Trấn, trải từ các triều Minh – Thanh cho đến ngày nay.

Xung quanh Long Châu Các, triều đình cho dựng nhiều nhà xưởng, dùng làm nơi nhào đất, tạo cốt, hong phơi gốm mộc, phun màu… và các lò nung chuyên biệt để nung những món đồ cao cấp. Gốm sứ làm cho nhà vua đòi hỏi phải tuân thủ những chuẩn mực nghiêm ngặt. Chỉ những món đồ hoàn hảo dáng kiểu, họa tiết, màu men… mới được tiến cung. Thông thường, cứ khoảng 100 món đồ gốm do ngự diêu làm ra, người ta mới chọn được 1 món toàn bích để cung tiến nhà vua. cdt51Phần còn lại phải bị đập vỡ và chôn vào lòng đất để bảm đảm bí kíp chế tác. Không ai có quyền tiếm dụng các món đồ này, dù chỉ giữ lại để làm kỷ niệm. Một truyền thuyết này kể rằng: có một vị hoàng đế Trung Hoa yêu cầu ngự diêu xưởng Châu Sơn phải làm một chiếc lọ hình con rồng, và truyền rằng nếu không làm được thì toàn bộ nhân công trong ngự diêu xưởng Châu Sơn đều bị xử trảm. Hàng chục cốt bình hình rồng được đưa vào lò nung nhưng sau khi nung thì đều bị gãy sụp. Sau cùng, một thợ gốm tên là Tong Bin, đã liều mình nhảy vào trong lò nung và nhờ thế mà chiếc bình cuối cùng đã không bị gãy sụp và được dâng lên cho hoàng đế. Kể từ đó, người ta tôn vinh ông thành vị thần tối cao và thường cầu nguyện sự giúp đỡ của ông trước khi đốt lò.

cdt61

Ngày nay, ngự diêu xưởng Châu Sơn là di tích thu hút du khách đến tham quan nhiều nhất Cảnh Đức Trấn, đặc biệt là những người quan tâm đến gốm sứ. Khi tôi đến thăm Châu Sơn vào năm 2005, trong khuôn viên di tích chỉ có tòa Long Châu Các, dùng làm nơi trưng bày các hiện vật gốm sứ thu được trong các cuộc khai quật ngự diêu xưởng này vào các năm 1984, 1993 và 1999. Cạnh Long Châu Các vẫn còn sót lại một vài phế tích trước đây từng là xưởng hong phơi gốm mộc và xưởng phun men. Dưới chân tòa lầu là những chiếc ‘bao nung’ (vật dùng để đựng các cốt gốm sứ khi nung, tránh bị lửa táp làm hỏng màu men), thu hồi từ các cuộc khai quật trước đây. Những hiện vật gốm sứ trưng bày trong Long Châu Các không có món nào nguyên vẹn. Nguyên do là vì người ta phải đập vỡ chúng trước khi chôn vào lòng đất để bảo toàn bí quyết chế tác. Rất nhiều món đồ trưng bày trong Long Châu Các có niên đại Tuyên Đức, Thành Hóa, Vạn Lịch (thời Minh); Khang Hi, Ung Chính, Càn Long (thời Thanh)… Tất cả đều là hàng “độc”, có giá trị kỹ thuật và giá trị kinh tế rất cao.

cdt71

Ông Sào Hải Thanh, một thợ gốm lão luyện của Cảnh Đức Trấn, người hướng dẫn tôi và các đồng nghiệp Việt Nam đi thăm ngự diêu xưởng Châu Sơn, cho hay: “Tất cả thợ gốm ở Cảnh Đức Trấn và ở Trung Hoa nói chung đều tìm cách kiếm được những mảnh gốm cổ vỡ nát thu hồi từ các cuộc khai quật ở Châu Sơn. Họ mua các mảnh vỡ này về để nghiên cứu và tìm cách phỏng chế màu sắc, nước men của chúng để làm đồ giả cổ kinh doanh kiếm lợi. cdt81Vì thế, người ta tìm cách đào trộm và mang bán chúng ở các con phố xung quanh Châu Sơn. Tuy nhiên, từ hai năm trở lại đây, chính quyền thành phố nghiêm cấm việc này. Ai đào trộm và bày bán mảnh gốm vỡ, nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý hình sự. Năm trước, có một người đến thuê một gian hàng ở con phố dưới chân Châu Sơn để mở tiệm may. Kỳ thực, đó là một tay đào trộm cổ vật. Anh ta đã đào một con đường hầm xuyên vào lòng Châu Sơn, lấy được nhiều cổ vật có giá trị, rồi phục dựng lại, mang bán sang thị trường nước ngoài thu lợi hàng triệu nhân dân tệ. Vụ việc bị phát giác. Chính quyền đã tuyên án tử hình người này”.

cdt92

Đầu tháng Ba năm nay, tôi trở lại thăm ngự diêu xưởng Châu Sơn và rất bất ngờ khi thấy bên trái ngọn đồi danh giá này xuất hiện một tổ hợp kiến trúc đặc sắc. Hỏi ra mới hay: do diện tích trưng bày gốm sứ trong Long Châu Các khá khiêm tốn và do tòa lầu này đã 370 tuổi, nên chính quyền thành phố Cảnh Đức Trấn vừa cho xây dựng một bảo tàng để trưng bày toàn bộ hiện vật gốm sứ khai quật được ở ngự diêu này từ trước đến nay. Chỉ những hiện vật đặc sắc nhất, độc đáo nhất mới được trưng bày trong Long Châu Các. Trước cửa bảo tàng, người ta dựng 5 pho tượng bằng đồng, tượng trưng cho năm vị quản thủ ngự diêu nổi tiếng nhất của 5 triều: Bắc Tống – Nam Tống – Nguyên – Minh – Thanh. Trong đó, vị thứ 5 chính là viên quản thủ Đường Anh lừng danh dưới triều Càn Long, một nhân vật mà những ai nghiên cứu gốm sứ Trung Hoa không thể không nghe danh. Đồng thời, chính quyền thành phố cũng mở thêm phòng trưng bày, gọi là Ngự Bửu Trai, làm nơi trưng bày tư liệu và hình ảnh về các thời kỳ lịch sử của ngự diêu xưởng Châu Sơn. Sau khi hoàn thiện tổ hợp kiến trúc để bảo tồn và phát huy giá trị của ngự diêu xưởng Châu Sơn, Cục văn vật Trung Quốc dựng bia công nhận nơi này là Toàn quốc trọng điểm văn vật bảo hộ đơn vị (Di tích văn hóa trọng điểm cấp quốc gia).

cdt101

Gần bốn thế kỷ trôi qua, kể từ khi Châu Sơn chính thức trở thành ngự diêu xưởng của Minh triều, tòa Long Châu Các đã trở thành chứng tích và là bảo vật vô giá của kỹ nghệ chế tác gốm sứ ở Cảnh Đức Trấn. Lửa đốt lò vẫn đỏ khắp trấn suốt 400 năm qua; gốm sứ Cảnh Đức Trấn vẫn không ngừng tỏa khắp năm châu bốn bể. Cho nên, dù chỉ còn là di tích, thì ngự diêu xưởng Châu Sơn vẫn xứng đáng với lời ca tụng như câu đối ghi ở trước lối vào Long Châu Các: Ngự khí thanh hoa phỉ vạn quốc. Diêu lô phong hỏa việt thiên niên (Đồ vua danh tiếng lan vạn xứ. Gió lửa lò nung trải ngàn năm).

T.Đ.A.S.

Chú thích ảnh:

Ảnh 01. Long Châu Các tọa lạc trên đỉnh Châu Sơn, nơi trưng bày các hiện vật gốm sứ khai quật tại ngự diêu xưởng Châu Sơn.

Ảnh 02. Cổng vào khu trưng bày ngự diêu xưởng, mới được xây dựng năm 2006.

Ảnh 03. Tổ hợp tượng quản thủ ngự diêu xưởng qua các thời kỳ: Bắc Tống – Nam Tống – Nguyên – Minh – Thanh dựng ở trước cửa khu trưng bày ngự diêu xưởng.

Ảnh 04. Ngự Bửu Trai, nơi trưng bày tư liệu và hình ảnh về các thời kỳ lịch sử của ngự diêu xưởng Châu Sơn.

Ảnh 05. Tước uống rượu ba chân và chân đế hình tam sơn, trang trí lưỡng long, đời Minh Vĩnh Lạc, cao 16,8cm, khai quật năm 1999.

Ảnh 06. Kendi, trang trí cúc dây, đời Minh Thành Hoá, cao 32cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 07. Hộp nuôi dế chọi, trang trí rồng mây, đời Minh Tuyên Đức, cao 9,5cm, đkm 13cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 08. Dĩa, trang trí trái lựu và hoa, đời Minh Tuyên Đức, đkm 45cm, khai quật năm 1984.

Ảnh 09. Mai bình, trang trí ám long trên nền men đỏ, thời mạt Minh – sơ Thanh, cao 34cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 10. Mai bình, trang trí tản vân, thời mạt Minh – sơ Thanh, cao 33,6cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 11. Nai đựng rượu, trang trí 9 chim phụng, cúc dây và tản vân, đời Thanh Khang Hi, cao 24cm, khai quật năm 1999.

 

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Kỹ thuật sản xuất gốm sứ xưa và nay tại Cảnh Đức Trấn – minh họa bằng hình ảnh:

Click trên porcelain-production-in-jingdezhen2 để download về và xem bằng microsoft word:

porcelain-production-in-jingdezhen2

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Viện bảo tàng lịch sử nghành gốm Cảnh Đức Trấn – hình ảnh – hiện vật trưng bày

jiangxi

Tọa lạc tại Panlongshan trong vùng ngoại ô phía tây của thành phố Cảnh Đức (Jingdezhen) – tỉnh Giang Tây, Viện bảo tàng lịch sử nghành gốm Cảnh Đức Trấn chiếm một khu vực 83 hecta và được xây dựng vào năm 1980.
Viện bảo tàng lưu giử một bộ sưu tập giàu có bao gồm hơn 5000 hiện vật . các hiên vật trưng bày bao gồm gốm sứ trong các triều đại quá khứ, tư liệu lịch sử về gốm sứ, các bộ sưu tập quý giá về tranh vẽ và thư họa, đa phần chất lượng còn tuyệt hảo.
Ngoài sự phong phú của hiện vật trưng bày , nét đẹp kiến trúc cổ kính cũng là điểm thu hút du khách. Kiến trúc cổ chia làm hai khu vực : Minh Viên (Ming garden) và Thanh Viên (Qing garden). Hai khuôn viên này bao gồm khu xưởng gốm cổ, lò nung cổ và các cấu trúc kiến trúc cổ khác trước đây rải rác ở khắp Cảnh Đức Trấn được chính quyền cho phép thu tập về đây.
Gần khu Thanh Viên là một nhóm các xưởng gốm mà gốm sứ đang được sản xuất tại đây. Du khách không chỉ được quan sát quy trình sản xuất và chiêm ngưỡng kỷ thuật chế tác điêu luyện, mà còn có thể tự trải nghiệm. Khách viếng thăm có thể mua bất kỳ sản phẩm gốm sứ nào mà họ thích.
Tháng 10 trong năm là tháng tốt nhất để thăm Viện Bảo Tàng, vì “Lể hội gốm quốc gia tại Cảnh Đức Trấn” hàng năm bắt đầu vào 12 tháng 10 và kéo dài khoảng một tháng.

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Gốm Sài Gòn xưa – tư liệu khảo cổ

Kể từ mùa xuân Mậu Dần 1698 khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh được Chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào nam kinh lược, ” lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn…” đến nay đã hơn 300 năm. Ba trăm năm với bao biến cố thăng trầm, dấu tích của Sài Gòn xưa đã dần nhạt phai dưới lớp bụi thời gian. “Vật đổi sao dời”, đây đó còn lưu lại một vài ngôi đình, chùa miếu, lăng mộ … đã qua sửa chữa tu bổ nhiều lần dù có làm mất dần nét cổ kính nhưng phần nào còn thể hiện sự lưu tâm gìn giữ. Lần theo sử sách và một vài dấu tích, chúng tôi đi tìm lại một “Sài Gòn Xưa” lâu nay chưa được nhiều người biết đến. Đó là một làng nghề nổi tiếng đã từng góp phần cho sự phát triển của vùng đất này: Xóm Lò gốm.
Là trung tâm của lưu vực Đồng nai rộng lớn và trù phú, Sài Gòn – Bến Nghé ngay từ khi mới hình thành đã sớm mang dáng vẻ của một đô thị sôi động bởi hoạt động thương nghiệp và sản xuất của nhiều ngành nghề thủ công. Khoảng cuối TK XVIII tại đây đã có 62 ty thợ do nhà nước quản lý và hàng trăm phường thợ trong dân gian. Nhiều ngành nghề tập trung trong các khu vực nhất định để rồi xuất hiện những địa danh như Xóm Chiếu, xóm Cốm, xóm Lò Rèn, xóm Dầu, xóm Chỉ, xóm Vôi, xóm Bột… riêng xóm Lò Gốm vẫn còn để lại một số địa danh như đường Lò Gốm – đường Lò Siêu – đường Xóm đất – bến Lò gốm – rạch Lò gốm – kênh Lò gốm – khu lò lu… thuộc khu vực quận 6,8,11 ngày nay. Sử liệu sớm nhất nói đến nghề làm gốm ở Sài Gòn xưa là sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức viết khoảng năm 1820. Đoạn viết về Mã trường Giang-kênh Ruột Ngựa như sau: “Nguyên xưa từ cửa Rạch Cát ra phía Bắc đến Lò Gốm có một đường nước đọng móng trâu, ghe thuyền không đi lại được.Mùa thu năm Nhâm Thìn (1772) cho đào con kênh thẳng như ruột ngựa nên mới đặt ra tên ấy…”. Kênh Ruột Ngựa đã giúp cho ghe thuyền đi lại giữa Sài Gòn với miền Tây thêm thuận lợi. Bản đồ Thành Gia Định do Trần Văn Học vẽ từ cuối năm 1815 đã có ghi địa danh Xóm Lò Gốm ở khoảng làng Phú Lâm- Phú Định (ngày nay là khu vực quận 6 tiếp giáp quận 8). Bài “Phú cổ Gia Định phong cảnh vịnh” sáng tác khoảng đầu TK XIX miêu tả “Lạ lùng xóm Lò Gốm, chân vò vò bàn cổ xây trời…”. Trong 62 ty thợ tập trung tại Sài Gòn làm việc cho nhà nước vào cuối TKXVIII đã có các ty thợ Lò chum, ngói mộc, gạch mộc, lò gạch…

Một vài tài liệu của Pháp, tuy tản mạn và có phần phiến diện, cũng phản ánh về việc sản xuất gốm ở Chợ Lớn vào cuối TK XIX: Tại Chợ Lớn có khoảng 30 lò gốm tập trung ở Hòa Lục, Phú Định, Cây Mai… vùng Chợ Lớn sản xuất lu và các đồ gốm thông dụng như chậu vịm, siêu ấm, nồi trách, hũ khạp, cà ràng… vùng Cây Mai có một lò sản xuất đồ sành. Các lò này lấy nguyên liệu tại chỗ, tuỳ chất đất mà sản xuất thành các loại sản phẩm. Mỗi lò gốm hàng năm có thể sản xuất hàng trăm ngàn sản phẩm. Đến đầu TK XX vẫn còn nhiều lò gốm nổi tiếng như lò Tín Di Hưng, Quảng Di Thành, Hiệp Hưng, Bửu Nguyên, Đồng Hòa, các lò chuyên sản xuất lu, khạp và đồ gia dụng…Theo Vương Hồng Sển thì : “Từ khi lấp rạch Chợ Lớn thì rạch Lò gốm, kinh Vòng Thành không thông thương và lò gốm chỉ còn sót lại cái tên trơn và không sản xuất đồ gốm nữa…”.
Từ những tư liệu lịch sử trên và qua khảo sát thực tế có thể nhận biết địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Sài Gòn cũ-nay là Chợ Lớn: một vùng thấp trũng chằng chịt kênh rạch lớn nhỏ, mọi sự đi lại đều dùng ghe xuồng. Kênh Ruột Ngựa và rạch Lò Gốm còn nối liền rạch Chợ Lớn với rạch Cát (Sa Giang)và rạch Bến Nghé. Từ ngã ba “Nhà Bè nước chảy chia hai” xuồng ghe theo rạch Bến Nghé và kênh Tàu Hũ qua kênh Ruột Ngựa ra sông Cát về miền Tây. Ngày nay rạch Chợ Lớn không còn nữa, nhiều đoạn rạch Lò Gốm biến mất – nhất là khu vực Gò Cây Mai hầu như không còn dấu tích con đường thuỷ quan trọng này. Kênh Ruột Ngựa không còn thẳng như tên gọi do bị bồi lấp lấn chiếm hai bên bờ. Kênh Lò Gốm ngày càng cạn hẹp dù đã nạo vét nhiều lần… Tuy nhiên ghe xuồng vẫn theo con nước mà xuôi ngược, dù nơi đây đã phát triển hệ thống đường bộ chằng chịt như mạng nhện, dù các làng nghề-phố nghề ven kênh rạch không còn nữa… đủ biết trước đây trước đây tuyến đường thủy này quan trọng như thế nào.

Dấu tích vật chất của xóm Lò Gốm ngày xưa nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), nằm ven kênh Ruột Ngựa. Đối diện là làng Phú Định cách đây vài năm còn một số gia đình làm nghề “nặn ông lò” – bếp gốm. Di tích là gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu… Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm kiểu lò ống (lò Tàu) là loại lò thông từ bầu lửa đến ống khói, dốc và hẹp, nền lò được gia cố nhiều lần, thành lò đắp dày bằng phế phẩm. Các đoạn vách lò còn lại được xây bằng loại gạch lớn chảy men dày, lòng lò chứa đầy mảnh sản phẩm mà qua đo có thể nhận biết một số loại sản phẩm đặc trưng của lò Hưng Lợi. Ba lò gốm này sản xuất nối tiếp nhau trong một thời gian khá dài nhưng có thể không liên tục vì lò gốm của giai đoạn sau được xây trên một phần lò cũ hoặc sửa chữa gia cố lại lò cũ.

Giai đoạn đầu khu lò này chủ yếu sản xuất lu chứa nước bằng chất liệu sành nâu, dáng thuôn vào đáy hoặc bầu tròn, kích thước khá lớn: thường được gọi là “lu 3 đôi” hay “lu 5 đôi” ( mỗi đôi nước-2 thùng- khoảng 40 lít nước). Lu gốm làm bằng phương pháp nặn tay bằng “dải cuộn kết hợp bàn dập, bàn xoa” nên độ dày và dáng tròn đều, bên trong vành miệng lu còn dấu ngón tay để lại khi dùng tay vuốt cho vành miệng tròn và gắn chặt vào thân lu. Trong số hàng ngàn mảnh lu thống kê được thì mảnh nắp chiếm đến gần 2/3, cho biết nắp được sản xuất nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu vì nắp hay bị vỡ hỏng khi sử dụng. Do mảnh lu, nắp lu nhiều nên khu lò này còn được gọi là Lò Lu. Lò sản xuất lu đựng nước có niên đại sớm nhất ở khu lò này, khoảng nửa sau thế kỷ XVIII. Mảnh phế phẩm của lò lu còn phân bố trên một diện rất rộng xung quanh lò, đào sâu xuống hơn 1m vẫn gặp mảnh lu gốm.

Chiếm tỷ lệ lớn nhất là mảnh các loại sản phẩm gốm và sành men nâu, men vàng hoặc không men. Đó là hũ, khạp, hộp, siêu, nồi có tay cầm… dưới đáy có in 3 chữ Hán “Hưng Lợi diêu” (lò Hưng Lợi). Bên cạnh đó là các kiểu chậu bông hình tròn hay lục giác, bát giác phủ men xanh lam hay xanh đồng – màu men đặc trưng của “Gốm Sài Gòn”. Chậu bông phần lớn có kích thước nhỏ, hoa văn in nổi trong các ô không men là hoa mai, hoa cúc hoặc tứ quý, bát tiên… Đây là sản phẩm của giai đoạn thứ hai, giai đoạn có tên lò Hưng Lợi khoảng thế kỷ XIX. Các sản phẩm này vẫn dùng kỹ thuật nặn tay nhưng có kết hợp khuôn in, chất liệu gốm sành nhẹ lửa, không sử dụng “bao nung” (hộp nung) nhưng phổ biến các loại “con kê” trong việc chồng kê sản phẩm trong lò nung. Đặc trưng là “con kê” hình ống có thể chồng lên nhau tạo nhiều độ cao thấp khác nhau nhằm tận dụng thể tích lò nung.

Giai đoạn thứ 3 ở đây sản xuất gốm sứ gồm các loại chén, tô, đĩa, ly, cốc, muỗng, ấm trà, lư hương… men trắng hoa văn men xanh và men nhiều màu, chai men trắng ngà… Sản phẩm làm bằng bàn xoay, có nhiều loại bao nung cho một hay nhiều sản phẩm. Các loại đồ gốm gia dụng tuy đơn giản về kiểu dáng nhưng có nhiều kích thước khác nhau, theo thời gian có sự khác biệt nhỏ ở chi tiết tạo dáng hay hoa văn. Một số sản phẩm có chữ Hán như Việt lợi, Kim ngọc, Chấn hoa xuất phẩm, Nhất phiến băng tâm… các chữ này không phổ biến trên sản phẩm, không có chữ Diêu kèm theo nên chắc hẳn không phải tên lò sản xuất mà rất có thể là tên của vựa gốm lớn hay cửa hàng bán đồ gốm in lên các sản phẩm mà họ đặt lò sản xuất, tức là giai đoạn này lò sản xuất theo đặt hàng cả về số lượng và từng loại sản phẩm. Tình trạng sản xuất theo sự đặt hàng của chủ hàng là người buôn bán cho biết đã có sự chuyên hóa giữa sản xuất và lưu thông hàng hóa khi nhu cầu của thị trường ngày càng đa dạng và thay đổi thường xuyên. Chất liệu làm gốm là loại đất sét tương đối trắng không có tại chỗ mà chắc phải khai thác từ miền Đông về. Dựa vào loại hình sản phẩm và tính chất sản xuất nói trên có thể nhận thấy lò gốm này có niên đại khoảng nửa đầu thế kỷ XX.

Tuy có ba giai đoạn với những loại sản phẩm đặc trưng cho từng giai đoạn nhưng kỹ thuật sản xuất ở khu lò cổ này khá thống nhất: Cấu trúc lò gốm (loại lò ống-lò tàu), kỹ thuật tạo dáng (bàn xoay, in khuôn), hoa văn, phương pháp chồng lò và nung gốm, sản phẩm của hai giai đoạn đầu (lu, khạp, siêu, nồi có tay cầm…) đều mang đậm dấu ấn kỹ thuật làm gốm của người Hoa. Theo nhiều nhà nghiên cứu, nguồn gốc của nghề làm gốm mang tính chất sản xuất hàng hóa ở Gia Định-Đồng Nai là sự kết hợp nghề gốm của lưu dân người Việt với truyền thống kỹ thuật sản xuất gốm mà người Hoa mang vào vùng đất này trong bước đường lưu lạc kiếm sống. Từ khi được các Chúa Nguyễn cho vào định cư tại Cù Lao Phố, vùng Sài Gòn (cũ) và rải rác một số nơi khác, người Hoa sinh sống chủ yếu bằng thương nghiệp và thủ công nghiệp. Tại Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai (nay thuộc thành phố Biên Hoà) cũng có Rạch Lò Gốm, bến Miểng Sành mà qua khảo sát, các loại sản phẩm hầu như không khác biệt với sản phẩm ở khu lò gốm cổ Hưng Lợi. Các phường thợ làm gốm của người Hoa thường gồm những người “đồng hương” và chuyên sản xuất một vài loại sản phẩm: người Hẹ chuyên làm lu, khạp, hũ men nâu và men vàng ( men da lươn, da bò); người Tiều (Triều châu) chuyên làm đồ “bỏ bạch” (không men) như siêu, nồi có tay cầm…; người Quảng (Đông) chuyên làm chén, đĩa có men trắng hay men nhiều màu… Hiện nay truyền thống kỹ thuật này vẫn phổ biến ở những lò lu, lò gốm ở khu vực Quận 9-TP.HCM ( như lò Long Trường), ở Tân Vạn-TP Biên Hòa và Lái Thiệu-Bình Dương… dù các chủ lò có thể không phải là người Hoa. Cần nói thêm rằng, cho đến nay một số dân tộc ở miền Nam ( người Chăm, người Khmer…) vẫn bảo lưu kỹ thuật làm gốm cổ truyền Đông Nam Á là nặn tay, không dùng bàn xoay và nung gốm ngoài trời, sản phẩm là gốm đất nung ít có sự thay đổi về kiểu dáng, số lượng không nhiều, vì vậy sản xuất chỉ mang tính chất tự cung tự cấp.

Đối với nghề làm gốm muốn tồn tại và phát triển thì phải có vị trí thuận lợi : là nơi có hoặc gần nguồn nguyên liệu, có hệ thống đường thuỷ tiện cho việc chuyên chở hàng hóa đi nhiều nơi, gần trung tâm thương nghiệp để nắm bắt nhanh nhu cầu thị trường… Xóm Lò Gốm của Sài Gòn xưa đã có những điều kiện thuận lợi đó: nguyên liệu ở đây thích hợp cho việc sản xuất các loại gốm gia dụng và gốm xây dựng. “Nhất cận thị, nhị cận giang”, làng nghề này lại ở giữa Sài gòn – nơi tập trung nhiều phố chợ nhất miền Gia Định khi ấy: “phố xá trù mật buôn bán suốt ngày đêm, là nơi đô hội thương thuyền của các nước cho nên trăm món hàng hóa phải tụ hội nơi đây”. Nam bộ khi ấy là vùng đất đang trong quá trình khai phá nên nhu cầu về đồ gốm gia dụng rất lớn, do vậy thị trường của Xóm Lò Gốm không phải chỉ là Sài Gòn-Bến Nghé mà còn là cả miền Tây rộng lớn. Từ cuối thế kỷ XIX quá trình đô thị hóa diễn ra ở Sài Gòn-Bến Nghé và một số thị tứ ở Nam bộ, sản phẩm của Xóm Lò Gốm có thêm các loại hình mới phục vụ nhu cầu xây dựng, trang trí kiến trúc của Đình, Chùa, Hội quán, phố chợ, công sở, nhà ở… Khảo sát các di tích cổ ở nhiều tỉnh Nam bộ đều thấy phổ biến các loại gốm trang trí, thờ cúng, nhiều di tích nổi tiếng với những quần thể tượng trang trí trên mái nhà hay tượng thờ, đồ thờ trong nội thất… Khu lò gốm ở Gò Cây Mai , qua khảo sát của người Pháp cho biết, bên cạnh gốm gia dụng đã sản xuất đồ gốm mang tính mỹ thuật cao như tượng gốm trang trí, tượng thờ, đồ thờ, đồ gốm lớn như chậu kiểng, đôn… được gọi chung là Gốm Cây Mai. Khu vực Gò Cây Mai cũng chỉ là một trong nhiều khu lò của Xóm Lò Gốm ở Sài Gòn xưa. Vì vậy, chắc hẳn không chỉ có lò Cây Mai sản xuất đồ gốm trang trí mỹ nghệ mà còn có cả những khu lò khác nữa mới có thể đáp ứng nhu cầu rất lớn trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Vì vậy, có thể định danh các loại gốm được sản xuất ở vùng gốm Sài Gòn xưa – bao gồm nhiều khu lò, nhiều loại sản phẩm nhưng đặc sắc nhất là đồ gốm trang trí mỹ thuật – là Gốm Sài Gòn- tên gọi chỉ rõ địa bàn sản xuất một làng nghề thủ công đã từng được ghi vào sử sách và truyền tụng trong dân gian, giống như tên gọi của làng gốm Chu Đậu, Bát Tràng, Phù Lãng, Hương Canh… ở miền Bắc.

Khoảng giữa thế kỷ XX, cùng với những biến cố chính trị-xã hội, quá trình đô thị hóa nhanh chóng và mạnh mẽ theo một quy hoạch nhất định cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho các làng nghề thủ công ở Sài Gòn- Chợ Lớn không còn điều kiện tồn tại, hoặc phải tìm điạ bàn mới để phát triển ở vùng ven ngoại thành hay xa hơn, đến các tỉnh lân cận. Đô thị hóa làm biến mất cảnh quan tự nhiên, vùng nguyên liệu không còn, kênh rạch bị lấp dần, phố xá mọc lên… Vị trí ưu đãi của một làng gốm không còn nữa, việc sản xuất không còn đáp ứng được những nhu cầu mới của thị trường mới, các lò gốm, lò gạch ngói cuối cùng của Xóm Lò Gốm ngừng sản xuất. Xóm Lò Gốm của Sài Gòn xưa phải kết thúc vai trò của mình, nhường bước cho sự phát triển của vùng gốm Biên Hoà – Lái Thiêu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Trịnh Hoài Đức – Gia Định thành thông chí. Sài Gòn, 1972.

– Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc – Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa. Nhà xuất bản Trẻ,1994

– Nguyễn Thị Hậu, Đặng Văn Thắng – Kỹ thuật sản xuất của lò gốm cổ Hưng Lợi, Quận 8 TP.HCM. Tạp chí Khảo cổ học số 2/2001.

TS Nguyễn thị Hậu


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

LƯỢC SỬ NGHỀ GỐM TRUNG HOA 3 –

ceramic-pot

TỪ TRIỀU ĐẠI NHÀ ĐƯỜNG ĐẾN CUỐI TRIỀU ĐẠI NHÀ THANH

Như đã nhắc đến trong hai phần trước, sự đóng góp to lớn của những người thợ gốm dưới triều đại nhà Đường (618 – 907 ) là việc dũng cảm sản xuất ra nhưng vật dụng đa màu. Vào đầu triều đại nhà Đường, việc sản xuất “sancai”, hay các tượng gốm ba màu thống trị toàn cảnh sản xuất gốm sứ giai đoạn đó. Tượng gốm thời Đường gồm ba loại chính là tượng hình người, tượng hình thú, các hình tượng canh mộ đa dạng hay vật tùy táng.

Sự thành công của việc sản xuất gốm trong triều đại Tống (960-1279 A.D.) được nhìn nhận là vật dụng phủ men đơn sắc (monochrome). Men đơn sắc ngoạn mục nhất dưới thời nhà Tống là celadon, được gọi bằng nhiều tên khác nhau tùy theo độ sâu đậm nhạt và phong cách (dạng thức đường nứt). Sẽ có bài viết riêng về loại men này.

Việc sản xuất gốm phủ men trắng và xanh lam vào cuối triều đại nhà Nguyên (1280-1367) và bắt đầu triều đại nhà Minh (1368-1643) thông thường có chất lượng xấu, có thể vì thiếu thốn cobalt nhập khẩu trong suốt thời gian bất ổn chính trị. Trong triều đại Yung Lo (1403-1424), cả hai kỹ thuật tạo dáng và phủ men đều được cải tiến và đồ gốm đã có được cốt thân trắng hơn và màu men xanh lam đa dạng hơn hẳn đồ vật dưới thời nhà Nguyên. Màu xanh dưới men của đồ gốm thời kỳ Yung Lo và Shuen Te (1426- 1435) được ghi nhận vì sự phong phú tông màu xanh lam của chúng.

Trong suốt triều đại nhà Minh, rồng và phượng là họa tiết trang trí phổ thông nhất trên đồ gốm. Những bố cục khác như hình thú, hình thực vật và hình người trong vườn hay nội sảnh thường thường được trang trí cho đồ gốm xanh và trắng. Một điều đáng chú ý là sau triều đại Wan Li (1573-1620), rất ít đồ gốm sứ có mang dấu triện của vương triều Minh.

Đồ gốm “wucai” (ngũ sắc) mang đậm tính thời trang ở các giai đoạn triều đại Chia Ching (1522-1566) và Wan Li (1573-1620)rất thường được phủ men dưới những dạng thức đầy màu sắc. Rất thường là những màu sắc hơi quá nặng nề. Những loại màu hay được dùng là đỏ, vàng, xanh lá cây đậm và nhạt, màu tím cà và màu xanh lam dưới men. Trong triều đại nhà Minh, nhiều loại đồ sứ khác nhau đã được trang trí hoa văn ngay trên nền men màu, chúng bao gồm những đồ vật với họa tiết men màu xanh lá cây trên nền men vàng, họa tiết men màu vàng trên nền men xanh lam, họa tiết men màu xanh lá cây trên nền men đỏ, và những cách phối màu khác.

Một loại đồ gốm vẽ men màu khác đáng ghi nhận được sản xuất dưới triều đại Minh là “susancai” hay “ba màu”. Ba màu sắc chính là vàng, xanh lá cây và tím cà. Gốm sứ “ba màu” dưới triều đại Minh xuất hiện ở các vương triều Hsuen Te, Chia Ching và Wan Li.

Đỉnh cao sản xuất gốm sứ được nhìn thấy ở thời kỳ trị vì của Hoàng đế Kang Hsi (1622-1722), Yung Chen (1723-1735) và Chien Lung (1736-1796) của triều đại nhà Thanh, trong suốt thời kỳ này có sự cải tiến trông thấy ở mọi dạng gốm sứ, bao gồm đồ gốm “xanh và trắng”, “polychrome”,đồ gốm “wucai”,…Men bóng được cải tiến ở thời kỳ đầu nhà Thanh được nung ở nhiệt độ cao hơn nên cũng đạt được vẻ đẹp bóng bẩy hơn gốm sứ thời nhà Minh.

antique-porcelain

Việc sản xuất đồ gốm “duocai” (gốm phủ men hai mặt hoặc hai màu men gốm trộn lẫn vào nhau) dưới thời Yung Chen đã đạt được đỉnh cao hòan thiện mới trong cả hai lĩnh vực số lượng và kỹ thuật.

Việc sử dụng bột men màu “ fencai” trong trang trí đồ sứ đưa vào áp dụng đầu tiên dưới thời Kang Hsi, đồ gốm “fencai” đạt đến trình độ thành thục ở kỷ nguyên Yung Chen. Khi các loại bột men màu “ fencai” đã được cải tiến và có các gam màu rộng rãi hơn và mỗi loại lại có thể áp dụng trong các dạng thức tông màu khác nhau, chúng có thể được dùng để miêu tả một số cấu trúc hình ảnh phức tạp cao như của các dạng hoa và thực vật, hình vẽ và ngay cả côn trùng.

Thanh triều là thời kỳ được đặc biệt ghi nhận về sản xuất đồ gốm men màu. Trong lĩnh vực “monochrome”, thợ gốm Thanh triều cũng đã thành công trong việc tái tạo lại hầu hết các màu men nổi tiếng được tìm thấy trên các đồ gốm của các triều đại Tống, Nguyên , và Minh. Thêm vào đó, họ đã sáng tạo một số men màu mới đặc biệt trong số đó là Sang-de-boeuf ( một dạng màu đỏ), màu tím, màu đỏ san hô, màu đen bóng. Cả bốn màu trên được phát minh dưới thời kang Hsi.

Những người thợ gốm thời Yung Chen đã phát minh một màu men đỏ lửa hồng (lujun) được sản xuất khi nung hai lần. Và nhiều loại khác nữa…

dsc_0109

Khi triều đình Minh bị nhà Thanh lật đổ (khoảng năm 1639-1700) và khi triều đình nhà Thanh bị chế độ Cộng Hòa Trung Hoa lật đổ (khoảng năm 1909-1915) thì sự xáo trộn giữa hai thời kỳ này gây hậu quả là việc sụp đổ các lò gốm chính thức được công nhận. Ở nơi xảy ra biến cố, những lò gốm tư nhân được thành lập bởi những người vận hành lò và những nghệ nhân trước kia đã từng làm việc trong các lò gốm hoàng gia. Với tay nghề của họ, họ đã sản xuất ra những đồ sứ chất lượng cao, như ‘những đồ sứ xuất khẩu được làm trong thời kỳ chuyển tiếp Minh sang Thanh’, mà đã dành được sự tán thưởng cao ở thị trường hải ngoại, và các bản mô phỏng xuất sắc các đồ gốm sứ thời kỳ Tống, Nguyên và Thanh được làm ra trong suốt “giai đoạn đầu của nền Cộng Hòa Trung Hoa”, hầu như giống hoàn toàn khi so với tác phẩm nguyên bản.

Khi chiến tranh nổ ra vào năm 1937, châm ngòi bởi sư kiện “Lu Kuo”, Lư Cầu Kiều, mọi lò gốm đều bị đóng cửa. Những người vận hành và nghệ nhân bị phân tán, phần nhiều trong số họ hành trình về phía nam để mưu sinh lập nghiệp. Khi hòa bình trở lại năm 1945, sự ổn định xã hội kéo theo việc tái thiết lại kỹ nghệ gốm sứ. Trong khoảng thời gian kéo dài 50 năm trở lại đây, kỹ nghệ gốm sứ đã lấy lại được sự khải hoàn trước đây và đang hưởng được sự phát triển phồn vinh. Trong hai mươi năm qua, kỹ nghệ gốm sứ đang phát triển với bước tiến nhanh.

Khanhhoathuynga dịch theo Articlebase và Arttique.

MỤC LỤC – SƠ LƯỢC VỀ NGHỀ GỐM TRUNG HOA

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »