Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘nghề gốm’

Lò lu Đại Hưng

Ông Tám Giang bên những chiếc lu tmới sản xuất

Ông Tám Giang bên những chiếc lu tmới sản xuất

Thủ Dầu Một – Bình Dương với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển; với những ngành nghề thủ công truyền thống khá nổi tiếng cả trong và ngoài nước như sơn mài, điêu khắc và gốm sứ. Trong đó nghề gốm cũng đã du nhập đến vùng đất này khá lâu đời đã. Hiện nay ngành gốm sứ đã phát triển một cách mạnh mẽ và có một chỗ đứng vững chắc trong sự phát triển kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây. Hầu hết nghề thủ công truyền thống làm gốm ở Bình Dương nói riêng và khu vực Nam bộ nói chung đều có nguồn gốc khá lâu đời, phần lớn do những người Trung Hoa di cư thế kỷ XVll – XVlll, đến vùng đất này sinh cơ lập nghiệp. Lò lu Đại Hưng thuộc ấp 1, xã Tương Bình Hiệp, TX.TDM, tỉnh Bình Dương cũng là một trong các lò lu như thế.

Lúc đầu lò được làm theo kiểu lò ống (hiện vẫn còn nhưng không sử dụng nung được) nằm ở phía trên lò lu hiện tại. Sau đó được làm lại phần lò bao như ngày nay, khi đó lò chỉ được lợp bằng tre và lá dừa nước lẩy ở sông Sài Gòn, cũng không ngoại lệ. Ong chủ đầu tiên sáng lập nên lò lu này là một người Hoa tên gọi là chú Ngâu, ông là người Quảng Đông – Trung Quốc. Khi đó hàng làm ra chủ yếu là các loại lu khạp, hủ… Đến khi ông Ngâu chết lò được sang lại cho ông Tư Ti ở Sài Gòn – Chợ Lớn, khi ông Tư Ti chết thì lò được sang lại cho một người Hoa khác có tên là Lầm, người quản lý lò cho ông Lầm cũng là một người Hoa. Nguyên liệu chính để làm ra những sản phẩm lu – khạp… lúc bấy giở, thường được lấy ba hoặc bốn loại đất như: đất đen, đất cát, đất lá bài và bùn dưới sông Sài Gòn trộn lẫn với nhau, cho vào hầm xay sẵn rồi đạp cho nhuyễn. Phương tiện chủ yếu để vận chuyển nguyên liệu là xe bò. Thành phẩm làm ra được các thương lái ở Sài Gòn mua lại, rồi bán về các tỉnh miền Tây Nam bộ và các vùng phụ cận, vận chuyển sản phẩm bằng ghe theo sông Sài Gòn xuôi về khắp nơi. Hiện tại, lò lu đã sản xuất nhiều mặt hàng gốm, sành rất đa dạng về mẫu mã và màu sắc. Đặc biệt, lò vẫn giữ nét thủ công truyền thống của nghề làm gốm, chủ yếu tạo sản phẩm bằng thủ công, màu sắc sản phẩm cổ điển, nguyên vật liệu của địa phương, chất đốt bằng củi, chưa sử dụng kỹ thuật, máy móc hiện đại Loại hình sản phẩm truyền thống là lu, khạp, vại, chậu… với kích thước đa dạng. Sản phẩm được xuất đi khắp nơi trong nước và xuất khẩu sang thị trường Campuchia…

Lò được xây hoàn toàn bằng gạch sống (gạch chưa nung), phơi khô sau đó đem vào xây lò và được trét bằng đất sét. Sau một thời gian lò được đốt thì lớp đất sét và phần gạch sống này sẽ trở nên rất chắc chắn. Sở dĩ người ta không dùng xi măng vì nó sẽ bị cháy hoặc nổ trong quá trình đốt lâu dài. Lò chính được xây theo kiểu lò Bao, các bao rộng từ 2,5 – 3m cao từ 2,6 – 2,8m, với tổng cộng 15 bao nối liền nhau từ thấp đến cao nhìn như những vỏ sò nằm nối tiếp nhau, cái nọ sát cái kia. Căn đầu tiên (Bao đầu tiên) được gọi là căn mồi lửa, căn này có cửa cao khoảng 1 ,5m và rộng 1m, riêng ở bên hông các căn còn lại đều có 2 cửa hai bên rộng khoảng O,8m cao 1,2m các cửa này dùng để đưa sản phẩm vào lò và lấy sản phẩm ra sau khi đã nung chín. Sau khi đưa sản phẩm vào lò các công nhân sẽ dùng gạch bít kín các cửa này lại, chỉ chừa lại một ô nhỏ phía trên hình chữ nhật rộng khoảng 15cm, dài 30cm những ô này để cho người thợ chụm củi quan sát lửa trong bao, xem độ nóng trong lò đã đủ chưa và đạt đến độ chín cần thiết hay không. Các ô này còn được gọi là nhãn lò ”Mắt lò thường thì các bao lớn ở phía trước của lò chủ yếu để nung các loại lu lớn và nhỏ, lu lớn có thể xếp được 2 tầng với 3 hàng khoảng 40 chiếc, các bao nhỏ ở phía sau chủ yếu là xếp khạp và hủ, các bao nhỏ này có thể xếp được khoảng 200 khạp lớn và 100 khạp nhỏ. Thông thường thì đốt liên tục khoảng 6 giờ thì sản phẩm sẽ chín, nhưng có khi cũng chỉ khoảng 4 giờ là được, chủ yếu là do con mắt tinh tế của người nghệ nhân.

Nguyên liệu chủ đạo là đất sét, nhưng phải là loại đất có pha cát, sỏi không phải là loại đất dẻo. Phần nguyên liệu này chủ yếuđược lấy từ Dầu Tiếng, Tân Uyên… Khi mới được đưa về được đổ các bãi ngoài trời trước khi đưa vào nghiền. Đất được để ngoài trời càng lâu thì càng tốt. Vì khi để ở ngoài trời, dưới tác động của thời tiết mưa nắng, đất bắt đầu có sự phân rã sẽ làm cho chất phèn trong đất dần dần chảy hết ra ngoài. Đất sẽ được cho vào máy xay cho nhuyễn và loại hết các loại tạp chất, đem ngâm trong bể khuấy đều và đạp bằng chân cho đất thật nhuyễn, thật đều các nguyên liệu với nhau, rồi đất được vớt lên để khoảng 2 giờ thì cho vào máy ép cho nhuyễn, cũng như làm cho đất sét đặc lại không còn không khí bên trong. Các sản phẩm ở đây chủ yếu là lu và khạp. Trong đó lu nhất là lớn nhất có thể đựng tới 200 lít nước. Hoa văn trang trí trên sản phẩm thường là hình rồng, phụng được đắp nổi. Khạp là lại sản phẩm cũng dùng chủ yếu là đựng nước, nhưng nhỏ hơn lu, lu và khạp có màu chủ yếu là vàng da bò, da lươn. Đây là loại men chủ yếu dùng cho hai loại sản phẩm này.

lò lu Đại Hưng 01

Hiện nay, theo ông Bùi Văn Giang là người trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm này thì trong những năm gần đây, các loại lu lớn, nhỏ cũng được các thương lái từ TP.HCM và các tỉnh miền Tây Nam bộ đặt hàng. Sau đó, một phần cũng tiêu thụ trong nước chủ yếu là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Thị trường nước ngoài chủ yếu và duy nhất của lò này thị trường Campuchia, các thương lái buôn Việt Nam và Campuchia sau khi mua các sản phẩm tại đây thì cho thuyền ngược theo sông Sài Gòn để qua Campuchia tiêu thụ, các sản phẩm được thị trường này chấp nhận là các loại lu lớn (lu nhất).

Là một trong những lò lu còn khá nguyên vẹn, đã hình thành tồn tại và phát triển qua hàng trăm năm trên vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương. Bảo quản và giữ gìn được lò lu này, nhằm giáo dục cho thế hệ hôm nay và mai sau về một nghề thủ công truyền thống, đóng góp và có nhiều ý nghĩa trong đời sống, mà còn thể hiện tính nhân văn. Giữ gìn được nét văn hóa đặc trưng của nghề gốm – một trong các nghề thủ công truyền thống ở Bình Dương. Ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến bộ từng ngày, những lò lu gốm thủ công này có thể dần dần sẽ bị biến mất và thay thế vào đó là những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hơn. Vì vậy, gìn giữ và bảo quản được di tích này sẽ góp một phần không nhỏ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của địa phương, trong hành trình của lịch sử dân tộc, đang bước vào thời kỳ mới.

Lò lu Đại Hưng đã được xếp hạng Di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 4815/QĐ-UBND ngày 3-10-2006 của UBND tỉnh Bình Dương.

(Ban Quản lý Di tích lịch sử Binh Dương)

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Đèn gốm làng nghề Thanh Hà – Hội An

den gom


Tạo tác đèn lồng tại làng nghề Thanh Hà.
(LĐĐT) – Đến đô thị cổ Hội An (Quảng Nam), du khách sẽ được gặp thứ ánh sáng huyền ảo lung linh hắt bóng từ những chiếc lồng đèn gốm đặc biệt được trang trí ở hầu khắp các nơi. Đấy chính là thứ ánh sáng hình thành từ đất – nước – lửa – gió.

Gốm cũng có thể làm lồng đèn – một sáng tạo độc đáo của những nghệ nhân làng gốm có lịch sử 500 năm Thanh Hà. Từ đô thị cổ Hội An, đi thuyền ngược sông Thu Bồn khoảng hơn 1km, bạn sẽ đến một bến thuyền với cây đa cổ thụ và mái nhà tranh làm điểm dừng chân, nơi từ đó bạn bước vào tham quan làng gốm Thanh Hà.

Sản phẩm lồng đèn gốm Thanh Hà.

Điều thú vị là du khách có thể tận mắt chứng kiến quy trình sản xuất gốm từ nhiều thế kỷ trước. Nghệ nhân Lê Trọng – 70 tuổi, người làm lồng đèn bằng đất nung đầu tiên tại đây – cho biết: “Ban đầu, chúng tôi thuê hoạ sĩ thiết kế mẫu lồng đèn. Sau đó cứ thế mày mò làm thêm các kiểu dáng… theo phương thức hoàn toàn thủ công”.

Thanh Hà vốn nổi tiếng là nơi sản xuất và cung cấp gạch, ngói lợp cho các ngôi nhà cổ ở Hội An – Di sản Văn hoá thế giới. Theo những người già, làng nghề hình thành từ những năm đầu thế kỷ 16. Sang thế kỷ 17, gốm Thanh Hà được biến đến qua các sản phẩm nổi tiếng vào thời đó với tên gọi chung là gốm “Cauchi”.

Dưới thời nhà Nguyễn (thế kỷ 19), nhiều nghệ nhân ở đây được gọi ra kinh đô Huế xây dựng cố cung, trong số đó có người được vua phong tước hiệu cao. Tên tuổi làng gốm Thanh Hà xứ Quảng sánh cùng Phù Lãng, Bát Tràng… xứ Kinh Bắc. Thời hưng thịnh, làng có cả ngàn thợ gốm. Tuy vậy, trước sự lấn át của gốm công nghiệp, gốm Thanh Hà một thời chìm vào quên lãng, suốt mấy mươi năm liền, làng nghề phải chuyển sang làm gạch ngói để tồn tại…

Khu du lịch biển Hội An  trong ánh sáng lồng đèn gốm.

Chiếc lồng đèn gốm chính là sản phẩm đánh dấu sự trở lại của gốm Thanh Hà. Đó là một cách tự làm mới để tồn tại. Ban đầu, lồng đèn gốm đỏ được các nghệ nhân làng gốm làm ra cung cấp cho các doanh nghiệp du lịch tại Hội An trang trí nội thất. Kịp đến khi ý tưởng bảo tồn làng nghề truyền thống theo hướng biến làng nghề thành điểm tham quan du lịch, thì lồng đèn gốm nhận được sự chú ý đặc biệt, không chỉ “phủ sóng” các cơ sở du lịch Hội An mà còn theo chân du khách đi khắp nơi, phụng hiến thứ ánh sáng huyền diệu kia.

Lồng đèn gốm rất đa dạng kiểu dáng. Cũng nhờ vào việc quảng bá sản phẩm qua các tour du lịch đến Thanh Hà mà làng nghề nhận những đơn đặt hàng hàng ngàn sản phẩm lồng đèn gốm cho các doanh nghiệp du lịch khắp đất nước, từ TPHCM, Hà Nội, và cả xuất khẩu sang nước ngoài, theo mẫu mã của Cty Okinawa – Nhật Bản…

den gom a

Mọi giá trị của lồng đèn gốm nằm trong sự giản dị và tài hoa, quá khứ và tương lai. Và bây giờ, bạn có thể biết, ánh sáng huyền diệu hắt bóng từ chiếc lồng đèn gốm chính là thứ ánh sáng của “tứ đại”: đất – nước – lửa – gió…


Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Vẽ đẹp gốm Cây Mai – cập nhật thêm thông tin mới

1

Trong dòng gốm Sài Gòn xưa, gốm Cây Mai nổi lên như một hiện tượng của Sài Gòn – Chợ Lớn xứ Nam kỳ những năm cuối thế kỷ 19. Đây là một dòng gốm mỹ thuật do các nghệ nhân người Hoa của Chợ Lớn chế tạo.

Tên gọi gốm Cây Mai trong xóm Lò Gốm bắt nguồn từ địa danh Đồn Cây Mai (nay là góc đường Hùng Vương – Nguyễn Thị Nhỏ), một trong nhiều khu lò của gốm Sài Gòn xưa chuyên sản xuất từ các vật dụng sinh hoạt đến các sản phẩm phục vụ nhu cầu trang trí.

Những hiệu lò nổi tiếng

2
Gốm mỹ thuật Cây Mai, xưa đến nay luôn là mục tiêu săn lùng của giới đam mê cổ ngoạn – những người yêu thích vẻ đẹp gốm mỹ thuật tráng men Đề ngạn/ Mai khư của Sài Gòn xưa

Nói về gốm Cây Mai, xin tạm chia thành hai dòng phổ biến: một dòng chuyên sản xuất các đồ gia dụng gồm muỗng, chén, ấm trà, bình rượu, thố, siêu, nồi có tay cầm, chậu (việm hay còn gọi là vịm), hũ, ống nhổ, thạp, lu… Những tên lò thuộc dòng này có thể kể đến như Cây Keo, Hưng Lợi (qua các hiện vật khai thác được).

Đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện thêm nhu cầu sản phẩm vừa mang tính hiện đại (Âu – Tây) vừa đáp ứng chất lượng và mỹ thuật của người tiêu dùng. Dòng gốm Cây Mai tiến thêm một bậc là cho ra đời sản phẩm dùng trang trí đình chùa, đền miếu, nhà ở… Những vật phẩm cao cấp này giúp định danh gốm Cây Mai trong dòng gốm Sài Gòn xưa như một tuyệt đỉnh về kỹ thuật làm gốm mỹ thuật do những nghệ nhân người Hoa ở Chợ Lớn tác tạo.

3

Những tên lò thuộc dòng gốm mỹ thuật Cây Mai được biết đến qua những hiện vật hiếm hoi (chủ yếu là tượng trang trí, tượng thờ) cho thấy rõ tên tuổi và được lưu giữ tại các đình chùa trong khu vực Chợ Lớn và rải rác trong các đình chùa, nhà dân ở khắp vùng Nam kỳ. Có thể kể đến những tên quen thuộc như lò Đồng Hoà, Bửu Nguyên, Mai Sơn… Các sản phẩm gốm phủ men độc đáo, thoạt nhìn rất thô mộc, đơn giản, nhưng ẩn chứa nét công phu trong chế tác, chuẩn mực trong tạo hình, kỹ lưỡng trong chấm men, hài hoà trong bố cục tổng thể. Mỗi sản phẩm như thế là một tuyệt tác mỹ thuật, đại diện cho một dòng gốm đặc trưng của Sài Gòn xưa trong bản đồ gốm Việt.

Vẻ đẹp gốm Cây Mai

Mỹ thuật trong gốm Cây Mai được lột tả bằng kỹ thuật phủ men. Theo giới kỹ thuật gốm sứ, bảng màu men của gốm Cây Mai không phong phú, thậm chí nghèo nàn, gồm những màu như xanh cobalt, xanh lục đậu, xanh ve chai, nâu, đen, trắng, vàng, đỏ. Thế nhưng, khi kết hợp cùng các sản phẩm được tạo ra từ chất liệu đất có màu vàng, rất mềm và mịn ở vùng Đồn Cây Mai, các màu men đã góp phần tạo nên “chiếc áo” mỹ thuật hoàn hảo và bền mãi với thời gian.

Theo tài liệu nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Trảng, lò Cây Mai sản xuất đồ sành mỗi năm ra lò 1.000 lu lớn đựng nước, 250.000 sản phẩm đủ loại khác và 150.000 bình đựng thuốc phiện. Lò Cây Mai được khen thưởng một huy chương bạc tại cuộc triển lãm 1880 tại Nam kỳ

Những sản phẩm tiêu biểu của dòng gốm Cây Mai phủ men nay vẫn còn khá nhiều, như các loại đôn, chậu cảnh, với kỹ thuật tạo hình bằng bàn xoay và trang trí trên thân chậu bằng các hoạ tiết được in khuôn, cắt dán, đắp theo lối phù điêu. Đặc biệt là kỹ thuật chạm lộng, khắc chìm tô men ở các loại đôn kê chậu kiểng ngoài sân vườn. Lối chạm lủng, đắp nổi, phủ men ở các thể loại đôn tròn, đôn lục giác, bát giác được xem là một tiền đề sau này của dòng gốm Biên Hoà. Bà hiệu trưởng Balick (người Pháp), người sáng lập ra trường Mỹ nghệ Biên Hoà – đã tạo nên dòng gốm Biên Hoà xưa (cũng với kỹ thuật khắc chìm tô men) bằng cách pha trộn hài hoà giữa gốm Sài Gòn (mà đại diện tiêu biểu là gốm Cây Mai) và dòng gốm Limoges của Pháp. 4

Ở các đình chùa của người Hoa trong Chợ Lớn, rất dễ thấy những hiện vật của gốm Cây Mai, các loại tượng, tiếu tượng, linh vật… ngự trên nóc đình chùa, tượng trong gian thờ. Một sản phẩm đặc biệt và độc bản của gốm Cây Mai nay còn nguyên vẹn là tấm Chiếu Bích Cửu Long nằm chính diện Chùa Bà (đường Nguyễn Trãi). Tác phẩm gồm 25 miếng ghép thể hiện 9 con rồng ẩn hiện trong mây rất sinh động và ấn tượng.

Những hiện vật gốm Cây Mai còn khá nhiều trong dân gian ở Nam kỳ gồm muỗng, bình, bát, chén, lu, hũ, bình rượu với các ký tự chữ Hán thường gặp như: Hưng Lợi diêu, Việt Lợi, Kim Ngọc, Chấn Hoa xuất phẩm, Nhất phiến băng tâm, Khách lai đương tửu, Vạn ứng dược tửu, Song hỷ… Chính sự biến đổi quá sớm của thị trường đã khiến gốm Cây Mai thất truyền từ những năm đầu thế kỷ 20. Các thợ gốm Cây Mai tản mác về Lái Thiêu, Biên Hoà, lập lò gốm, tạo ra những dòng gốm tráng men Lái Thiêu đặc trưng với các lò của người Tiều, người Quảng, hay dòng gốm Biên Hoà đặc trưng với màu men xanh đồng trổ bông, cũng đã khẳng định được tên tuổi và vẻ đẹp trong bản đồ gốm sứ Việt Nam.

Gốm mỹ thuật Cây Mai, từ xưa đến nay, luôn là mục tiêu săn lùng của giới đam mê cổ ngoạn – những người yêu thích vẻ đẹp gốm mỹ thuật tráng men Đề ngạn/Mai khư của Sài Gòn xưa.

8Những sản phẩm tiêu biểu của dòng gốm Cây Mai phủ men nay vẫn còn lại khá nhiều như các loại đôn, chậu cảnh, với kỹ thuật tạo hình bằng bàn xoay và trang trí bên thân chậu bằng các hoạ tiết được in khuôn, cắt dán, đắp theo lối phù điêu

6

Hiệu lò Đồng Hoà diêu tạo
5
Hiệu lò Chợ Rẫy Mai Sơn
7
Những hoạ tiết đắp chạm công phu

Lam Phong

07 miếng gốm Cây Mai của nhà sưu tập Bạch Liên (Phú Nhuận – Tp Hồ chí Minh)

Theo nhà sưu tập thuật lại thì cách đây 04 năm, chị đã may mắn mua được bộ gốm 07 miếng ( mô đun lắp ghép  trang trí  bằng gốm ) này của một chùa Hoa cổ trên đường Trần Văn Kiều quận 5. Chùa bị giải tỏa để làm đường, nên chùa bán bộ gốm ngoài trời này để lấy tiền xây chùa mới (tiền đền bù đủ xây lại một chùa cũ nhưng họ muốn làm lớn hơn nên thiếu tiền). Dự án Đông -Tây vô tình đã đưa 7 mảnh gốm Cây Mai tuyệt mỹ này hữu duyên cùng chị.

Những bức hình dưới đây được chụp hơi nghiệp dư nên không phản ánh đúng sắc độ của men như thực tế tôi  đã quan sát là còn đẹp hơn rất nhiều.

large_gal_4a1245cacfd42

large_gal_4a1245e7eab2a

large_gal_4a1246ac095bd

large_gal_4a1246bfc46b9

large_gal_4a12467aea852

large_gal_4a124591e694b

large_gal_4a124664c5d1d

large_gal_4a1246078f6ab

large_gal_4a1246920580a


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


C


Read Full Post »

Hình ảnh triển lãm gốm Lái Thiêu nhân kỷ niệm 30/4 và 1/5 2009

Nhân kỷ niệm 30/4 và 1/5 2009 Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM cùng các nhà sưu tập tư nhân tổ chức trưng bày chuyên đề: Gốm Lái Thiêu – gốm gia dụng miền Nam. Đây là trưng bày có số hiện vật phong phú, đa dạng nhất từ trước đến nay về gốm Lái Thiêu (639 hiện vật) của ba trường phái đặc trưng gốm Lái Thiêu gồm: gốm Quảng Đông, Triều Châu, và Phúc Kiến.

Sản phẩm gốm Lái Thiêu mang tính chất hồn nhiên, tiện dụng và thẩm mỹ, đã hiện diện sâu rộng trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Nam bộ suốt gần hai thế kỷ qua. Trước khi chuyển tiếp qua thời kỳ đồ gia dụng kim khí và thuỷ tinh, một số đồ dùng trong nhà bếp được làm bằng gốm, như cái lẩu, bình lọc nước, ống cắm đũa, v.v…

Trong triển lãm, bảo tàng Mỹ thuật cùng nhóm tác giả là các nhà nghiên cứu, sưu tập tư nhân cũng ra mắt cuốn sách Gốm Lái Thiêu, cung cấp những tư liệu, câu chuyện và thông tin phong phú về nguồn gốc xuất xứ, kỹ thuật chế tác, mỹ thuật… rất đầy đủ và chi tiết về gốm Lái Thiêu – một dòng gốm lừng danh Nam bộ ở thế kỷ 20.

Từ sự đóng góp của Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM cùng các nhà sưu tập, 639 hiện vật gốm được mang đến trưng bày tại bảo tàng rất phong phú, đa dạng về màu sắc, tạo hình… Các hiện vật được phân theo nhóm chủng loại gồm các loại bình bông, bình đựng nước, gối nằm, ống cắm đũa, bình vôi, đèn và chân đèn các loại, chén bát, tượng thờ… Dịp này, nhóm các nhà sưu tập cũng ra mắt tập sách ảnh cùng tên triển lãm để giới thiệu rõ hơn giá trị của dòng gốm.

Bà Nguyễn Thị Đức, giám đốc bảo tàng Mỹ thuật TP HCM nhận xét: “Cuộc trưng bày gốm Lái Thiêu là một bài học lịch sử – văn hóa cụ thể và sống động, là chuyến hành trình ngược về nguồn cội của dòng gốm đã gắn bó bao năm với người Nam Bộ”.

Dưới đây là vài hình ảnh tại cuộc trưng bày, kéo dài từ 28/4 đến hết 25/5: ( click trên hình để xem ảnh lớn)

nguồn Sgtt và VnExpress

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Gốm Thanh Hà – Quảng Nam

Gốm sứ Thanh Hà đang được trưng bày tại Bảo tàng cổ vật

Gốm sứ Thanh Hà đang được trưng bày tại Bảo tàng cổ vật

Làng gốm Thanh Hà nằm ở địa phận xã Cẩm Hà, thị xã Hội An. Dù đã trải qua bao nhiêu sự đổi dời của thời gian, sự khó khăn về kinh tế bởi sự cạnh tranh dữ dội của các mặt hàng ngoại quốc, dân làng ở đây vẫn cố tồn giữ một nghề truyền thống truyền thừa từ cha ông đã bao đời lặng lẽ đã góp vào các mặt hàng nhu yếu xã hội bằng các sản phẩm đặc trưng về nghề gốm như: chén, bát, nồi, chum, vại, bình bông, chậu kiểng…

gomth2

Xuất phát từ nguồn gốc Thanh Hoá vào đầu thế kỷ XVI ( cư dân vùng Thanh Hóa theo chân Chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp đã chọn vùng đất Thanh Hà ngày nay), nghề gốm Thanh Hà đã tiếp thu một số kỹ thuật của đất Quảng Nam để hình thành nên một làng nghề với các sản phẩm hội đủ mọi yếu tố không giống với bất kỳ một làng gốm nào ở địa bàn cả nước dù cũng chỉ với nguyên liệu chính là đất sét và kỹ thuật chế tác chính là ở đôi bàn tay và nhiệt độ ở các lò nung. Ðiều đó thể hiện rõ rệt ở các điểm: màu sắc, độ bền, độ nhẹ và các hoa văn trên bề mặt sản phẩm. Tuỳ theo thời gian và nhiệt độ nung màu sắc gốm Thanh Hà có thể từ màu hồng, hồng vàng đến đỏ, gạch nâu và đen tuyền. Tuỳ theo kỹ thuật chế biến đất và các thao tác dây chuyền trong chuốt, nắn độ bền của các sản phẩm gần như vô địch so với các loại khác ở trong nước và độ láng có thể nói là chẳng khác gì tráng men. Ðồ gốm ở đây đặc biệt lại nhẹ hơn các sản phẩm cùng loại ở các địa phương khác. Ðặc biệt, khi gõ vào sản phẩm vang lên những âm thanh trong, thanh mảnh và có độ vang. Một số sản phẩm được đặt theo yêu cầu hoặc các chậu để trồng phong lan, hoa kiểng đều được thực hiện những hoa văn chìm, nổi tuy đơn sơ nhưng không kém phần tinh tế, sắc sảo về mỹ thuật.

gomth3

Các nghệ nhân gốm Thanh Hà từng được triều Nguyễn mời ra Huế để chế tác những sản phẩm đặc biệt phục vụ cho sinh hoạt cung đình và cũng như nghệ nhân mộc Kim Bổng, họ cũng được phong hàm Cửu phẩm, Bát phẩm. Từ vài thập niên gần đây gốm Thanh Hà vẫn có mặt ở khắp nơi trong nước và thỉnh thoảng lại xuất hiện ở nước ngoài (Canada, Mỹ, Pháp).Ngoài gốm, làng Thanh Hà còn nổi tiếng về gạch, ngói. Nơi đây từ xưa đến nay đã từng cung cấp ngói âm dương, ngói mấu, ngói ống để phục vụ cho các công trình kiến trúc cổ, biểu trưng là đô thị cổ Hội An trong các công trình trùng tu, tôn tạo di tích.

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm Chu Đậu sau 400 năm thất truyền

Bấy lâu nay người ta chỉ biết đến gốm Bát Tràng, Quảng Ninh, Thổ Hà… kể cả những nhà nghiên cứu và giảng dạy về gốm sứ. Bởi lẽ họ chưa thấy có một trung tâm gốm nào thời Lê, nên khi thấy sản phẩm gốm hoa lam, gốm tam thái (3 màu – thực là 5 màu) thì nghĩ ngay là của Bát Tràng.

Gốm Chu Đậu thời Mạc

Gốm Chu Đậu thời Mạc

Sự thật không phải. Bởi đến nay, Bát Tràng vẫn chưa đưa ra được sưu tập gốm hoa lam thế kỷ 14 – 15. Trong khi đó gốm hoa lam, gốm tam thái là mặt mạnh của Chu Đậu từ thế kỷ 14, cực thịnh ở thế kỷ 15 – 16, bị lụi tàn đi ở thế kỷ 17. Điều này do nhiều nguyên nhân: Nội chiến Lê Mạc kéo dài từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17 rất khốc liệt. Nhà Mạc thất thủ phải lên ngàn. Nơi đây là vùng chiêm trũng của huyện Nam Sách. Mãi những năm cuối thập niên 20 thế kỷ trước Nam Sách mới có đê. Có nghĩa trước đó nước sông vào ra tự nhiên, tránh sao khỏi hư hại đến lò nung, sản xuất gặp nhiều khó khăn. Giặc Minh xâm lược nước ta, bắt đi nhiều nghệ nhân giỏi. Một số khác tìm đường đi làm ăn ở Nhật, Nam, Bắc Triều Tiên. Nghệ nhân Vương Quốc Doanh đem thợ đến Bát Tràng, góp một phần làm cho gốm sứ Bát Tràng hưng thịnh như ngày nay.

Tạo hình hiện đại của chiếc bình rượu cổ gốm Chu Đậu

Tạo hình hiện đại của chiếc bình rượu cổ gốm Chu Đậu

gốm chu đậu-1a

Chu Đậu là một vùng quê yên ả nằm bên tả ngạn sông Thái Bình thuộc trấn Thương Triệt, huyện Thanh Lâm, Nam Sách châu, nay là làng Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Theo các cụ già của làng kể lại thì xưa kia Chu Đậu là vùng Trần triều Hải khấu (cảng nhà Trần). Chữ Hán Chu là thuyền, Đậu là bến (bến thuyền đỗ). Nơi đây, thuyền bề ra vào tấp nập. Từ Chu Đậu, xuôi sông Thái Bình đến Nấu Khê, sang sông Kinh Thày ra cảng Vân Đồn – một cảng giao lưu với các nước của người Việt xưa. Cũng từ Chu Đậu xuôi sông Thái Bình sang sông Luộc đến Phố Hiến về Thăng Long – cũng là một thương cảng lớn từ thế kỷ XVII.

Từ lâu, người dân đồng bằng Bắc Bộ chỉ biết đến các làng gốm truyền thống Bát Tràng (Hà Nội), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Thổ Hà, Phù Lãng (Hà Bắc)… còn gốm Chu Đậu, căn cứ vào những di vật có ghi rõ niên hiệu thì đã hơn 400 năm thất truyền. Đến khi ông Makoto Anabuki nguyên Bí thư Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội, năm 1980 trong chuyến công tác tại Istambul, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ, khi đến thăm bảo tàng Topkapi Saray đã nhìn thấy chiếc bình hoa lam quý giá có ghi dòng chữ Hán: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị hý bút” (nghĩa là: Năm Thái Hoà thứ tám (đời vua Lê Thánh Tông 1450), thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách, vẽ chơi). Ông Makoto Anabuki đã viết thư cho Bí thư tỉnh ủy Hải Hưng là ông Ngô Duy Đông, nhờ các khảo cổ học chỉ cho chiếc bình gốm đó có xuất sứ từ làng gốm nào.

Sau một thời gian điền dã, khảo sát những dấu vết từ làng gốm cổ, từ năm 1986 đến 1997, các nhà khảo cổ học tỉnh Hải Dương đã xác định được phạm vi di tích sản xuất gốm rộng 4 vạn mét vuông tập trung nhất tại khu vực giáp đê sông Thái Bình thuộc địa bàn xã Thái Tân và Minh Tân huyện Nam Sách. Sau 7 lần khai quật, kết quả thu được thật bất ngờ đối với giới chuyên môn, còn đối với người dân địa phương thì họ đã khám phá được quá khứ lẫy lừng của tổ tiên mình: Hơn 100 đáy lò dưới lòng đất, hơn một vạn hiện vật chủ yếu là bát, đĩa, hộp, lọ, bình… Biện pháp bắn cacbon đã xác định được những sản phẩm này có niên đại cách đây khoảng 500 đến 600 năm.

Theo các nhà nghiên cứu thì Chu Đậu xưa là một trung tâm gốm cao cấp, xuất hiện vào cuối thế kỷ XIV, cực thịnh vào thế kỷ XV – XVI và tàn lụi vào thế kỷ XVII do nhiều nguyên nhân. Nội chiến giữa nhà Lê và nhà Mạc, vùng Nam Sách trong đó có làng gốm Chu Đậu đã bị tàn phá, các nghệ nhân làng gốm phải phiêu bạt đến vùng khác và lập nên các làng nghề gốm mới. Giặc Minh xâm lược nước ta đã bắt đi nhiều nghệ nhân giỏi, một số khác di cư sang Nhật, Triều Tiên hoặc đi tìm đường làm ăn ở các làng gốm trong nước như nghệ nhân Vương Quốc Doanh đã dẫn cả một đoàn thợ lên làng gốm Bát Tràng, góp phần làm cho gốm Bát Tràng hưng thịnh như ngày nay… Một nguyên nhân nữa là trấn Thương Triệt xưa là vùng chiêm trũng gần sông, dễ bị ngập lụt, khó tránh khỏi ảnh hưởng đến việc sản xuất gốm.

Cũng theo các nhà nghiên cứu, gốm Chu Đậu là sự kế thừa của gốm Vạn yên (Kiếp Bạc) thế kỷ XIII, gốm Lý – Trần về lớp men ngọc và tạo khắc hoa văn chìm nổi, kiểu dáng thanh thoát. Bởi vậy gốm Chu Đậu thời đó đã đạt được 4 tiêu chuẩn: Mỏng như giấy, trong như ngọc, trắng như ngà, kêu như chuông. Một điều nữa là gốm Chu Đậu đã thể hiện được tâm hồn Việt qua hoa văn trang trí gắn với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân vùng châu thổ sông Hồng như cảnh mục đồng chăn trâu, cô gái lái đò, người đội nón, mặc áo tứ thân, kết tóc đuôi sam, những mái nhà tranh ven sông, hoa sen dây, hoa cúc quấn, cỏ cây chim cá… Giữa các sản phẩm thường có chữ Phúc, Chính, Sĩ, Hoa, Trung, Kim, Ngọc, Tàm, Quỳ, Trù…, có thể là tên hiệu của các chủ lò. Phương pháp chế tạo cũng đạt trình độ cao, đó là chuốt, tạo dáng trên bàn xoay, ngắt sản phẩm thành nhiều công đoạn rồi lắp ghép lại và gia công. Xương gốm phần lớn có màu xám nhạt, cứng rắn, có loại trắng đục, trắng trong. Phương pháp trang trí rất đa dạng, phóng khoáng, trữ tình, hài hòa, tinh xảo như vẽ, khắc, họa, đắp… sản phẩm được phủ và vẽ chất liệu men trắng hoa lam, men ngọc, men màu tam thái hoặc rạn đục…

Dáng ấm phụng thanh thoát của gốm cổ Chu Đậu

Dáng ấm phụng thanh thoát của gốm cổ Chu Đậu

Người có công lớn với nghề gốm cổ truyền Chu Đậu là nghệ nhân Đặng Mậu Nghiệp tự là Huyền Thông, quê ở Hùng Thắng châu Nam Sách. Cũng tại bảo tàng Topkapi Saray ở thủ đô Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ) còn lưu giữ chiếc lư hương gốm mầu xanh xám của ông làm từ năm Hưng Trị thứ 2 (1589), một trong hai cổ vật gốm quý giá nhất của Chu Đậu. Người làng Chu Đâu xưa đã tôn ông là ông tổ nghề gốm Chu Đậu.

Đầu năm 1994, tại vùng biển Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam, ngư dân Duy Xuyên và Hội An đã phát hiện và lặn vớt được rất nhiều hiện vật gốm. Các nhà khảo cổ học Hội An, qua giám định khoa học, đã bất ngờ thấy rằng toàn bộ hiện vật gốm này đều có nguồn gốc từ làng gốm Chu Đậu, được sản xuất vào khảng thế kỷ XIV – XVI. Hơn 340 nghìn hiện vật gốm, trong đó khoảng trên 250 nghìn hiện vật còn lành, chứng tỏ từ xa xưa, gốm Chu Đậu đã được xuất cảng rộng rãi với số lượng lớn bằng con đường hàng hải. Như vậy Chu Đậu xưa là nơi hoạt động, sản xuất đồ gốm dân dụng và mỹ thuật phồn thình của cư dân Việt.

Đến nay, những sản phẩm gốm Chu Đậu đã được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên thế giới. Từ Ai Cập đến Trung Cận Đông và toàn bộ các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Nhật Bản là nước có sản phẩm gốm Chu Đậu nhiều nhất. Đến nay đã có 46 bảo tàng của các nước trên thế giới có trưng bày các hiện vật gốm Chu Đậu.

Giá trị của gốm Chu Đậu, sau khi được tìm thấy ở Cù Lao Chàm, đã làm sửng sốt trong giới học giả và mọi người. Tờ Việt Mercury số ra tháng 6/2000 đã đăng lời bà Dessa Goddard – Giám đốc ngành nghệ thuật Á Châu của nhà bán đấu giá Butterfields tại San Francisco: “Phát hiện này đang trả lại cho Việt Nam một chương của di sản nghệ thuật mà người ta từng nghĩ là đã hoàn toàn biến mất”.

Người dân ở làng gốm Chu Đậu hầu như không ai hiểu, thậm chí nhiều người còn không hay biết ở làng có nghề gốm truyền thống nổi tiếng mà chỉ biết đến nghề dệt chiếu truyền thống có từ đầu thế kỷ XIX nếu không có cổ vật gốm Chu Đậu tại bảo tàng Topkapi Saray, thủ đô Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ), hoặc hiện vật được trục vớt ở vùng biển Cù Lao Chàm và hiện vật khai quật được tại chính quê hương của họ. Sống trên mảnh đất đã sản sinh ra dòng gốm quý giá nhưng chẳng có người dân Chu Đậu nào ngày nay còn biết đến nghề này. Họ chỉ quẩn quanh với đồng ruộng và nghề dệt chiếu nên cuộc sống rất khó khăn.

Một sự kiện mang tính lịch sử đối với làng gốm cổ truyền Chu Đậu. Năm 2000, ông Nguyễn Hữu Thắng, giám đốc Công ty Sản xuất, Dịch vụ và Xuất nhập khẩu Hà Nội (HAPRO), người quê Nam Sách đã về Chu Đậu để thực hiện một dự án đầu tư sản xuất mặt hàng gốm xuất khẩu theo phương pháp phục chế gốm cổ và tạo mẫu sản phẩm mới theo phong cách gốm cổ Chu Đậu, nhằm khôi phục thương hiệu nổi tiếng của quê hương mình.


Nguồn ảnh minh họa gốm Chu Đậu sản xuất ngày nay: VânChi’s page, click trên hình để xem bigger size

Được sự ủng hộ của chính quyền và nhân dân địa phương, tháng 10-2001, Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã ra đời và bắt đầu đi vào hoạt động với tổng số vốn đầu tư giai đoạn một là 24 tỷ đồng. Cơ sở rộng 33.250m2 được xây dựng bên dòng sông cổ chảy qua làng. Ông Nguyễn Hữu Thắng, giám đốc Công ty cho biết: Giai đoạn đầu của xí nghiệp là mở cuộc săn lùng, sưu tầm những mẫu gốm cổ độc đáo, chiêu hiền đãi sĩ nhằm tập hợp những chuyên gia, nghệ nhân tài danh nhất trong các làng gốm cổ truyền đến xí nghiệp, cộng tác nghiên cứu để tìm ra từng loại gam màu của gốm cổ. Hơn 20 nghệ nhân từ Hà Nội, Bình Dương, Biên Hòa, Hải Dương… đã hợp tác với xí nghiệp, vừa nghiên cứu những nét đặc sắc của gốm cổ Chu Đậu, vừa thiết kế những mẫu sản phẩm mới để chuẩn bị đưa vào sản xuất. Gần 200 thanh niên, chủ yếu là người của làng Chu Đậu được tuyển chọn và đào tạo, truyền dạy kỹ thuật cơ bản và bí quyết trong từng công đoạn chế tác, nhằm tạo họ thành những tay thợ đầu đàn trong các lò gốm gia đình trong tương lai. Tiến tới, xí nghiệp mời các nghệ nhân đến dạy nghề cho con em địa phương trong những vùng lân cận.

Bắt đầu từ tháng 5 – 2003 Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã xuất khẩu lô hàng đầu tiên với 8490 sản phẩm trị giá 20.000USD sang thị trường Tây Ban Nha. Thế là sau gần 400 năm, Chu Đậu lại có hàng xuất sang Tây Ban Nha, nơi nhập chuyến hàng cuối cùng của Chu Đậu vào thế kỷ XVII.

Theo ông Nguyễn Văn Lưu giám đốc xí nghiệp thì: “Từ đó đến nay, xí nghiệp đã xuất khẩu nhiều lô hàng đến nhiều nước trên thế giới và sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng trong nước, gốm Chu Đậu đã thực sự hồi sinh và được đón nhận. Hơn 200 cán bộ và công nhân của xí nghiệp luôn có việc làm, thu nhập bình quân hàng tháng đạt 800 nghìn đồng mỗi người”.

Để giới thiệu sản phẩm gốm Chu Đậu của xí nghiệp với khách hàng trong nước, nước ngoài và với khách du lịch, mới đây xí nghiệp đã khánh thành nhà trưng bày và giới thiệu sản phẩm rộng trên 1000m2. Đồng thời với việc phát triển thương mại, UBND tỉnh Hải Dương cũng đầu tư để thôn Chu Đậu có cơ hội phát triển du lịch làng nghề. Đường từ thành phố về làng và đường nội bộ trong làng được nâng cấp. Đền thờ ông tổ nghề gốm Chu Đậu là Đặng Mậu Nghiệp được tu sửa khang trang. Các di tích lò gốm cổ được gìn giữ, nhà trưng bày gốm Chu Đậu, nơi lưu giữ nhiều hiện vật gốm cổ cũng được sửa sang đón khách. Cuộc sống của một làng nghề truyền thống đã từng bước cải thiện.

Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã làm thức dậy một làng nghề có một giấc ngủ dài 400 năm. Sản phẩm của xí nghiệp bắt đầu có tiếng trong nước và một số nước trên thế giới. Tuy nhiên đến làng Chu Đậu, cái không khí của một làng nghề truyền thống không có, bởi duy nhất chỉ có một Xí nghiệp gốm Chu Đậu nằm đơn độc ngoài bìa làng, trông giống như một liên doanh sản xuất công nghiệp.

Nhận thấy tầm quan trọng của việc khôi phục và phát triển một làng nghề gốm danh tiếng. Bộ Công nghiệp đồng ý và giao cho Viện Nghiên cứu Sành sứ Thủy tinh cùng Sở Công nghiệp Hải Dương phối hợp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học nhằm khôi phục và phát triển làng gốm cổ Chu Đậu.

Như vậy, dự án khôi phục, phát triển sản xuất và du lịch làng nghề gốm cổ Chu Đậu sẽ làm sống lại một làng nghề sau nhiều năm bị thất truyền. Bộ mặt vùng quê thuần nông bên sông Thái Bình sẽ được thay đổi toàn diện. Hàng ngàn lao động sẽ có việc làm, đời sống của bà con làng nghề sẽ được cải thiện. Không khí làng nghề sẽ trở lại, thương hiệu gốm Chu Đậu Việt Nam sẽ hồi sinh, phát triển sau hơn 400 năm bị quên lãng.

Theo Hội Dân Tộc Học Việt Nam (VAE)

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm của đồng bào dân tộc

Tỉnh Sơn La có hai nơi làm gốm cổ truyền, đấy là Mường Chanh (huyện Mai Sơn) và Bản Lầm (huyện Thuận Châu). dưới xuôi, việc hình thành một làng gốm thường giống nhau, đó là những xóm làng nằm kề một con sông quê hương, con sông đó là nơi chuyên chở vật liệu (đất sét và than, củi đốt) và sản phẩm hàng hóa đi các vùng tiêu dùng. Mường Chanh và Bản Lầm đều ở xa sông ngòi. Phương tiện chuyên chở chính ở cả hai nơi đều là đường bộ…

Mường Chanh cách thị xã Sơn La trên ba chục cây số đường rừng. Ở đây, ta gặp cảnh những anh thanh niên người Thái, người Mèo gò lưng đạp xe chở những chiếc chum nhỏ, những lu gốm được đóng lại trong chiếc rọ tre chắc chắn, chở từ quê gốm Mường Chanh đến những bản làng xa xăm. Những chòm bản người Thái ở thấp thì đỡ, chứ những bản làng cao chót vót trên đỉnh núi của người Mông, nơi hiếm hoi nguồn nước, thì những cái chum, cái lu gốm đựng nước kia càng quý giá. Từ lâu đời, gia tài cha mẹ để lại cho con cái trong đó có hai vật quý đó là cái ninh đồng và cái chum đựng nước. Chum gốm, vò gốm từ lâu được coi trọng tính giá trị bằng những đồng bạc trắng hoa xòe. Những chiếc chum vại ở miền núi cũng có đặc điểm riêng, thường nhỏ hơn, gọn hơn và tạo dáng không được bay bướm như gốm dưới xuôi. Một lẽ đơn giản, vật liệu (đất sét) làm gốm ở miền núi hiếm hoi, chất lượng không được tốt bằng đất sét của những làng gốm ven sông đồng bằng. Lò gốm ở Mường Chanh cũng nhỏ hơn lò gốm ở Bát Tràng, Hương Canh, Phù Lãng… Người thợ gốm thì ở nơi nào cũng đòi hỏi đôi tay khéo léo, tài hoa. Ở đâu cũng vậy, người thợ đốt lò giữ ngọn lửa lò vẫn là quan trọng nhất, gốm Mường Chanh từ lâu nay vẫn đốt bằng củi là chính. Có thời xa hơn, người thợ Mường Chanh còn đốt bằng cỏ gianh, gốm ra lò rất đẹp.

Một sản phẩm gốm dân tộc: Ngói âm dương

Nhân nói về nghề gốm, chúng tôi muốn điểm qua vài nét về gốm kiến trúc của đông bào dân tộc.

Ở vùng Sơn Động, Chũ (Bắc Giang), ta gặp rất nhiều mái nhà đồng bào dân tộc lợp loại ngói máng. Hình thức lợp ngói máng đơn giản. Cứ mỗi hàng ngói xấp, lại tiếp hàng ngói ngửa. Hình thức lợp chồng nhau như thế, tạo thành một mái liền và liên tiếp có những đường máng cho thoát nước. Đó là kiểu lợp mái nhà của đồng bào Tày, Nùng. Người dân tộc có thói quen, gọi đó là hình thức lợp xấp – ngửa. Những viên xấp coi là dương và ngửa coi là âm. Bởi vậy, ngói này còn có tên gọi là ngói âm dương. Vậy thì cách làm ngói âm dương như thế nào?

Việc đầu tiên vẫn là làm đất. Đất cho ngói âm dương cũng đòi hỏi kỹ càng như đất cho ngói ta. Đất nhào xong thì chuyển thành cối đất (hoặc quả đất). Người thợ dùng kéo xén đất thành từng thỏi vật đi, vật lại kỹ càng, để tạo đất thành một viên hình hộp chữ nhật, có chiều dài bằng chu vi và chiều rộng bằng chiều cao của khuôn ngói hình ống tròn. Khuôn ngói là một khung tre ngoài bọc vải, nom như một cái vại. Có điều trên khuôn có ba gờ nổi lên để chia khuôn thành ba phần bằng nhau. Người thợ chỉ việc lấy kéo cắt đất thành những lát mỏng (có bề dày chừng 1cm) rồi đem lá đất đó, miết quanh thành khuôn ngói. Tay vừa miết đất cho tạo dáng đẹp và chân đạp bàn xoay. Vậy là cái khuôn ngói quay tròn. Cả ba múi đất hiện ra trước mắt người thợ. Khi sửa sang đẹp đẽ, người thợ bưng khuôn ngói kia ra sân phơi. Với động tác khéo nhẹ, người ta tách cho khuôn ngói và vòng đất kia rời nhau. Bởi vì, trên khuôn đã có gờ, nên tự nhiên vòng tròn đất kia đã hình thành ba viên ngói máng hoặc ngói âm dương. Khi phơi khô, người ta chỉ việc gõ nhẹ, là ba viên ngói rời nhau, giống nhau và bằng nhau chằn chặn.

Khâu cuối cùng là đem xếp ngói vào lò nung. Chú ý là xếp đúng viên ngói theo từng lớp, lớp này chồng lên lớp kia rồi nhóm lửa đun hai ngày hai đêm thì hạ lửa, chờ nguội lò là ta ra được những viên ngói âm dương rất đẹp.

Qua các lò làm ngói âm dương, chúng tôi thấy mỗi lò một mẻ đun được chừng vạn viên, có thể đủ cho lợp một ngôi nhà ba gian cỡ trung bình.

Không kể giàu nghèo, người Tày, Nùng ở nhiều nơi, tự lực tự cường sản xuất ngói, tạm thỏa mãn nhu cầu tự cung tự cấp. Vì thế, hầu hết kiến trúc nhà dân tộc Tày, Nùng đều được lợp ngói âm dương.

Theo Nghề cổ đất ViệtcủaVũ Từ Trang

Các bài đã đăng :

 

 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »