Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘nam bộ’

Được xây dựng từ thời chúa Nguyễn (thế kỷ XIX). Thành kèn thuộc thôn bàn Lân , huyện phước chánh , tỉnh Biên Hòa . Nay thuộc phường Quang Vinh , thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng nai .

Thành Kèn được xây dựng trên khu  đất có tổng diện tích 10.816 m vuông . Đây là công trình kiến trúc quân sự đặc sắc có niên đại sớm ở Đồng Nai và vùng phụ cận .

Theo tác giả Lương Văn Lựu ( trong Biên Hòa sử lược ) thì thành được xây dựng vào năm Gia Long thứ 15 ( tức 1816 ) , tại địa hạt thôn Bàn Lân (thôn Tân Lân) huyện Phước Chánh, tỉnh Biên Hòa cũng với tên gọi là “Thành Cựu” do dân Lạp Man xây đắp bằng đất. Chu vi thành dài 338 trượng, cao 8 thước 5 tấc, dày 1 trượng. Hào xung quanh rộng 4 trượng, sâu 6 thước ,  thành có 4 cửa và một kỳ đài (phía chánh điện). Mỗi cửa ngõ có bắc một cầu đá ngang qua hào để làm lối lưu thông ra vào“ ,  thành được xây theo hình cánh cung .

Đến năm Minh Mạng thứ 18 ( tức 1837 ) Thành Cựu được xây dựng lại bằng đá ong và được đổi tên là thành Biên Hòa . Khi Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ, thành Biên Hòa trở thành nơi phòng ngự, phản công địch của quan quân nhà Nguyễn.Tháng 12 năm 1861 người Pháp chiếm đóng cho phá dỡ thành và xây dựng lại với quy mô chỉ bằng 1/8 thành cũ, và thành được gọi tên là thành Xăng Đa (Soldat –  “thành Lính”) . Vào Mỗi buổi sáng lính trong thành sử dụng  kèn  để báo thức ,  âm thanh vang cả một vùng nên người dân Biên Hòa đã gọi là Thành Kèn để đặt tên cho nơi này .

Sau khi chiếm đóng thành Biên Hòa , ngoài việc cho thu hẹp diện tích , người Pháp còn cho xây dựng thêm nhiều công trình bên trong thành  như các khu nhà biệt thự với một tòa phía Tây Bắc và một tòa phía Đông Nam. Những ngôi nhà này được xây dựng 3 tầng có sàn gạch, mái ngói, vòm cuốn, hệ thống cửa thông gió cho cả tòa nhà, trong đó đáng chú ý là sàn gạch được chia nhỏ bằng các thanh thép hình to dày, sau đó ghép gạch lại với nhau bằng vôi, vữa.

Theo các chuyên gia, thành Biên Hòa  được xem là di tích có giá trị về lịch sử và khoa học. Các công trình kiến trúc và những dấu tích còn lại ở thành Kèn là những tư liệu quý giá về kỹ thuật xây dựng vào thời kỳ đầu chế độ thực dân Pháp đô hộ. Đó là các công trình phòng thủ quân sự, nhà làm việc, nhà ở kiểu Pháp; các đoạn tường thành, móng thành và các vị trí chiến đấu. Tại đây người ta thấy được ảnh hưởng của “tính bản địa” khi các vật liệu tại chỗ như gỗ, đá tổ ong được sử dụng song song với các vật liệu thuần châu Âu như gạch chỉ, thép hình. Nhiều kỹ thuật xây cất cổ vẫn còn giá trị cho các nhà nghiên cứu về công nghệ xây dựng ngày nay như: sàn gạch bằng vôi vữa, kết cấu giàn mái bằng thép-gỗ, cấu tạo thông gió trong ngôi nhà, cách thức lợp mái hiện đại nhưng lại xuất hiện hơn một thế kỷ trước, kỹ thuật chống sét cũng như cả hệ thống kỹ thuật cuốn vòm bằng gạch…
Thời kỳ Mỹ – ngụy, thành Biên Hòa được sử dụng vào mục đích quân sự. Sau năm 1975, phòng Hậu cần Công an tỉnh Đồng Nai quản lý, sử dụng di tích và xây dựng thêm một số hạng mục làm công sở, nhà kho. Năm 2001, do nhu cầu mở đường nội ô ở thành phố, một số hạng mục như: Lô cốt, vòng thành bị đập bỏ. Mặc dù diện tích của thành Biên Hòa bị thu hẹp, một số hạng mục bị phá vỡ so với hình thể ban đầu, nhưng vẫn bảo lưu được yếu tố gốc cần thiết.

Hiện nay , thành Biên Hòa còn lại những đoạn tường thành bằng đá ong liên kết với nhau, cùng một số hạng mục, các công trình bên trong thành đều bị rễ cây cổ thụ ăn vào làm xuyên tường, làm nứt mạch xây và vữa trát, nhiều đoạn bị bong tróc nghiêm trọng, nhiều chỗ bị ẩm mốc. Sàn gạch của tòa nhà trong thành đã bị hư hại làm bong các lớp vữa trát, khiến khối gạch nằm giữa tụt khỏi khuôn, làm thủng sàn. Ngoài ra, giàn mái cũng như các cửa trên mái lấy gió, ống khói hầu như đã hư hỏng nặng , riêng hệ thống phòng thủ nhiều đoạn tường thành cũ đã bị sập đổ , hệ thống phòng thủ trong thành hiện cũng đã bị sập đổ.

Năm 2008 , UBND tỉnh đã ban quyết định công nhận Di tích lịch sử thành cổ Biên Hòa là di tích lịch sử cấp tỉnh . Và mới đây Bộ Văn hóa- thể thao và du lịch (VHTT-DL) vừa ban hành quyết định xếp hạng 9 di tích quốc gia đối với các di tích lịch sử, di tích khảo cổ, di tích kiến trúc, danh lam thắng cảnh tại một số địa phương trong cả nước, trong đó có Di tích lịch sử Thành cổ Biên Hòa ( Thành Kèn )

Trải qua thời gian tồn tại và sự thăng trầm của lịch sử “Thành Kèn” đã trở thành minh chứng lịch sử cho tinh thần bất khuất, quật cường trong buổi đầu khai hoang mở cõi  , đồng thời ghi dấu lịch sử hào hùng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ngày nay “Thành Kèn” không còn nguyên vẹn như xưa song những gì còn sót lại đã phản ánh được trình độ kỹ thuật, kiến trức quân sự của cha ông ta ngày xưa.

Khi tôi đến tham quan di tích lịch sử Thành Biên Hòa  , bác bảo vệ cho biết ngôi nhà đã mục nát  rất nguy hiểm chỉ có thể đứng ở phía ngoài chụp ảnh & tham quan  không được vào bên trong thành  vì có thể xảy ra tai nạn  . Khi chúng tôi đi sát vào phiá trong  thành  bác bảo vệ  cẩn thận lúc nào cũng đi kè kè bên cạnh để ngăn lại  nếu chúng tôi cố tình vào  bên trong .

Với một di tích quý mang dấu ấn  lịch sử , thiết nghĩ UBND  tỉnh  nên quan tâm  nhiều  đến  di tích thành cổ này cho trùng tu  , tu bổ  để bảo tồn một di tích quý tồn tại hàng trăm năm , phục vụ nhân dân tham quan.

This slideshow requires JavaScript.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ

DANH MỤC TỔNG HỢP

Advertisements

Read Full Post »

Tượng Phật Mục Đồng (Pho tượng theo lời tục truyền là tượng phật nổi được bảo quản tới ngày nay). Cao 31cm. Đất sét sơn màu, chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công, Tiền Giang). Ảnh Nguyễn Đại Phúc

Cặp câu đối khắc trên hai trụ cổng chùa Long Phước (xã An Đức, Ba Tri, Bến Tre) đã chỉ ra đây vốn là ngôi chùa do mục đồng khởi tạo và sau đó, người trụ trì đầu tiên là nhà sư Minh Trí. Chúng tôi đã nghe một số câu chuyện truyền khẩu về loại chùa mục đồng này và cứ bán tín bán nghi về cái lõi sự thật lịch sử của nó. Do đó, khi đứng trước chùa Long Phước, cái “chứng cứ văn tự” đó đã làm tôi xác tín về sự tồn tại của loại chùa do trẻ chăn trâu / bò “khai sơn tạo tự”. Từ ấy, mỗi lần có dịp đi đây đó, chúng tôi luôn lưu tâm đến việc ở đây có ngôi chùa mục đồng nào không và nếu như được mách bảo là có, thì liền tìm đến để xem cho bằng được các di vật còn lại – đặc biệt là loại tượng, thường được nặn bằng đất sét, mà theo lời truyền khẩu là do đám mục đồng tạo tác. Một cách không đầy đủ, đến nay chúng tôi đã tận mắt thấy khoản hơn 40 ngôi chùa mục đồng ở khắp các địa phương ở xứ lục tỉnh Nam kỳ.

1. Chùa Mục đồng có thể hiểu là ngôi chùa làng, thuộc cơ cấu của thiết chế văn hóa thôn / làng thời trước, gồm “đình – chùa – miếu – võ”, hiểu là ngôi chùa thờ Phật nho nhỏ mà dân làng tự ý lập nên để tự giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Ở đó, thờ thần, Phật và Phật được thờ tự theo tâm thức của thứ Phật giáo dân gian hơn là để tu học giáo nghĩa đích thực của Phật pháp. Cũng có chùa mục đồng về sau này trở thành ngôi bửu sát danh tiếng như chùa Sắc tứ Linh Thứu ở miệt Xoài Hột (Tiền Giang), song đa phần thì tồn tại như một ngôi chùa làng, nằm trong cái không gian văn hóa làng xã: đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt… và các truyền thuyết về chúng vẫn cứ tồn tại theo năm tháng, mặc dù chùa đã có tên tự hẳn hoi, có chư tăng đến trụ trì và hoằng hóa đạo pháp… Ở An Phước tự (tục danh chùa Mục đồng Hóc Tra/An Bình Tây, Ba Tri, Bến Tre) – cách chùa Long Phước nói trên vài cây số, người ta kể rằng: Thoạt tiên đám mục đồng hay tụ tập chơi, nặn các tượng thần tượng Phật và lập một cái am lá để thờ các cốt tượng dười chòm cây tra gần một hóc nước. Do vậy, chùa có tên là “chùa Hóc Tra”. Di tích còn lại là pho tượng Bồ tát cỡi cọp vàng và tượng một ông Địa có tình tướng y hệt ông Địa múa lân. Cả hai đều đạt trình độ tạo hình mà khó có thể nói là do đám chăn trâu tạo tác!

Ở chùa Da Lươn (tên chữ Thiên Trường tự – Đồng Sơn, Gò Công) lại có truyền thuyết tường tận hơn về lịch sử ngôi chùa: Thuở xưa, bọn mục đồng bày trò nặn tượng thần, Phật bằng đất sét chơi. Chơi chán lại đem tượng thả xuống ao ông Tú… cho Phật tắm mát! Lạ thay các tượng ấy lại nổi lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng lên để một nơi và che một am tranh để thờ. Sau đó, có một nhà sư từ xa đến, thấy cảnh chùa đơn sơ hiu quạnh bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Ngày qua, tháng lại, vị thiền sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn để dọn một chỗ đất lập thành chùa. Người dân không biết danh tính của ông, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và ngôi chùa đó cũng có tên là chùa Da Lươn. Sau nhiều lần trùng tu, chùa đổi tên là Thiên Trường tự.

Chùa Phật Nổi (Phước Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ (Củ Chi TP. HCM) được thành lập cách đây 200 năm cũng là một ngôi chùa mục đồng. Tục truyền lúc đó, ông Phan Sử (Thiện Sử – Như Thành) cùng bè bạn trong xóm, nhân một hôm thả trâu vào rừng, bày trò lặn xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng Phật chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về nhà, bỏ các tượng Phật giữa rừng. Đêm đó bọn trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Sau khi gạn hỏi, cha mẹ bọn trẻ biết chuyện, bèn cùng nhau tính chuyện lập chùa thờ các tượng ấy – để gọi là chuộc tội với Phật! Thế nhưng Trùm cả và Trùm chủ trong làng không chấp thuận việc lập chùa vì lý do dị đoan đó. Để làm rõ mọi việc, Hương chức, đem các tượng Phật đất sét đó gác trên chiếc cầu khỉ bắc ngang qua bàu Đất Sét và rút cầu. Tục truyền, trong số các tượng rơi xuống thì có 8 tượng Phật nổi trên mặt nước. Thế là dân làng xúm nhau, kẻ có công, người có của, dựng ngôi chùa là để thờ các tượng Phật đó. Năm 1963, chùa bị Mỹ bỏ bom sập, nên sau đó dời vào chợ Trung Hòa. Di tích còn lại là một thân tượng bằng đất sét và một số tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác, nhưng có thần thái độc đáo..

Nói chung truyền thuyết về các nguyên nhân khởi phát của các ngôi chùa mục đồng mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tất cả đều được hình thành trên mẫu đề duy nhất: trẻ chăn trâu nặn tượng đất sét và các tượng ấy khi thả xuống nước đều nổi. Trong lịch sử, tín lý thiêng liêng về các pho tượng nổi trôi dạt vào nơi nào thì ở đó dân lập đền chùa để thờ là rất phổ biến và từ tâm thức văn hóa sâu kín đó, giờ đây các cổ mẫu ấy lại tái sinh và tích hợp vào loại tượng mục đồng như một phương thức ảo hóa.

2. Đằng sau những tình tiết truyền kỳ, là một thực tế: có một tập hợp Phật tượng dân gian hình thành một cách tự phát trong thời khẩn hoang lập làng ở Nam bộ mà tác giả của các pho tượng đó là các sư sãi, tín đồ phật tử… và được gán cho trẻ mục đồng (1). Rõ ràng là nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở Nam bộ từ buổi đầu đến những năm 1950 là một tiến trình song hành của cả hai dòng phái dân gian và chuyên nghiệp. Dòng tượng dân gian biểu hiện rõ nhất và nhiều nhất là ở tượng đất và tượng gỗ (có thể kể thêm loại tượng đất nung và tượng làm bằng hợp chất); ở đó, loại tượng đất sét, được gọi là tượng mục đồng, có thể coi là loại hình khởi phát của lịch sử tạo hình Phật tượng.

Đặc trưng cơ bản của Phật tượng mục đồng là sự thô phác và hồn nhiên làm sững sờ người xem như một thoáng thảng thốt khi bất chợt nghe câu hò buông dài trên sông. Nói cách khác, chúng được tạo tác không theo qui phạm tạo hình, không hề biết đến các nghi qui về đồ tượng học Phật giáo: quí tướng, tọa thức, ấn quyết, pháp phục… Chúng được tạo tác bằng thủ pháp riêng, chủ quan theo căn cơ của người tạo tác. Chúng hình thành như thể là vô tâm, vô chấp, vô sở trụ… Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là dụng công, dụng trí của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Tính vô chiêu thức đã dẫn đến sự độc đáo của từng Phật tượng, và có thể gượng ép lấy thuật ngữ của hội họa mà nói thì thủ pháp “đại tả ý” là dự phóng sáng tạo của tác giả tượng mục đồng: nó chủ vào hình khối, dừng lại ở mực tạo dáng, không quá chăm chú vào chi tiết; cái chú trọng ấy là thần khí, sắc thái tâm linh.

Do đó, về mặt tạo hình chúng ta thấy tính giản lược một cách biểu cảm và những mảng khối thô phác là đặc điểm của tượng mục đồng. Lấy tập hợp Phật tượng mục đồng ở chùa Thanh Sơn (Hóc Môn, TP. HCM) làm ví dụ, chúng ta thấy chúng giản lược đến mức là nếu căn cứ vào các đặc điểm của hình tướng, tọa thức, ấn quyết thì khó mà định dạng được chính xác cho từng tượng: tất thảy đều ngồi theo thức tọa thiền và tay kết định ấn.

3. Nói là vô chiêu thức, nhưng không phải là sự phóng túng hoàn toàn mà cơ hồ việc biểu đạt cũng bắt nguồn từ một hoài niệm nào đó về hình tướng chư Phật, Bồ tát trong tâm thức của người tạo tác để ít ra cũng có sự khu biệt nhất định giữa Phật hình, Tỳ khoe hình với hình tướng của các thần linh không thuộc đối tượng thờ tự của Phật giáo. Ngoài hình tướng chung, các chi tiết tạo hình khác cũng được lưu tâm như tư thế tọa thiền (đúng ra là “ngồi xếp bằng”) và trong phần lớn các trường hợp là hai bàn tay đều biểu hiện một thức ấn quyết (mudra) nào đó – tất nhiên là không hoàn toàn đúng như qui thức mà đồ tượng Phật giáo đã xác định. Chẳng hạn tượng Phật tọa thiền ở chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công), tuy đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn toát lên vẻ an định và từ bi của đức Phật. Điều này khác biệt rõ nếu so sánh với tượng Tà Mun (thần bảo hộ cộng đồng, gốc của người Tà Mun) ở chùa mục đồng Phước Đồng (Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương). Ở đây, tượng Tà Mun có đường nét mạnh, màu sắc phi thực tế, hình thù biến dạng: tất thảy đều mang tính chất của nghệ thuật thuộc trường phái biểu hiện. Qua so sánh, chúng ta thấy Phật tượng tuy không bị câu chấp vào các nguyên tắc đồ tượng học, nhưng trong lòng người tạo tác đã tiềm ẩn một cổ mẫu Phật tượng – một tâm ảnh về Phật, để từ đó mà phát tâm tạo tựợng. Nói cách khác, Phật giáo nói chung, Phật tượng nói riêng, trải qua lịch sử đã trở thành văn hóa của dân tộc, văn hóa ở đây hiểu như di sản còn lại qua thời gian, văn hóa hiểu theo nghĩa tất cả những gì đã có đều bị mất đi thì cái còn lại là văn hóa; và rồi khi bao nỗi gian truân của công cuộc khẩn hoang lập nghiệp đã có phần ổn định thì giờ đây tâm cảnh của những lưu dân lại bừng lên một khát khao tâm linh, một nhu cầu về văn hóa – tinh thần: họ moi đất-sét-dưới-chân mình để nặn thành Phật tượng và lập một ngôi chùa lá để thờ Phật. Ở đây cũng lưu ý rằng đa số chùa mục đồng đều thờ cả Phật tượng lẫn tượng thần linh đa tạp. Với cái nhìn văn hóa như vậy, Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác vậy. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam. Trong chừng mực nhất định, có thể nói Phật tượng mục đồng ra đời trong tâm thức đa thần luận với đặc điểm thô phác, chúng có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật hồng hoang mà chúng ta bắt gặp ở những khám phá khảo cổ học thời sơ sử.

 

Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc

______________________________________________________

  1. Theo quan niệm phổ biến ở Nam bộ thì mục đồng là con cháu của Thần Nông, theo đó các thế lực siêu nhiên như ma quỉ, cô hồn đều phải kiêng dè và tuân phục. Do vậy, trẻ mục đồng được quyền hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô hồn. Tục truyền, trẻ mục đồng ngoắc tay vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) cập vô bờ. Nói chung, trẻ mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng” dưới con mắt của cộng đồng và do niềm xác tín chúng là con cháu của Thần Nông nên chúng có khả năng liên thông với cõi thiêng, cảnh giới bên trên và bên ngoài trần thế. Phàm các nổ lực truy cứu về nguyên ủy các yếu tố truyền kỳ đều là chuyện… lông rùa sừng thỏ. Ở đây nêu ra một số thông tin để tạm giải thích lý do gán việc tạo tượng cho mục đồng.

Read Full Post »

Nhà gốm, đi văng gốm

Sống trên vùng tài nguyên đất sét dồi dào, với đầu óc tinh nhạy, ông Nguyễn Văn Buôi, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân Tân Hiệp Phát II (ấp Thanh Mỹ 2, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long), đã mạnh dạn sáng tạo, sản xuất ra những sản phẩm gốm đỏ “không giống ai” có giá trị kinh tế cao.

nhàgom

Cô Nguyễn Yến Nhi giới thiệu bức tranh bằng gốm giả đồng

Vĩnh Long là một tỉnh có nguồn tài nguyên đất sét dồi dào, bắt đầu hình thành nghề gốm đỏ vào năm 1993, phát triển trên nền sản xuất gạch ngói đã có khoảng 150 năm tuổi. Năm 1997, sản phẩm gốm đỏ của Vĩnh Long đã được xuất khẩu, từ đó hình thành những làng gốm tập trung ở các phường, xã dọc bờ sông Cổ Chiên như: phường 5 (thị xã Vĩnh Long), xã Thanh Đức (huyện Long Hồ), xã Mỹ An, Mỹ Phước, Chánh An (huyện Mang Thít).

Ngoài tạo công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động, những làng gốm này còn phát triển vận tải thuỷ bộ, làm bao bì, khuôn mẫu. Được vậy là nhờ đất sét ở đây bị nhiễm phèn, khi qua lửa nung sẽ cho ra một loại gốm không men có nhiều sắc độ “lạ kỳ”. Những bình, những chậu, những con vật bằng gốm đỏ đặc sắc đó đã đi tới nhiều nước châu Âu, đem ngoại tệ về.

Đáng chú ý trong số những sản phẩm gốm đỏ độc đáo có bộ sản phẩm ngôi nhà gốm của doanh nghiệp tư nhân Tân Hiệp Phát II.

Đó là một ngôi nhà thật sự được làm toàn bộ bằng gốm. Đầu tiên là dãy hàng rào. Trụ rào nào cũng có hoa văn màu đỏ. Còn tường rào thì trang trí bích hoạ gốm đỏ mỹ thuật. Trong nhà, những rui, mè, kèo, cột, đòn dông, mái nhà cũng đều bằng gốm đỏ.

Để nhà gốm hoàn chỉnh từ trong ra ngoài, ông Buôi đã kết hợp với một số hoạ sĩ tạo hình những tác phẩm gốm trang trí nội thất như bộ bốn bức tranh liên hoàn thể hiện bản đồ Việt Nam cùng ba cô gái Bắc – Trung – Nam, bức tranh gốm về hồng hạc, tác phẩm gốm tường tái hiện thời khẩn hoang của vùng Nam bộ…

nhàgom01

Ngôi nhà gốm do Tân Hiệp Phát II thiết kế

Thực ra, nhà gốm là ý tưởng của ông Nguyễn Cửu Hương, em út ông Buôi. Cô Nguyễn Yến Nhi, con gái ông Buôi, Phó giám đốc doanh nghiệp, cho biết năm 2007 chú cô là ông Nguyễn Cửu Hương, chủ lò gốm Tân Hiệp Phát, qua đời. Lúc đó cha cô, người anh thứ tư, đã nối tiếp và phát huy sự nghiệp dang dở của em mình.

Ông Nguyễn Cửu Hương là người con út trong số chín người con của ông Nguyễn Văn Chỉnh (ấp Cái Kè, xã Mỹ Phước, huyện Mang Thít), gia đình sống bằng nghề lò gạch truyền thống. Ông Hương là người có sáng kiến mời hoạ sĩ, nhà điêu khắc thiết kế những mẫu mã, sản phẩm mới, cho làng gốm đỏ Vĩnh Long, giúp nâng cao giá trị sản phẩm.

Một lần, ông Hương nghĩ để cha mình có thể thư giãn tuổi già với bạn bè bên chung trà, chén rượu, nên quyết tâm làm ngôi nhà mát bằng gốm (một dạng nhà không có tường che dùng để hóng mát, thư giãn). Ông bắt tay thực hiện ý tưởng này vào năm 2001, tất cả đều bằng gốm ngoại trừ rui, mè… vì chưa nắm bắt hết kỹ thuật.

Càng về sau, các căn nhà mát bằng gốm càng có diện tích lớn và kết cấu phức tạp, khắc phục được nhược điểm rui, mè, cột, kèo… xi măng cốt thép bằng cách phủ gốm bên ngoài. Nhờ vậy mà ông đã bán được bốn ngôi nhà mát bằng gốm. Sản phẩm này đã có mặt tại TPHCM. Bên cạnh đó, ông còn cho làm bàn trà (mặt bàn đúc bằng mặt đá nhân tạo) cùng bốn chiếc đôn bằng gốm đỏ để chủ nhân nhà gốm tiếp khách. Giá bàn trà là 1,8 triệu đồng/bộ.

Cũng giống như em mình, ông Buôi đã kết hợp với các hoạ sĩ để thể hiện ý tưởng của mình thành những tác phẩm gốm đỏ “không giống ai”. Các sản phẩm gốm đỏ rất được thị trường các nước như Đức, Úc… ưa chuộng, nhất là những mặt hàng gốm mang tính mỹ thuật, thể hiện những nét văn hoá vùng đồng bằng sông Cửu Long. Và ông Buôi đã cho ra đời những bức tranh gốm giả đồng, gốm giả sơn mài… Những bức tranh bát tiên, hồng hạc, lễ hội dân tộc, mùa xuân… sau khi nung đã được phủ lớp mạ đồng, hoặc phủ lớp bột, lớp sơn nước rồi mài như thao tác làm sơn mài. Tất cả nhằm trang trí nội thất cho ngôi nhà gốm.

Ngoài ra, ông Buôi còn cho ra đời chiếc đi văng bằng gốm. Đi văng gốm rộng 1,6 mét, dài 3 mét, bốn gờ xung quanh trang trí hoa văn mỹ thuật với cả chân quỳ. Sản phẩm được làm bằng đất sét cùng hoá chất, nhưng không cho vô lò nung như các sản phẩm gốm khác. Giá của chiếc đi văng này là 45 triệu đồng/cái. Đây cũng là sản phẩm “có một không hai” ở “vương quốc gốm đỏ” Long Hồ này.

Nhà ở hoặc nhà mát bằng gốm do Tân Hiệp Phát II làm không có kích thước cố định, mà được thiết kế theo yêu cầu của khách. Cô Yến Nhi cho biết, giá một căn nhà gốm khoảng 150 triệu đồng, còn nhà mát bằng gốm khoảng 80 triệu đồng.

Theo Văn Hóa và Thể thao

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »