Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘mỹ thuật việt nam’

TRƯNG BÀY CỔ VẬT CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 

Ngày 24.4, Bảo tàng Lịch sử quốc gia (Hà Nội) và Bảo tàng Lịch sử (TP.HCM) kết hợp khai mạc đợt trưng bày đặc biệt về cổ vật các nước Đông Nam Á tại số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P.Bến Nghé, Q.1, TP.HCM.

Bà Trần Thị Thúy Phượng, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử (TP.HCM), cho biết lịch sử các cư dân Đông Nam Á từ lục địa đến hải đảo thời Tiền – Sơ sử đã tạo nên nền văn hóa đồ đá khá đồng nhất được các nhà khảo cổ học trên thế giới gọi là “Hoabinhian – Bacsonhian”, theo tên của văn hóa đá mới Hòa Bình – Bắc Sơn của Việt Nam. Từ đó đến cuối thế kỷ 20, khi kết thành khối ASEAN, các nước Đông Nam Á đã và đang tiếp tục mở rộng giao lưu văn hóa và giao thương trong khu vực cũng như quốc tế. Điều đó được thể hiện qua trưng bày lần này với 216 cổ vật đa dạng có niên đại từ đầu Công nguyên đến thế kỷ 19 được chế tác ở Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia, Myanmar, Singapore, Indonesia, Đông Timor…

Nhiều cổ vật thu hút sự chú ý của công chúng và các nhà nghiên cứu như chiếc mão bằng vàng (Việt Nam), tượng Phật bằng gỗ và bình gốm men đen (Lào), tượng thần Ganesa (Campuchia), tượng người cầu nguyện và chum đất nung (Malaysia), tượng thần bằng đá và phù điêu (Indonesia), trống đồng và tượng Phật gỗ (Myanmar), tượng thần Shiva đang cưỡi bò Nandin và bình đất nung (Thái Lan)… Đợt trưng bày kéo dài đến tháng 11.2012.


CỔ VẬT ĐÔNG NAM Á ” SỐNG LẠI ”

Có đến 219 cổ vật tiêu biểu của các nước Đông Nam Á như Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Myanmar, Singapore, Lào, Campuchia, Việt Nam đang trưng bày tại số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q.1, TP.HCM từ đây đến cuối năm 2012…

Trong đó có 31 hiện vật do Bảo tà

ng lịch sử quốc gia từ Hà Nội đưa vào giới thiệu như nhóm tượng cổ chế tác ở Myanmar (Miến Điện) thế kỷ 19 gồm tượng thần Shiva đứng trên bò Nandin, tượng thần Vishnu cưỡi chim Garuda, tượng Phật ngồi đại định trên thân rắn Naga, hoặc tượng vua Dhammceti đang dang hai cánh tay như muốn ôm lấy miền đất thánh…

Riêng cổ vật duy nhất mượn của một nhà sưu tập ở TP.HCM để trưng bày đợt này là chiếc mũ miện ráp lại từ 23 miếng vàng có hình cánh hoa đang nở và mỗi miếng được cẩn từ 1 đến 4 viên ngọc quý màu hồng, đỏ hoặc xanh lam. Tỏa sáng nhất là bông sen bằng vàng đính trên phần đỉnh của mũ và một miếng khác đập dẹp thành chiếc “vành vương miện” nằm ở phần cuối của cổ vật độc đáo và thuộc loại quý hiếm này trong kho tàng văn hóa nghệ thuật cổ Chăm Pa thế kỷ 7-8.

Ngoài 32 hiện vật kể trên, số còn lại gồm 187 hiện vật khác đều của Bảo tàng lịch sử (TP.HCM) đưa ra trưng bày có gốc gác từ nhiều nguồn khác nhau.

Nguồn thứ nhất do Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn (trước năm 1975) để lại như tượng thần Brahma bằng đồng do Campuchia chế tác ở thế kỷ 17-18, cao 13 cm, bề ngang 8 cm, với 8 cánh tay và 6 gương mặt nhìn về nhiều hướng. Chiếc đầu hổ phù bằng đất nung màu cam thế kỷ 13-14 cũng như chiếc khánh bằng đồng thế kỷ 19 có khắc bài minh trên thân đều của Việt Nam làm. Hoặc chiếc bát Thái Lan thế kỷ 18-19 bằng gốm men nhiều màu có vẽ hình ngọn lửa, thần linh và hoa lá cách điệu. 6 quả cân lạ mắt của Myanmar ở thế kỷ 19 bằng kim loại, mỗi quả mang hình một con vật quen thuộc với người Đông Nam Á như gà, vịt, voi…

Nguồn thứ hai do Bảo tàng lịch sử sưu tầm, mua lại – như cái chóe lớn 5 quai của Indonesia ở thế kỷ 16 bằng gốm men nâu với dạng hình trứng cao 69 cm, đường kính miệng 24 cm, đắp nổi đề tài “lưỡng long chầu nhật” trên thân, mua năm 2006. Tượng Phật bằng đồng thế kỷ 17-18 và chuông đồng thế kỷ 20 khắc hình cánh sen, đắp nổi lá bồ đề cách điệu chế tác từ Lào, mua năm 2007-2008. Chiếc bình Kendy bằng đồng của Campuchia thế kỷ 13 dạng tròn với vòi hình đầu gà cao 20,7 cm, đường kính miệng 9,7 cm, mua năm 2009. Chiếc bình Việt Nam thế kỷ 19 đắp nổi cành hoa mai có vòi hình đầu rồng bằng gốm men nhiều màu…

Nguồn thứ ba do các cơ quan chức năng chuyển giao cho Bảo tàng lịch sử từ việc phát hiện và xử lý những vụ đào bới, đánh cắp hoặc buôn bán đồ cổ trái phép, chẳng hạn bát nhang cổ chế tác từ Hải Dương thế kỷ 16-17, cao 38 cm, đường kính miệng 29 cm, đắp nổi hình rồng và hoa sen, do Công an TP.HCM giao năm 1994. Tượng Phật của Lào thế kỷ 17-18, cao 22 cm, bề ngang 9,5 cm, bằng kim loại, do Bộ Nội vụ giao năm 1995.

Theo TS Phạm Hữu Công, Phó giám đốc Bảo tàng lịch sử, từ nhiều năm trước một số cơ quan kiểm tra hàng hóa như Hải quan, Quản lý thị trường, Công an kinh tế, Kiểm tra văn hóa phẩm xuất nhập khẩu bắt gặp nhiều cổ vật trên đường công tác: “Ngay những năm cuối thập niên 1970, Phòng Xuất nhập khẩu văn hóa phẩm TP.HCM đã chuyển giao cho bảo tàng chúng tôi nhiều cổ vật, trong đó có mô hình thuyền rắn thần Naga bằng đồng thếp vàng chế tác từ Thái Lan vào thế kỷ 19 và tượng người cầu nguyện đang quỳ với hai chân duỗi về phía sau, hai tay chắp lại trước ngực, bằng gỗ sơn son thếp vàng chế tác từ Myanmar mà chúng tôi đem trưng bày trong đợt này”, TS Công cho biết.  (Còn tiếp)

“ Cuộc trưng bày giới thiệu một số cổ vật phong phú và đa dạng của các nước Đông Nam Á được chế tác từ nhiều chất liệu vốn là những sản vật địa phương, theo phong cách mỹ thuật của từng quốc gia, từng dân tộc, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử (TP.HCM) và Bảo tàng lịch sử quốc gia (Hà Nội). Hy vọng rằng những gì có được trong chuyên đề này sẽ góp thêm phần hiểu biết về những người bạn, những người anh em cùng chung mái nhà Đông Nam Á, nhằm vun đắp tình đoàn kết, giữ vững chủ quyền, hòa bình an ninh, hợp tác cùng phát triển trong khu vực”.

Bà Trần Thị Thúy Phượng
(Giám đốc Bảo tàng lịch sử)

CỔ VẬT ĐÔNG NAM Á ” SỐNG LẠI ” –  KỲ 2  : TƯỢNG PHẬT LÀO 

Trong số 19 cổ vật của Lào đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử (TP.HCM) có đến 16 tượng Phật, chiếm tỷ lệ cao nhất về số lượng cổ vật đề tài văn hóa Phật giáo so với các nước khác.


Phần lớn các tượng Phật trên đều chế tác hoặc điêu khắc trong tư thế ngồi, tay trái để ngửa, tay phải đặt trên đầu gối phải, với các ngón tay chạm tới mặt đất. Đó là ấn Địa xúc (chạm đất) được Phật sử dụng sau khi đánh thắng Ác Ma Vương (Ác Ma Thiên) dưới cội Bồ Đề.

Ở Lào hàng ngàn pho tượng Phật tạc bằng nhiều chất liệu như gỗ, đá, hoặc cả bằng vàng ròng, đều cất giữ trong những hang động Pak Ou kỳ bí, có pho cao lớn tới 2 m, nhỏ thì vài centimet. Trước kia hằng năm nhà vua và Hoàng gia Lào thường đến cử hành lễ thắp nến tại các hang Pak Ou thiêng liêng ấy và chiêm bái các tượng Phật trong thánh địa này.

Trong bộ sách Đối thoại với các nền văn hóa do NXB Trẻ ấn hành, cuốn về nước Lào, đã ghi nhận ở Lào tượng Phật ít bị phá hoại bởi các cuộc chiến triền miên vì “không giống như các phế liệu chiến tranh, người Lào không bao giờ nấu chảy các tượng Phật dù làm bằng vàng hay bằng đồng. Các tượng Phật chất đầy trên các ngôi chùa, tu viện, các hang động thiêng liêng, được dựng dọc đường đi, trên đỉnh đồi, hoặc xếp thành hàng ở phía ngoài những sảnh điện của các ngôi chùa”. Những tượng đó chế tác theo phong thái “tứ oai nghi” (tức 4 tư thế chính) là đi, đứng, nằm, ngồi và biến hóa chi tiết các động tác để thành 40 tư thế được gọi chung là các “Mudra”. Một số Mudra phổ biến trong mỹ thuật tạo hình của Lào do Trịnh Huy Hóa nêu lên trong bộ sách trên, gồm:

1. Bhumisparca Mudra cũng gọi là “chạm đất” hoặc “gọi thổ địa chứng kiến”. Tư thế này mô tả sự giác ngộ và chiến thắng quỷ vương Mara.

2. Chiêu Vũ Phật (Phật gọi mưa): trong tư thế này Đức Phật đang đứng với hai tay xuôi chỉ xuống đất, tượng loại này ít thấy ở đâu khác ngoài nước Lào.

3. Dhyana Mudra (đại định) một hình tượng rất phổ biến, thể hiện Đức Phật đang ngồi thiền định, hai bàn tay đặt trong lòng, lưng bàn tay mở ra và ngửa lên trên.

4. Abhaya Mudra (hộ trì hoặc vô úy) được tạc với bàn tay phải của Phật giơ lên trước ngực như đang đẩy lùi tà kiến và các thế lực vô minh. Như thế, bộ sưu tập tượng Phật của Lào chế tác đang trưng bày nằm trong tư thế bắt ấn Địa xúc Bhumisparca Mudra.

Công chúng và những nhà nghiên cứu đến xem bộ sưu tập tượng Phật của Lào đã đồng thời có dịp nhắc đến những nét tổng quát liên quan đến nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (trước đây gọi là Ai Lao) vốn là quốc gia không có bờ biển, diện tích 236.800 km2, dân số tính đến 2011 có hơn 7 triệu người, thủ đô Viêng Chăn, đơn vị tiền tệ là kíp, di tích văn hóa nổi tiếng thế giới là Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng.

Niên đại, chất liệu và chi tiết của 19 cổ vật Lào đang trưng bày

* Thế kỷ 17-18: 4 tượng Phật trong đó có 3 tượng bằng đồng và 1 tượng cao nhất 22 cm còn nguyên trong tư thế ngồi bán kiết già.

* Thế kỷ 19: 1 tượng Phật bằng đồng cao 35 cm, bệ 19×13,5 cm và 2 tượng Phật bằng gỗ sơn son thếp vàng. Một tượng cao 33,2 cm đứng trên bệ. Một tượng cao 30 cm ngồi trên rắn thần Naga. Một bức tranh khắc gỗ hình Đức Phật ngồi tòa sen, tay cầm cành sen, cao 124,5 cm, rộng 35,5 cm – dày 4 cm. Cả 4 cổ vật trên do Bảo tàng Lịch sử quốc gia (Hà Nội) đưa vào trưng bày.

* Hai chiếc bình dạng tròn, có 3 bầu, chân loe bằng gốm men đen. Một chiếc cao 23 cm, đường kính miệng 5 cm, chiếc còn lại cao 30 cm, đường kính miệng 6,5 cm.

Cổ vật Đông Nam Á “sống lại” – Kỳ 3 –  5 thanh kiếm độc đáo của Malaysia

Trong 6 hiện vật của Malaysia đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử (TP.HCM), có đến 5 thanh kiếm cổ mang phong cách tạo hình cũng như kiểu dáng khác lạ.

5 thanh kiếm chế tác từ thế kỷ 19 với lưỡi bằng kim loại và tay cầm bằng gỗ đã thực sự gây chú ý cho khách tham quan vì sự tập trung của loại hình này lạ mắt hẳn so với các cổ vật xuất xứ từ các quốc gia khác.

* 1 kiếm dài 65 cm, ngang 9 cm (ký hiệu BTLS.4278)

* 1 đoản kiếm dài 52 cm, ngang 6 cm (ký hiệu BTLS.4293)

* 1 đoản kiếm khác dài 58 cm, ngang 7 cm, có tay cầm hình Makara

Makara là loài gì? Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Thị Được trong một chuyên khảo về điêu khắc Chăm và thần thoại Ấn Độ thì: “Makara là loài thủy quái, nguyên thủy là một con cá sấu Ấn Độ to lớn nhưng sau lại (biến dạng) thành một con cá heo Hy Lạp, hoặc giống như con thủy quái sống dưới biển trong Kinh thánh. Trong điêu khắc, dần dần đuôi cá sấu được thay thế bằng đuôi cá, sau lại là cuống của một bông hoa sen. Chỉ có người anh hùng can đảm mới lấy được viên ngọc vô giá từ miệng của Makara và nếu được viên ngọc này người ta có thể làm cho phụ nữ yêu mình say đắm”.

* 2 thanh kiếm gọi là Kris. Một Kris dài 48 cm, ngang 19 cm. Kris còn lại dài 38 cm, ngang 12 cm. Kris thông thường là một loại kiếm ngắn có hai cạnh sắc bén, cạnh phía trên được mài giũa chế thành một dãy khía răng cưa với hình móc, cạnh dưới có thể giũa thành hình đầu voi. Cách giải thích này bắt nguồn từ nhà nghiên cứu Robert Cato trong tài liệu phân tích về kích thước, kiểu dáng các bộ sưu tập kiếm của người Hồi giáo phía nam Philippines.

Các nhà sưu tập và khảo cổ đã ghi nhận trên đất Malaysia (cũng như ở Sumatra, Java, Bali, Timor) có khá nhiều cổ vật Kris. Sự có mặt của sưu tập 5 thanh kiếm Malaysia một lần nữa cho thấy mối giao lưu và tương đồng về văn hóa mỹ thuật của các nước Đông Nam Á.

Thật vậy, một loại Kris ngắn hơn, từa tựa kích thước một chiếc dao găm cổ vốn rất nổi danh ở vùng Acceh (Indonesia) gọi là Kris Modjopahid thường được “sánh đôi” với những bộ y phục cổ truyền để làm đậm hơn bản sắc văn hóa của vùng đất trên, chứ không chủ yếu để chiến đấu thuần túy như những loại khác. Chính ở chức năng đó, các nhà quyền quý thường lấy ngọc, vàng để chạm vào các thanh Kris sắc bén. Đường nét thẩm mỹ và trình độ chế tác thường thể hiện ở bên ngoài vỏ bọc của Kris và cả dưới chuôi.

Loại Kris “quý phái” này có một thanh chạm kim cương do quốc vương Indo để lại đang trưng bày ở Bảo tàng Djakarta. Giao lưu gợi mở qua hình ảnh sưu tập kiếm Kris cũng được ghi nhận bởi những thanh Kris của Việt Nam như Phạm Giảng Thơ và Phan Anh Tú – cán bộ nghiên cứu sưu tầm của Bảo tàng Lịch sử nêu rõ: “Khi sản xuất kiểu Kris truyền thống, các nghệ nhân thường tìm cách biến đổi cho phù hợp với văn hóa bản địa của dân tộc. Thanh Kris của người Chăm vùng Ninh Thuận – Việt Nam, có lưỡi xoắn nhưng được quan niệm là hình tượng ngọn lửa của thần Shiva, chuôi bằng kim loại; chạm hình Hầu vương Hanuman tư thế ngồi bó gối, 2 tay ôm lấy đầu như những pho tượng nhà mồ Tây nguyên. Người Moro theo đạo Hồi ở Mindanao (Philippines) sử dụng Kris cùng khiên mây. Họ chế tạo Kris theo 3 dạng chính: lưỡi thẳng hoặc hơi cong thể hiện con rắn nằm yên; lưỡi lượn sóng: rắn đang bò; lưỡi kết hợp vừa thẳng vừa uốn sóng: rắn từ trạng thái tĩnh sang chuyển động. Chuôi kiếm là hình ảnh của đầu chim công hoặc chim chào mào với chiếc mỏ và mào dài hơn bình thường.

Ngày nay, nhiều gia đình dòng tộc ở Philippines, Malaysia, Indonesia, Việt Nam (dân tộc Chăm) vẫn lưu giữ những thanh Kris là báu vật do tổ tiên truyền đời, có khi chúng được phong tước hiệu, nhận nhiều sự tôn kính do những chiến công vang lừng, là niềm tự hào của chủ nhân. Kris biểu hiện địa vị đẳng cấp xã hội hoặc sức mạnh nam tính; có khi chiếc Kris thuộc danh sách lễ vật trong hôn nhân truyền thống. Người ta vẫn còn thấy chúng được giắt bên hông chú rể Indonesia vào ngày cưới. Nổi bật hơn hết là Kris đang được dùng làm binh khí đối kháng trong bộ môn pencak silat, võ cổ truyền của Indonesia mà ngày nay đang trở thành môn thi đấu thể thao quốc tế khu vực Đông Nam Á”.

5 thanh kiếm chế tác từ Malaysia nằm trong bộ sưu tập lớn hơn trước đây gồm 25 thanh kiếm lưu giữ trong kho của Bảo tàng lịch sử có xuất xứ từ nhiều nước với hình dáng khác lạ và độc đáo ở phong cách nghệ thuật tinh tế kết hợp giữa các bộ phận lưỡi, chuôi và bao đựng. Có thể nói, mỗi thanh kiếm là một khí giới lợi hại, đồng thời là một tác phẩm thủ công mỹ nghệ thật sự. Cùng một kiểu dáng, chủ đề trang trí nhưng không thanh kiếm nào giống thanh kiếm nào.

Theo Thông báo khoa học số 2 của Bảo tàng lịch sử (TP.HCM)

Cổ vật Đông Nam Á “sống lại” – Kỳ 4: Tượng thần đầu voi Ganesha

Tượng thần đầu voi Ganesha bằng đá chế tác từ thế kỷ 17-18 ở Campuchia là tượng Ganesha duy nhất được trưng bày trong đợt này.

Vị thần của may mắn

Đây là tượng thần mình người đầu voi được thờ ở nhiều nước Đông Nam Á, riêng tượng Ganesha của Campuchia này mặc dù chiếc vòi và chỏm tóc bị sứt một chút, phía cánh tay trái và dưới đế hơi bị nứt, nhưng vẫn giữ được những nét tạo hình theo phong cách mỹ thuật truyền thống của tín ngưỡng Ấn Độ giáo.

Theo tín ngưỡng đó, một số loài vật như cọp, rắn, chim, voi được thờ chung cùng các vị thần khác, nhưng cũng có một số loài cá biệt được sùng bái và thờ riêng một cách trang trọng như thần đầu voi Ganesha (Ganapati) tượng trưng “cho sự hợp nhất giữa tiểu vũ trụ và đại vũ trụ”, được xem là vị Phúc thần đáp ứng những điều may mắn, cát tường cho mọi lời cầu nguyện. Ngài là đứa con ra đời từ cuộc hợp hôn giữa thần Shiva với con gái của thần núi Himalaya là nàng Uma Himavutee thường được gọi bằng một tên gợi cảm là Parvati (Sơn nữ).

Sự có mặt của tượng thần Ganesha chế tác từ Campuchia là dịp để người ta liên tưởng đến các tượng Ganesha khác tại Việt Nam được phát hiện ở tháp Mỹ Sơn vào năm 1903, đồng thời xác nhận thêm sự xuất hiện cũng như ảnh hưởng khá sớm của Ấn Độ giáo ở Chăm Pa, đem lại nguồn cảm hứng thiêng liêng để sáng tác những tác phẩm điêu khắc Chăm mang giá trị cao.

Về ý nghĩa các tượng Ganesha ở Việt Nam, bà Huỳnh Thị Được – cán bộ Bảo tàng Điêu khắc Chăm tại Đà Nẵng, trong một tác phẩm liên quan đến thần thoại Ấn Độ đã giới thiệu Ganesha là “một trong những vị thần được yêu mến nhất của Ấn Độ. Với chiếc vòi dài, bụng phệ, bức tượng Ganesha có mặt khắp các thị trấn Ấn Độ và nhiều nơi khác trên thế giới. Những bức tượng tương tự như vậy từ thời Trung cổ có thể được nhìn thấy tận miền Đông Java. Người theo Ấn Độ giáo thường cúng một số lễ vật trước tượng Ganesha mỗi khi bắt dầu một chuyến du hành hay là khai trương một công việc kinh doanh, thậm chí đi hỏi vợ”.

Ảnh hưởng của Phúc thần Ganesha

Không chỉ riêng Campuchia có tượng thần Ganesha, mà một pho tượng Ganesha khác do Thái Lan chế tác hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử mang ký hiệu 2563, tạc bằng gỗ quý với sắc đỏ tự nhiên, do Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Etude Indochinois) mua lại của một nhà sưu tập người Pháp năm 1927, rồi đưa vào Viện Bảo tàng quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn bảo quản với ký hiệu cũ T.319. Mô tả của Phan Anh Tú, cán bộ bảo tàng, cho biết tượng Ganesha Thái Lan này được tạc với tư thế ngồi bán già trên một bệ tròn ba tầng, đầu đội mũ hình tháp (stupa), đôi tai lớn phình rộng với chiếc vòi uốn cong xuống tận bệ, miệng có hai ngà, cổ và tay chân đều có đeo vòng trang sức, tay trái cầm một chiếc bát, tay phải cầm một chiếc bình: “Chúng tôi nhận thấy dấu hiệu của điêu khắc Phật giáo miền Bắc Thái Lan thế kỷ 14 xuất hiện trên pho tượng Ganesha này… Đã có sự kết hợp những yếu tố điêu khắc của Phật giáo Thái Lan hiện đại với xu hướng hình thể học của điêu khắc phương Tây, tạo cho pho tượng một phong cách hoàn hảo. Kiểu điêu khắc này, theo các nhà nghiên cứu thì nó xuất hiện tại Bangkok vào thế kỷ 19 dưới triều đại vua Rama V. Chính trong giai đoạn này, nghệ thuật Thái Lan có ảnh hưởng mạnh đến nghệ thuật Campuchia và Lào”.

Ảnh hưởng xã hội của Phúc thần Ganesha đến ngày nay vẫn còn ghi dấu ở nhiều di tích và thành thị Đông Nam Á, chẳng hạn ở TP.HCM  có một ngôi đền Ấn Độ giáo lâu đời nhất hiện vẫn còn tồn tại ở số 98 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q.1, TP.HCM. Đền này thờ vị thần quyền lực siêu phàm trong hệ thống thần thoại Ấn Độ là Subramaniam Swamy có quan hệ huyết thống với thần hủy diệt Shiva. Trong đền đồng thời có thờ Phúc thần Ganesha là con thứ hai của thần Shiva.

Thần Ganesha như đã nói là kết quả cuộc hợp hôn của Shiva với sơn nữ Himalaya, mà các pho sách xưa chép rằng: “Khi Shiva giao hợp cùng vợ thì tia lửa lạc thú phóng xuất giúp vũ trụ hình thành từ tình yêu ấy, chính vì thế Shiva tự phân thành hai nửa, một nửa là âm và một nửa là dương, hai nửa ấy giao hòa và hóa thành đại địa cùng sự sống khắp nơi”. Bởi vậy trong đền thờ nói trên hiện vẫn còn thờ thần Shiva lưỡng tính qua biểu tượng linga đặt trên yoni tại chánh điện – nơi có tượng thần Ganesha an vị.

Giao Hưởng 

Nguồn Thanh Niên Online

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Advertisements

Read Full Post »

HỆ THỐNG TƯỢNG Ở CHÙA TÂY PHƯƠNG

Bộ tượng tam thế Phật với ba pho tượng Phật : Quá Khứ , Hiện Tại , Vị Lai ( còn gọi là Tam Thân : Pháp Thân , Ứng Thân và Hóa Thân ) ngồi ở tư thế tọa thiền , y phục gập nếp đơn giản phủ kín cơ thể , được coi là có niên đại đầu thế kỷ 17 .


Bộ tượng Di Đà Tam Tôn : gồm tượng Đức Phật A Di Đà , đứng hai bên là Quan Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát


Tượng Tuyết Sơn miêu tả Đức Phật Thích Ca trong thời kỳ tu khổ hạnh : mỗi ngày ăn một hạt kê , một hạt vừng ,tự hành xác để vươn lên thế giới tinh thần sáng láng . Tượng màu đen thẫm khoác áo cà sa mỏng , tay chân gầy khẳng khiu , xương nổi lên trước ngực . Toàn bộ cơ thể chìm trong suy tưởng , mắt trũng sâu , hướng về nội tâm .

Hai bên tượng Tuyết Sơn có tượng A Nan và Ca Diếp đứng đầu .


Tượng Đức Phật Di lặc tương trưng cho vị Phật của thế giới cực lạc tương lai . Người mập mạp , ngồi hơi ngả về phía sau , toàn thân toát ra sự thỏa mãn , sung sướng .


Tượng Vă Thù Bồ Tát : Đứng chắp tay , chân đi đất , các ngón chân bấm móng xuống mặt bệ .

Tượng Phổ Hiền Bồ Tát : Chắp tay trước ngực , khuôn mặt sáng rộng nổi lên trên tấm thân phủ đầy y phục .


Tượng Bát Bộ Kim Cương , thể hiện trình độ rất cao về nghệ thuật lắp ghép gỗ và cách bố cục , chuyển động của một thân thể mang giáp trụ trong các thế võ .


Mười sáu pho tượng tổ với phong cách hiện thực : Đó là Ưu –Ba-Cầu-Đa ,Đê-Đa-Ca, Di-Trà-Ca ,Bà-Tu-Mật, Phật Đà Nan Đề ,Phục-Đa-Mật-Đa, Hiếp Tôn Giả,Thương Na Hòa Tu ,Mã Minh ,Ca-Tỳ-Ma-Na , Long –Thụ -Tôn-Giả , La-Hầu-La-Đa , Tăng Già nan Đề ,Già Gia Xá Đa ,Cưu Ma La Đa ,Chà Dạ Đa .Theo một danh sách tên các nhân vật được tạc tượng trong một tài liệu còn lưu truyền ở chùa thì đây là tượng các vị tổ Ấn Độ trong quan niệm của thiền tong Trung Quốc .

Mười sáu vị tổ người đứng kẻ ngồi , pho thì ngước mặt lên trời chỉ vào mây khói , pho thì hững hờ với ngoại vật , tì cằm trên đầu gối nhếch môi cười một mình nửa tinh nghịch nửa mỉa mai ,có pho vẻ mặt hân hoan tươi tắn , khổ người đầy đặn tròn trĩnh , pho khác có vẻ mặt đăm chiêu lạ thường , lại có pho như đang đắn đo phân bua hay đang thì thầm trò chuyện cùng ai .


Tượng La Hầu La đúng là chân dung cụ già Việt Nam , thân hình gầy gò , mặt dài nhỏ , gò má cao ,môi mỏng vừa phải . Chưa thấy pho tượng nào diễn tả y phục một cách hiện thực mà lại đẹp đến thế . Dáng điệu một tay cầm gậy , một tay để trên gối rất thoải mái , đôi bàn tay trông rõ từng đốt xương bên trong .Những nghệ nhân dân gian vô danh thời nhà hậu Lê , thời nhà Tây Sơn đã là tác giả của những kiệt tác tuyệt vời ấy của nền mỹ thuật Việt Nam .

Năm 1960, nhà thơ Huy Cận đến thăm chùa , đã làm những câu thơ rất sống động và gợi cảm về hình tượng những con người đắc đạo mà lòng vẫn trầm ngâm suy tưởng về những khổ đau quằn quại của chúng sinh .

…Các Vị ngồi đây trong lặng yên

Mà Nghe giông bão nổ trăm miền

Như từ vực thẳm đời nhân loại

Bóng tối đùn ra trận gió đen

…mặt cúi , mặt nghiêng , mặt ngoảnh sau

Quay theo tám hướng hỏi trời sâu

Một câu hỏi lớn . không lời đáp

Cho đến bây giờ mặt vẫn chau .


Chùa Kim Liên có từ thế kỷ 17 , được dựng trên dải đất của làng Nghi Tàm , bên bờ Hồ tây , nay thuộc phường Nghi Tàm , quận Tây Hồ .Tương truyền nơi dựng chùa là nền cũ của cung Từ Hoa có từ thời Lý . Từ Hoa là con gái vua Lý Thần Tông ( 1128-1138). Vua dựng cung Từ Hoa cho công chúa và các cung nữ ở đó để thấu hiểu thêm công việc đồng áng vất vả mà thấy rõ hơn giá trị ngôi tôn quí của mình .Đến đời Trần , trại Tằm Tang đổi thành phường Tích Liên . Dân làng dựng chùa Đống Long trẹn nền cung Từ Hoa cũ . Đến năm 1771, đời Lê Cảnh Hưng , chúa Trịnh sâm sai quan quân dỡ chùa Bảo Lâm ở phía tây Thăng Long đem về tu sửa thêm vào chùa , đặt tên mới là chùa Kim Liên .năm 1792 , đời vua Quang Trung , chùa được tu bổ lại , về diện mạo cơ bản giống như hiện nay .

Tam quan chùa Kim Liên là một công trình kiến trúc hết sức độc đáo , trông như bông sen đang độ nở trên mặt nước Tây Hồ bốn mùa phủ sóng .các chi tiết trên gỗ đều được chạm nổi , chạm lộng hình rồng , hình hoa lá tinh xảo , uyển chuyển .Đầu đao mái uốn cong , gắn hình tứ linh bằng gốm nung . ba chữ sơn son ‘’Kim Tự Liên ‘’nghĩa là ‘’Chùa Sen Vàng ‘’nằm ở chính giữa cửa chùa . Từ tam quan vào chùa , du khách phải đi qua một cái sân rộng . tại sân này , hiện còn lưu giũ tấm bia đá cỡ 0,8m x 1,2m có nhiều hình chạm nổi rất đẹp . theo các nhà nghiên cứu , đây là một trong những bia cổ còn lại ở Hà Nội , được dựng vào năm Thái Hòa thứ 1, đời vua Lê Nhân Tông năm 1443 .

Diện mạo chùa như hiện nay là do lần trùng tu vào năm 1792 với bố cúc theo kiểu chữ tam, gồm 3 nếp nhà chạy song song nhau . ba nếp nhà đều có hai tầng mái theo kiểu chồng diềm , ngói vảy , đầu đao bằng gỗ mềm mại , chạm khắc tinh xảo . Nhìn từ phía hông chùa , hai tầng mái tỏa ra bốn phía với 24 lá mái cao vút vươn lên không trung tạo ra 24 đầu đao , phô diễn sự tài tình trong kiến trúc của người xưa .

TAM QUAN CHÙA KIM LIÊN


CHùa hình chữ tam gồm 3 nếp nhà song song với nhau , tường gạch bao quanh tới tận rìa mái , Ở các đầu hồi nhà có cửa sổ tròn với những dấu hiệu sắc sắc không không mang đậm ý nghĩa triết lý Phật Giáo . nét kiến trúc của chùa Kim Liên gợi nhớ tới chùa tậy Phương( 1794) nổi tiếng .


Các pho tượng Phật được bày thành hai lớp , trên cùng là bộ Tam Thế , tiếp theo là tượng A Di Đà , tượng Quan Thế Âm và tượng Đại Thế Chí ở hai bên cùng Anam , Ca Diếp là hai đại đệ tử của Đức Phật . Lớp dưới là Quan Ậm Chuẩn Đề , tượng Ngọc Hoàng , dưới cùng là tòa Cửu Long . Đáng chú ý nhất là tượng Quan Âm Nam Hải 42 tay ,các bàn tay xếp so le trông rất tinh xảo , tượng cao 1,2m đặt trên tòa sen gỗ hình lục lăng . lại có cả tượng Tôn Ngộ Không phủ sơn cao 1,1m khá sinh động .

Chùa có tượng Trịnh Sâm ( đứng đội mũ miện , cầm hốt , mặc áo cổ tràng , râu mày như vẽ ,chân không mang giầy ) người đã cấp tiền hưng công tu tạo chùa năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771). Chùa kim liên còn lưu giữ một tấm bia cổ , nay dựng phía bên phải cổng chùa , trên bệ đá hình vuông ,dù năm tháng đã làm phai mờ nhiều nét chữ nhưng còn xem được niên hiệu : Thái Hòa Tam niên Ất Sửu –tức năm 1445 thời Lê Nhân Tông . Đây là tấm bia cổ nhất ở hà nội hiện nay . các pho tượng đều mang phong cách điêu khắc thế kỷ XVIII-XIX , mang tính hỗn hợp thàn Phật . Bức hoành ‘’hoằng uốn ‘’( đạo lý sâu rộng )làm năm 1870

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »